Chương I: Asoka-Nhân Vật Lịch Sử

10/05/20184:15 CH(Xem: 27)
Chương I: Asoka-Nhân Vật Lịch Sử
A DỤC VƯƠNG (ASOKA)-CUỘC ĐỜI & SỰ NGHIỆP
Tác giảThích Tâm Minh
Nhà xuất bản Tôn Giáo

CHƯƠNG I: ASOKA-NHÂN VẬT LỊCH SỬ

Asoka ( 304-232 TTL), người kế vị ngai vàng vương triều Maurya Ấn Độ sau Chandragupta và Bindusàra, được xem là vị hoàng đế vĩ đại nhất trong số các hoàng đế tên tuổi của thế giới. Các sử gia đã không ngớt lời ca tụng con người vĩ đại này. R. Mookerji dẫn lời các học giả nêu nhận xét về Asoka : “Asoka giống David và Solomon của Isael về phương diện nỗ lực xây dựng một vương quốc thánh thiện. Về phương diện ủng hộ và mở rộng Phật giáo thành một tôn giáo thế giới, Asoka được ví với Constantine trong lịch sử Thiên chúa giáo. Về tư tưởng và hòa hiếu, Asoka khiến người ta nhớ đến Marcus và Aurelius. Asoka cũng khiến gợi nhớ một Charlemagne trong việc bành trướng quốc gia, trong khi những biện pháp cai trị của ông khiến người ta liên tưởng tới những bài diễn thuyết của Oliver Cromwell. Các truyền thống gắn với tên tuổi của Asoka nhắc người ta về vua Arthus và các hiệp sĩ bàn tròn của ông, thiện vương Alfred hay vua St.Louis của Pháp .”[1] Trong tác phẩm “The Discovery of India, “ Jawaharlal Nehru trích lời phát biểu của H.G.Wells : “ Trong hàng chục ngàn tên tuổi của các vị vua chúa tụ tập chung quanh các cột trụ của lịch sử, sự tôn nghiêm cùng sự độ lượng của họ, sự trầm lặng thanh thản cùng sự cao quý vương giả của họ, tên tuổi của Ashoka tỏa ánh hào quang mà hầu như một mình tỏa ánh hào quang, - là một vì sao. Từ Volga đến Nhật bảntên tuổi của ông vẫn còn được trọng vọng. Trung Hoa, Tây Tạng và ngay cả Ấn Độ, tuy đã từ bỏ học thuyết của ông, vẫn giữ truyền thống về sự vĩ đại của ông. Ngày nay, những người đang sống nâng niu kỷ niệm về ông nhiều hơn những tên tuổi đã từng nổi tiếng như Constantine hoặc Charle-magne.” [2]

Asoka là tên cha sinh mẹ đẻ, còn trong các chỉ dụ bia ký và trụ đá của ông, Asoka dùng hai danh hiệu khác nhau, Devànampiya và Piyadasi ( hay Priyadarśì ) , để chỉ về mình. Devànampiya nghĩa là “ Người con yêu quí của các thần linh” và Piyadasi hay Priyadarśì có nghĩa là “ Người nhìn cuộc đời với lòng từ ái.” Về cuộc đời và sự nghiệp của ông, các học giảthường nhấn mạnh hai giai đoạn khác nhau. Giai đoạn trước và sau khi Asoka lên ngôi khoảng tám năm và giai đoạn sau chiến thắng Kalinga trở đi, tức tám năm sau khi ông lên ngôi cho đến cuối cuộc đờiSở dĩ có sự phân biệt như vậy là bởi đã có những chuyển biến quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp chính trị của ông. Về một phương diện nào đó, các tài liệu liên quan không thống nhất trong việc mô tả nhân vật Asoka. Asoka như được đề cập trong các tác phẩm Mahàvamsa, Divyàvadàna hay Aśokàvadàna là một con người hoàn toàn khác với Asoka như được thấy trong các tài liệu bia ký và trụ đá của ông. Nếu như trong các tác phẩm Nam truyền Mahàvamsa, Asoka nổi danh với tên gọi Candàsoka ( Asoka tàn bạo) thì qua các tài liệu kia ký và trụ đá của ông, Asoka xứng đáng được tôn xưng là Dhammàsoka (Asoka Chánh pháp hay nhân từ). Cũng một con người, một sự nghiệp ấy nhưng Asoka mang hai biệt danh khác nhau. Đấy là đặc điểm của nhân vật lịch sửAsoka mà tác phẩm nghiên cứu này sẽ cố gắng làm sáng tỏ.

