Phật Giáo & Những Tản Văn

21/12/20191:00 SA(Xem: 1792)
Phật Giáo & Những Tản Văn

PHẬT GIÁONHỮNG TẢN VĂN
THÍCH ĐỒNG BỔN
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC

LỜI GIỚI THIỆU

bia_phat_giao_va_nhung_tan_van (1)Ngày nay, văn hóa Phật giáo đã trở thành một truyền thống trong tâm hồn người Việt, ngoài kinh điển do các bậc Đại lão Hòa thượng dày công sưu tập và biên dịch, Phật tử chúng ta còn có rất nhiều tư liệu sách báo để tìm hiểu, học hỏi và bổ sung thêm kiến thức vào tư duy trí tuệ.

Phật giáo và những tản văn là một trong những tư liệu về Phật giáotác giả đã trình bày với cả tấm lòng để đưa những hình ảnh thực tế trong Phật giáo đến với bạn đọc. Bạn đọc sẽ nhìn thấy lãng đãng một Khuất Nguyên trong cụ Thiều Chửu, một thiền phái Trúc Lâm trong thuyết Tam hợp, một hoài bão nhân gian Phật giáo trong lòng Hòa thượng Thích Trí Hải, một tấm lòng nặng trĩu của tác giả đối với Phật giáo Hà Tĩnh. Nhiều và còn nhiều hương vị ngọt ngào trong tâm hồn của tác giả đối với Phật giáo mà bạn đọc sẽ từ từ nếm thử khi đọc từng trang sách này.

Khi xuất bản tác phẩm này, chúng tôi chỉ mong muốn được chia sẻ với bạn đọc một tấm chân tình, một tầm nhìn bao quát nhưng sâu sắc đối với nền văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm Phật giáo và những tản văn đến với bạn đọc.

Mùa Đông năm Canh Dần, 2010
Công ty Văn Hóa Phát Quang
Kính bút.

MỤC LỤC

Lời Giới Thiệu
Thiền Phái Trúc Lâm Với Thuyết Tam Hợp
Phật Giáo Trúc Lâm Đâu Chỉ Có Thiền Học
Hòa Thượng Thích Trí Hải
Với Hoài Bão Nhân Gian Phật Giáo
Phương Nam Nghĩ Về Hòa Thượng Tuệ Tạng
Kỷ Niệm 100 Năm Ngày Sinh Cư Sĩ Thiều Chửu
Lãng Đãng Một Khuất Nguyên
Trĩu Nặng Bên Lòng Với Phật Giáo Hà Tĩnh
Truyện Kể Các "Đường Tăng" Việt Nam
Sống Và Chết Thế Nào Cho Có Ý Nghĩa
Quan Điểm Dân Tộc Qua Tác Phẩm Của Sư Thiện Chiếu
Thử Tìm Mô Hình Phát Triển Phật Giáo
Từ Bối Cảnh Lịch Sử Hòa Thượng Tố Liên
Thiền Và Tịnh Độ Trong Mạch Sống Việt Nam
Hãy Trở Về Với Truyền Thống
Phải Có Một Hệ Thống Truyền Bá Hữu Hiệu Hơn
Lịch Sử Ngôi Tổ Đình Sắc Tứ Phước Sơn
Chùa Phật Tích Với Thiền Phái Trúc Lâm (Bài Viết Hội Thảo Khoa Học Về Chùa Phật Tích trong Tiến Trình Lịch Sử.)
Đóng Góp Thêm Các Bản Dịch Mới Về Bài Kệ Của Thiền Sư Từ Đạo Hạnh (Hội thảo kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long)

 

 

THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
VỚI THUYẾT TAM HỢP([1])

Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

Àây là một câu ca dao nói lên tinh thần đoàn kết là sức mạnh làm nên tất cả. Lịch sử dân tộc ta đã có vị vua anh hùng, biết dựa trên sức mạnh toàn dân mà làm nên chiến thắng hiển hách đánh đuổi ngoại xâm phương Bắc, và cũng chính vị vua này thành công trong cả ba lĩnh vực Quân sự – Chính trị – Đạo học, tạo nên Phật giáo Trúc Lâm dựa trên nền tảng thuyết Tam hợp để thống nhất về một mối. Nghiên cứu về lý thuyết này, chúng ta thấy rằng vua Phật Trần Nhân Tông đã vận dụng thuyết Tam hợp qua các lĩnh vực sau:

1. Thuyết Tam hợp qua các thiền phái

Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), ông vốn là người Nam Thiên Trúc (Ấn Độ) nhưng lại đắc pháp thiền với tổ Tăng Xán, là tổ thứ ba từ khi Đạt Mạ tổ sư truyền thiền phái này sang Trung Quốc. Sau đó, ông sang Việt Nam truyền đạo lập phái thiền đầu tiên ở nước ta tại chùa Pháp Vân. Dòng thiền này tồn tại và phát triển từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ XI với sự truyền thừa qua 19 đời. Đây là một thiền phái mang tính cách dân tộc, tích cực giúp đời nhưng đơn giảnphù hợp với các tầng lớp nhân dân, dầu vẫn có triết lý siêu việt của đời sống tâm linh. Điển hình qua các thiền sư Pháp Thuận, Từ Đạo Hạnh, Vạn Hạnh, Minh Không v.v... Thiền phái này mang ý thức tự chủ dân tộc và màu sắc Thiền-Mật do hai luồng tư tưởng Ấn-Hoa giao thoa với bối cảnh người Việt thời bấy giờ.

Thế kỷ thứ IX thì Việt Nam lại xuất hiện dòng thiền Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc truyền sang. Vô Ngôn Thông đắc pháp với tổ Bách Trượng Hoài Hải, ngài sang Việt Nam ở tại chùa Kiến Sơ, truyền pháp cho người Việt Nam đầu tiên là thiền sư Cảm Thành. Dòng thiền này truyền thừa qua 15 đời với tổ Cảm Thànhsơ tổ, mang sắc thái nhập thế hành đạo. Những thiền sư tiêu biểu như Khuông Việt, Viên Chiếu, Thông Biện, Mãn Giác, Không Lộ, Thường Chiếu v.v...

Thế kỷ thứ XI khi Lý Thánh Tông thu phục ba châu mới về cho Đại Việt, thì xuất hiện thiền phái Thảo Đường từ một người tù binh vốn là thiền sư từ Trung Quốc bị bắt sau chiến thắng quân Chiêm Thành. Thiền của Thảo Đường với quan điểm "quan gia, vua chúa đều giác ngộ" chứ thiền không còn là riêng của các nhà sư. Thiền phái này đã đem đến một luồng gió mới là thiền sư không nhất thiết phải mặc áo thiền, minh chứng qua đa số người giác ngộ ở dòng thiền này là Cư sĩ chiếm hơn phân nửa.

Cả ba thiền phái trên đây đã được Trúc Lâm Đầu Đà tiếp thu tư tưởng, vận dụng dung thông để hợp nhất thành thiền phái Trúc Lâm. Qua Tuệ Trung Thượng Sĩ hay Cư Trần Lạc Đạo Phú, ta thấy dáng dấp của tư tưởng Thảo Đường. Qua thiên tài trị nước an dân đánh đuổi ngoại xâm, ta thấy sự hiện diện của đặc điểm nhập thế Vô Ngôn Thông. Qua ý thức tự chủ dân tộc, ta thấy sự tiếp thu tinh thần Việt hóa của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tất cả cùng bổ sung cho nhau làm nên sức mạnh của Phật giáo Trúc Lâm.

2. Thuyết Tam hợp qua các pháp môn

1/ Thiền học

Thiền là yếu tố căn bản của đạo Phật để thấy được chân tâm và làm chủ bản thân trước mọi sự vật hiện tượng, hay trước mọi hoàn cảnh mà tâm mình luôn tự tại. Thiền họcphương pháp giác ngộ bằng tự lực của chính bản thân mình soi ngược vào nội tâm. Cho nên các pháp môn tu của Phật giáo, kết quả của sự công phu là làm cho định lực phát sinh nơi chính tự thân, có như thế mới mong thoát khỏi sự chìm đắm trước mọi dòng chảy của cuộc đời. Hầu hết những hành giả đều có nội lực thông qua thiền định mới có thể dẫn dắt mọi người.

2/ Mật giáo

Mật giáo du nhập vào Việt Nam theo chân các nhà truyền giáo Ấn Độ, phù hợp với Phật giáo quyền năngtín ngưỡng Thần linh bản địa.Với thuật Sấm vĩ, trì chú, chiết phục trấn áp cái ác, khuyến tu điều thiện, Mật pháp được các thiền sư sử dụng làm phương tiện thu phục quần chúng, mục đích nhờ tha lực hỗ trợ truyền bá chánh pháp và do công năng luyện tập của mình để giúp đời. Có thể thấy như các ngài Định Không, Vạn Hạnh đã vận dụng mật pháp hòa quyện vào tín ngưỡng dân gian hình thành chủ nghĩa Địa Linh...

3/ Tịnh độ

Tịnh độ là pháp tu tha lực, nương nhờ Phật lực tiếp dẫn vãng sinh sang cõi nước Tịnh độ để tiếp tục thuận duyên tu hành. Đây là pháp môn dễ tu, dễ phổ cập mọi tầng lớp quần chúng. Còn với các thiền sư lúc bấy giờ, niệm Phật tức là niệm tâm, Phật tức tâm, tâm tức Phật. Ở pháp tu này, chỉ rõ cứu cánhcõi tịnh độ hay là niết bànmục tiêu để hành giả đạt tới nếu như không thể bằng sức mình đi đến giác ngộ.

Phật giáo Trúc Lâm, trước đó vua Trần Thái Tông cũng nói về niệm Phật qua tác phẩm Niệm Phật Luận và coi trong cả ba hình thức đọc kinh, tọa thiền, niệm Phật (243:LSPGVN: Viện Triết học). Khuynh hướng dung hòa Thiền và Tịnh ở Trần Thái Tông còn có cơ sở trong quan điểm kết hợp tự lực với tha lực của ông. Trong bài tựa Lục thời sám hối khoa nghi, ông đã viết rằng: "Năng sở lưỡng y, Phật ngã song kế": có nghĩa là phải dựa vào cả hai, cả Phật và cả ta (244:sđd).

Trần Nhân Tông, khi ông du hành Đầu Đà trong dân gian, khuyến hóa mọi người phá bỏ các miếu thờ dâm thần, dạy người tu thập thiện. Ta biết rằng Thập thiện là giới tu căn bản thứ hai sau Ngũ giới của nhà Phật, Thập thiện là ý đồ của Nhân Tông làm nền tảng đạo đức xã hội, nhưng cũng chỉ là làm lành lánh dữ, chưa phải là pháp tu công phu rốt ráo của Phật giáo. Thử nghĩ lúc ấy nếu không khuyên họ niệm Phật ăn chay làm lành thì ngài khuyên họ tu theo pháp gì? Không lẽ với những người mới bước chân theo đạo Phật còn nặng nề tín ngưỡng dân gian như thế, Trúc Lâm Đầu Đà đã truyền trao ngay cho họ pháp tu tự lực về thiền quán?

Một luận cứ nữa để chứng minh vua Phật Trần Nhân Tôngsử dụng pháp môn tịnh độ: đó là di vật gọi là xá lợi của ngài hiện còn lưu giữ tại chùa Hương, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ngôi chùa này là nơi ngài lui binh về thế thủ trước sự tấn công ồ ạt của giặc Nguyên Mông, để rồi củng cố tướng sĩ, lập nên lời nguyện bằng hai chữ "Sát Thát" mà nay tấm bia đá vẫn còn ở trước chùa này. Không biết khi nào ngài để lại di vật này, mà được bao đời nhân dân địa phương lưu giữ cho đến ngày nay. Tôi có duyên may được Sư thày trụ trì mở khám cho chiêm bái xá lợi, thì ra đó là một xâu chuỗi tay gồm 18 hạt, vật này được mọi người cung kính tương truyền rằng đó là xá lợi của Phật hoàng Trần Nhân Tông lưu lại. Với di vật xá lợi này, có thể khẳng định ngài đã có sử dụng pháp môn tịnh độ trong việc hoằng bá Phật giáo Trúc Lâm thời bấy giờ.

Bởi vì Tịnh độ tha lực phù hợp các hạng người bình dân mới bước vào đạo, nên pháp môn này rất phổ biến do lối tu tắt dễ hành trì. Chỉ cần Tín, Hạnh, Nguyện tam hợp đầy đủ, người niệm Phật sẽ chắc chắn được tiếp dẫn vãng sinh, còn nếu tiến sâu hơn về quán chiếu nội tâm, thì niệm Phật đó chính là niệm tâm như Trần Thái Tông đã khai thị vậy.

4/ Kết hợp

Về phương pháp luận, ba pháp môn này khó có thể cùng sử dụng thực hành đồng thời, bởi mục tiêu và cách hành trì khác nhau. Trần Nhân Tông là một thiền sư và là một vị vua, nên việc củng cố giáo hội thống nhất về một mối nghĩa là biết vận dụng khả năng Thể – Tướng – Dụng để dung thông, thì ba pháp môn trên cùng hòa quyện trong Phật giáo Trúc Lâm, trở thành một thiền phái mang đủ ba yếu tố Thiền-Mật-Tịnh.

Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự khác biệt của thiền phái Trúc Lâm khác hẳn các thiền phái khác. Ở Trung Hoa, đã là thiền thì chỉ chuyên nhất về thiền mà không có sự pha trộn các pháp môn khác. Chính vì thế, thiền của Vua Phật Trần Nhân Tông là một thiền phái đặc thù của dân tộc Việt Nam. Bất cứ ai là người Việt cũng đều có quyền tự hào về vị Vua Phật này, dù họ thuộc lĩnh vực nào trong đời sống xã hội, thì tố chất đoàn kết và dung thông của Trần Nhân Tông vốn là nền tảng dân tộc ở mỗi con người chúng ta.

3. Tam hợp các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão

1/ Phật kết hợp Nho-Lão

Ý tưởng tam hợp Nho, Phật, Lão của Trần Nhân Tông là sự kế thừa tư tưởng của Trần Thái TôngTuệ Trung Thượng Sĩ. Khuynh hướng dung hòa Phật giáo với Nho, Lão giáo đã thể hiện rõ nét nhất từ thời Trần Thái Tông. Ông ý thức rõ ràng trong việc sử dụng các chức năng khác nhau của Phật giáoNho giáo trong đời sống xã hội. Trong Tọa thiền luận, ông đã đi đến kết luận: "Ấy là thánh hiền của tam giáo đời xưa cũng đã từng ngồi định mà được thành tựu" (246:sđd)

Với Tuệ Trung Thượng Sĩ, vốn là thầy của Trần Nhân Tông, ông chủ trương là sống hòa vào đời, không làm trái quy luật tự nhiên là nguyên tắc sống của ông. Trần Nhân Tông đã từng viết về ông: "Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngỗ" (Sống chung với đời tục, hòa ánh sáng trong cõi trần, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay trái ngược" (256:sđd). Rõ ràng hành trạng ngao du không màng thế sự của Tuệ Trung đã mang yếu tố Lão Trang trong đời sống thiền.

Nhân Tông tiếp thutrân trọng nguyên tắc sống của thầy mình, nhưng ngài tiến sâu hơn bước nữa là dung hợp cả hai xu hướng nhập thế của Nho giaxuất thế của Đạo gia, để đưa ra một hình ảnh Phật giáo Trúc Lâm có đủ hai yếu tố trên hợp với triết lý Phật gia làm chủ đạo, thành một nền tảng quốc giáo hùng mạnh nhất lịch sử của nhà Trần và của Phật giáo Việt Nam.

2/ Nho-Lão kết hợp Phật

Phát triển quan điểm này, chúng ta có thể tìm thấy ở Ngô Thì Nhậm với khuynh hướng kết hợp Nho và Phật trong tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh ở nửa bán thế kỷ XVIII. Đây là kết quả mà các nhà Nho học sau này khi nghiên cứu tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm. Tầng lớp Sĩ phu thời đại này có tâm trạng băn khoăn, khi những thực tế xảy ra đều trái với điều dự đoán và mong muốn của họ. Họ phải tìm lối thoát ra khỏi bế tắc từ những di sản cha ông đã có và cách nhìn nhận thực tế quan điểm lịch sử đã qua. Họ thấy Nho, Phật, Lão cùng tồn tại bên nhau là hiện tượng thường xuyên của lịch sử dân tộc, nhất là thời đại Lý Trần, rồi nêu lên thành một học thuyết là "Tam giáo đồng nguyên".

Ngô Thì Nhậm và các bạn bè đồng chí mở thiền viện ở nhà riêng của mình tại phường Bích Câu thành phố Thăng Long (Hà Nội ngày nay), cùng nhau bàn luận những điều của Phật giáo thiền tôngđặc biệt là của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam (358: sđd). Đó là nguyên nhân ra đời của tác phẩm Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Mục đích sách này là kết hợp Nho, Lão và Thiền làm một khối, tùy trường hợp mà vận dụng, nhập thì dùng Nho, xuất thì dùng Thiền, sống tự nhiên như Lão... Cũng từ chủ trương này, Phật giáo Trúc Lâm giai đoạn phục hưng cũng đã mang màu sắc Tam giáo đồng nguyên. Ta còn có thể thấy rõ hơn qua hành trạng của các nhà sư có công phục hồi Phật giáo Trúc Lâm giai đoạn này như Hương Hải, Chân Nguyên...

