Lời chia sẻ tâm huyết

04/11/20174:06 SA(Xem: 1492)
Lời chia sẻ tâm huyết

LỜI CHIA SẺ TÂM HUYẾT
Thích Đạt Ma Phổ Giác

Thich Dat Ma Pho GiacTrong không khí trang nghiêm thấm tình đạo vị. Chúng tôi thay mặt Tăng đoàn chùa Thiên Khánh kính chúc quý liệt vị khách quý, các nhà hảo tâm, quý Phật tử gần xa đã về đây tham dự khóa tu ngày an lạc. Kính chúc chư tôn đức và liệt quý vị “ thân tâm thường an lạchoan hỷ vui vẻ trong cuộc sống.

Đạo Phật đã truyền vào Việt Nam trên 2000 năm từ đầu thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, ngay khi được truyền vào, đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt, lấy việc thờ cúng ông bà tổ tiên với tinh thần biết ơnđền ơn, lấy con người làm đối tượng để giải quyết những việc của con người trong đời sống hằng ngày, lấy nhân tính nhân bản nhân văn đặt trên nền tảng nhân quả để xây dựng một xã hội công bằnghợp lý, đồng thời thừa nhận giá trị cũng như khả năng của con người ngay nơi cõi đời này mà không tìm cầu đâu xa.

Ngày hôm nay, tất cả mọi người trong ba miền đất nước…

Về thôn Cao Lũng xã Hà Dương
Mới biết có, ngôi chùa Thiên Khánh
Sừng sửng hiên ngang dáng uy nghiêm
Tu theo truyền thống Phật giáo Lý-Trần
Hôm nay khơi lại hồn dân tộc
Nguồn thiền khi xưa giờ tuôn chảy
Tâm Phật trang nghiêm chốn bụi trần

Đạo Phật từng gắn bó với dân tộc, đã bao phen thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, nhưng chưa bao giờ gây thù hận cho ai mà còn chia sẻ và giúp đỡ nhân loại trong mọi hoàn cảnh. Lịch sử hai triều đại Lý-Trần, Phật giáo đã phát triển cực thịnh, được xem là quốc giáo. Đến thời nhà Hậu Lê rồi nhà Nguyễn, Phật giáo đi vào thời kỳ suy thoái, nhường vị trí quốc giáo cho Nho giáo.

Đến khi người Pháp mang quân xâm chiếm nước ta, đặt nền đô hộ trên đất nước này, thì đạo Phật lại càng suy đồi, mất hết cả những gì thuần túy mà chỉ còn như là một tôn giáo thờ thần với nhiệm vụ chính là lo việc cúng bái và cầu khẩn van xin càng làm thêm cho con người mê muội không biết lối đi.                         

Chúng ta đang nhìn lại những chặng đường lịch sử đó là những vị khai quốc công thần. Như thời An Dương Vương có Cao Lỗ, thời Lý có anh hùng kiệt xuất Lý Thường Kiệt, thời Lê có Nguyễn Trãi, thời Trần có Trần Thủ Độ…

Một trong những vị công thần đã tạo nên ánh hào quang rực rỡ nhất của triều đại Lý nước ta là thiền sư Vạn Hạnh. Đặc biệt hơn hết ngài là một tu sĩ Phật giáo, là một công dân của đất nước Đại Việt thời bấy giờ, là vị Quốc sư của triều đại nhà Lý. Bác Hồ đã từng viết lên những vần thơ sử nước nhà như sau:

“Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Vai trò của vua Lý Thái Tổ và thiền sư Vạn Hạnh trong việc kiến lập xây dựng vương triều nhà Lý là một nét đẹp văn hóa Việt Nam mà hàng hậu học chúng ta cần phải hiểu biết về ông cha mình, để bảo tồn bản sắc văn hóa đạo đức dân tộc với truyền thống tốt đẹp “mang đạo vào đời”.

Phật giáo triều đại nhà Lý luôn đồng hành cùng dân tộc

Công việc đầu tiên của Lý Công Uẩn vua Lý Thái Tổ là xóa hết nợ thuế cũ cho những người mồ côi, góa bụa, già yếu hoặc tàn tật. Đồng thời miễn thuế cho nhân dân cả nước trong ba năm liền. Đây là việc làm nhân đạo có tấm lòng bao dung quảng đại, thể hiện tinh thần vì nước vì dân của vị vua đầu tiên triều đại nhà Lý. 