I.Dòng dõi :

Asoka thuộc thế hệ thứ ba vương triều Maurya do ông nội ông, Chandragupta, sáng lập. Theo các sử gia, sự xuất hiện của Chandragupta thế kỷ thứ tư trước Công nguyên đáng dấu một sự kiện quan trọng trong lịch sử chính trị Ấn Độ cổ đại R.C.Mazumdar cho rằng “sự nghiệp của Chandragupta, người sáng lập triều đại Maurya, tỏa sáng trong lịch sử Ấn Độ cổ đại, vì nó giải phóng đất nước này khỏi ách thống trị của người Macedonia và xây dựng sự thống nhất chính trị đầu tiên của Ấn Độdưới quyền một vị vua. Đây là một thành công đáng kểđặc biệt khi chúng ta biết rằng Chandra-gupta không phải là người thừa kế ngai vàng mà được sinh ra trong một hoàn cảnh khiêm tốn. Sự thăng tiến địa vị tối cao của Chandragupta đích thực là một thiên anh hùng ca trong lịch sử.” [3] Các sử liệu sớm nhất của Ấn Độ được lưu giữ trong các Pùràna không đả động gì đến gia thế của Chandragupta. Truyền thống Kỳ Na giáo ( Jainism) xem ông là cháu ngoại của một vị thôn trưởng đứng đầucác gia đình làm nghề huấn luyện chim công ( mayura-poshaka ). [4] Truyền thống Bà-la-môn ( Brahminism) gắn dòng dõiChandragupta với triều đại Nanda xứ Magadha. [5] Kathà-Sarit-Sàgara bảo ông là con trai của dòng họ Nanda.[6] Tác phẩmMahàvamsa nói đến ông như một thành viên của dóng Sát đế lỵ Moriya ( hay Maurya) cư trú ở vùng Hy Mã Lạp sơn ( Himàlaya ).[7] [8] và Asoka, con trai của Bindusàra, là một Sát đế lỵ,[9] Trong bài kinh Đại bát Niết bàn ( Mahàparinibbàna Suttanta ) , Trường Bộ ( Dìgha Nikàya ), những người Moriya được mô tả là thuộc giai cấp Sát đế lỵ trị vì xứ Pipphalivana, cạnh biên giới Nepal ngày nay,từng cử đại diện đến Kusinàra xin chia phần xá lợi Phật đem về thờ nhưng do đến muộn nên chỉ nhận lấy phần tro còn lại sau lễ hỏa táng và phân chia xá lợi .B.C.Law dẫn nguồn tin từ Mahàvamsa-Tìka nói rằng một số người Sàkya bị vua Vidùdabha đàn áp trong vụ trả thù dòng học Sàkya đã bỏ trốn đến tận Himàlaya và tại đấy họ đã lập nên thành phố gọi là Moriya (Moriyanagara ). Theo ông, Chandra-gupta thuộc dòng họ Moriya trị vì xứ Pipphalivana.[10]Divyàvadàna đề cập Bindusàra, con trai Chandragupta, là một Sát đế lỵ đã làm lễ đăng quang ( mùrdhàbhishikta )

Tập hợp các nguồn tin trên đây chúng ta có thể đi đến nhận xét rằng Chandragupta thuộc dòng Sát đế lỵ Moriya và như vậy Asoka, con trai Bindusàra và cháu nội Chandragupta, mang huyết thống dòng dõi Sát đế lỵ. Vào tế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, Moriya là dòng vương tộc trị vì tiểu quốc cộng hòa Pipphalivana. Theo H.C.Raychaudhuri, dưới triều vua Agrammes, vị hoàng đế cuối cùng của triều đại Nanda, dân chúng tỏ ra bất mãn với triều đình và những người Moriya nhờ tài lãnh đạo của Chandragupta trở nên hùng mạnh vượt bực. Với sự trợ giúp của Kautilya, con trai một Bà-la-môn xứ Taxilà, Chandragupta tiến hành lật đổ vương triều Nanda đã đến hồi lụn bại.[11]

Chandragupta lên ngôi trị vì Ấn Độ từ năm 324 đến năm 300 trước Công nguyên thì nhường ngôi cho con trai Bindusàra và xuất gia trở thành một tu sĩ Kỳ Na giáoTruyền thống Kỳ Na giáo nói đến ông như một ẩn sĩđệ tử của Bhadrabàhu, và các bia ký khắc vào đầu thế kỷ thứ 10 được phát hiện gần Seringapatam đề cập tên một đỉnh núi gọi là Chandragiri, tương truyền là chỗ ẩn cư tu hành của Chandragupta. [12] Trong khoảng thời gian 24 năm trị vì, Chandragupta đã mở rộng lãnh thổ của mình, phía nam đến tận Mysore và phía tây-bắc tới các biên giới Persia. Các lãnh địa như Punjab, Sind, Beluchistan, Afghanistan, Himavatkùta, Nepal và Kashmir đều thuộc quyền cai trị của ông. [13]