Những dữ kiện trên đây thực ra đã nằm trong ý tưởng của Trần Nhân Tông khi ông dùng thuyết Tam hợp để thống nhất thiên hạ về một mối. Trí tuệ và tài ba của người anh hùng dân tộc, của vị thiền sư giác ngộ này để lại cho đời sau một tâm nguyện lớn lao như thế.

4. Phật giáo Trúc Lâm, vấn đề của ngày nay

Xác định những tiền đề trên đây, mục đích bài viết này là góp phần phục hưng những giá trị di sản của Tây Yên Tử, từ ngôi tổ đình Vĩnh Nghiêm ở thôn Đức La tỉnh Bắc Giang. Mục đích để thế hệ ngày nay tìm trở về nguồn cội, cần nhận thức giá trị đích thực của Trúc Lâm Yên Tử mà không đi chệch hướng. Vấn đề cần khôi phục hiện nay, là chúng ta sống trong hào quang của Trúc Lâm ngày xưa mà chưa hẳn hành trạng theo đúng tôn chỉ của Trúc Lâm. Những hiện tượng khá phổ biến ngày nay như sau:

1/ Xu hướng bên trong Phật giáo

Xưng danh là thiền Việt Nam, tôn chỉTrúc Lâm, nhưng hành trạngtruyền thừa đều rập khuôn như các thiền phái ở Trung Hoa.

Triều Hậu Lê thế kỷ 16, các nhà Sư như Viên Văn-Chuyết Chuyết, Minh Hành-Tại Tại, Minh Châu-Hương Hải, Chính Giác-Chân Nguyên... Dầu là người Hoa hay người Việt, Lâm Tế hay Tào Động, họ đều qui ngưỡng về Phật giáo Trúc Lâm như cội nguồn và phát triển trên tinh thần lấy Trúc Lâm làm nền tảng Phật giáo dân tộc.

Ngày nay nước ta xuất hiện các giáo phái đi ngược chủ trương trên của Trúc Lâm. Họ truyền bá cho người tu hành trì theo nghi thức, công án của các dòng thiền du nhập từ nơi khác, còn Trúc Lâm chỉ là tinh thần dân tộc, là sự tập hợp các tinh hoa các dòng thiền trước đó chứ chưa phải là thiền rốt ráo của Phật, của Tổ! Các thiền phái mới này cho rằng chỉ có sự truyền thừa từ những dòng thiền chính tông du nhập ấy, mới chính thức đưa hành giả giác ngộ chân tâm thôi! Có phái thì chủ trương, đã chính thống thiền thì đâu có nhập thế xuất thế gì, mà phải tự tại vô ngại không màng thế sự, hoặc lánh đời vui thú yên hà, đấy mới là hành trạng của thiền! Sự quảng bá đường lối này thu hút khá nhiều người tu không còn nhận ra đâu là thiền Việt đâu là thiền Hoa, đâu là vua Nam, đâu là tổ Bắc, đâu là ta, đâu là người. Phương pháp của họ vô hình chung đưa hành giả tu tập đi đến trạng thái vô phân biệt.

Điều này đã khiến thiền Việt Nam nhuốm màu Lão Trang, hay nói cách khác là Lão Trang hóa Phật giáo, khác với ý đồ của thiền phái Trúc LâmPhật giáo hóa Lão Trang. Xu hướng của những thiền phái này khiến người tu đi dần đến chỗ tiêu cực với xã hội, khiến các bậc thức giả ngộ nhận xem đạo Phật là một tôn giáo yếm thế.

2/ Xu hướng bên ngoài Phật giáo

– Nạn thần thánh hóa Trúc Lâm Đầu Đà phát sinh tín ngưỡng mê tín trong dân gian.

Thiền sinh định, định sinh trí tuệ, thế thì thiền của Trúc Lâm thượng sĩtrí tuệ của Việt Nam. Trần Nhân Tông là một bậc anh hùng đầy trí tuệ, cộng với sự giác ngộ từ thiền định. Cả đời ngài chưa bao giờ sử dụng quyền năng trong đánh thắng giặc Nguyên Mông, mà chỉ bằng trí tuệsử dụng sức mạnh tập thể của dân tộc để bảo vệ tổ quốc và cho sự nghiệp ích nước lợi nhà. Ngay cả đến khi thị tịch, ngài cũng chưa từng hiển thánh hay ở lại cõi giới này làm thần, sử sách đều không thấy ghi chép lại những biểu hiện ấy.

Thế nhưng ngày nay, nhiều nhóm tín ngưỡng đa thần giáo lại lấy ngài làm biểu tượng, đã khiến ngài trở thành một vị thần trấn quốc, vị thánh chữa bệnh cứu đời, một vị chính thần có nhiệm vụ đi phá trừ các tà thần khác. Ta có thể gặp hiện tượng này rất nhiều, có vua Trần hiển thánh xuất phát từ những ngọn núi linh ứng trong dân gian, có sự ứng thần ở các chùa miếu đền phủ. Rồi có những phái lập ra đạo tràng Trần Nhân Tông, chỉ thờ vua Trần là Phật tổ của họ mà chê bai đạo Phật ngày nay là tà đạo, Tăng sĩ là tà giáo, chỉ có họ mới tu hành đúng pháp của Trần Nhân Tông, họ tạc tượng ngài để thờ phụng như vị thần trấn sơn mà chẳng biết chân dung yếu chỉ đích thực của ngài thế nào. Những giáo phái này trú ngụ dọc các ngọn núi thiêng từ Nam chí Bắc như: Ba Vì (Hà Tây), Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), Châu Thới (Đồng Nai), Núi Cấm (Châu Đốc), Bà Đen (Tây Ninh)... Nếu chúng ta không gạn đục khơi trong, nêu cao tư tưởng chính thống Trúc Lâm, thì sẽ còn biết bao người sẽ đi vào con đường mê tín sai lạc chính pháp.

5. Kết luận

Cuối cùng, người viết hình dung một viễn cảnh: Bất cứ giáo hội, thiền phái nào, sở hữu được mục đíchtôn chỉ Trúc Lâm đúng nghĩa, ứng dụng phù hợp thực tế hiện tại; đối tượng ấy sẽ có được quần chúng và họ có quyền mang danh Phật giáo Trúc Lâm. Thế thì sao chúng ta lại chẳng nương đó mà phục hưng chốn tổ Vĩnh Nghiêm, nơi Trúc Lâm Đầu Đà đã từng tu học, trở thành cái nôi phía Tây Yên Tử, là một chốn tổ Phật giáo Trúc Lâm thế hệ mới, kế tục đầy đủ phẩm chất tư tưởng của Vua Phật Trần Nhân Tông, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận là một Thiền phái Trúc Lâm chuẩn mực, qui tụ tất cả thiền sinh với những tiêu chí chính thốnghành nguyện như:

–  Phụng sự lợi ích dân tộc, trung thành Tổ quốc Việt Nam.

–  Khẳng định tôn chỉ thiền Trúc Lâmtích cực nhập thế.

– Có phong thái hòa hợp giữa các pháp môn Thiền – Tịnh – Mật.

–  Nối pháp hậu học bằng dòng kệ chính thức của Trúc Lâm.

Và để kết thúc bài tham luận này, người viết có vài câu văn vần gửi đến hội thảo khoa học về chốn tổ Vĩnh Nghiêm:

      Đôi dòng ôn cố tri tân

Những mong gạn đục khơi trong pháp thiền

      Phục hưng chốn tổ hiện tiền

Vĩnh Nghiêm tỏ rạng tiên hiền Nhân Tông

      Noi gương Thượng Sĩ Trúc Lâm

Gồm thâu muôn pháp vào trong một nhà

      Tiếp thu ý chỉ người ta

Chứ đừng vay mượn phương xa hơn mình!

      Bạch cùng thức giả chân tình...

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15-09-2010

Tài liệu tham khảo:

–             Phật giáo Việt Nam Sử Luận-tập II, Nguyễn Lang, NXB Văn Học, Hà Nội 1994

–             Lịch sử Phật Giáo Việt Nam, Viện Triết Học, NHB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1991

–             Lược Khảo Phật Giáo Sử Việt Nam, Vân Thanh, tác giả XB, Sài Gòn 1974

–             Tuần báo Đuốc Tuệ trọn năm 1941, Bắc kỳ Phật Giáo Hội, Quán Sứ XB, Hà Nội 1941

–             Tài liệu hội thảo Trúc Lâm Yên Tử, Tỉnh Quảng Ninh 2006

 

PHẬT GIÁO TRÚC LÂM
ĐÂU CHỈ CÓ THIỀN HỌC([2])

Tư tưởng Phật giáo Trúc Lâmtư tưởng thiền học thống lĩnh các lĩnh vực chính trị, văn hóa, văn học, tín ngưỡng, thấm sâu vào xã hội Đại Việt. Đó là hệ tư tưởng làm nền tảng độc lập tự chủ quốc gia trước các cuộc xâm lăng của giặc Nguyên Mông thời bấy giờ, trở thành một thiền phái đặc thù của dân tộc. Nhưng nếu chỉ như thế, thì làm sao thấm nhuần đến mọi tầng lớp và phổ cập đại chúng để tồn tại dài lâu cho đến ngày nay được?

A. NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU

Sự hợp nhất các thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn ThôngThảo Đường quy về một mối Phật giáo Trúc Lâm, là cách dụng công đồng hành của các thiền sư nhà Trần, trong công cuộc giữ nước bảo vệ độc lập dân tộc bằng hành động nhập thế tích cực của Phật giáo Trúc Lâm, tiêu biểu cho sự thống nhất trải qua bao thăng trầm lịch sử của Phật giáo Việt Nam. Ngoài tư tưởng thiền học sáng chói, Phật giáo Trúc Lâm còn có những giá trị khác để trở thành linh hồn của Phật giáo Việt Nam mà ai ai cũng tự hào mình là con cháu của Trúc Lâm Tổ sư.

1. Giá trị dung hợp vô ngại

Phật giáo thời Trần mạnh mẽ và lan tỏa rộng rãi nhờ sự hỗ trợ và cổ súy của triều đình, bắt nguồn từ các vua Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông đều rất giỏi về Phật học. Trong đó, thời đại Nhân Tông là thời đạiPhật giáo hưng thịnh đến cực độ. Họ nhiệt tâm ủng hộ Phật giáo chính vì họ là phật tử, mặt khác cũng là để liên kết nhân tâm trong việc xây dựngbảo vệ đất nước.

Trong thời Trần, tinh thần dung hợp và tự do là chủ yếu. Không bao giờ có chuyện chống đối và chỉ trích Nho giáo cùng Lão giáo. Mặc dù là hệ tư tưởng chủ đạo, nhưng Phật giáo đã để cho Nho giáoLão giáo tự do phát triển. Chính những phật tử thuần thành nhất như Thái Tông và Thánh Tông đã mở rộng Nho giáo. Năm 1253, Thái Tông lập Quốc Học Viện ở kinh đô và tạc tượng Chu Văn An, Khổng tử, Mạnh tử cùng vẽ tranh 72 vị tiền hiền để thờ cúng. Thánh Tông còn cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở trường dạy Nho học. Vào các khoa thi năm 1232, 1247 tổ chức để kén chọn nhân tài, triều đình đãi ngộ nhân tàisĩ phu rất kính cẩn, cho nên người giỏi xuất hiện rất nhiều và sự học phát triển rất rộng. Lê Quý Đôn đã nhận xét trong Kiến Văn Tiểu Lục: "Bởi vì nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hòa vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn vĩ vượt ra ngoài lưu tục, làm quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất, há phải đời sau kịp được đâu" ([3]).

2. Giá trị tích cực của từ bi nhập thế

Tinh thần từ bikhoan dung của đạo Phật không phải là đồng hành với nghĩa tiêu cựcquên lãng thế sự. Điều này có thể minh chứng qua Hội nghị Diên Hồng do Trần Nhân Tông triệu tập đã nói lên được sự đồng tâm nhất trí của vua dân thời ấy. Quyết nghị đồng thanh "Đánh" là tiếng nói của ý thức tự chủtinh thần tự cường tự lực của dân tộc Việt. Đó cũng là thể hiện tính thống nhất trên dưới một lòng của Phật giáo nhập thế đời Trần.

Năm 1362, vua Minh Tông ngự ở phủ Thiên Trường, ra cáo thị hễ trong nhân dân ai có đói và bệnh thì có thể đến đấy để xin hai viên thuốc Hồng Ngọc Sương do triều đình chế tạo, với hai quan tiền và hai thăng gạo. Những năm mất mùa, nhiều người bệnh tật, triều đình hay khuyến cáo những nhà giàu dâng thóc gạo để triều đình phát chẩn cho dân nghèo, và ban tước phẩm cho những nhà giàu dâng thóc gạo.

Việc làm của những vị vua nhà Trần tuy đều sử dụng tiềm lực Phật giáo làm chính trị để liên kết nhân tâm, nhưng không vì vậygiả danhphật tử. Họ là những phật tử chân chính và đều có ý nguyện phụng sự đạo Phật song song với việc phụng sự quốc giatriều đại của họ.

B. PHẬT GIÁO TRÚC LÂM ĐÂU CHỈ CÓ THIỀN HỌC

Nói đến Phật giáo Trúc Lâm, là nói đến sự rực rỡ của thiền học Trúc Lâm. Đúng là dòng thiền này là đỉnh cao tột của Phật giáo Trúc Lâm, nhưng đâu chỉ thiền học mới gọi là Phật giáo Trúc Lâm? Điểm độc đáo của dòng phái này là tông chỉ tam pháp ấn: Thiền – Tịnh – Mật. Đây mới là những giá trị độc đáo khác đã làm cho Phật giáo Trúc Lâm tồn tại dài lâu với dân tộc do thâm nhập được vào đời sống thực tế của các tầng lớp từ trí thức cho tới bình dân, từ quan vị cho tới dân giả, ai ai cũng có thể tu tập và tự hào là mình là môn đệ Phật giáo Trúc Lâm.

1. Phật giáo Trúc Lâmxu hướng Tịnh độ

Ở đây chúng tôi không nghĩ riêng chỉ gọi là thiền phái Trúc Lâm mà còn có các danh từ khác toàn diện hơn, như thiền sư Nhất Hạnh thì gọi là Giáo hội Trúc Lâm, chúng tôi đề nghị nên gọi là Phật giáo Trúc Lâm. Vì thực sự trong Phật giáo Trúc Lâm vốn có đủ các yếu tố Thiền – Tịnh – Mật. Như chúng ta biết, từ thời Lý, Phật giáo đã có đủ ba pháp môn này phổ biến, nhưng thiên về Mật giáo nhiều hơn. Đến đầu thời Trần, các vị vua phật tử lại xem trọng yếu tố thiền học hơn, hầu như lược hẳn yếu tố Mật giáo, nhưng vẫn giữ lại pháp môn niệm Phật trong thời khóa.

Vấn đề niệm Phật đã được Trần Thái Tông và Tuệ Trung đề cập tới. Đối với cả hai người, niệm Phật cũng như ngồi thiền, có mục đích gạn lọc tâm ý và thể hiện pháp thân. Thái Tông có nói đến việc "sinh về nước Phật", trong đoạn văn sau:

"Đối với bậc hạ trí, miệng phải chuyên niệm lời Phật, tâm phải mong thấy tướng Phật, thân phải nguyện sinh nước Phật, ngày đêm siêng năng tu hành không thoái chuyển, sau khi mạng chung sẽ tùy thiện niệm của mình mà được sinh về nước Phật, sau đó được nghe chính pháp do chư Phật giảng dạy mà chứng được quả vị Bồ đề, cũng đạt tới địa vị Phật..." ([4])

Thái tông hai lần nói tới việc "mượn đến phương pháp niệm Phật" cho ta thấy vua xem niệm Phật cũng là một phương tiện thiền định, bởi niệm Phậtgạn lọc tâm ý, diệt trừ ác nghiệp, phá trừ những chướng ngại tâm lý để làm hiển lộ bản tính mà cũng là Phật tính.

Bài thơ của Tuệ Trung về tịnh độ cũng cho biết ông xem đức Phật A Di Đàtự tâm của mọi người, là pháp thân có mặt khắp nơi như ánh trăng có trên mọi sóng nước của đại dương vào một đêm thu lạnh:

"Tâm nội Di Đà tử mạ khu

Đông tây nam bắc pháp thân chu

Trường không chỉ kiến cô luân nguyệt

Sát hải trùng trùng dạ mạn thu".

Tạm dịch:

Di Đà vốn thực pháp thân ta

Nam bắc đông tây khắp chói lòa

Trăng thu ngự giữa trời cao rộng

Đêm lặng trùng dương rạng chiếu xa.([5])

Qua đến Nhân Tông sau khi giao ngôi vua cho Anh Tông, ngài xuất gia theo Phật lấy pháp hiệuTrúc Lâm Đầu Đà, vân du khắp nơi trong dân gian để tìm hiểu dân tình và cổ súy Phật pháp. Theo Thánh Đăng Ngữ Lục chép lại, năm Giáp Thìn 1034, thượng hoàng "đi khắp xóm làng để giáo hóa và trừ bỏ các việc thờ cúng bậy, dạy cho thực hành mười điều thiện"([6]). Ngoài hướng dẫn nhân dân hành thập thiện, chắc chắn ngài khuyến trợ họ hành trì niệm Phật, cũng là tha lực chính đạo ắt được vãng sinh về nước Phật, như thế mới có hiệu quả thay thế cho tha lực tà đạo của các miếu thờ tà bậy được phá bỏ.