Điểm đặc biệt của đất nước ta là Phật giáo luôn kề vai sát cánh với dân tộc trong mọi thời đại. Từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta trong những năm đầu Công nguyên, dân tộc ta đã tiếp thu nền Phật giáo chân chính, biết kết hợp hài hòa với đạo thờ ông bà tổ tiên để xây dựng giềng mối đạo đức, bằng tình người trong cuộc sống.

“Uống nước nhớ nguồn” là văn hóa gốc của người Việt Nam về đạo thờ ông bà tổ tiên, sống hiếu thảo biết kính trên nhường dưới, tôn trọng và quý kính những người đã có công dựng nước, giữ nước trong 4000 năm văn hiến với tinh thần biết ơnđền ơn.

Đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ, từ khi đạo Phật có mặt ở thế gian không gây ra bạo động hận thù mà còn giúp cho nhân loại sống đoàn kết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, bằng trái tim có hiểu biết. Chính vì vậy mà ngày 15 tháng 12 năm 1999 Đại hội đồng Liên hiệp quốc công nhận lễ Vesak Phật giáo là lễ hội văn hóa của thế giới loài người. Thế cho nên người xưa đã ca tụng:

“Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông”.

Đặc biệt vào thời Lý–Trần những vị vua khai quốc đều là những Phật tử thuần thành như vua Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi đã cho xây dựng chùa chiền khắp mọi nơi, có vị cởi bỏ long bào, xuất gia trở thành tu sĩ như vua Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Trong chế độ phong kiến quân chủ vai trò của nhà vua rất to lớn, nắm giữ cả vận mạng quốc gia. Mỗi khi vị vua là Phật tử thì quan quân thần dân thiên hạ phải bắt chước làm theo, vì họ là những bầy tôi trung thành. Sự ảnh hưởng sâu sắc đó, trải qua nhiều thời đại, Phật giáo đã đi sâu vào lòng dân tộc với tinh thần “tốt đạo đẹp đời”, mà ngày hôm nay đất nước ta lấy Phật giáo đời Trần làm quốc giáo.

Chúng tôi thiết nghĩ rằng từ tiền đồ ban đầu do các vị Thiền sư đời Lý khởi xướng với tinh thần mang đạo vào đời, nhờ vậy mà trên thì vua quan ủng hộ, dưới thì dân chúng noi theo lấy tinh thần đoàn kết dân tộc và áp dụng Phật giáo vào trong đời sống gia đình xã hội, nhờ vậy mà đất nước ta tồn tại cho đến bây giờ.

Chúng tôi hiện giờ là những tu sĩ trong thời hiện đại, có duyên biết được lịch sử ông cha ta hơn ngàn năm về trước, không thể ngồi yên ở đây với tinh thần phục hưng ngôi Chùa Thiên Khánh hay còn gọi là Thiền tự Quán Thế Âm, khơi gợi lại công lao to lớn của hai triều đại Lý-Trần với tinh thần tốt đạo đẹp đời.

Ngày hôm nay đất ta được thống nhất và hòa bình hơn 42 năm, tinh thần hộ quốc an dân đã thấm nhuần trong lòng dân tộc, chúng tôi mong mỏi thiết tha kêu gọi quý ban chính quyền các cấp, quan tâm hơn và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt, để phục hưng ngôi Chùa Thiên Khánh thôn Cao Lũng trong triều đại nhà Lý được mau sớm hình thành.

Dân tộc Việt Nam trên bốn ngàn năm văn hiến từ thời kỳ dựng nước và giữ nước, nhờ biết áp dụng Phật giáo vào trong toàn dân mà mọi người được cơm no áo ấm, sống nhân từđạo đức hơn. Tinh thần yêu nước đối với dân tộc Việt Nam, người Phật tử cần phải tôn thờ các vị công thần đã có công trong việc dựng nước và giữ nước.

Đất nước ta trải qua bao cuộc chiến tranh do giặc ngoại bang xâm lược, toàn là những siêu cường quốc trên thế giới, nhưng cuối cùng bị bại trận bởi dưới sự lãnh đạo của các anh hùng kiệt xuất như Thánh Gióng, bà Trưng Trắc, bà Trưng Nhị, anh hùng kiệt xuất Lý Thường Kiệt, đức thánh Trần Hưng Đạo, bác Hồ và gần đây nhất là đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Dân tộc Việt Nam chúng ta có thể thờ những vị đó, với tinh thần tưởng nhớ công ơn giành chủ quyền độc lập đất nước, để nhắc nhở hàng hậu học về lịch sử chói sáng của cha ông ta.