Bindusàra tiếp nối cha mình cai quản vương triều Maurya từ 300 đến 273 trước Công nguyên. Mặc dù là một hoàng đế lớn của triều đại Maurya, Bindusàra không được các sử gia nói đến nhiều như đối với cha ông, Chandragupta và con trai ông Asoka. Ông đứng giữa hai vị hoàng đế lớn Chandragupta và Asoka. Và đây có lẽ là lý do khiến ông không thu hút được sự chú ý của các sử gia, những người luôn luôn tỏ ra kính trọng, đề cao các hành động anh hùng cũng như những cống hiến đối với lãnh vực tôn giáo của Chandragupta và Asoka. Theo K. Hazra, dưới hào quang của hai vị hoàng đế này, các sử gia đã xem ông như một nhân vật mờ ảo và đã lờ đi những đóng góp của ông cho mục tiêu tôn giáo. [14]

II. Sự ra đời và thời gian trước khi lên ngôi :

Asoka ra đời vào năm 304 trước Công nguyên. Theo Dìpavamsa, Bindusàra là người chồng của 16 bà vợ và là cha của 101 con trai trong đó chỉ có ba người được biết tên là Sumana ( hay Susìma, gọi theo Bắc truyền), con trai cả, Asoka, con trai thứ ba, và người con trai út có tên là Tisya. Tác phẩm Aśokàvadàna [15] nói đến Subha-dràngì ( hay Dhammà, gọi theo Nam truyền), con gái một gia đình Bà-la-môn xứ Campà, là người đã sinh Asoka. Bà này, sau khi sinh Asoka, đã nói : “ Nay ta không còn sầu muộn (Asoka )”. Đứa trẻ mang tên Asoka từ đó. Tác phẩm Vamsatthappa-kàsinì, [16] sớ giải cuốn Mahàvamsa, có đề cập đến Sbhadràngì, nói rằng con trai bà mang tên Asoka bởi đứa bé này đã không làm cho bà đau đớn chút nào khi ra đời. Đứa trẻ có làn da xù xì và do vậy Binduxàra không yêu mến nó. Có một câu chuyện kể rằng mẹ đứa trẻ từng cố tránh cho con trai bà khỏi gặp cha nó nhằm bảo vệ tính mạng của đứa trẻ. Bà Subha-dràngì còn sinh thêm một đứa con trai khác có tên là Tissa hay Tisya, gọi theo Mahàvamsa, Vitàsoka,gọi theo Aśokàvadàna, [17], hay Vigatàsoka, gọi theo Divyàvadàna.[18]

Xét theo các truyền thuyết nói trên thì có lẽ thuở ấu thời Asoka đã không được may mắn cho lắm bởi làn da dị tật bẩm sinh. Tuy vậy đến khi trưởng thành Asoka hoàn toàn chiếm trọn niềm tin của Bindusàra bởi tài thao lược quân sự của mình. Điều này có thể được thấy rõ qua việc ông được Bindusàra phái tới Takkasilà hay Taxilà nhằm dập tắt những cuộc nổi loạn ở đây.. Theo Divyàvadàna, trong thời gian Asoka được cử làm Phó vương tại vùng lãnh thổ Tây Ấn gọi là Avantirattham hay Avantì với Ujjain là thủ phủ, bạo loạn đã xảy ra ở Taxilà mà hoàng tử Sumana, anh trai ông, không thể giải quyếtvì vậy ông được phái tới Taxilà thay hoàng tử Sumana dập tắt cuộc nổi loạn.[19]Sumana tỏ ra bất lực trong những cuộc nổi loạn ở Taxilà và Bindusàra buộc phải gởi Asoka đến dẹp loạn. Tất cả các tài liệu đều không đề cập chế độ học vấn của Asoka. Bản sớ giải Theragàthà có nói đến trường hợp Vitàsoka, em trai Asoka, rất giỏi kiến thức ( vidyà ) cùng các bộ môn khoa học và nghệ thuật khác mà các hoàng tử Sát đế lỵ ( ksatriya-Kumàra ) đương thời phải học tập và nắm bắt. [20] Ta có thể nói rằng Asoka cũng thừa hưởng chế độ giáo dục như các anh em trai mình, bởi ngoài tài thao lượt quân sự, Asoka còn tỏ ra rất xuất chúng trong vai trò trị vì, tài ngoại giao, công tác quản trị, ban hành các điều luật, đặc biệt là chính sách đức trị ( Dharma-vijiya ) mà ông đã đề ra “ vì hạnh phúc và an lạc cho tất cả mọi người cả đời này và đời sau,” như các bia ký của ông đã nói rõ.