Trong giới xuất gia, ở những buổi nhóm chúng vào thời Trúc Lâm, tăng sĩ cũng đã áp dụng phương pháp niệm Phật tập thể. Sách Thiền Đạo Yếu Học có ghi lại cuộc vấn đáp của Trúc Lâm với vài vị tăng trong khi đại chúng đang thực hành phương pháp niệm Phật trên chính điện([7]). Qua sự kiện này cho ta thấy ngày nay, phương pháp niệm Phật tập thể này vẫn được các sơn môn miền Bắc duy trì trong thời khóa hằng ngày. Đây có phải chăng là một dấu ấn về tịnh độ của Phật giáo Trúc Lâm còn được duy trì đến nay?

Chứng cứ pháp môn tịnh độ thịnh hànhđời sau Trúc Lâm còn rõ nét hơn, qua việc vua Anh Tông nhân ngày lên làm thái thượng hoàng đã cho đúc tượng đồng ba vị Phật Di Đà, Thích CaDi Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta([8]). Câu A Di Đà Phật còn là câu chào hỏi đầu cửa miệng trong tuyệt đại quần chúng miền Bắc từ bao đời, nó như là câu tuyên ngôn rõ nét nhất về sự phát huy mạnh mẽ của Phật giáo miền Bắc, hậu duệ đích tôn của Phật giáo Trúc Lâm xa xưa. Thế thì tại sao chúng ta không cảm nhận được cái quốc hồn quốc túy này là một trong những thành tố truyền thống của Phật giáo Trúc Lâm, bởi tinh thần của Trúc Lâm là tổng hợp và dung nạp vô ngại?

Ngoài ra, thiền học Trúc Lâm có một thời bị mai một bởi giặc xâm lăng và bởi không có người truyền thừa. Còn truyền thống niệm Phật lại như là sợi chỉ xuyên suốt bao đời, khiến truyền nhân học Phật không bị mai một để mang lấy trọng trách lưu giữ những di sản tinh thần của Phật giáo Trúc Lâm xưa, làm mạng mạch duy trì cho Trúc Lâm ngày nay được phục hưng vậy.

Ta biết rằng qua lời dạy của Thái Tông, đời sống bậc hạ trí thì lấy niệm Phật làm phương tiện vãng sinh cảnh giới nước Phật; đời sống bậc trung trí thì lấy niệm Phật tương tục không vong thất gián đoạn làm tự tâm thuần thiện; đời sống bậc thượng trí thì lấy tâm chính là Phật, chủ thề niệm và đối tượng niệm là một không khác. Thế thì biết rằng, há chẳng phải là học thuyết Trúc Lâm đó ư?

2. Phật giáo Trúc Lâmxu hướng Mật giáo

Sau thời kỳ rực rỡ thiền học của các vua đầu nhà Trần dần dần lắng xuống. Kể từ đầu thế kỷ XIV, để củng cốphổ biến Phật giáo Trúc Lâm, các vua và thiền sư đời sauxu hướng đưa thêm Mật giáo vốn đã rất thịnh từ thời Lý vào hệ thống học thuyết Trúc Lâm. Mật giáo được phát triển trở lại từ thời Anh Tông và Pháp Loa, nổi bật trong xu hướng này là thiền sư Huyền Quang.

Năm 1318, vua Anh Tông xuống chiếu đi tìm vị tăng sĩ Ấn Độ tên là Ban Để Đa Ô Sa Thất Lợi về dịch một cuốn kinh Mật giáo tên là Bạch Tán Thần Chú. Pháp Loa để tâm rất nhiều vào việc trì chú, như trong Tam Tổ Thực Lục nói "Sư thường ngày đêm trì chú lễ Phật". Ông cũng có phân tích một kinh văn có khuynh hướng Mật giáo gọi là Kim Cương Trường Đà La Ni Khoa Chú. Vua Anh Tông, Văn Huệ Vương, Uy Huệ Vương và nhiều người khác đã được thiền sư Pháp Loa làm lễ quán đỉnh, một nghi thức của Mật giáo.

Ảnh hưởng Mật giáo thời Trúc Lâm không hẳn trực tiếp từ Lạt Ma giáo Tây Tạng, dù rằng thời này đã có nhiều tăng sĩ Ấn Độ như Bồ Đề Thất Lý Tây Tạng như Du Chi Bà Lam đến sinh sống và truyền giáo tại Đại Việt. Mật giáo thời Trúc Lâm là sự đan xen của tam pháp ấn Thiền – Tịnh – Mật trong phương pháp hành trì, tương tự phương pháp của ngài Vĩnh Minh Diên Thọ ở Trung Hoa, trì chú đồng thời với phương pháp niệm Phậttọa thiền. Còn Mật giáo Tây Tạng thì trực tiếp trì chú làm công năng hành trì chính. Từ thế kỷ XIV trở đi, trong thiền môn đã sử dụng các thần chú Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, Đại Bi Tâm Đà La Ni và mười bài thần chú ngắn được đưa vào trong thời khóa tụng niệm buổi sáng, áp dụng trong thiền môn cho tới ngày nay. Truyện Tổ Gia Thực Lục có nói tới buổi tụng kinh của Huyền Quangđại chúng vào canh ba. Đây chắc chắn là một trong các thời khóa tụng niệm, trong đó yếu tố Tịnh độMật giáo đã trở thành quan trọng([9]).

Thiền sư Huyền Quang là người chế tạo ra đài Cửu Phẩm Liên Hoa ở chùa Tư Phúc-Côn Sơn, chùa Ninh Phúc-Bắc Ninh (tức chùa Bút Tháp). Tòa Cửu Phẩm này là một cái tháp có thể xoay vòng trong khi niệm Phậttrì chú. Tháp xoay có chín tầng và tám mặt. Mỗi mặt của tầng dưới chạm nổi hình ảnh sự tích Phật, trong đó có hình Cực Lạc Thế Giớiđức Phật A Di Đà. Ngày nay ta còn thấy các tòa Cửu Phẩm này còn ở chùa Cửu Phẩm-Hải Dương, trú xứ của thiền sư Chân Nguyên (1647 – 1726), một hậu duệ của thiền phái Trúc Lâm([10]). Vậy thì không chỉ có thiền sư Huyền Quang làm tòa Cửu Phẩm, mà các thế hệ tăng sĩ thiền sư đời sau đã vẫn tiếp nối truyền thống tu học này. Hình ảnh chiếc tháp xoay là minh chứng cho ảnh hưởng Mật giáo Tây Tạng đã truyền đến và được dung nạp vào hệ thống Phật giáo Trúc Lâm.

Một khía cạnh khác của sự thực hành Mật giáo cũng trở thành phổ biến và quan trọng trong Phật giáo đời Trần: đó là việc tổ chức các trai đàn chẩn tế, gọi là "Diệm Khẩu Phổ Thí Pháp Hội", có nghĩa là những đại hộ về Phật Pháp để bố thí thức ăn cho loài quỷ đói. Phép tổ chức đàn chay này, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư được du nhập vào Đại Việt từ năm 1320, thiền sư Pháp Loa tổ chức trai đàn chẩn tế tại chùa Phổ Ninh trong cung để cầu cho thượng hoàng Anh Tông sống lâu thêm, và cũng trong dịp đó cũng làm lễ quán đảnh cho thượng hoàng([11]). Ngày nay, trong thời khóa tụng buổi chiều của các chùa, đều có nghi thức Mông Sơn Thí Thực Văn, đó là những nghi thức mang ảnh hưởng Mật Giáo phổ biến.

C. ĐÚC KẾT QUAN ĐIỂM

Phật giáo đời Trần đã là một yếu tố liên kết nhân tâm quan trọng. Tinh thần Phật giáo đã khiến cho các nhà lãnh đạo áp dụng những chính sách bình dị, thân dân và dân chủ. Chính Nhân Tông đã sử dụng được tiềm năng của Phật giáo để phục vụ cho chính trị quốc gia và khiến cho Phật giáo Trúc Lâm trở nên một lực lượng tôn giáo hùng mạnh yểm trợ cho triều đại.

Bởi thế, để củng cố triều đạiphù hợp lòng dân, tông chỉ tam pháp ấn Thiền – Tịnh – Mật được phổ cập hóa trong giới tăng lữ để dẫn dắt các tầng lớp nhân dân dễ dàng trong việc hành trì các phương pháp phổ biến, chứ không chỉ có tư tưởng thiền học cao siêu ở tầng lớp tăng sĩ và trí thức vương tôn mới hội đủ yếu tố tham học được.

Từ những giá trị lịch sử này, đã phác thảo cho chúng ta xác định mục tiêu nghiên cứu phục hồi và phát triển Phật giáo Trúc Lâm ở ngày nay, khởi đầu từ cái nôi Yên Tử-Quảng Ninh, rồi sẽ được nhân rộng đến khắp Việt Nam và đi xa hơn nữa. Ngoài công cuộc phục hồi thiền học do thiền sư Thanh Từ đảm trách, chúng tôi thiết nghĩ, các nhà hoạch định phát triển Phật giáo Trúc Lâm nên để tâm vào các giá trị khác, đó là học thuyết Trúc Lâm với tông chỉ tam pháp ấn, đã tồn tại vững bền trong lòng người dân và phật tử miền Bắc qua câu niệm Phật A Di Đà như câu chào trên cửa miệng, rồi các thời khóa trai đàn pháp hội theo khoa nghi của Tổ Huyền Quang đã soạn ra. Đây mới chính là nét văn hóa riêng, là phong tục hội lễ tín ngưỡng đặc thù của nước nhà, song hành cùng nền tín ngưỡng bản địa truyền thống mà không hề chống trái trở ngại nhau.

Dẫu rằng, thiền học đời Trần là tột đỉnh của thiền học Trúc Lâm, nhưng như đầu đề bài tham luận này, Phật giáo Trúc Lâm đâu chỉ có thiền học? Mà chúng ta phải ra sức biến thành một học thuyết Trúc Lâm, là một học thuyết Phật giáo Việt Nam mang tính toàn diệnphổ cập, trong đó bao hàm tông chỉ tam pháp ấn của Trúc Lâm: Thiền – Tịnh – Mật. Hiện nay, chúng ta chi mới phục hồi được một phần của thiền học Trúc Lâm, nếu chỉ cho đó mới đúng là Thiền phái Trúc Lâm thì không gì phải bàn. Nhưng nếu cả quyết đó là Phật giáo Trúc Lâm thì thật sự khiên cưỡng và khập khiểng, bởi bỏ quên hai thành tố Tịnh – Mật vốn dĩ đã nuôi sống và bảo vệ truyền thống Trúc Lâm cho đến tận ngày nay bằng cách hành đạo, tu học, giữ gìn chùa chiền và di chỉ của Trúc Lâm truyền thừa.

Chỉ khi nào, mọi ứng dụng cốt lõi của những giá trị khác ngoài thiền học của Phật giáo Trúc Lâm, được đưa vào phát triển hài hòa trong thực tiễn ngay trên vùng đất lịch sử Quảng Ninh, với các di chỉ Phật giáo Trúc LâmYên Tử – Quỳnh Lâm – Mạo Khê – Côn Sơn... Chỉ đến khi ấy, cái nhìn đúng và toàn diện về Phật giáo Trúc Lâm phổ cập mới thật sự phát huy tính năng với những giá trị truyền thống văn hóa tín ngưỡng đặc thù của dân tộc Việt, làm nên niềm tự hào dân tộc, để cho mỗi người con đất Việt và du khách, bạn bè thế giới có được cảm nhận lịch sử và cái hồn của Phật giáo Trúc Lâm khi tìm về du khảo chiêm bái vùng đất địa linh này.

Viết xong ngày 30. 09. 2005
Tại Tp. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

–             Toàn tập Trần Nhân Tông. Lê Mạnh Thát, NXB TP. HCM 2000

–             Phật Giáo Việt Nam Sử Luận. Nguyễn Lang, NXB Văn Học, Hà Nội 1994

–             Lược Khảo Phật Giáo Sử Việt Nam. Vân Thanh, Tác Giả XB, Sài Gòn 1974

–             Đạo Phật Việt Nam. Thích Đức Nghiệp, NXB TP. HCM 1995

–             Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam. Nguyễn Tài Thư, NXB KHXH, Hà Nội 1991

–             Thiền Sư Việt Nam. Thích Thanh Từ, NXB TP. HCM 1997

 

 

HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ HẢI
VỚI HOÀI BÃO NHÂN GIAN PHẬT GIÁO
([12])

Tôi có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một đệ tử xuất gia của ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời: "Mục đích tu hành không phải để làm chính trị". Cũng câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu với hàng pháp lữ tăng ni đưa tiễn.

Khi sưu tập tư liệu về cuộc đời của ngài, tôi may mắn gặp được các bậc tri thức cao đồ của ngài kể lại. Nay, nhân có cuộc hội thảo về phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và công hạnh của ngài, tôi xin được góp thêm đôi điều.

1. Hòa thượng tiên phong của phong trào chấn hưng.

Năm 1929, phong trào chấn hưng Phật giáo do Hòa thượng Khánh Hòa và Sư Thiện Chiếu ở miền Nam phát động đã lan khắp Bắc Trung Nam. Khi ấy Hòa thượng Trí Hải còn là một thanh niên tăng mới 25 tuổi, đang ở độ tuổi đầy nhiệt huyết, đã đi tiên phong trong cuộc cải cách Phật giáo, với những ý tưởng: mở trường đào tạo, Việt hóa kinh điển bằng quốc ngữ, công tác từ tế xã hộiphổ cập hóa giáo lý nhà Phật đến đại đa số quần chúng.

Giai đoạn này, ở miền Bắc vẫn là những cuộc thăm dò dư luận trong các giới trí thức, sĩ phu, tăng sĩ... Hòa thượng Trí Hải là người đơn phương độc mã như ngài Khánh Hòa tại miền Nam, chuyên chú vào việc tập tìm kiếm nhân sự nòng cốt để khai sinh hội Phật giáo Bắc kỳ. Ngài chủ trương vận động sự tham gia của ba đối tượng sau:

1) Giới tu sĩ xuất giatại gia phật tử như: Hòa thượng Phan Trung Thứ, Hòa thượng Tế Cát, Hòa thượng Tố Liên, Cư sĩ Thiều Chửu-Nguyễn Hữu Kha, Cư sĩ Nguyễn Trọng Thuật, Văn Quang Thùy...

2) Giới nhân sĩ trí thức như Bác sĩ Trần Văn Lai, Bác sĩ Trần Duy Hưng và các ông: Nghiêm Xuân Yêm, Dương Đức Hiền, Đỗ Đức Dục...

3)  Giới quan lại trong bộ máy thống trị để tranh thủ ảnh hưởng của họ trong việc thành lập hội như Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Năng Quốc...

Sa môn Trí Hải một mình với túi chuông mõ đi gõ cửa từng nhà "quan to" đất Bắc, để tuyên truyền về giáo lýđạo Phật "mới" theo tư tưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo. Ngài không chỉ thuyết giảng mà còn thông qua các hình thúc khác để tiếp cận và vận động nhiều đối tượng. Chẳng hạn ngài xin phép gia chủ thiết lập đàn tràng, dựng tranh tượng Phật, đốc thúc gia nhân quét dọn bày biện... Những câu kinh "Cầu trường thọ đắc trường thọ, cầu phú nhiêu đắc phú nhiêu, cầu quan vị đắc quan vị, cầu nam nữ đắc nam nữ" đánh trúng tâm lý ông bà chủ, và dĩ nhiên thế là khóa tụng được thành công tốt đẹp. Sư ông Trí Hải lúc ấy cũng không quên tập họp con cái gia nhân trong nhà để giải thích sơ lược về đạo Phật, để động viên những gì tốt đẹp trong con người họ.

Với chiến thuật đó, Hòa thượng đã tranh thủ được tình cảm hầu hết giới quan lại Bắc kỳ và được họ hứa giúp đỡ nhất là hai nhân vật nổi tiếng trong bọn họ là Hoàng Trọng Phu và Nguyễn Năng Quốc. Một giai thoại vẫn còn truyền tụng cho tới nay là chuyện báo "Loa" đăng hình Nguyễn Năng Quốc mặc y đeo chuỗi tràng và đang gõ mõ tụng kinh kèm theo lời chú thích: "Chú Tiểu Nguyễn Năng Quốc". Xem ảnh, quan đại thần thế lực hàng đầu này đã cười bảo: ‘Cái tụi phàm phu ngu muội, không biết xuất gia tu Phật là một vinh hạnh, thực ra nó đề cao ta đó".

Đến năm 1934, Hội Bắc Kỳ Phật Giáo được thành lập, tập họp nhiều người trong giới trí thức quan lại. Hòa thượng Trí Hải chỉ đứng một chân khiêm tốn trong hội, nhưng ước nguyện của ngài đã đạt được.