Uống nước nhớ nguồn và đạo thờ ông bà tổ tiênvăn hóa ứng xử mang tính nhân văn đạo đức, những ngày giỗ kỵ hằng năm chúng ta cũng ôn lại tiểu sử của ông bà nhờ đó con cháu mình biết được những đóng góp to lớn của cha ông ta cho đất nước, cho cộng đồnggia tộc để phát huy truyền thống tốt đẹp của đất nước Việt Nam.

Đến triều đại nhà Trần vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã xem ngai vàng như dép rách và nhường ngôi cho con mà xuất gia tu học. Sau khi được đạo, Ngài khuyên mọi người phá bỏ các hủ tục mê tín, có tính cách hại người và vật, giữ 5 điều đạo đức, tu 10 điều lành với tinh thần “tốt đời đẹp đạo”.

Trên đà tiến bộ của đất nước về mọi mặt đều được phát triển đến tột bực, vật chất đầy đủ, con người dễ bị tha hóa nếu không có sự kết hợp của luật pháp nghiêm minh, đưa giáo lý Phật-đà vào trong giáo dục thì e rằng tệ nạn xã hội sẽ tràn lan.

Chúng tôi thiết tha kêu gọi vì sự nghiệp 10 năm trồng cây, 100 trồng người, đất nước ta cùng toàn dân đồng lòng mang đạo vào đời như ông cha ta ngày xưa, thì xã hội sẽ từng bước tiến đến dân giàu, nước mạnh, văn minh, đạo đứchòa hợp.

Do đó trong quá trình hình thành, phát triển của đạo lý Giác Ngộ, giáo lý Từ Bi của Đức Phật tại Việt Nam, Đạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hoà nhập vào mọi giai tầng của xã hội Việt Nam. Đạo Phật đã thấm nhuần vào nền văn minh Việt Nam tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào đất, Đạo Phật đã lan tỏa từ thành thị, đến các miền thôn quê, và trên lãnh thổ đất nước Việt, Đạo Phật đã có một chỗ đứng nhất định từ cung đình cho đến làng xã Việt Nam.

Thế cho nên,

Nhân dân Làng Cao Lũng vượt qua mọi thử thách, hướng đến lý tưởng giác ngộ, để xây dựng con người tài đức.

Phật tử chùa Thiên Khánh, buông xả tâm dính mắc, chuyển hóa nỗi khổ niềm đau, cùng vui sống an lạc hạnh phúc.

Nói đến đất nước Việt Nam và nền văn hoá Việt Nam, là mọi người liền nghĩ đến ngôi chùa Thiên Khánh thôn Cao Lũng xã Hà Dương của 1000 năm về trước giờ đã hiện ngay trước mắt với ngôi chính điện tạm này.

Chùa là văn hóa quê hương,
Là nơi thể hiện tình người Việt Nam.

Quê tôi, làng Cao Lũng có ngôi chùa xưa nay:

Thiên Khánh chuông trời đã giáng thế, cả nước cùng nhau đón tin vui.

Thế Tôn ra đời dạy chân lýtu tâm sửa tính dứt não phiền.

Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam trên 4000 năm văn hiến, với bản chất cần cù, tận tụy và chân thành trong mọi công việc, thế cho nên dễ hội nhập vào bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là lý doTăng Ni Phật tử cho dù gặp nhiều khó khăn, chướng ngại, cũng cố gắng khắc phục và vượt qua để thực hiện hoài bão và chí nguyện của người con Phật.

Dù phải chịu muôn ngàn gian khổ
Con dốc lòng vì đạo dấn thân
Hy sinh phục vụ vì người
Để cho đất nước an nhiên thanh bình