Ta cũng không biết đích xác các cuộc hôn nhân của Asoka đã diễn ra như thế nào. Các truyền thuyết và bia ký chỉ thông báocho chúng ta Asoka là người lắm vợ ( polygamist) . Các tài liệu Tích Lan ghi nhận người vợ đầu tiên của ông là bà Devì hay Vedisa-Mahàdevì, con gái một gia đình thương gia giàu có vùng Vedisa. Asoka cưới bà này khi đang làm Phó vương xứ Ujjain. Cuộc hôn nhân đầu tiên này đã cho ra đời hai người con, Mahendra và Sanghamitrà, mà về sau trở thành những người mở đường cho sự xuất hiện của Phật giáo và giáo hội ở Tích Lan ( SriLanka ) . Mahendra là trưởng phái đoàn truyền giáo có công truyền bá Phật giáo vào Tích Lan, trong khi Sanghamitrà mở đường cho sự ra đời của giáo hội Tỷ-kheo ni ( bhikkunìsangha ) tại đây. Mặc dù là người vợ đầu tiên nhưng bà Devì không theo Asoka về kinh đô Pàtaliputra mà vẫn ở lại quê hương Ujjain của mình, thậm chí cả sau ngày Asoka lên nắm vương quyền Maurya. Tương truyền bà Devì đã cho xây dựng một ngôi tinh xálớn ( Mahàvihàra ) tại vùng núi Vedisa ( Vedisagiri ) .Tác phẩm Samantapàsàdikà thuật sự kiện rằng sau khi nhận trách nhiệmgiới thiệu Phật giáo sang Tích Lan , Mahinda đã khởi hành từ Pàtaliputra đến Ujjain thăm mẹ mình và ở lại tại Mahàvihàra một thời gian rồi từ đó đi tiếp sang Tích Lan. Địa danh Ujjain có bảo tháp Sàñchì rất nổi tiếng, lưu lại nhiều truyện tích nói về lòng mến mộ Phật pháp của Asoka, rất có thể được khởi dựng từ thời Asoka hoặc sau đó không lâu để đánh dấu tấm lòng mộ đạo của ông với bà Devì xứ Vedisa.

Người vợ thứ hai của Asoka được ghi nhận là bà Kàruvàkì, sinh hạ hoàng tử Tìvara. [21] Tác phẩm Divyàvadàna nói đến bà Padmàvatì, mẹ của hoàng tử Dharmavivardhana hay còn gọi là Kunàla, như là người vợ thứ ba của Asoka. Bà Asandhimitrà được xem là người thứ tư trong số các bà vợ của Asoka. Cả Mahàvamsa lẫn Divyàvadàna đều thống nhất bà Tissarakkhà hay Tisyaraksità là người vợ cuối cùng của Asoka.[22] Biên niên sử Kashmir có nói đến một hoàng tử tên Jalauka, con trai Asoka, nhưng không cho biết tên người mẹ. Về phía con gái, ngoài Sanghamitrà, con bà Vedisa- Mahàdevì, Asoka cũng được xem là cha của công chúa Càrumatì, người được gả sang xứ Nepal.Truyền thống Nepal [23] đề cập Càrumatì là con gái Asoka, từng theo vua cha chiêm bái thánh tích Lumbinì, về sau kết hôn với hoàng tử Devapàla xứ Nepal. Tương truyền bà và chồng bà đã lập nên thành phố Deopatan hay Devapatana gần Pasupati và xây dựng một ngôi chùa ở phía bắc thành phố này. Các tài liệu Nam truyền và Bắc truyền không thống nhất với nhau về mối quan hệ giữa Asoka và Mahendra. Theo các tài liệuNam truyền lưu giữ trong các tác phẩm Dìpavamsa và Mahàvamsa thì Mahendra ( hay Mahinda) là con trai Asoka, nhưng theo các tài liệu Bắc truyền ghi trong tác phẩm Aśokàvadàna và Divyà-vadàna thì Mahendra không phải con trai mà là em trai Asoka.

III. Các truyền thuyết xoay quanh việc đăng quang của Asoka :

Asoka thừa kế ngai vàng Maurya vào năm 273 trước Công nguyên nhưng chính thức đăng quang ba hay bốn năm sau đó, nghĩa là 270 hay 269 trước Công nguyên. Các truyền thuyếttruyền thống, sử liệu và các sử gia nêu nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh việc lên ngôi của Asoka. Điều này cũng dễ hiểu bởi thứ nhất, xét truyền thuyết Tích Lan thì Bindusàra có rất nhiều con, việc chọn Asoka lên nắm vương vị lẽ tất nhiên đã khiến nảy sinh không ít bất mãn trong số các con cái và đám quần thần luôn tiếp tay cho các ông hoàng bà chúa. Thứ hai, tám năm au khi lên ngôi, tức 262 trước Công nguyên , Asoka từ một con người khét tiếng tàn bạo ( Candàsoka ) chuyển hẳn sang một người đầy nhân từ ( Dhammàsoka ), sự kiện này hẳn đã tạo ra không ít các truyền thuyết và huyền thoại về một ông vua đầy quyền lực nhưng giàu lòng nhân ái như Asoka.