Năm 1936, lúc phong trào chấn hưng khắp ba miền đã có cơ sở vững chắc, cơ quan ngôn luận và chi hội, khuôn hội được thành lập khắp các tỉnh thành, thì đó cũng là lúc tình hình chính trị xã hội có nhiều biến động.Trước tiên là Mặt Trận Bình Dân (Front Populaire) do Leon Blum lãnh đạo mới thắng thế trong quốc hội Pháp, chủ trương nới lỏng chế độ cai trị cho các thuộc địa. Sở dĩ phải nhắc đến sự kiện này, vì dư luận lúc ấy cho rằng thực dân Pháp cho phép thành lập các hội Phật giáo ở cả ba kỳ, thực chất là để thân Pháp và ru ngủ phong trào giải phóng dân tộc. Điều này sai về cơ bản mà còn có ý phủ nhận công lao của những chiến sĩ tiên phong trong công cuộc chấn hưng đạo Phật, trong đó có Hòa thượng Trí Hải. Ta có thể thấy ngay rằng, cũng vào năm 1936 tại nước Đức, phong trào Chủ Nghĩa Quốc Gia Xã Hội (Nazi) của Hitler đã bắt đầu nổi lên. Chính quốc Pháp cần phải để yên cho các phong trào giải phóng ở các xứ thuộc địa, hầu rảnh tay chuẩn bị đối phó với chủ nghĩa phát xít. Chính nhân tố đó góp phần làm cho phong trào chấn hưng được thành công ở cả ba miền, và cũng chính hai sự kiện xã hội vừa nêu, cũng là yếu tố giúp các phong trào cách mạng có cơ hội bám rễ vào lòng dân tộc, dưới vỏ bọc các hội Phật họccơ quan ngôn luận Phật giáo. Họ đã dựa rất nhiều vào Phật giáo để xây dựng tổ chức và làm bình phong hoạt động. Họ gồm toàn trí thức "Tây học", nghĩa là được đào tạo sau chế độ thi củ Hán học đã cáo chung theo Nhà nước phong kiến (1915 – 1916)

Cụ thể như: đảng Dân chủ của Dương Đức Hiền, và về sau đảng Xã Hội của Nghiêm Xuân Yêm, các đảng viên đảng Cộng Sản Đông Dương cũng dựa vào chi nhánh "Hội Phật tử Việt Nam" để làm chỗ núp cho cơ sở cách mạng từ năm 1940, sớm nhất vào thời đó. Thế thì, đó chẳng là cái nôi bộc phát của chủ nghĩa yêu nước và các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc sau này đó sao?

2. Tư tưởng Nhân gian Phật giáo

Chính ở giai đoạn này, khi tư tưởng "Nhân gian Phật giáo" của Nguyễn Trọng Thuật khởi xướng, thì Hòa thượng Trí Hải cùng với người cộng sựCư sĩ Nguyễn Hữu Kha là người xung phong thực hiện. Nhân gian Phật giáo trong tâm tưởng Hòa thượng Trí Hải là phác thảo một khu vực xã hội Phật giáo thuần túy, nằm song song bên một xã hội thực tế. Trong "quốc độ Phật giáo" của ngài, có kinh tế tự cung tự cấp, không các tệ nạn, không giai cấp giàu nghèo, chỉ có người bình đẳng với người, đều phát tâm tu thiện làm lành, từ bi cứu khổ, không các chướng duyên ác nạn và kẻ xấu. Đó phải chăng là một kiểu xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Phật giáo? Điều này được ngài biến thành thực tế vào năm 1943 qua chương trình kiến thiết một Đại Tòng Lâm rộng 20 mẫu tây ở ga Thường Tín-Hà Đông và có 50 mẫu ruộng làm kinh tế ở Thái Bình, trước khi cách mạng tháng Tám thành công. Sau này, khi Hòa thượng Thiện Hòa học ở Bắc trở về, các Đại Tòng Lâm Phật giáo ở miền Nam được thành lập theo chí hướng ấy. Bắt đầu bằng Đại Tòng Lâm trên 100 mẫu đất ở Phú Mỹ, Bà Rịa lập thành. Tiếp sau nữa là các nơi khác như Phật Tích Tòng Lâm của Tổ đình Linh Sơn và khu Thiền viện Thường Chiếu ở Long Thành.

3. Quan điểm dân tộc hóa nghi lễ

Ngài là một tiên phong trong vấn đề Việt hóa kinh điển, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Hán ngữ ở hầu hết các chùa miền Bắc xưa nay tụng niệm. Đây là nền tảng cho việc phổ cập hóa giáo lý đạo Phật, nhưng không có nghĩa là làm nhẹ đi tính chất bác học của chữ Hán mà cốt để giáo lý ấy được hiểu trọn vẹn bằng ngôn ngữsuy nghĩ của người Việt, khiến cho triết lý đạo Phật trở thành những áng văn học Việt Nam, cũng như dễ dàng đi sâu vào các tầng lớp quần chúng. Trong lĩnh vực này Hòa thượng là người triệt đểtiến bộ nhất ở cả ba miền Bắc Trung Nam, nhất là sau chuyến công du Trung Quốc, ngài thấy rằng các nước Tàu, Nhật, Cao Ly đều có phong trào học tập nghiên cứu Phạn văn, tìm hiểu Phật giáo từ chính gốc để so sánh đối chiếu với bản ngữ, không phải lệ thuộc vào kinh điển Hán văn nữa. Đó cũng là tư tưởng tiến bộ của ngài cũng như bao sĩ phu khác, với hoài bão muốn độc lập tự chủ về mặt văn hóa ngôn ngữ nước nhà.

Trong cuốn "Chú thích khóa tụng Chú Thủ Lăng Nghiêm Suramgama" là một trong số rất ít công trình của ngài còn lưu lại, ngài viết: "Ta thường truyền tụng, thần chú chỉ có Phật mới hiểu, người tụng chỉ cần thành tâm, điều này là một sai lầm lớn. Mỗi vần thơ vi diệu đó mà âm thanh và những nốt rung của nó đã được tính đúng để có tác dụng và giao cảm đến sự vật, đến quỷ thần và không phải là hoàn toàn vô nghĩa. Hán văn là thứ chữ tượng hình không diễn tả được "thanh". Quan hỏa là thứ tiếng không bắt chước được tiếng Phạn, tiếng Việt ta hoàn toàn làm được việc đó. Người Tàu chỉ đọc gần đúng còn ta xưa căn cứ vào Hán tự lại đọc chẹo ra nữa...". Bởi vậy, theo ngài "Nam mô Sat đát tha sô ga tha da" chứ không phải là "Tát đát tha tô già đa da", vì cụm từ "sardartha sogataya" có nghĩa: Xin cho hết thảy đấng xuất Thế gian che chở v.v... lại có nghĩa cái tàn lọng trắng tinh thanh tịnh trên đầu Phật che chở v.v... Nhưng vì thời đó không có một tổ chức một bộ phận chuyên môn làm khuôn mẫu cho nghi thức – mà cứ mạnh ai nấy đọc cho tới ngày nay cũng vậy – nên cao kiến hơn đời của ngài chỉ là sự kêu gọi đơn lẻ, người đọc thì cứ đọc, còn người biết mà can đảm dám sửa lệ cổ theo cách của ngài thì rất ít. Vả lại, sư giao lưu văn hóatruyền thông thời đó còn nhiều hạn chế.

Trong Việt hóa nghi lễ, ta còn thấy ngài đã biên soạn rất nhiều sách tụng niệm phổ thông ra chữ Việt văn vần để mọi người dễ dàng đọc tụng, như các sách "Nghi thức tụng niệm", "Gia đình giáo dục", "truyện Phật Thích Ca", "Đồng nữ La Hán"...

Ngoài ra, những nơi ngài góp công xây dựng hoặc trú trì như chùa Quán Sứ, chốn tổ Bồ Đề, chùa Phật giáo Hải Phòng... trên 30 năm, ngài đã sáng tác rất nhiều câu liễn đối bằng chữ Việt, thay thế cho những câu liễn đối chữ Hán vốn tồn tại từ bao đời ở hầu hết chùa tháp miền Bắc. Đây là một bước đột phá nữa đưa chữ quốc ngữ vào thay cho lề thói cũ mà ngài một lần nữa cũng là người tiên phong, điển hình như 2 câu đối ở mặt tiền chính điện chốn tổ Bồ Đềđến nay bút tích vẫn còn đó nguyên đấy:

– Quay đầu cửa Phật đây không hẹp,

Tiến lên bờ giác tới Bồ Đề

– Cả chín cõi đều cùng kính mộ,

Khắp muôn đời đâu đấy quy y.

4. Tinh thần yêu nước và nhập thế cứu khổ

Trong nạn đói năm Ất Dậu, tinh thần từ bi cứu khổ của ngài thật sự tỏa sáng, khi cùng với Hòa thượng Tố Liên và Cư sĩ Thiều Chửu thành lập Tổng hội Cứu tế đặt tại chùa Quán Sứ. Tự thân ngài đã đeo băng chữ thập đỏ kéo xe bò đi quyên góp gạo. Một mặt, ngài cho lập một dãy bàn trước chùa Quán Sứ để phát cơm cháo cho đồng bào. Hòa thượng tự mình đích thân chăm sóc mọi người, nếu thấy ai đói quá thì phải đổ từng muổng cháo, rồi để nằm nghỉ khỏe mới cho ăn cơm. Nhờ thế, ngài đã cứu được rất nhiều người khỏi chết đói và chết no. Ngài lại dựng lên Cô Nhi Viện nuôi hơn 200 trẻ thất lạc bơ vơ do nạn đói gây ra.

Vào năm 1941– 1942, ngài ủy thác cho Cư sĩ Thiều Chửu thành lập nghĩa trang Tế Độ để giúp đỡ người nghèo khó trong việc tang ma. Đối với trẻ em, ngài cũng lập nên trường học Phổ Quang để dạy dỗ miễn phí cho học trò cả chữ nghĩađạo đức. Hai cơ sở này tọa lạc ở ngoại ô Hà Nội. Công hạnh từ bi cứu khổ của ngài, còn mãi trong lòng những người dân, những người phật tử xứ Bắc và được truyền tụng cho con cháu họ đến ngày nay, dẫu họ ở tại quê huơng hay đã di cư xa xứ.

Chính vì tấm lòng từ bi, chấp nhận đồng cam cộng khổ gắn bó vời quần chúng Phật tử còn nghèo khó mà ngài đã ở lại quê hương miền Bắc chứ không xuống tàu ra đi theo làn sóng di cư vào Nam lúc chia đôi đất nước. Ở đây ta thấy ánh lên trong ngài một lòng yêu nước lớn lao. Ta có thể nhìn thấy tấm lòng này qua việc ngài đã nổi giận thật sự với đệ tử khi sư ông này xin phép xuống Hải Phòng để xuôi Nam: "Chú muốn vào Nam thì hãy lột áo ra khỏi chùa và về nhà ngay". Hòa thượng chỉ tay ra đường nói với đầy vẻ thất vọng giận dữ. Lập trường yêu nước và sống chết với tín đồ của ngài thật là dứt khoát.

Một điểm nữa cần nhìn nhận lại về tư tưởng của ngài khi có quan điểm cho rằng ngài đã bị người Nhật mua chuộc thông qua việc để Watanabe của đảng Hắc Long được phép mở trường dạy tiếng Nhật miễn phí ở cạnh chùa Quán Sứ. Ta thấy rằng lập trường dân tộc nơi ngài rất dứt khoát khi kiên quyết gạt mọi phần tử thân Nhật cùng đảng Đại Việt ra khỏi Hội Phật Giáo. Có lẽ do chủ trương một đạo Phật thuần túyquan điểm "người tu Phật không làm chính trị" mà ngài không chấp nhận các đảng phái chính trị len lỏi trong Hội Phật Giáo, thế nên Hòa thượng bị gán cho quan điểm như thế. Ta phải thấy rằng, bởi vì thời ấy do đất nước còn chưa được độc lập tự chủ, chiến tranh và nhiều thế lực chính trị nổi lên, nếu không là theo quan điểm này thì cũng là thuộc phe phái nọ, đó là suy nghĩ của mọi người trong ly loạn vậy.

*

Với Hòa thượng Trí Hải, một nhân tố nồng cốt của phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Bắc, chúng ta nhận thấy rằng, tư tưởng tiến bộ của ngài, là ý thức được tình trạng hủ lậu và lạc hậu của Phật giáo sau nhiều thế kỷ nặng nề phong kiến. Hoài bão cách tân nơi ngài thực sự là một cuộc cách mạng Phật giáo, một cuộc cách mạng tư tưởng, thổi bùng lên làn gió mới về một nền Phật giáo tích cực nhập thế. Còn hơn thế nữa, khi mục tiêu lớn hơn của ngài ở lập trường dân tộc thời ấy, là dự định trùng tu di tích Trúc Lâm Yên Tử, biểu tượng của Phật giáo truyền thống Việt Nam, làm sống lại thời đại Lý – Trần oanh liệt của lịch sử dân tộc.

Dấu ấn của ngài như còn bàng bạc đâu đây, khi hàng ngũ kế thừa sự nghiệp ấy ngày nay đã đưa đạo Phật hòa nhập vào xã hội, trở thành một tôn giáo tích cực nhập thế, từng bước thực hiện các hoài bão của ngài để lại. Ở điểm này, chúng ta cần nhìn lại quan niệm về "Nhân gian Phật giáo" của ngài cũng có chỗ phiến diện. Đạo Phật với quan điểm từ bi, không có ranh giới cho cho mọi hình thái định chế xã hội. Tôi cho rằng, quan niệm về Nhân gian Phật giáothời đại phát triển của Phật giáo hiện đại, phải là đưa Phật giáo hòa nhập vào mọi góc cạnh của xã hội, khiến phát huy hết tính tích cực cải tạo xã hội, tốt đạo đẹp đời, bằng nền tảng đạo đức hành thiện. Có như thế thì mới gọi là Nhân gian Phật giáo, đó là một thế giới hòa bình không chiến tranh, không bạo lực, chứ không phải chỉ là một hoặc nhiều "quốc độ Phật giáo" nằm rải rác trong xã hội rộng lớn quanh ta. Như thế, quan niệm Nhân gian Phật giáo của ngài chỉ là một giải pháp xã hội, một mô hình khởi điểm, chứ chưa thể là một mục tiêu sau cùng của đạo Phật.

Về giáo dục, đến nay chúng ta cũng mở ra các cấp trường lớp đào tạo Tăng tài khắp 3 miền đất nước. Về kiến tạo, chúng ta cũng đã trùng tu di tích Trúc Lâm Yên Tử trở thành quần thể văn hóa tôn giáo du lịch, góp phần phát huy tính tích cực của Phật giáo lên cao trào, để Phật giáo đồng hành cùng đất nước tiến vào kỷ nguyên văn minh phồn thịnh. Nơi chân trời Bát Nhã kia, chắc hẳn ngài cũng đã mãn nguyện về những gì chúng ta đã tiếp bước hoàn thành tâm nguyện ấy của một bậc tiên phong.

Viết tại Chùa Phật học Xá Lợi
 Ngày 06-05-2006

Tài liệu tham khảo:

–             PGVN Sử Luận tập III, Nguyễn Lang, Lá Bối xb, Paris 1978

–             Việt Nam Niên Biểu 1939-1975, Chính Đạo, Văn Hóa xb, Hoa Kỳ 1996

–             Biên Niên Sử Phật Giáo Gia Định-Sài Gòn, Trương Ngọc Tường, TP.HCM xb, 2001

–             Danh Tăng Việt Nam tập I, Thích Đồng Bổn, NXB Thành Phố, TP.HCM xb 1995

–             Tập Kỷ Yếu Hội Phật Giáo, Đuốc Tuệ xb, Hà Nội 1936

–             Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, Vân Thanh, tác giả xb, Sài Gòn 1974

–             Niên biểu Phật Giáo Việt Nam, Trần Tri Khách, trang nhà Quảng Đức, 2002

 

 

PHƯƠNG NAM NGHĨ VỀ
HÒA THƯỢNG TUỆ TẠNG
([13])

Trước tiên phải nói đến yếu tố sống còn của đạo Phật, đó chính là giới luật. "Giới luật còn thì Phật pháp còn", mà giới luật chí có ở bậc chân tu tinh thông luật tạng mô phạm tòng lâm. Tổ Tuệ Tạng là bậc được muôn người ngưỡng mộ, là ngọn đuốc chính pháp làm nhân tố cho sự nghiệp chấn hưnguy danh của Người đã khiến cho hậu học khắp ba miền đất nước nghe tiếng quy tụ nương về học hỏi.

Miền Nam thời bấy giờ tuy vẫn có các bậc cao đức, nhưng riêng luật tạng thì không đâu hơn được chốn Tổ Cồn. Vì thế, quá trình tìm tòi lặn lội ra tận miền Bắc của các tăng sĩ phía Nam để được nghe pháp âm của Người giảng dạy, là phúc duyên lớn cho việc truyền thừa mạng mạch chính pháp mạnh mẽ ở phương Nam sau này.

Sau đây là những sự kiện, những tư liệu mà Phật giáo miền Nam đã phát biểu, đã viết về một bậc cao tăng danh đức mà tầm ảnh hưởng của người để lại trong lòng tăng ni phật tử miền Nam:

Tổng hội Phật giáo Việt Nam

Đối với Tổng hội, Hòa thượng được tôn cử chức Nguyên Lão Chứng Minh Đạo sư Tổng hội Phật giáo Việt Nam trước khi được suy tôn lên chức Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Trong điếu văn của mình, Tổng hội đã viết:

"Hôm nay, Tổng hội Phật giáo Việt Nam chúng tôi cảm khích ân đức tiền nhân, làm lễ cầu siêu Cố Hòa thượng Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc, tại chùa Xá Lợi, Sài gòn. Chúng tôi đứng trước linh tòa, sáu tập đoàn như một, thề nối gót người xưa, dù biển lý sơn hà, phong suy vũ chuyển, nguyện noi gương thủa trước, mặc cổ kim thế thái vật đổi sao dời. Dâng nén tâm hương, chúng tôi thành khẩn cầu ân trên Tam bảo độ trì Hòa thượng siêu sinh Tịnh cảnh, tái hiện độ sinh, viên thành Chính giác..."

(Trích Điếu văn của Tổng hội PGVN, trang 01,
tạp chí Từ Quang số 89 tháng 6 – 59).