Ngưỡng bạch Chư Tôn Đức, kính thưa quý liệt vị,

Không có ngôn từ nào có thể diễn tả hết, lòng cảm tạ ân đức của Chư Tôn Đức xa gần đã khích lệ tinh thần và giáo dưỡng chúng con. Cũng không thể nói hết được lời tán thán, ca ngợi sự nhiệt tâm, đồng cam cộng khổ của những quý Phật tử gần xa và nhất là các vị cao tuổi cùng bà con cô bác anh chị em làng Cao Lũng tại đạo tràng chùa Thiên Khánh, quí vị đã vì sự trường tồn Chính pháp, đã vì Ngôi Nhà Phật Giáo Việt Nam, đã vì bảo tồn truyền thống văn hóa đạo đức Việt Nam và cũng để lại cho hàng con cháu chúng ta mai sau trên mãnh đất làng Cao Lũng này, biết tìm về nguồn cội, mang nét văn hóa đậm chứ từ bi của triều đại nhà Lý do vua Lý Thái Tổ sáng lập và sự kiến tạo của Quốc sư Thiền sư Vạn Hạnh. Từ những ý nghĩ đơn sơ nhưng cao cả, quí vị đã không ngừng gia tâm ủng hộ, để thực hiện những hoài bão và chí nguyện của người con Phật dựng lên ngôi chính điện chùa Thiên Khánh. Quí vị đã cùng với chúng tôi trực tiếp xây dựng ngôi nhà từ đường chung, để có nơi cùng về nương náu tu học, hun đúc đời sống tâm linh, để thờ Phật, Tổ, chư hương linh, để tưởng niệm thân bằng quyến thuộc chư vị tiền bối có công, chư vị hiền Thánh Tăng, những anh hùng chiến sĩ, những đồng bào đã dày công hy sinh cho đạo Pháp và dân tộc đất nước Việt Nam.

Giờ đây trước mắt quý liệt vị một ngôi chánh điện được thành tựu trang nghiêm trong khiêm tốn, nhưng kết tinh bằng tất cả tấm lòng chân thànhthanh tịnh, bằng mồ hôi nước mắt, tâm đức, nguyện lực của những ân nhân, các nhà hảo tâm, quý Phật tử xa gầnnhân dân làng Cao Lũng. 

Kính bạch chư tôn đức, kính thưa quý liệt vị,

Người con Phật đang tiến bước trên con đường Giác NgộGiải Thoát, cần phải trang bị cho mình bằng một cái Tâm từ bi hỷ xả, một cái tâm rộng lớn, hơn là ngôi chùa rộng lớn. Chúng ta đang ở trong một ngôi chùa lớn, một ngôi chùa đẹp, mà tâm của mình nhỏ hẹp, xấu xa thì có ích gì cho đạo pháp và dân tộc. Do vậy chúng tôi thường xuyên nhắc nhở chính mình và quý Phật tử gần xa làm người con Phật, chúng ta cố gắng xây dựng cho mình có cái tâm rộng lớn. Duy trì được cái tâm rộng lớn đó, chúng ta mới đủ sức vượt qua những nỗi khổ niềm đau, và các chướng duyên nghịch cảnh của cuộc đời, chúng ta có cái tâm rộng lớn đó, chúng ta mới đủ sức bao dungtha thứ, hoan hỷ với tất cả mọi người, mà chúng tôi chúng con cần phải học hỏi và trang bị cho chính mình trong hiện tạimai sau. Thế cho nên,

Đất Hà Dương xây dựng con người hướng về chân thiện mỹ.

Chùa Thiên Khánh phát huy truyền thống hoằng pháp giúp nhân sinh.

Nói gương anh hùng kiệt xuất Lý Thường Kiệt sau khi ông về làm Tổng Trấn Thanh Hóa 19 năm dẹp Tống bình Chiêm và mở mang bờ cõi về phía Nam. Ngoài việc làm cho vùng đất tiếp giáp phía Nam của đất nước được yên ổn, vững mạnh, ông còn có công rất lớn trong việc phát triển chùa chiền và trùng tu lại rất nhiều ngôi chùa, làm cho đạo Phật ở Thanh Hóa lúc bấy giờ được phát triển hưng thịnh. Chính vì vậy:

“Anh hùng Lý Thường Kiệt khơi nguồn tâm linh, mở trang sử mới cho người dân nước Việt. Phật hoàng Trần Nhân Tông đưa đạo vào đời, phá trừ mê tín làm rạng rỡ tổ tiên”.

Thái úy Lý Thường Kiệt là một vị danh tướng thời Lý. Chiến công của ông đã làm cho quân thù khiếp sợ trên sông Như Nguyệt (nay là sông Cầu thuộc làng Như Nguyệt, Bắc Ninh).

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).

Tên tuổi ông đã gắn liền với bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng đầu tiên trong lịch sử dân tộc nước Đại Việt. Bản tuyên ngôn ấy được kết tinh đầy đủ từ ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết dân tộc Đại Việt suốt mấy ngàn năm lịch sử và được soi sáng cho đến tận ngày hôm nay.

Sau khi đất nước an ổn không còn giặc ngoại bang xâm lược nữa, Tổng trấn Thanh Hóa Lý Thường Kiệt lại tiếp tục gánh vác trách nhiệm xây dựng và phát triển đất nước nhằm đem lại lợi ích cơm no áo ấm cho toàn dân. 