Theo các thông tin ghi chép trong các tác phẩm Dìpavamsa và Mahàvamsa thì việc lên ngôi của Asoka gắn liền với những cuộc chiến tương tàn xảy ra giữa các anh em ông. Mahàvamsa mô tả Asoka là kẻ giết hại 99 anh em trai mình, trừ Tisya, người em cùng mẹ, vì mục đích chiếm đoạt ngai vàng. Bởi sự kiện này Asoka có tên gọi là Candàsoka. Tuy nhiên, theo Divyàvadàna thì sự tranh giành vương vị chỉ xảy ra giữa Asoka và Sumana, anh trai ông, trong đó Sumana bị sát hại. Tàrànath, sử gia người Tây Tạng cho rằng Asoka chỉ sát hại sáu anh em trai. [24] Theo các tài liệu Tích Lan thì trong thời gian làm Phó vương tại Ujjain hay Avantì, Asoka hay tin Bindusàra lâmbịnh nặng, ông liền tức tốc quay trở về kinh đô Pàtaliputra , giết chết tất cả các anh em trai mình, trừ Tisya, để chiếm đoạt ngai vàng. Nhưng theo Divyàvadàna thì lúc Bindusàra lâm chung, ngai vàng Pàtaliputra bị bỏ trống,bấy giờ Asoka tiến hành chiếm đoạt vương vị. Trong cuộc chiến chống lại anh trai mình , Asoka được tể tướng Khallàtaka và 500 triều thần hậu thuẫn. Tác phẩm Mahà-bodhivamsa thuật rằng trong cuộc chiến giành ngôi vị, Asoka đứng riêng một trận tuyến chống lại Sumana, người thừa kế hợp pháp ngai vàng xứ Magadha và được tất cả anh em ông ủng hộ . Trong trận chiến này tất cả 99 anh em trai ông đều bị giết. [25]

Như vậy, cứ theo các tài liệu Tích Lan thì Asoka giết hại tất cả 99 người anh em cùng cha khác mẹ với mình trước khi lên nắm vương quyền Maurya. V.A. Smith không đồng tình với các truyền thuyết Tích Lan cho rằng Asoka giết chết tất cả anh em traimình, trừ Tisya. Theo Smith, chắc chắn các anh chị em ông vẫn còn sống mười bảy hoặc mươi tám năm sau khi Asoka lên ngôi. [26]D.R.Bhandarkar cũng thấy rõ sự mâu thuẫn giữa tài liệu Tích Lan nói rằng Asoka giết chết 99 anh em trai và thông tin các bia ký Asoka cho hay không chỉ một mà nhiều anh em trai của Asoka vẫn còn sống không những ở kinh đô Pàtaliputra mà còn ở các thành phố khác của đế quốc ông. [27]R.Mookerji xem ra cũng không mấy đồng tình với các tài liệu Tích Lan khi nói rằng “ một con người có lòng mong ước cho tất cả anh em và bà con mình được hạnh phúc an lạc đầy cảm động như vậy không thể là một con người tàn bạo, như các truyền thuyết đã gián cho ông .”[28] Sau khi đưa ra nhiều cứ liệu khác nhau về Asoka, đến lượt K.Hazra đi đến nhận xét rằng các tác giả Phật giáo chính thống muốn dệt nên một bức tranh tuyệt đẹp về Phật giáo , những giáo lý cao cả và tính chất vĩ đại của nó, đã nói đến Asoka như một kẻ tàn bạo ( Candàsoka ) và rồi muốn giới thiệu với chúng ta rằng chính nhờ ảnh hưởng to lớn của Phật giáo mà con người khét tiếng tàn bạo này đã trở thành một con người cao cả, một con người đầy từ tâm và thánh thiện nhất.[29]

Quả thực chúng ta khó biết đích xác việc Asoka lên ngôi thế nào và các tác giả Tích Lan có dụng ý tô hồng câu chuyện hay không, như K.Hazra đã nhận xét. Có điều lạ là các tài liệu Tích Lan bảo Bindusàra có tất cả 101 người con , mà toàn là con trai. Điều này hoàn toàn trái với quan điểm của Asoka khi ông nói vầ các anh em trai , các chị em gái và các bà con ông, như được ghi trong các bia ký. Như vậy phải chăng Bindusàra chỉ có toàn con trai hay ngoài 101 con trai ra Bindusàra còn có những người con gái khác mà các tài liệu Tích Lan không nói đến ? Lại nữa, trong số 101 con trai của Bindusàra chỉ có ba người được biết tên là Sumana, Asoka và Tisya. Theo các tài liệu Mahàvamsa, Divyàvadàna và Aśokàvadàna thì tên tuổiSumana, Asoka và Tisya gắn liền với việc chiếm đoạt ngai vàng của Asoka, những người con khác của Bindusàra chỉ là con số được nêu ra. Sumana bị sát hại trong lúc tranh chấp vương vị, Asoka lên nắm ngai vàng còn Tisya được sống sót và về sau được Asoka bổ làm phó vương ( uparàja ) [30] Như vậy con số 101 con trai do tài liệu Tích Lan cung cấp là đúng hay thực sự Bindusàra chỉ có ba người con như được kể tên trong các tài liệu Nam và Bắc truyền ? Từ những điều vừa nêu ta khó tin các truyền thuyết Tích Lan là hoàn toàn xác thực. Bởi vậy, nhận xét của K.Hazra về các tác giả Tích Lan muốn thổi phồng câu chuyện Asoka không phải không có cơ sở. Hazra khiến chúng ta nhớ tới câu chuyện Angulimàla sát hại 999 mạng sống trước khi được đức Thế Tôn cảm hóa, như được ghi lại trong tập Theragàthà và các sớ giải.