Hội Phật học Nam Việt

Là một trong những tập đoàn của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Hội đã đăng nguyên văn "Lá Tâm Thư" trong hai số 92 – 93 của tạp chí Từ Quang, để tưởng nhớ và học tập những lời dạy khuyên của Người. Phần mở đầu, Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền đã viết như sau:

"Sau Đại hội nghị Phật giáo toàn quốc kỳ III, ba giáo hội Tăng già có hợp đại hội kỳ nhì, trong hai ngày 10 và 11-9-59, tại chùa Ấn Quang, để suy tôn ngôi Thượng thủ, thay Hòa thượng nguyên Thượng thủ Thích Tuệ Tạng đã viên tịch ngày 10-5-59. Nhân dịp này, Từ Quang thấy có bổn phận nhắc lại sau đây những lời tâm huyết mà vị cố lãnh đạo tinh thần tối cao của Phật giáo toàn quốc đã kính gửi, hồi năm 1953, đến chư sơn Trưởng lão, nhị bộ Thánh chúngthập phương thiện tín.

Chư quý độc giả thân mến sẽ thông cảm mối hoài bão và nỗi lo âu của một bậc đạo cao đức cả đối với vận mệnh Phật giáo nước nhà, và chắc cũng sẽ thương tiếc Hòa thượng quá sớm về miền An dưỡng, trong khi công cuộc chấn hưng còn mong chờ nhiều ở Hòa thượng."

(Trích phần Lời Tòa Soạn, trang 16,
 tạp chí Từ Quang số 92 tháng 9-1959)

Tạp chí Từ Quang

Trước đó, khi hay tin Hòa thượng viên tịch, tạp chí Từ Quang, cơ quan truyền bá giáo lý của Hội Phật Học Nam Việt, ngay trang nhất, đã dành trọn trang để in ảnh của Hòa thượng. Phía dưới ảnh có lời phân ưu của tạp chí như sau:

"Hòa thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Nguyên chứng minh Đạo sư Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Đã thị tịch tại chùa Vọng Cung (Nam Định) ngày mồng 3 tháng Tư Kỷ Hợi (tức 10-5-59).

Tổng hội PGVN đã long trọng cử hành lễ Kỳ siêu và truy niệm Hòa thượng tại trụ sở chùa Xá Lợi, sáng ngày 14-6-59 hồi 8g30 với sự tham gia của cả ngàn thiện tín.

Tiểu sử của Hòa thượng được ghi rõ trong bài điếu văn đăng trang sau.

TỪ QUANG kính nguyện chư Phật gia hộ Hòa thượng thượng phẩm thượng sanh, Bồ đề viên đốn."

(Tạp chí Từ Quang số 89, xuất bản tháng 6-1959, trang nhất)

Đức Hội chủ Thích Tịnh Khiết

Ngài thay mặt Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã viết trong Thông bạch của Tổng hội nhân ngày Phật đản Phật lịch 2504:

"Trong năm qua, chúng ta đã mất một vị lãnh đạo tinh thần cao cả mà tin thị tịch đã làm chấn động hàng ngũ chúng ta. Tôi muốn nhắc đến cái tang của Hòa thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc, đã xãy ra ngày mồng 3 tháng 4 Kỷ Hợi, tức 10 tháng 5 năm 1959 tại chùa Vọng Cung, thuộc tỉnh Nam Định. Để cảm niệm giác linh Hòa thượng, một vị cao tăng trọn đời tha thiết với công cuộc thống nhất và trùng hưng Phật giáo nước nhà, tôi kính mời toàn thể Phật tử giữ một phút yên lặng..."

(Trích thông bạch của Tổng hội Phật giáo Việt Nam,
 đăng trong tạp chí Từ Quang số 99 tháng 4,1960, trang 03).

Ban Chính Tín Phật tử chùa Giác Minh

Chùa Giác Minh vốn là trụ sở Giáo hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam và là nơi sinh hoạt của các Phật tử miền Bắc di cư, Ban Chính Tín Phật tử Giác Minh, khi hay tin Hòa thượng viên tịch, đã làm bài điếu văn kính dâng lên giác linh Người trong buổi lễ Tứ cửu được tổ chức tại chùa Giác Minh ngày 22 tháng 5 năm Kỷ Hợi tức 27/6/1959 tại số 578 Phan Thanh Giản Sàigòn.

Bài văn này nguyên là bản viết tay, còn lưu giữ trong di cảo của Cố Hòa thượng Thích Bình Minh, xin trích một đoạn như sau:

"Suốt một đời Hòa Thượng chỉ biết phục vụ cho đạo và hy sinh vì người. Khi đất nước thanh bình, lúc thời cuộc đổi thay, Hòa Thượng vẫn bền lòng tiếp nhân độ chúng, không hề lui chuyển. Vậy công nghiệp của Hòa Thượng làm, nếu không phải là Bồ tát tái sinh, thì thử hỏi đã mấy ai làm được?

Chúng con cũng tưởng:

Chúng sinh nghiệp quả còn sâu,

Hòa Thượng còn nặng lời nguyền..."

(Trích bản viết tay trong di cảo của
Cố Hòa thượng Thích Bình Minh)

Hội Phụ nữ Phật tử chùa Dược Sư

Chùa Dược Sư ở vùng Gia Định, nay thuộc quận Gò Vấp Tp. Hồ Chí Minh, vốn là ngôi chùa có nhiều Phật tử Bắc và Nam cùng sinh hoạt, đã tổ chức tuần Tứ cửu tưởng niệm cố Hòa thượng tại đây. Trong điếu văn của mình, các nữ Phật tử của hội đã viết:

"Nay Hòa Thượng viên tịch, theo sự nhận xét của bậc thượng căn thượng trí, thì đáng mừng, chứ không có chi mà phàn nàn ân hận. Nhưng đối với hàng hạ căn hạ trí, phúc mỏng nghiệp dày, quen tính ỷ lại, không chịu tự học tự tu như chị em chúng con đây thì ai chẳng bùi ngùi tấc dạ, đau thương mến tiếc và bàng hoàng sợ hãi, như nhà mất chủ, như thuyền mất lái, như đêm tối mất ánh sáng v.v... Nhất là trong thời đại: Phật cao nhất xích, ma cao thiên trượng, Hòa Thượng mất đi, ai là người kế ngôi Hòa Thượng lèo lái con thuyền Phật giáo Việt Nam, đứng mũi chịu sào, đương đầu với cơn sóng gió, ngõ hầu nhiếp chính ma vương, thiệu long Tam Bảo."

(Trích bản viết tay trong di cảo của
Cố Hòa thượng Thích Bình Minh)

Tuần báo Đuốc Tuệ Sài Gòn

Báo Đuốc Tuệ là tuần báo của Tăng ni Phật tử miền Vĩnh Nghiêm. Trong số báo kỷ niệm sáu năm ngày giỗ Hòa thượng Tuệ Tạng, đã cho đăng 3 bài viết: bài một của Đuốc Tuệ nhan đề Hoài niệm Tôn sư; bài thứ hai là Tiểu sử cố Hòa thượng Tuệ Tạng do Hòa thượng Thích Thanh Cát phụng soạn; bài thứ ba là Lá tâm thư của Tổ viết lúc sinh thời. Ở đây chúng tôi xin trích phần đầu trong bài viết "Hoài niệm Tôn sư":

"Nén hương viễn xứ lại bắt đầu lan tỏa trong những tấm lòng người đệ tử biết ơn.

Tình sư đệ làm sao có thể phai mờ dưới bao cành lá thời gian rơi trong vườn dân tộc.hình ảnh Tôn sư vẫn là một vết tích quen thuộc trong cặp mắt kính mến của những Phật tử Bắc Việt di cư.

Pháp âmđạo hạnh Tôn sư mãi mãi truyền cảm mọi người, Tăng niCư sĩ trong toàn quốc.

Dù đó chỉ là những vang bóng của người xưa, những quá trình nổi bật trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Chúng ta, những người kế vãng khai lai, có bổn phận ghi ơn bằng những sứ mạng duy trì, phát triển, bảo vệ Phật pháp và dân tộc. Nghĩa là, chúng ta biết cách kỷ niệm Đức Thượng thủ đầu tiên, Hòa thượng Thích Thanh Thuyên, pháp hiệu Tuệ Tạng, trú trì chùa Cồn và Quán Sứ Hà Nội, đã từ trần cách đây sáu năm tại Bắc Việt."

(Tuần báo Đuốc Tuệ-Sài Gòn, số 11, ra ngày 28/03/1964)

Hòa Thượng Thích Thanh Cát

Trong bài "Tiểu sử Cố Hòa thượng Tuệ Tạng, Thượng thủ đầu tiên Giáo hội Tăng già toàn quốc", ngoài phần tiểu sử súc tíchmô tả hành trạng của Tổ rõ ràng hơn các bài tiểu sử đã soạn trước đây. Trong đoạn luận kết, Hòa thượng Thanh Cát đã viết:

"Thế là Hòa thượng từ trẻ, đến già, suốt đời hy sinh vì đạo, một bậc tu hành chân chính, đạo cao đức trọng, đáng làm gương sáng cho các Phật tử hiện nay và muôn đời hậu thế. Ôi! Người như thế, công đức như thế, có vàng mười hồ dễ đúc lên, sự nghiệp còn đây, tên tuổi còn đây, hiềm giấy ngắn khó lòng tả xiết!"

(Trích đoạn cuối trang 9, Đuốc Tuệ, số 11, sđd)

Hòa thượng Thích Thiện Hòa

Là một người Nam bộ, sau khi học xong ở Phật học đường Báo Quốc năm 1945, xa nghe tiếng tăm đức độ của Tổ Tuệ Tạng, ngài đã gát lại chuyện trở về Nam hành đạo, mà tiếp tục lên đường ra đất Bắc tìm đến chùa Cồn tham học luật tạng với Tổ.

Khi trở về Nam năm 1950, Hòa thượng Thiện Hòa đã hoằng dương sở học luật tạng từ chốn Tổ Cồn.Từ đây, nghi thức tụng giới Tỳ khưu, giới Bồ tát bằng Việt ngữ mới được phổ biến thống nhất ở phương Nam. Ngọn lửa truyền đăng luật tạng từ nơi Tổ Tuệ đã được ngài Thiện Hòa di đăng thắp sáng khắp trời Nam. Khi sinh thời, ngài Thiện Hòa luôn nhắc nhở đến công ơn giáo dưỡng thọ mạng chánh pháp cho mình từ nơi chốn Tổ Cồn đã truyền thụ.

Tác phẩm nổi tiếng của ngài khi học với Tổ Cồn chính là quyển Nghi thức tụng giới Tỳ kheoNghi thức tụng giới Bồ Tát. Trong đây lời văn, cách thức đều như sự nghi quỹ của các chốn tổ miền Bắc. Khác chăng là miền Bắc thì tụng giới nguyên âm Hán văn, còn miền Nam thì được ngài Thiện Hòa chuyển ngữ ra nghĩa tiếng Việt.

Hòa thượng Thích Hành Trụ

Là một vị chuyên luật danh tiếng ở miền Nam, Hòa thượng Thích Hành Trụ, người đã phiên dịch các quyển luật tạng như Tứ Phận Giới Bổn Như Thích, Sa Di Luật Giải, Bồ Tát Giới Kinh... Trong khi dạy luật học cho chúng tôi, Hòa thượng thường ngậm ngùi tiếc nuối nhắc đến Tổ Tuệ Tạng, vì bản thân ngài khi học ở Phật học đường Tây thiên-Huế vì bệnh duyên, nên không thể tiếp tục ra Bắc theo học chuyên luật như ngài Thiện Hòa.

Năm 1946, Hòa thượng từ miền Tây lên đất Sài gòn lập ra chùa Tăng Già, nay là chùa Kim Liên, là Phật học đường đầu tiên ở đất Sài gòn, qui tụ đông đảo tăng ni khắp lục tỉnh về đây tu học. Năm 1951, được sự chỉ bảo của Hòa thượng, hai vị tăng ni đệ tử của ngài đã lên đường ra Bắc tìm đến học luật với Tổ Tuệ Tạng tại chùa Vọng Cung-Nam Định. Đó là Thượng tọa Khánh Nghiêm và Ni trưởng Tịnh Nguyệt. Hai vị quyết tâm chuyên cần học luật với Tổ cho đến khi làu thông mới trở về Nam, nên khi đất nước bị chia đôi năm 1954, các vị vẫn tình nguyện ở lại học hỏi luật tạng với Tổ mà không trở về Nam. Sau khi Tổ viên tịch năm 1959, hai vị về đất Hải phòng nhận chùa Đồng Thiện để tu học hoằng pháp. Mãi đến khi đất nước thống nhất năm 1975, chỉ mỗi Ni trưởng Tịnh Nguyệt trở về Nam, còn Thượng tọa Khánh Nghiêm đã gửi thân về cát bụi nơi đất Bắc.

Đối với chúng tôi, mỗi khi đăng đàn giảng luật, là mỗi lần Hòa thượng không tiếc lời tán thán đức độ của Tổ Tuệ Tạng. Ngài nói "Tôi chuyên trì dạy luật, mà chưa được diễm phúc diện kiến để học hỏitruyền thừa từ Tổ sư luật học Tuệ Tạng, đó là điều mà tôi nghĩ mình bất hạnh nhất trong đời tu hành".

Chính những lời nói của Hòa thượng, làm cho chúng tôi càng kính ngưỡng tài đức của Tổ, dẫu rằng chúng tôi là kẻ hậu học xa vời, nào có duyên may tiếp cận sự chân truyền này. Chính vì nỗi niềm ấy, Hòa thượng Hành Trụ, bổn sư của chúng tôi đã khuyên nhủ giới thiệu tôi đến tham học thêm luật học nơi Hòa thượng Thích Bình Minh, vốn là một cao đồ chân truyền của Tổ Cồn ở chùa Hòa Bình, Sài Gòn.

*

Bao nhiêu chứng tích cảm nhận trên đây, chưa phải là tất cả đối với Phật giáo đồ miền Nam, nhưng cũng đủ để nói lên tấm lòng và sự tôn vinh kính phục về Hòa thượng Tuệ Tạng-Thích Tâm Thi.

Nhìn xuyên cuộc đời hành đạo của ngài, chúng tôi liên tưởng đến hành trạng của Hòa thượng Khánh Hòa, một bậc danh tăng đi đầu trong phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Nam. Sau đây là những nét song trùng:

Hòa thượng Tuệ Tạng trong quá trình vận động chấn hưng Phật giáo tại Bắc phần, ngài cũng không được như tâm nguyện. Ta thấy trong bài viết của Hòa thượng Thanh Cát:

"Vì nguyện vọng chấn chỉnh tông phong, phục hưng chính pháp, nên Hòa thượng đi khắp các nơi, vận động cho phong trào Phật giáo chấn hưng. Nhưng rất tiếc vì thời cơ chưa đến, vận hội không thành, hòa thượng lại trở về bản quán (Nam Định), cùng mấy vị đồng tu thành lập hội "Cảnh Sách Tiến Đức Sơn Môn". Mục đích: Báo đáp tứ ân, sách tiến hậu côn trên đường tu học, truyền bá chính pháp."

(Trích trang 8, Đuốc Tuệ, số 11, sđd)

Hòa thượng Khánh Hòa cũng trong hoàn cảnh như thế. Ta xem đoạn trích trong Danh Tăng Việt Nam tập I:

"Năm 1927, Ngài cử Sư Thiện Chiếu ra Bắc bộ để vận động chấn hưng Phật giáo. Không thành công, Sư Thiện Chiếu về Sài gòn. Năm 1928, Ngài cùng các vị Thiện Chiếu, Từ Nhẫn, Chơn Huệ và Thiện Niệm lập Thích Học Đường và Phật Học Thư xã tại chùa Linh Sơn (Cầu Muối), cuối cùng vẫn không thành công. Ngài trở lại quê nhà, không nản lòng với nguyện cao cả, Ngài quyết định đi cổ động chấn hưng Phật giáo khắp các tỉnh Nam bộ, kêu gọi sự đồng tình, ủng hộ với ba phương châm : 1/ Chỉnh đốn Tăng già. 2/ Kiến lập Phật học đường. 3/ Diễn dịch và xuất bản kinh sách Việt ngữ.

Tâm lực cao cả đó là hành trang theo Ngài trên mọi nẻo đường từ tỉnh này sang tỉnh khác. Ngài đem hết can tràng tha thiết chỉ rõ sự suy đồi và nguy cơ bị tiêu diệt của Phật giáo nếu không sớm chấn hưng. Tuy nhiên chỉ một ít vị tỏ ra đồng tình ủng hộ, hầu hết chỉ nghĩ đến tông môn mình, chùa mình và từ chối thoái thác cộng tác."

(Sđd, Thích Đồng Bồn chủ biên,
THPG Tp.HCM ấn hành 1995)

Qua hình ảnh hai vị cao tăng dấn bước kêu gọi chấn hưng nhưng không được hồi âm, đủ nói lên sự thiết tha vì đạo và tâm tư hai ngài giống nhau đến cỡ nào! Một cách nhìn khác, hai ngài chính là những vi tiên phong đặt nền tảng cho phong trào chấn hưng ở hai đầu đất nước thời bấy giờ, những tư tưởng lớn ấy đã gặp nhau, châm ngòi cho sự dấy lên phong trào chấn hưng lan rộng khắp cả ba miền đất nước, là nhân tố làm nên sự nghiệp rực rỡ cho sự thống nhất Phật giáo ngày nay như tâm nguyện ấy của các ngài.