Ông cho tu bổ đê điều, đường sá và rất nhiều các công trình công cộng khác để phục vụ cho đời sống kinh tế, phát triển chăn nuôi, trồng trọt hoa màu và ruộng lúa, ngoài ra ông còn phát triển thêm nghề đục đá. Và đồng thời cải cách bộ máy hành chính cho phù hợp với thực tế đất nước trong hoàn cảnh không còn chiến tranh. 

Với tài năng và những chiến công đã cống hiến cho đất nước, Lý Thường Kiệt xứng đáng là một nhân vật lịch sử kiệt xuất của dân tộc Đại Việt-Việt Nam. Trong những công trạng và sự hy sinh của bản thân ông, ta có thể thấy được sự phi thường của một vị anh hùng lịch sử có một không hai.

Ngoài việc đánh tan quân ngoại xâm và giúp cho dân chúng cơm no áo ấm, ông còn xây chùa và trùng tu rất nhiều chùa ở Thanh Hóa để cho mọi người dân biết tin sâu nhân quả, tin lời Phật dạy, sống đời đạo đức mà không làm các việc xấu ác lại hay làm những điều thiện lành tốt đẹp. Tuy có công rất lớn và được hưởng bổng lộc của Triều đình, nhưng Thái úy Lý Thường Kiệt không màng phú quý vinh hoa mà chỉ một lòng vì dân, vì nước, sống một cuộc đời thanh đạm.

Tóm lại, Thái úy Lý Thường Kiệt đáng được con cháu của đất nước Việt Nam ngày hôm nay học hỏi, tôn thờ, tưởng nhớ và bắt chước noi theo với ba công trạng lớn:

Thứ nhất là anh hùng kiệt xuất dẹp Tống bình Chiêm đánh tan ngoại bang xâm lược bảo vệ chủ quyền đất nước.

Thứ hai là cải cách hành chính và xây dựng lại các công trình công cộng, tu bổ đê điều, thúc đẩy chăn nuôi trồng trọt hoa màu, mở mang ruộng đất để phục vụ cho đời sống người dân.

Thứ ba là xây chùa và sửa sang nhiều chùa, để cho mọi người cùng tu học theo lời Phật dạy - sống đời đạo đức, tin sâu nhân quả, dứt ác làm lành bằng trái tim yêu thươnghiểu biết.

Kính bạch chư Tôn đức, kính thưa quý liệt vị

“Phật pháp bền vững do Tăng già hoằng hóa
Thiền môn hưng thịnh bởi thí chủ phát tâm”

Cổ Đức đã dạy rằng:

“Xây chùa, tạc tượng, đúc chuông
Ba công đức ấy mười phương nên làm”.

Chúng tôi, luôn trân trọngthành kính đón nhận sự hoan hỷ phát tâm cúng dường của quý liệt vị Phật tử gần xa, các nhà hảo tâm xin thay mặt bổn tự, bổn đạo, thành tâm tri ân công đức. Sau cùng, Trong niềm tôn kính vô biên chúng tôi xin nguyện cầu cho tất cả Chư Tôn Đức Tăng Ni vô lượng an lạc - giải thoát. Kính chúc quý Phật tử, thiện nam tín nữ, quí vị ân nhân xa gần được vạn sự kiết tường như ý. Nam mô công đức cúng dường Bồ-tát ma ha tát.

Từ nay trở đi, Chùa Thiên Khánh sẽ hướng dẫn tu theo tông chỉ Phật giáo Lý-Trần, lấy công hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm chia vui sớt khổ dấn thân và phục vụ, sống tốt đời đẹp đạo với tinh thần đạo pháp và dân tộc đất nước Việt Nam trên 4000 năm văn hiến, nhằm mang lại niềm an vui hạnh phúc cho mọi người.

Trên tinh thần phụng sự nhân sinhthiết thực cúng dường chư Phật, chính vì vậy:

Phật tử chùa Thiên Khánh luôn bao dungđộ lượng hay dung chứa những điều khó khăn trong thiên hạ.

Bồ tát Quán Thế Âm luôn ban vui và cứu khổ hay hỷ xả những điều khó xả trong thế gian.

Chúng tôi, xin trân trọng tuyên bố khai mạc Lễ hội Quán Thế Âm tại chùa Thiên Khánh. 
Thích Đạt Ma Phổ Giác 
(Thư Viện Hoa Sen)


 

Tạo bài viết
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.