Chúng ta có hai tài liệu kinh tạng nói về Angulimàla, một được chép trong Majjhima Nikàya và một được ghi trong tập Theragàthà thuộc Khuddaka Nikàya. Chúng ta không có gì phải nói về tài liệu thứ nhất được đề cập trong bài kinh số 86, Majjhima Nikàya, ngoài việc thán phục sức cảm hóa của đức Phật đối với tên cướp hung bạo Angulimàla và việc Angulimàla từ một tên cướp khét tiếng hung tàn chuyển thành một tu sĩ đầy từ tâm và kham nhẫnTuy nhiên ta không thể không giật mình khi đọc sang tài liệu thứ hai được lưu giữ trong Theragàthà, ở đấy Angulimàla hiện rõ là tên cướp tàn ác. Con số 999 mạng sống bị Angulimàla tước đoạt được ghi nhận bởi các sớ giải Majjhim Nakàya và Theragàthà khiến chúng ta có cảm giác rằng các nhà sớ giải kinh tạng Pàli đã đẩy câu chuyện đi quá xa thực tế.

Các quan điểm bênh vực do việc lên ngôi của Asoka bao gồm các truyền thuyết, những lời tiên tri cũng như lập trường ủng hộAsoka của các triều thần đương thời, như được thấy phần lớn trong tác phẩm Divyàvadàna. Trong tác phẩm Du Thiên Trúcsự,Pháp Hiển ( Fa-hsien ) ghi lại câu chuyện tiền thân của Asoka, kể rằng trong đời quá khứ, khi còn là một cậu bé con đang nghịch cát trên đường, Asoka đã gặp đức Phật Ca Diếp ( Haśyapa ) đang đi khất thực. Cậu bé hoan hỷ nhặt một nắm đầy đất cúng dường cho Ngài. Đức Phật tiếp nhận nắm đất cúng dường của cậu bé. Do nhân duyên này, cậu bé được phước báo trở thành một vị vua Chuyển luân vương trị vì cõi Diêm Phù Đề ( Jambudvìpa ).[31] Trong hồi ký của mình, Nghĩa Tịnh ( I-sting ) có nói đến trường hợp đức Phật báo trước sự xuất hiện của Asoka và vương quốc to lớn của ông. Theo Nghĩa tịnh, trong khi giải thích giấc mộng của vua Bimbisàra về mẫu vải và chiếc gậy vàng biến thành 18 mảnh, đức Phật dạy giáo lý của Ngài sẽ được chia làm 18 trường phái sau hơn 100 năm Ngài nhập Niết bàn và bấy giờ sẽ xuất hiện một vị vua tên Asoka, trị vì toàn cõi Diêm Phù Đề ( Jambudvìpa ).[32] Trong thời gian Bindusàra còn tại vị, vị thầy của ông, một tu sĩ phái Àjìvika, đã tiên đoán Asoka sẽ là người thừa kế ngai vàng Maurya.[33] Divyàvadàna thuật rằng đức Phật đã đoán trước Asoka là một vị vua chân chánh sẽ xây dựng 84.000 bảo tháp để tôn thờ xá lợi của Ngài .[34]Tác phẩm này còn nói thêm rằng Asoka là một vị vua sẽ trị vị một vương quốc rộng lớn bằng Chánh pháp, về sau ( nhà vua) sẽ từ bỏ vương quốc, cạo râu tóc, đắp áo cà saxuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình và sẽ thành một vị Phật Độc giác ( Pratyeka-Buddha ).[35]