*

50 năm đã trôi qua, hôm nay chúng ta hội thảo về Hòa thượng Tuệ Tạng, để thấy thời gian, con người dẫu có phai mờ cát bụi, nhưng lịch sử vẫn mãi ghi đậm đức độhành trạng Tổ Tuệ Tạng cũng như Tổ Khánh Hòa. Các ngài đã để lại cho hậu học chúng ta lòng tự hào về Lịch sử Phật giáo Việt Nam trong một giai đoạn khó khăn nhất của Phật giáo và đất nước ở nửa đầu thế kỷ 20 vừa qua.

Kính thắp nén tâm hương tưởng niệm giác linh Hòa thượng Thượng thủ đạo hiệu Tuệ Tạng, pháp danh Thích Tâm Thi tác đại chứng minh.

Viết tại chùa Phật học Xá Lợi
Tp. Hồ Chí Minh ngày 05-05-2009

 

KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH CƯ SĨ THIỀU CHỬU
LÃNG ĐÃNG MỘT KHUẤT NGUYÊN

Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này. Nghĩ về ông nhân 100 ngày sinh, tôi muốn nói về chất "Sĩ" nơi ông được thể hiện qua năm khía cạnh:

Thiều Chửu: một "Nho Sĩ" mang chí hướng tải đạo hóa đời.

Vốn xuất thân từ một gia đình bần nông, hơn ai hết ông tất thấm thía cảnh nghèo khổ do bị địa chủ và thực dân áp bức bóc lột. Chính vì thế ông quyết tâm tự học chữ Hán nơi bà Nội của ông với ý nghĩ sẽ mang cái chữ giúp ích cho đời. Vốn là một nhà nho, ông tự học thêm các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật để không bị lạc hậu và để tiếp thu các luồng tư tưởng của thời đại từ khắp nơi trên thế giới. Theo gương cha là cụ Cử Cầu – tức nhà Chí sĩ Giản Thạch trong phong trào Đông kinh Nghĩa thục – ông trở thành một chiến sĩ trên mặt trận chống giặc mù chữ, cái đã làm cho dân ta không nhận thấy con đường sáng vượt qua đói nghèo và con đường cứu nước thoát khỏi cảnh nô lệ ngoại bang của thực dân đế quốc, cụ thể là việc ông cùng với các ông: Nguyễn văn Tố, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Trần Huy Liệu lập Hội Truyền bá Quốc ngữ hoạt động tại hội quán Trí Tri, phố Hàng Quạt, Hà Nội([14]).

Sự nghiệp lớn nhất của Nho sĩ Nguyễn Hữu Kha là tác phẩm "Hán Việt tự điển", một cuốn tự điển có giá trị ứng dụng xuyên suốt qua nhiều thời đại, là "sách tủ" của mọi tu sĩ Phật giáo trên đường nghiên cứu Tam tạng giáo điển để tu học. Ở lời nói đầu, ông đã viết lên thao thức của mình về Nho học: "Tôi tự nghĩ rằng Hán học thời nay đang ngày một mất dần, chỉ nhờ có học Phật thì may ra mới duy trì được ít nhiều; nếu dùng cách nào mà giúp cho người đọc được kinh biết được chữ, tức là cái nền tảng để xây đắp lại tòa lâu đài Nho giáo nguy nga tráng lệ"([15]). Ngoài ra, ông còn những bài viết mang đậm tính cách bộc trực, khẳng khái của một Nho sĩ trong thực hiện sứ mệnh chống cái xấu, cái ác không khoan nhượng. Giới tăng lữ đương thời không thể không suy ngẫm các bài thơ, bài viết cảnh tỉnh người tu Phật của ông, tiêu biểu là những lời lẽ thẳng mà đau trong quyển "Con đường học Phật thế kỷ 20".

Dù là một Nho sĩ uyên bác nhưng ông không hề quên cội nguồn bần nông của mình nên suốt cuộc đời ông vẫn luôn gắn bó giữa sự nghiệp tri thức với công việc nông trang, nói gọn hơn là một kẻ sĩ làm nông, đó cũng là một nét đặt biệt nơi ông, ít có nơi nhiều nhà Nho khác.

Thiều Chửu: một trí thức "Cư Sĩ" Phật giáo.

Khi đến với đạo Phật, ông tự nhận mình "cũng chỉ là một tín đồ tín ngưỡng triết lý mà thôi" trong lời Tự Bạch. Là một nhà Phật học uyên thâm, ông có nhiều hoạt động tỏa sáng trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo Bắc kỳ với trên dưới 40 tác phẩm cho Phật giáo. Hàng loạt những dịch phẩm – tác phẩm về Kinh điểnPhật họcgiá trị được ra mắt trong thời này, cùng nhiều bài viết sắc xảo đăng trên báo Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của hội Phật giáo Bắc kỳ lúc bấy giờ. Sách và báo đều xuất bản từ nhà in do ông quản lý, mang đậm tính giáo dụccải cách.

Trước sự suy thoái phẩm chất ở một bộ phận hàng ngũ Tăng đoàn của đạo Phật thời kỳ này, chỉ thiên về danh lợi chức quyền, đến sự xa hoa từ việc bày vẽ cúng bái mê tín mà xem nhẹ nhiệm vụ truyền bá chính pháp và trau dồi đạo đức giải thoát. Bối cảnh thực trạng này được ông miêu tả như sau trong sách "Con đường học Phật thế kỷ 20":

"Người tín ngưỡng Phật giáo nước ta hạng trên nhất chỉ tu lấy lợi một mình, mặc kệ đời chẳng thèm nhìn tới; hạng thứ nhì thì mượn cửa chùa làm chốn dung thân dễ dàng qua ngày; hạng dưới nữa thì lại lấy chùa chiền làm chỗ buôn bán kiếm chác, không từ một sự đê hạ, nhơ nhớp nào mà không dám làm".

Qua ngòi bút của mình ông muốn làm cuộc cải cách nhằm cảnh tỉnh các tệ nạn trên, đem lại sự trong sáng cho giáo lý Phật đà bằng đề nghị thẳng thắn"Tôi mong rằng các nhà tín ngưỡng Phật giáo nên chú ý vào hai sự này cho: 1 – Nên gánh vác lấy cái trách nhiệm chỉnh đốn Phật giáo, cải lương Phật giáo. 2 – Đừng theo cái lối tín ngưỡng về mặt tiêu cực mà phải gắng sức tiến sang mặt tích cực ngay đi. Làm trái lại thì chẳng đợi người ta phá chùa đuổi sư mà chính Phật giáo tất phải đi dần đến diệt vong vậy."(Sđd)

Ông cũng góp sức truyền bá trào lưu học Phật bằng chữ quốc ngữ ở thời kỳ mà sự mù chữ còn phổ cập khắp nhân dân, việc tụng niệm còn bằng phiên âm từ chữ Hán. Ông nói trong lời tựa bản dịch "Kinh A Di Đà" rằng: "nhưng vì tính ta kém phần tự lập về tinh thần, cho nên cứ vùi đầu với chữ Hán, ít người dám phiên dịch sang tiếng ta. Ta chưa biết rằng những Kinh chữ Hán ta tụng niệm đó có phải là chính tiếng Phật nói đâu"

Chí hướngtâm nguyện ấy còn thể hiện trong cách ông chọn Đạo hiệu cho mình: Thiều Chửu và Lạc khổ. Thiều Chửu, có nghĩa là cái chổi quét bụi, ý muốn nói lên những tệ nạn kia chính là bụi dơ làm hoen ố hình ảnh trong sáng của đạo Phật, mà chính ông là cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình. Bút danh Thiều Chửu còn một ý nữa, là trước khi sửa người thì phải trong sạch lấy mình, qua sự hàng ngày phải lau quét bụi trần tham nhiễm, đừng để gương lòng vẫn đục bởi phiền não vô minh che lấp, như bài kệ tỏ đạo của Ngài Thần Tú: ([16])

Thân thị Bồ đề thọ

Tâm như minh cảnh đài

Thời thời thường phất thức

Vật sử nhạ trần ai.

Tạm dịch:

Thân là cây Bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Thường ngày hằng lau quét

Chớ cho dính bụi trần.

Sử dụng bút danh Lạc Khổ là để cảnh tỉnh chính mình và người trên bước đường tìm đến thường-lạc-ngã-tịnh. Lạc Khổ có nghĩa là vui trong khổ, tượng trưng cho pháp hạnh "thiểu dục-tri túc" trong giáo lý căn bản nhà Phật, nghĩa là ít muốn và biết đủ, thể hiện nơi bản thân ông đã sống trọn đời mình qua nếp sống giản dị, đạm bạc, trường trai mỗi ngày chỉ ăn một bữa đúng Ngọ, guốc mộc nâu sòng như ngươi chân quê để làm tấm gương mẫu mực sách tấn học trò của ông rằng, ngay trong hoàn cảnh khổ ấy hay thân phận khổ đau này, con người ta vẫn tìm thấy niềm hạnh phúc an lạc hơn hẳn mọi điều phù phiếm trên đời.

Ý nghĩa nội hàm của từ Lạc Khổ còn là giác ngộ cái kh ở chỗ: chỉ có trải qua khổ đau (tức khổ đế), mới nhận thức được bản chấtnguyên nhân của khổ (tức tập đế) trong giáo lý căn bản của đạo PhậtTứ Diệu Đế (4 chân lý Khổ-Tập-Diệt-Đạo). Khi con nguời giác ngộ được chân lý của khổ đau, cũng chính là trực nhận sự an lạc vô biên trong giải thoát; cho nên, hạnh phúc hay đau khổ chính là trong nhận thức của mình thôi.

Thiều Chửu: người mang tấm lòng "Đại Sĩ".

Nhờ thấm nhuần tư tưởng nhà Phật từ thuở nhỏ, ông sớm bộc lộ lòng mẫn cảm thương người nghèo khổ khó khăn hơn mình. Cuộc đời ông đã trải qua bao cay đắng khổ cực từ thuở ấu thơ nên dễ đồng cảm với những số phận bất hạnh, như lời ông đã phát thệ rằng: "Đời tôi hễ ai thiếu thốn cái gì muốn nhờ tôi, chưa hé miệng tôi đã vâng, có thì giúp, không thì vay giúp, nếu không giúp được thì lòng tôi đau khổ cũng như người không vay được. Tôi mà còn một bát gạo, ai đói hơn, tôi cũng nhường ngay thà tôi chịu nhịn, và chí tôi với sự nhịn hai ba bữa là thường lắm" (Tự Bạch của Thiều Chửu-Sđd)).

Lòng từ bi khiến ông phát tâm noi chí nguyện chư Bồ Tát giúp đời bằng cách gánh vác và chia sẻ bao nỗi bất hạnh của thời loạn ly, như những việc: chủ trương lập hội Tế sinh nuôi trẻ bị mồ côi; đứng ra lo việc chôn cất cho hàng trăm người bị chết vì nạn đói kém; tổ chức các lớp học cho trẻ bị lạc mất cha mẹ vì chiến cuộc; lập nhà dưỡng lão, nghĩa trang Tế độ và không nề khó khăn gian khổ đưa các em đi tản cư lánh giặc ra vùng tự do v.v... Ông còn dạy người làm thuốc Đông y, tự tay chữa bệnh cho bất cứ ai cần đến không nề hà công sức, còn tổ chức cày cấy ruộng nương, trồng trọt khoai sắn để tự túc kinh tế nuôi dưỡng các em đến trưởng thành. Các việc làm ấy ông xem là sự nghiệp cả đời ông, như ông đã viết tiếp trong lời Tự bạch: "Sau đó, tôi không hề nghĩ đến cái đời riêng của tôi nữa; người ta cho là tôi tin đạo Phật mà không lập gia đình, có biết đâu uẩn khúc của tôi từ thuở còn thơ dại".

Ông quả là một bậc Đại sĩ giữa đời thường, một tâm hồn nhân ái giữa cuộc chiến tranh máu lửa của nhân dân để giành chủ quyền đất nước.

Thiều Chửu: môt nhà "Chí Sĩ" yêu nước.

Hun đúc bởi lòng yêu nước thương nòi, chí căm thù giặc Tây và truyền thống cách mạng của gia đình (cha ông bị giặc Pháp đày ra Côn Đảo vì tham gia phong trào kháng Pháp, và những người thân trong gia đình của ông đã chết vì chiến tranh), ông coi việc tận trung tận hiếu vì dân là nghĩa vụ thiêng liêng, như lời ghi ở đầu sách "Con đường học Phật ở thế kỷ 20": "Phải tận hiếu với nhân dân, nhân dâncha mẹ bao kiếp, là chư Phật vị lai". Ta thấy rõ tâm trạng thời trai trẻ của ông trước nỗi đau nước mất nhà tan, lòng căm thù giặc Pháp và bè lũ tai sai đến xương tủy qua những câu thơ đề trên vách lăng của tên Việt gian Lê Hoan([17]):

"Thanh thần điếu cửu nguyên

Chủng chủng u tình huyên

Thế thái cạnh phú quý

Nhân tình xu ngân tiên

Công cừu ngạch bái thượng

Nghĩa vụ phóng tâm biên".

Bản dịch của Nguyễn Hải Hoành:

"Tinh mơ qua bãi tha ma,

Vong hồn bao kiếp kêu la vang trời.

Bon chen phú quý thói đời,

Lòng người mê mẫn hướng nơi đồng tiền.

Thù chung: trên trán, đưa lên,

Nghĩa vụ: canh cánh không quên trong lòng".

Ông đã chọn vị trí chiến đấu ở hậu phương qua sứ mệnh giáo dục trẻ em và tăng gia sản xuất, đem tri thức của mình giúp ích cho địa phương ở vùng kháng chiến để góp phần vào sự nghiệp cách mạng giải phóng quê hương khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Niềm tin cách mạng tất thắng cộng với tín ngưỡng đạo Phật nơi tâm hồn được ông cảm tác qua bài thơ:

Phen này cắt tóc đi tu,

Tụng kinh Độc lập, ở chùa Duy Tân

Đêm ngày luống những ân cần

Cầu cho ích quốc lợi dân mới là

Cầu cho nước Việt Nam ta

Khắp Trung Nam Bắc một nhà vui chung

Toàn dân kháng chiến thành công

Tự do Hạnh phúc vô cùng vô song.

(Vô Đề – 1947)

Sự khẳng khái của một chí sĩ được ông thể hiện qua bài viết cảnh cáo những người Phật giáo làm tai sai cho giặc vào cuối năm 1952([18])"Nội dung bài ấy có hai phần, phần 1 chỉ rõ tinh thần cách mạng của Phật giáo thuyền tông; phần 2 chỉ rõ chỗ suy kém của Mỹ, và chỉ cho đường về với kháng chiến". Ông quan niệm, thà khổ sở thiếu thốn trăm bề nơi vùng tự do của kháng chiến, còn hơn sống nhục nơi chốn phồn hoa đô hội do giặc chiếm đóng; quyết liệt hơn, ông dứt khoát không chịu nhận bất kỳ sự trợ giúp nào bắt nguồn từ nội thành gửi ra, khi được Hòa thượng Tố Liên gửi biếu 6 lượng vàng, ông răn dạy học trò của mình rằng: "Chúng ta phải tự lực cánh sinh; người tư do không ăn xin người mất tự do. Vàng của ai cho phải trả lại, dứt khoát tôi không dùng" (Tự Bạch của Thiều Chửu-Sđd). Đó phải chăng chính là phẩm chất cao thượng của người chí sĩ ở nơi ông, không còn gì phải bàn luận thêm vậy.

Thiều Chửu: một nhân cách rạng danh"Tiết Sĩ".

Trong chính sách xác định thành phần cải tạo ruộng đất năm 1954, do trình độ nhận thức yếu kém của người thực thi và do một số quần chúng dễ bị chi phối bởi các lời tuyên truyền của những phần tử cơ hội rằng những người trí thức đều gốc là thành phần tư sản bóc lột... ông đã trở thành nạn nhân của một oan án. Là một kẻ sĩ, ông đã chọn cái chết để bày tỏ tiết tháo của mình. Tôi được nghe một vị Nhân sĩ giáo phẩm kể lại rằng: sau khi viết thư để lại và dặn dò cùng các học trò của mình, ông đã kết thúc cuộc đời bằng cách thắp hương tạ lễ bốn phương bên bờ sông, sau đó tự quấn chăn vào mình nhảy xuống giòng sông ở đoạn chảy siết để tự trầm. Đấy cũng là cái dũng khí lớn nhất mà ông đã làm được để giữ gìn phẩm giá ở một người trí thức, để làm một bài học thức tỉnh những ai còn chưa thấu hiểu đạo lý tình người, để không một ai có thể tùy tiện bóp méo sự thật về ông.

Lấy cái chết để thể hiện hiện tấm lòng trong sạch của mình, mà không hề oán hận người nào, không muốn đổ lỗi cho ai, hoặc bất mãn về đường lối chính sách; trước sau ông vẫn một lòng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng do chính phủ lãnh đạo, ấy là sự tuẫn tiết của tấm lòng trung kiên, của niềm tin đạo nghĩa vẫn có ở đời, và vì ông vững tin vào thế hệ học trò cùng hậu duệ của mình vẫn sẽ tiếp bước đi theo con đường đúng đắn mà ông đã dạy dỗ ấy, tất sẽ có ngày trả lại công bằngdanh tiết cho mình mai sau.