Các truyền thuyết và lời tiên tri chỉ nói Asoka sẽ làm vua và là vị vua xứng đáng nhưng không nói Asoka sẽ lên ngôi vua bằng cách nào. V.A.smith dẫn cứ liệu từ các bia ký Asoka và cho rằng Asoka lên ngôi một cách êm thấmphù hợp với nguyện vọng của tổ tiên.[36] Tuy nhiên, theo K. Hazra, việc đăng quang của Asoka đã diễn ra không mấy êm ái bởi nó được tiến hành bốn năm sau khi Bindusàra qua đời, nghĩa là một khoảng thời gian khá dài đủ để làm mờ phai những tranh luận liên quan đếnquyền nắm ngai vàng Pàtaliputra.[37] Theo Divyàva-dàna thì trước khi lâm chung, Bindusàra bảo anh trai Asoka là Sumana nhận trách nhiệm trông coi vương quốc và vì vậy đã sai các triều thần không nghe và giục Asoka chiếm đoạt ngai vàng. Asoka chấp nhận lời đề nghị này .[38] Cũng theo Divyàvadàna, khi được tin một cuộc nổi loạn khác xảy ra ở Taxilà, Bindusàra muốn cử Asoka đến Taxilà dẹp loạn bởi ông đã từng dẹp loạn thành công ở đấy một lần, nhưng các triều thần vốn không ưa Sumana, anh trai Asoka, và muốn đẩy ông này rời xa kinh đô nên đã dàn xếp việc đề cử Sumana đi Taxilà thay vì Asoka.[39] Tài liệu này ghi nhận rằng trong khi hoàng tử Sumana thất bại trong việc dẹp loạn ở Taxilà, ngai vàng Pataliputra bị bỏ trống, Asoka liền chiếm đoạt ngai vàng với sự giúp sức của các triều thần và sau đó tìm cách chống lại anh trai mình, người bị sát hạitrong lúc cố phế truất kẻ cướp ngôi.[40]

Như vậy, theo cả hai nguồn tài liệu Nam truyền và Bắc truyền thì Asoka là người chiếm đoạt ngai vàng vương quốc Magadha. Có điều tài liệu Tích Lan nêu con số người bị sát hại liên quan đến việc chiếm ngôi của Asoka lên đến 99, trong khi tài liệu Bắc truyền chỉ nói một mình Sumana bị giết. Cũng có những tác giả khác không gán cho Asoka bất kỳ hành vi giết hại nào đối với anh em ông nhưng đề cập ông đã áp dụng những chính sách tàn bạo. Tác phẩm Aśokàvadàna, chẳng hạn, mô tả Asoka là kẻ giết hại các thuộc hạ của mình, thiêu sống nhiều phụ nữ trong hoàng cungthiết lập một ngục tù để hành hình những người vô tội.[41]Cũng theo Aśokàvadàna, Asokatreo giá cho những chiếc đầu của các tu sĩ Bà-la-môn cố tình sỉ nhục các tượng Phật, sự việc chỉ chấm dứt khi Vitàsoka, em trai ông ,can thiệp. [42] Những việc như thế này chắc chắn chỉ có thể xảy ra trước khi Asoka chính thức trở thành một Phật tử. Càng về sau, như các bia ký của ông đã nói rõ, Asoka càng tỏ rõ là ông vua hiền thiện và mộ đạoTruyền thuyết Tích Lan kể rằng Asoka quá chăm chút cây Bồ đề đến nỗi bà vợ Tishyarkshita trẻ đẹp của ông trở nên ghen ty muốn triệt hạ cây này. Huyền Trang ( Yuan Chwang ) , nhà chiêm bái và học giả Trung Hoa du học Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ bảy, ghi nhận câu chuyện và nói thêm rằng để bảo vệ , Asoka đã cho xây một bức tường đá bao bọc cây Bồ đề.[43] Theo Pháp Hiển ( Fa-hsien ) , một tu sĩ Phật giáo Trung Hoa đến Ấn Độ khoảng đầu thế kỷ thứ năm, thì bà hoàng này muốn triệt hạ cây Bồ đề vì thường xuyên thấy Asoka lễ bái dưới gốc cây.[44]

Ngày nay đa số các học giả đều cho rằng Asoka trở nên thánh thiện nhờ những ảnh hưởng Phật giáo. Ta sẽ tìm hiểu kỹ vấn đềnày ở các chương tiếp theo.

Dù sao, những việc mà Asoka làm trước khi trở thành một Phật tử chân chính cũng khó tránh được cái tên Candàsoka mà người ta đã gán cho ông. Chỉ một việc ông đánh chiếm xứ Kalinga trong đó hàng trăm ngàn người bị giết chết và hàng trăm người khác bị bắt tù đày và làm nô lệ cũng đủ cho người đời “ban tặng” ông danh hiệu Candàsoka. Không hiếm các vị vua trong lịch sử mang tên như ông Candàsoka. Nhưng hiếm có vị vua nào lại có thể thay đổi tâm tính một cách triệt để như Asoka để từ một người có biệt danh Candàsoka người ta lại tôn xưng ông là Dhammàsoka.

Các niên đại về cuộc đời Asoka và những nhân vật cùng những sự kiện liên quan đến Asoka được rút ra từ nguồn tài liệu bia ký của ông đối chiếu với các tài liệu Nam và Bắc truyền được lưu giữ trong các tác phẩm Mahàvamsa và Divyà-vadàna, như sau :

. 304 trước Công nguyên – Asoka ra đời.

. 286 trước Công nguyên- Asoka được bổ làm Phó vương Ujjain; cùng năm ấy ông cưới bà Devì, con gái một thương gia dòng họ Sàkya.

. 284 trước Công nguyên- Mahendra, con trai lớn của Asoka, ra đời.

. 282 trước Công nguyên- Sanghamitrà, con gái lớn của Asoka, ra đời.