*

Nghĩ về ông, tôi không khỏi bùi ngùi cho thân phận kẻ sĩ đã ở vào một giai đoạn lịch sử bi tráng của dân tộc trong thời kỳ đầu giành lại độc lập từ tay ngoại bang. Những lời kể về việc tử tiết của ông gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi, bởi từ trước tới nay tôi chưa hề nghe thấy sự tuẫn tiết nào đặc biệtchấn động đến thế. Chính vì thế tôi lặn lội tìm hiểu biên khảo về ông ở thập niên 80 – 90 để viết tiểu sử của ông. Ông tự cho trường hợp của ông là cái án "mạc tu hữu" mà Nhạc Phi đời Đường phải gánh chịu([19]) nhưng tôi nghĩ cái chết của ông phảng phất sự tuẫn tiết của Nhà nho Khuất Nguyên nước Sở– thời Chiến quốc, cũng đã nhảy xuống dòng sông Mịch La tự trầm, sau khi để lại câu nói bất hũ: "thế gian này tất cả đều say, chỉ có mình ta là tỉnh".

Những điều luận bàn quanh năm chất Sĩ: Nho sĩ, Cư sĩ, Đại sĩ, Chí sĩ và Tiết sĩ của Nguyễn Hữu Kha để khẳng định rằng, Thiều Chửu đối với đạo là một phật tửđạo đức mẫu mực; đối với đời là một Nhân sĩ có nhân cách cao đẹp, Cuộc sống và cái chết của ông đã để lại những mến tiếc vô cùng trong lòng những thức giả đương thời và hậu học ngày nay.

Mùa Xuân năm Nhâm Ngọ ở Sài Gòn, tháng 3-2002

 

TRĨU NẶNG BÊN LÒNG
VỚI PHẬT GIÁO HÀ TĨNH

Cơn mưa lũ dài ngày đã buộc đoàn du khảo chúng tôi dừng chân tại Hà Tĩnh. Đó là vùng đất mà chúng tôi nghĩ là không còn gì về những nét đặc thù của Phật giáo, sau bao nhiêu năm chiến tranh khốc liệt đổ xuống vùng này. Thế nhưng, như một cơ duyên đưa đẩy, vì nhờ lưu lại đây mà chúng tôi đã tiếp cận được ngọn lửa tinh thần Phật giáo còn sót lại và sức sống của ngọn lửa ấy đã làm ấm lòng nhưng đầy lưu luyến và ray rứt mãi trong lòng chúng tôi trên đường trở về.

Xe chúng tôi bị chết máy trong cơn lũ tràn qua mặt đường quốc lộ, đành phải đưa vào garage ở thị xã Hà Tĩnh để sửa chữa. Những thành viên trong đoàn trong khi chờ đợi không biết làm gì, hỏi thăm nhân dân về các di tích ở đây, và được họ cho biết rằng Hà Tĩnh còn có một ngôi chùa. Thế là anh Võ Văn Tường, người không chịu để thời gian chết hăm hở vác máy đi tìm, vì thế, anh đã gặp và đưa chúng tôi đến với một tập thể các phật tử mộ đạo vẫn còn kiên trì bên nơi thờ phượng đã bị cháy nám.

Tất cả đều mang tâm trạng mừng mừng tủi tủi khi họ được tiếp xúc với gặp chúng tôi. Vì biết đoàn là người Phật giáo từ TP.HCM ra Bắc nghiên cứu các tu viện Phật giáo, cụ Bùi Trọng Cường, một phật tử lão thành ở địa phương cho chúng tôi biết nơi đây còn trên 400 phật tử vẫn kiên trì thường xuyên đến lễ bái tại ngôi chùa "hợp tự" này. Thật ra đây là ngôi đền Võ Miếu, mà với chủ trương trước kia trong thời chiến, người ta đã dẹp bỏ tất cả các ngôi chùa, đem tượng về đây ngồi chung với Thần thánh hay đúng hơn là nơi lưu giữ những tàn tích tín ngưỡng dân gian của một thời đại đã qua mà hiện nay không còn cần thiết!

Hà Tĩnh trước đây có 5 ngôi chùa với sinh hoạt Phật giáotruyền thống chủ đạo trong đời sống dân gian. Đó là các chùa Phật học, chùa Cổ Lam, chùa Bà Hy, chùa Phú Hậu, chùa Đại Nài. Riêng chùa Đại Nài là dấu tích lịch sử của cụ Nguyễn Công Trứ từng về ở tu. Ở chùa Phật học, xưa kia có một nhà sư tên Hà Thế Hạnh từ trong Huế ra trụ trì và mất ở đấy sau năm 1953.

Nhân dân Hà Tĩnh ngày nay gọi đền Võ Miếu là chùa vì họ không còn gì khác để so sánh biết được y nghĩa giữa đền, đình, chùa, miếu có gì khác nhau. Thế nhưng các phật tử còn lại ở 4 huyện Thạch Hà, Cam Lộc, Cẩm Xuyên và thị xã, tuy không có chùa riêng để lễ Phật tụng kinh, họ vẫn giữ đạo tâm sâu bao cuộc bể dâu đổi dời, thật đáng quí thay như hạnh bà lão cúng đền thời Phật thuở xưa.

Sau ngày đất nước thống nhất, các phật tử có làm đơn thỉnh nguyện gởi các nơi có thẩm quyềnGiáo hội để xin phép tái lập một nơi thờ tự trên nền chùa Phật học cũ, hầu không bị lẫn lộn với các tín ngưỡng khác mang nhiều hủ tục, nhưng tất cả lời thỉnh cầu của họ vẫn đi vào im lặng, chẳng có hồi âm...

Vào những ngày lễ trọng đại, các phật tử ở đây thỉnh tượng Phật trong đền ra nền chùa cũ dựng lên mái lều để tụng kinh lễ bái, nhưng rồi trong năm nay (1991) họ phải rơi lệ chứng kiến 2 lần bị đốt cháy vào lúc giữa đêm. Bao giờ thì họ có lại được một mái chùa để che chở an ổn tâm hồn cho họ vững tin vào cuộc sống? Câu hỏi này chúng tôi xin nhượng phần giải đáp cho những ai có thẩm quyền.

Khi được hỏi nguyện vọng của họ muốn gì, các cụ già đã sống vì niềm tin còn lại sau 2 cuộc chiến chỉ mong mỏi có một nơi thờ phượng lễ bái, có kinh sách giáo pháp để học hỏi và mong được một vị sư về hướng dẫn tu học. Ước muốn như thế thôi cho cả một tỉnh có nhiều truyền thống, nhiều danh nhân như cụ Nguyễn Du thiết nghĩ có phải là quá nhiều lắm không?

Chúng tôi thật sự bức xúc khi lắng nghe những nguyện vọng, những tâm sự ấy và nhất là khi biết được rằng đã hơn 30 năm nay, họ vẫn không có thông tin gì với Phật giáo các nơi, ngay cả chưa biết đến tờ báo Giác Ngộ của Phật giáo. Chúng tôi hứa giúp họ một ít kinh sách báo chí khi trở về, và góp một lời thay tiếng nói khẩn cầu của họ. Lúc chúng tôi chia tay là lúc thật sự khó quên, đó là cách các cụ già phật tử quyến luyến rơi lệ tiễn đưa.

Rời Hà Tĩnh dưới bầu trời mưa rơi ảm đảm, như buồn cho tình cảnh những người phật tử mộ đạo kiên trì ở đây, làm tâm hồn mỗi chúng tôi thêm trĩu nặng. Mưa như cảm thông những mất mát của các cụ già và khóc thay cho chúng tôi khi nghĩ về một chân trời mà đồng bào, phật tử mình đã mất ánh sáng từ bi an lạc chiếu rọi.

Trong cuộc sống, chúng tôi nghĩ rằng, phật tử chúng ta rộng lòng từ bi trên nhiều phương tiện từ thiện cứu giúp mọi người, đừng để những đồng bào phật tử của mình đang còn gặp nhiều khó khăn ấy mà tiếng gọi của họ lại một lần nữa rơi vào hư không.

Để đáp lại tấm lòng của những người phật tử lẻ loi ấy, và tự giải thoát mình ra khỏi những trăn trở chất nặng trong lòng, chúng tôi xin gióng lên hồi chuông để thông báo với Phật giáo đồ tòan quốc rằng có những con Phật bất hạnh dạng kiên trì giữ lòng với đạo ấy.

Đêm 27-10-1991

 

Truyện kể các
"ĐƯỜNG TĂNG" VIỆT 
NAM

Bạn có biết! đâu chỉ có Mécca là thánh địamọi người Hồi giáo đều mơ ước hành hương một lần trong đời. Người Phật giáo, không chỉ mơ ước được hành hương về chốn "tứ động tâm" (Đản sinh – Thành đạochuyển Pháp luânnhập Niết bàn), mà các đệ tử của Ngài ở xứ An Nam còn muốn noi gương Đường Tăng Trần Huyền Trang thân hành đến đất Phật để học hỏi, nghiên tầm và tu tập ngay chính nơi đức Bổn sư ghi dấu tích.

Xin lược ghi về hành trạng của một số vị mà tôi sưu tầm được, để chúng ta thấy ý chí và hoài bão của các Ngài: Đến đất Phật – Tìm dấu Phật – Chiêm bái Phật – Học kinh Phật – Hành hạnh Phật – Truyền bá Phật" ở các vị "Đường Tăng" Việt Nam đã thành tựu hạnh nguyện nầy:

HÒA THƯỢNG THIỆN QUẢNG (1862 – 1911)

Ngài quê quán ở Bến Tre, có mật hạnh là chỉ độ toàn rau quả chứ không ăn cơm. Ngài có nguyện ước qua bằng được xứ Phật để chiêm bái học hỏi. Năm Nhâm Tuất 1898, Ngài bắt đầu chuyến ra đi trên một chiếc thuyền hai cột buồm, với một ít rau trái làm lương thực.

Sau gần ba ngày lên đênh trên biển cả, sóng to gió lớn ập đến đẩy con thuyền của Ngài trôi giạt vào bờ biển Thái Lan, con thuyền bị tan vỡ, Ngài được nhân dân Thái giúp đỡ và họ vô cùng kính trọng khi thấy Ngài chỉ ăn toàn rau. Tiếng lành đồn xa, vua Thái thỉnh Ngài về hoàng cung đàm đạo, vua tỏ lòng kính mộ khi biết rõ hạnh nguyện của Ngài và mong muốn thỉnh Ngài ở lại đất Thái để hóa đạo. Không tiện chối từ, với điều kiện sau khi Ngài hoàn thành ước nguyện đến đất Phật sẽ trở lại hoằng hóa nơi đây. Ba năm sau, đủ nhân duyên, được sự trợ giúp của Nhà vua Thái, Ngài lên đường với ba người Thái và một người Miến Điện dẫn đường. Ngài đi xuyên qua đất Miến Điện, từ ngõ Tây Tạng để vào đất Ấn Độ.

Trong năm tháng ở Ấn Độ, Ngài đã đi chiêm bái tìm hiểu dấu tích ở tất cả các nơi mà đức Phật đã đi qua và truyền bá giáo pháp. Sự tận mắt thấy được, tận tay sờ chạm được thánh tích là chứng tín lớn nhất về chánh pháp của Phật ở trong Ngài. Thỏa nguyện ước một đời, Ngài đi sang đất Trung Hoa viếng thăm các thắng tích của Bồ tát Quan Âm ở núi Thiên Thai, phủ Hàng Châu; đến Phúc Kiến, sang Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam rồi xuôi xuống Miến Điện để về lại Thái Lan vào năm Nhâm Dần 1902, như đã hứa với nhà vua Thái.

Ngài chọn hang Kho-lẽm làm chốn tu hành, tiếng đồn về "ông Thầy Rau" càng được kính trọng vang xa. Nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã tìm đến ra mắt và đàm đạo. Cụ Phan rất kính trọng Ngài và trở thành tâm giao trong nỗi niềm những người Việt xa xứ. Lòng yêu nước của Ngài đã trổi dậy theo cụ Phan, và dấn thân vào hoạt động bằng cách bí mật trở về Việt Nam vận động quyên góp cho phong trào.

Năm Tân Hợi 1911, Ngài lại vì cụ Phan mà lên đường trở về Việt Nam lần thứ hai, bằng đường bộ qua ngõ Tây Ninh. Nhưng Ngài đã gục ngã nơi biên giới bởi lằn đạn chực chờ của thực dân Pháp, Ngài mất năm 50 tuổi. Tại hang Kho-lẽm vẫn còn tấm bia tưởng niệm Ngài với hai chữ gần gũi mà kính trọng: "Thầy Rau".

HÒA THƯỢNG MINH TỊNH – NHẪN TẾ (1888 – 1951)

Ngài sinh năm Kỷ Sửu 1888, quê quán ở Lái Thiêu – Bình Dương, đệ tử xuất gia với Tổ Thiên Thai-Huệ Đăng, được ban pháp hiệu là Minh Tịnh. Sau khi thọ học với Tổ một thời gian, vì muốn mở rộng kiến thức hơn nữa về giáo lý và pháp tu, Ngài quyết tâm lên đường đến xứ Phật để thực hiện ý nguyện đó.

Nhờ các tàu buôn, Ngài đến được đất Ấn vào tháng tư năm Ất Hợi 1935. Ở đây tùy thuận phong tục để dễ bề tham học tu tập, Ngài chuyển sang đắp y theo Phật giáo Nam tông của Sri Lanka. Được một thời gian, Ngài vẫn không thấy thỏa mãn với giáo pháp của tông phái này, và lại ra đi tìm đến xứ Tây Tạng để nghiên cứu về Kim cang thừa.

Ngài đến Lhasa vào tháng sáu năm 1936. Tại đây, Ngài cầu pháp với Lama Quốc vương và dự cuộc thi tuyển toàn quốc, chỉ có hai người được chọn ứng thí: một người Tây Tạng và người còn lại là Ngài – khi đoạn chỉ bện màu đỏ thắt quanh cổ Ngài siết lại, Ngài vẫn bình thản nhìn. Chỉ có Ngài qua được cuộc khảo thí.

Sau một trăm ngày tu họcTây Tạng, Ngài được Lama Quốc vương ngự ý ban pháp danh là Thubten Orall Lama, ấn chứng tâm pháp của giáo pháp Kim cang thừa và sở đắc thiền học giáo ngoại biệt truyền.

Ngài trở về Việt Nam ngày 30-6-1937, lập nên chùa Thiên Chơn ở Chợ Búng-Lái Thiêu. Sau đó, lại xây dựng chùa Tây Tạng ở Thủ Dầu Một, bắt đầu truyền bá giáo pháp sở đắc. Ngài mất năm 1951, thọ 63 tuổi đời.

HÒA THƯỢNG HUỆ QUANG (1888 – 1956)

Ngài họ Nguyễn, sinh năm 1888 tại Ô Môn-Cần Thơ, xuất gia năm 1902 và đắc pháp với Hòa thượng Từ Văn năm 1919, được ban pháp hiệuHuệ Quang.

Năm 1931, Ngài cùng Hòa thượng Khánh Hòa và chư tôn đức lập hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học, trụ sở ở chùa Linh Sơn-Sài gòn, xuất bản Tạp chí Từ Bi Âm làm nhân tố cho phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Nam.

Năm 1934, Ngài lại cùng Hòa thượng Khánh Hòa lập nên hội Lưỡng Xuyên Phật Học ở Trà Vinh và ra mắt Tạp chí Duy Tâm vào năm 1935, do Ngài làm chủ nhiệm.

Năm 1953, Ngài được suy tôn ngôi pháp chủ Giáo hội Tăng già Nam Việt. Năm 1956, Ngài lại được suy cử Phó Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, cùng xuất bản tập san Phật Giáo Việt Nam, do Ngài làm chủ nhiệm.

Ngày 10-11-1956, Ngài cùng phái đoàn Phật giáo Việt Nam lên đường tham dự hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ IV tại Népal. Phái đoàn dự đại hội xong trở về New Delhi đi chiêm bái các thánh tích. Sau khi chiêm bái, như đã có nguyện ước được trở về với Phật tại đất Phật, Ngài đột ngột viên tịch tai đây, nhục thân Ngài được trà tỳ tại xứ Ấn Độ. Ngài hưởng thọ 68 tuổi đời với 37 năm hoằng hóa.

HÒA THƯỢNG TỐ LIÊN (1903 – 1997)

Ngài quê quán Hà Đông, xuất gia năm 13 tuổi, trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc kỳ năm 1935, Ngài được mời ra chùa Quán sứ-Hà Nội gánh vác Phật sự và giảng dạy.

Tháng 5 năm 1950, ngài đại diện cho Phật giáo Việt Nam đi dự hội nghị thành lập Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu tại Sri-Lanka, một xứ sở được coi là thánh địa của Phật giáo sau Ấn Độ. Tại đại hội này, Phật giáo Việt Nam là một thành viên, lá cờ ngũ sắc ngày nay được công nhận là Phật kỳ tại đại hội đó và Ngài được suy cử làm Phó hội trưởng Hội Phật giáo thế giới. Sau đại hội, Ngài đi chiêm bái các thánh tích tại Ấn Độ.

Chính Ngài là người đã mang lá Phật kỳ ngũ sắc đầu tiên từ Tích Lan về phổ biến tại Việt Nam.

HÒA THƯỢNG MINH CHÂU

Ngài sinh năm 1918 tại Nghệ An, là một trong những người sáng lập "Gia đình Phật hóa phổ", tiền thân của Gia đình Phật tử Việt Nam ngày nay. Ngày xuất gia năm 1946, giữ chức Hiệu trưởng trường Bồ Đề đầu tiên tại Huế năm 1951.

Năm 1952, Ngài xuất dương sang du học ở Sri-Lanka và Ấn Độ. Ngài học Pali ngữ và Anh văn tại Sri-Lanka, sau đó vào học ở viện Đại học Phật giáo quốc tế Nalanda-Ấn Độ. Năm 1958, Ngài đỗ thủ khoa cao học MA về Pali ngữ và Abhidhamma. Năm 1961, Ngài đỗ tiến sĩ Phật học-văn học Pali. Ngài là người Việt Nam đầu tiên đạt được học vị Phật giáo quốc tế cao nhất.