. 274 trước Công nguyên- Cuộc chiến tranh giành vương vị xảy ra; hoàng thái tử Sumana bị giết hại; Asoka chiếm ngai vàng; Nigrodha, con trai hoàng thái tử Sumanra, ra đời.

. 270 trước Công nguyên- Asoka chính thức đăng quang.

. 270-266 trước Công nguyên- Tissa, em trai Asoka được bổ làm Phó vương ( Uparàja ).

. 268 trước Công nguyên- Sanghamitrà, con gái Asoka cưới cháu trai của ông là Agnibrahmà.

. 267 trước Công nguyên- Sumana, con trai Sanghamitrà và là cháu ngoại Asoka, ra đời.

. 266 trước Công nguyên- Asoka cải giáo, chuyển sang tín ngưỡng Phật giáo do công Nigrodha; Asoka chuyển hóa em trai mình là Tissa thành Phật tử; Tissa xuất gia thọ đại giới dưới sự dẫn dắt của Mahàdhammarakkhita; Aghibrahmà, con rễ và là cháu trai Asoka, xuất gia thọ đại giới.

. 264 trước Công nguyên- Mahendra, con trai Asoka, xuất gia thọ đại giới; Sanghamitrà, con gái Asoka, xuất gia thọ đại giới.

. 263 trước Công nguyên- Kunàla, con trai Asoka và Padmàvatì, ra đời.

. 262 trước Công nguyên- Chinh phục Kalinga.

. 262-254 trước Công nguyên- Sự kiện thanh lọc Tăng già do Asoka và Moggaliputt Tissa tiến hành.

. 253 trước Công nguyên- Hội nghị kiết tập kinh tạng lần thứ ba được tổ chức ở Pàtaliputra dưới sự chủ trì của Moggaliputta Tissa và do Asoka chính thức bảo trợ; các đoàn truyền giáo được gởi đi nhiều quốc gia khác nhau nhằm phổ biến giáo lý của đức Phật.

. 252 trước Công nguyên- Mahendra đưa Phật giáo vào Tích Lan.

. 240 trước Công nguyên- Hoàng hậu Asandhimitrà qua đời.

. 236 trước Công nguyên- Tisyaraksità được cất lên làm chánh hậu.

. 235 trước Công nguyên- Kunàla được bổ làm Phó vương Taxilà.

. 233 trước Công nguyên- Tisyaraksità ganh tỵ muốn triệt hạ cây Bồ đề vì thường xuyên thấy Asoka lễ bái dưới gốc cây.

. 232 trước Công nguyên- Asoka qua đời sau khi trị vì được 38 năm.


[1] R.Mookerji,Asoka,tr.1-2

[2] Phát hiện Ấn Độ, tập I,tr.217.

[3] AIU,tr,54.

[4] PSP,VIII,229f.

[5] MR,Act IV;VNP,IV,24.

[6] HFRAI,tr.45.

[7] MV,tr,27-30.

[8] DVY,tr.370.

[9] Như trên, tr,409.

[10] GBE, tr.29.

[11] PHAI,tr.268-69.

[12] CMT,tr.65.

[13] JBORS, II, 1916,tr.81.

[14] RPBAI,tr.58.

[15] LLEA,tr.320

[16] MVT,IV,125.

[17] MV,tr,28.

[18] DVY,tr.233.

[19] Như trên,tr,234.

[20] Theragàtha Commentary, Colombo, 1918,tr,295.

[21] Trụ đá Allahabad.

[22] R.Mookerji, Asoka,tr.8.

[23] EB,II,Fascile 2,tr.185.

[24] R.Mookerij, Asoka,tr, 4; B.M Barua, Asoka and his Inscriptions,tr.36.

[25] MBV,tr.99.

[26] EHI,tr.163.

[27] D.R.Bhandarkar, Asoka,tr.8.

[28] R.Mookerji, Asoka,tr.6.

[29] RPBAI.tr.68.

[30] R.Mookerji, Asoka,tr.7.

[31] RBK,tr.90.

[32] ARBRIMA,tr,14.

[33] DVY,tr.234-35.

[34] DVY,tr.368.

[35] EB,II,Fascile,2,tr.190.

[36] EHI,tr.163-64.

[37] RPBAI,tr.63.

[38] DVY,tr.372-73.

[39] DVY,tr.371.

[40] R.Mookerji, Asoka,tr.3.

[41] R.Mookerji,Asoka,tr,4.

[42] V.A.Smith,Asoka,tr.229-30.

[43] R.Mookerji,Asoka,tr.5-6.

[44] Như trên,tr.6.

Tạo bài viết
Cứ mỗi mùa Phật Đản về, là hoa đăng trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè lung linh sắc màu huyền ảo..
Đức Đạt Lai Lạt Ma hội thoại với dân Việt Nam tại Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng cũng như một nhóm người Việt tại nơi cư trú của ngài ở thị trấn Dharamsala, Ấn Độ