Năm 1964, Ngài về nước phụ trách ngành giáo dục Phật giáo, làm hiệu trưởng viện Đại học Vạn Hạnh, rồi lần lược làm hiệu trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam cơ sở II, viện trưởng viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Hành trạng của Ngài quả là một "Đường Tăng Việt Nam" tiêu biểu, bởi sự nghiệp lớn nhất là phiên dịch Kinh tạng Pali ngữ sang Việt ngữ, như việc làm của ngài Huyền Trang thuở xưa.

HÒA THƯỢNG THIỆN CHÂU

Ngài sinh năm 1931 tại Huế, xuất gia năm 16 tuổi, Ngài học tại Phật học đường Báo Quốc từ năm 1948 đến năm 1958 và là Giảng sư khắp các tỉnh miền Trung khi còn rất trẻ, được mệnh danh là "ngôi sao sáng Phật học Việt Nam" thời bấy giờ.

Năm 1961, Ngài đi du học tại viện Đại học Phật giáo quốc tế Nalanda ở bang Bihar-Ấn Độ. Năm 1963, Ngài tốt nghiệp cử nhân Pali, đến năm 1965 tốt nghiệp thêm cử nhân Anh văn. Sau đó, Ngài sang Anh Quốc nghiên cứu tại viện Đại học London.

Năm 1967, Ngài sang Pháp nghiên cứuđảm nhận chủ tịch hội Phật tử Việt kiều hải ngoại. Năm 1977, Ngài đỗ Tiến sĩ tại Đại học Sorbon-Paris. Năm 1980, Ngài xây dựng ngôi chùa Trúc Lâm Thiền Viện ở ngoại ô Paris, một ngôi chùa Việt Nam hoàn chỉnh về kiến trúc văn hóa Việt. Ngài đã viết và phiên dịch một số lượng lớn tác phẩm. Ngài viên tịch năm 1998, để lại bao tiếc thương về một nhân tài Phật giáo thành danh ở hải ngoại.

*

Và còn nhiều nữa những "Đường Tăng Việt Nam" đã hoàn thành sứ mệnh nơi nước Phật, đem sở học truyền bá chánh pháp Như Lai tại quê nhà và hải ngoại như các vị:

Hòa thượng Huyền Vi, xuất dương du học tại Ấn Độ rồi hoằng dương ở nước Pháp với hội Phật giáo Linh Sơn có chi nhánh khắp thế giới.

Hòa thượng Chân Thường, từ Việt Nam sang Pháp hoằng dương, rồi từ Pháp đi Ấn Độ tham họcchiêm bái, trở về Pháp hành đạo tại đây, sáng lập hội Phật giáo Quán Âm ở ngoại ô Paris.

Hòa thượng Thiện Thanh, từ Việt Nam đi du học ở Ấn Độ và ở lại hoằng dương Phật pháp tại chùa Phật Tổ-Mỹ Quốc.

Thượng tọa Huyền Diệu, từ Pháp đi Ấn Độ nghiên cứu rồi phát nguyện ở lại đây hoằng dương, xây dựng nên ngôi chùa "Việt Nam Phật Quốc Tự" tại Bồ Đề đạo tràng và một ngôi ở Lumbini-Népal.

Thượng tọa Chơn Thiện, từ Việt Nam sang Ấn Độ du học, đạt học vị Tiến sĩ hạng tối ưu, trở về nước phục vụ. Thượng tọa hiện là phó hiệu trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh và Tp. Huế, cũng là phó viện trưởng viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Thượng tọa là một học giả lỗi lạc với một số tác phẩm biên soạn và dịch thuật có giá trị.

Và còn nhiều vị Tăng trẻ nữa đã và đang tham học nơi đất Phật hoặc hành đạo nơi ấy, hoặc trở về nước phục vụ, hoặc còn du phương ở các nước như: Tỳ kheo Hạnh Nguyện; Tỳ kheo Nhật Từ; Tỳ kheo Minh Thành...

Có thể nói, Ấn Độ là vùng đất thiêng nơi đã sản sinh ra đức Từ phụ Thích Cagiáo pháp của Người. Ngày nay các đệ tử của người từ khắp năm châu vẫn ước mơ được một lần hành hương về đấy để như được sinh lại lần nữa, nối tiếp con đường truyền bá chánh pháp như những Như Lai sứ giả thuở xưa, sau 25 thế kỷ tồn tại thế gian lợi lạc hữu tình. Và những Đường Tăng nước Việt ngày nay đã góp phần làm rạng rỡ lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Từ tựa đề ngẫu hứng của Phan Bội Châu viết truyện "Đường Tăng Nước Nam", đã làm nẫy sinh trong tôi ý định viết tiếp truyện này. Cho thấy rằng, chứng tích nguyên thủy của thánh địa chính là sự phát khởi đại tâm, tục Phật huệ mạng cho tất cả đệ tử của Người, mong ước một lần trong đời tìm về xứ Phật, tìm lại sức mạnh tự tánh Phật sẳn có trong chúng ta.

Mùa an cư năm 2000

 

SỐNG VÀ CHẾT THẾ NÀO
CHO CÓ Ý NGHĨA

Loài người chúng ta là những sinh vật hữu hình hữu hạn, chúng ta không thể sống ngoài viễn tượng không gianthời gian. Vì sao? vì sắc chất chúng ta được cấu tạo nên từ tứ đại giả hợp, không có cách nào chụp bắt hay bám víu vào những lý thuyết hão huyền của vô hạn. Vậy thì làm sao chúng ta có thể tự giải thoát mình ra khỏi sự ràng buộc của phiền não khổ đau trong kiếp người từ giới hạn cuộc sống?

Bởi thế, sự giải thoát phải được tìm kiếm trong chính hữu hạn, nói cách khác là ngay trong hành động thực tế của xã hội, mà biết đem giáo lý Phật đà ra áp dụng để hoán cải cuộc đời trở thành nhân sinh quan tươi đẹp; đó mới là ý nghĩa cứu khổ ban vui, lòng bi nguyện của Bồ tát hạnh, cũng là hoài bảo lớn lao của đức Phật Thích Ca khi đứng trước hoàn cảnh bất công ở xã hội thời ấy. Cho nên biết rằng, không có gì vô hạn tách biệt khỏi những sự vật hữu hạn. Nếu chúng ta tìm kiếm cái gì siêu nghiệm bằng lý thuyết suông, việc ấy sẽ cắt lìa chúng ta ra khỏi thế giới vật chất tương đối này; chẳng khác nào sự "hư vô hóa" chính chúng ta, thì luật đào thải tự nhiên của xã hội sẽ ném ta vào quá khứ.

Không một sinh vật nào trên vũ trụ có thể thoát khỏi định luật thiên nhiênvô thường sinh diệt. Biết như thế thì có gì phải bi quan yếm thế cầu giải thoát bằng cách khoanh tay ngồi chờ sung rụng? mà hãy nhớ rằng: "NIẾT BÀN phải được tìm kiếm ngay giữa lòng cõi TA BÀ hay trong dòng SINH TỬ".

Nếu chỉ biết có "Tinh thần", chỉ sống với "Vĩnh cửu". "Trừu tượng", "Vô biên" v.v... ưu tư muốn tìm một tổng hợp trong ấy, đối kháng quyết liệt với lao động chân tay, hoặc chẳng thể hòa mình vào dòng đời phụng sự xã hội, nhân loại; muốn đạt được cùng một lúc thân còn ở tại nhân giantâm trí sống ở thiên đàng. Việc ấy sẽ không thể nào có được.

Mỗi người phải sống cho trọn đời mình cho đến giây phút cuối cùng, bằng tất cả bầu nhiệt huyết để đắp bồi cho cuộc đời bằng những bông hoa tươi thắm, cho hậu thế được hạnh phúc an vui, phải dám sống cho đến khi kết thúc đời mình, và cái bước kế tiếp là cái bước ngang qua lằn ranh đi vào cõi chết, trả thân nầy về cát bụi một cách mãn nguyện an vui vì đã làm tròn sứ mạng của con người. Chúng ta không có đủ can đảm để vào cuộc hành trình mà phải kêu lên là "không dám" hay sao?

Cái chết là một chung cuộc lớn lao, một kinh nghiệm toàn mỹ, một triển khai có từ đời sống theo việc làm xấu hay tốt, ta cần gì phải nghĩ ngợi xa hơn? con người chẳng bao giờ thấy xa hơn cái chung cuộc ấy. Sự chết đủ là một kinh nghiệm lớn lao, tại sao ta cứ phải tư duy, tra vấn về cái gì ở đằng sau một kinh nghiệm; hơn nữa, lại là một kinh nghiệm mà ta hãy còn mù tịt?

Trong kinh Nhân Quả báo ứng có nói:

"Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị;

Yếu tu lai thế quả, kim sanh tác giả thị"

Thế thì chúng ta hãy gắng công gieo hạt giống lành Đạo đức, vun phân tưới nước gốc Từ bi; lo gì cây Đạo pháp không lớn, hoa Bát nhã không nở, quả Niết bàn không kết trái?

Đại thừa Mật giáo Tây Tạng có nói: "Nếu chúng ta muốn vươn lên khỏi trần gian này, chúng ta cũng phải đứng lên từ mặt đất; vì người ta rơi trên mặt đất, người ta phải cất mình lên với sự trợ giúp của mặt đất".

Văn hào D.H. Lawrence cũng đã khẳng định: "Tương lai sẽ chỉ thuộc về những người dám đối mặt và chấp nhận định mệnh". Tương lai, là tặng phẩm dành cho người đi đến mục đích giải thoát; đối mặt ở đây có nghĩa nhìn thẳng vào thực tại và hành động; còn chấp nhận định mệnh tức nhận rõ sự sinh tử là lẽ tất nhiên của con người, mà chỉ người có trí tuệ mới giác ngộ được chân lý ấy, khi nhận thức thấu đáo triết lý cốt tủy của đạo Phật là pháp Tứ Diệu Đế.

Muốn có được những thực chất ấy, thì trước tiên chúng phải vun trồng nơi tự mình, bằng cách rèn luyện đạo đức qua hành trì giới luật, tu tập thiền quán. Song song đó, chúng ta cần trau dồi kiến thức, phát triển trí tuệ qua nghiên cứu tam tạng giáo điển để nhận ra tự tánh; việc còn lại là sống đời sống an lạc tự thân để giúp mọi người chung quanh sửa chữa những sai lầm bản thân, những tư tưởng lệch lạc, những tập quán, nền nếp không còn phù hợp.

Làm được như thế, mới là cùng nhau đạt đến chân hạnh phúcthực tại, cho phạm trù sống phải thực có ý nghĩa, thì đến khi phạm trù chết xảy ra, đó sẽ là ý nghĩa lớn lao nhất mà con người muôn thuở đều muốn vươn tới: sự vĩnh hằng của Niết bàn tịch tĩnh.

Mùa an cư Ất Sửu 1985

Tư liệu có tham khảo và trích dẫn:

–             Buổi sáng cuối cùng, D.H. Lawrence

–             Tương lai và ảo ảnh, Freud

–             Trà đạo, Okakura Kakuzo

 

 

QUAN ĐIỂM DÂN TỘC
QUA TÁC PHẨM CỦA SƯ THIỆN CHIẾU

Àọc các tác phẩm của Sư Thiện Chiếu người đọc cảm nhận một điều gì rất đổi tha thiết, bức xúc, thật hiếm thấy nơi các tài liệu giảng dạy giáo lý thông thường, ngay cả các tác phẩm Phật giáo ở thời hiện đại này. Vì sao các tác phẩm của ông lại gây cho người đọc một cảm nhận như vậy? Suy đi xét lại, tác phẩm để lại ấn tượng thật sâu sắc vì người viết thể hiện một quan điểm xuyên suốt trong từng vấn đề đồng thời gửi gắm cả một tấm lòng tha thiết. Quan điểm đó là lập trường dân tộc gắn liền với đạo pháp, thể hiện qua những điểm sau:

– Tiếp thu Phật giáo trên tinh thần độc lập tích cực sáng tạo của dân tộc.

Trong "Lời di cảo", Sư Thiện Chiếu đã trình bày rất tỉ mỉ về quá trình đấu tranh "chống thiên nhiên", "chống bất công xã hội" và đặc biệt là "chống ngoại xâm" của dân tộc ta. Mục đích của tác giả là để chứng minh rằng qua quá trình đấu tranh đó, dân tộc ta đã trui rèn và phát huy được tính "độc lập tích cực và sáng tạo" để làm cơ sở phán đoán phân biệt. Ông viết "Tính độc lập tích cựcsáng tạoyếu tố quyết định sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt nam trong đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tốt và cái xấu, thiện và ác, chính và tà, ngay và gian, chơn và ngụy, bình đẳng và bất công, tiến bộbảo thủ, dân chủđộc tài, tự doáp bức, bác ái và bạo tàn, chính nghĩaphi nghĩa, nhân đạovô nhân đạo v.v., tính độc lập tích cựcsáng tạo đó loại bỏ một cách không thương tiếc tất cả những gì ngăn trở bước tiến của dân tộc ta...". Như vậy, khi "tiếp thu những học thuật tư tưởng bên ngoài" nhân dân ta đã vận dụng tính độc lập tích cực sáng tạo để "phê phán chọn lọc, hút lấy tinh hoa, loại bỏ cặn bã, để bồi dưỡng thêm cho sức sống của mình". Việc tiếp thu đạo Phật của ông cha ta trước đây và bây giờ cũng theo cách đó, để đạo Phật được du nhập trở thành một đạo Phật Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc.

Lập luận về tôn giáo của ông khi bàn về đạo Phật, mà Sư Thiện Chiếu gọi là "món quà tặng cho nhân dân ta" được ông phân tích "bất cứ một giai cấp áp bức bóc lột nào, người da trắng cũng như người da vàng, người bản xứ cũng như ngưới ngoại quốc đều lợi dụng tôn giáo ru ngủ nhân dân. Chúng cố làm cho người nô lệ, cho người bị áp bức bóc lột quên đời sống thực tại, bỏ phần xác lo phần hồn để hưởng "hạnh phúc" ở một thế giới khác, trên Thiên đường, trên cõi Phật hoặc cõi niết bàn, hoặc đầu thai kiếp khác".

Lập luận này của ông chỉ rõ khuynh hướng tư tưởng của ông đã ở sang bước ngoặc mới, trên lập trường dân tộc mà tách biệt khỏi quan điểm Phật giáo thuần túy, muốn làm một cuộc cải cách lớn hơn nữa sau cuộc cải cách chấn hưng Phật giáo đầu tiên mà ông và Hòa thượng Khánh Hòa đã khởi xướng năm 1930. Lần cải cách này đi theo một hướng khác để sàng lọc tinh hoa là những tư tưởng của Phật phù hợp với truyền thống yêu chuộng tự do bình đẳng nhân ái của nhân dân ta. Sư Thiện Chiếu đã dùng những từ "thích thú", "cảm động", "phấn khởi" để mô tả sự tâm đắc của ông cha ta khi nghe những câu nói của Phật "Pháp ta cũng như không gian, gái trai, già trẻ, giàu nghèo hay sang hèn, ai vào đều tự do bình đẳng như nhau", "Nếu vì ích lợi cho chỉ một trong chúng sanh mà phải ở địa ngục thà ở Địa ngục chớ quyết không thay dạ đổi lòng", "Người họ thích sống trên đất nước họ, họ có quyền tự do đùa nghịch, cũng như chim ở trong rừng tự do ra vào trong tổ của chúng vậy"...

Như vậy, những cái cái mà ông cha ta chọn lọc từ đạo Phật hợp với truyền thống yêu chuộng độc lậptự dobình đẳng và tấm lòng nhân hậu của nhân dân ta, nên Phật giáo được chọn làm quốc giáo chứ không phải Nho giáo và trên con đường đồng hành với dân tộc, Phật giáo đạt đến chỗ cực thịnh, với những đóng góp rất nhiều cho đất nước, dân tộc trong từng hoàn cảnh lịch sử phát triển của đất nước.

– Đứng trên quan điểm dân tộc để tấán công những thứ "cặn bã" Phật giáo.

Phê phán những thứ cặn bã Phật giáo trong phong trào chấn hưng không chỉ có mỗi một Sư Thiện Chiếu, nhưng cách phê phán của ông mang những đặc điểm riêng: truy tìm nguồn gốc, xuất xứ, lý do vì sao những cách hiểu sai lầm về Phật giáo như thế lại được truyền bá rộng rãi để gây hại cho chính pháp và cho dân tộc. Sự phê bình của ông thẳng thắng và sử dụng ngôn từ rất mạnh mẽ, gần như là tuyên chiến. Sau đây là một vài ví dụ: phê bình bài Khuyến phát tâm văn trong Khóa Hư tập trong có đoạn khinh miệt các giống người sinh nơi mà người ta gọi là man rợ và cho rằng có hạnh phúc lắm mới được sanh làm người trên đất nước Trung Quốc; ông khẳng định là "có ngụy tạo" vì "tác giả sách đó là vua của một dân tộc anh hùng, từng đánh bại quân Nguyên, đã chẳng nói được như câu" Nam quốc sơn hà nam đế cư "mà lại thốt ra những lời ngu xuẩn như thế à?"; phê bình các câu: "Nếu không phải oan khiên kiếp trước, cũng chắc là nghiệp chướng đời nay" (Truyền kỳ tân phổ), "Đã đành túc trái tiền oan... kiếp nầy nợ trả chưa xong... kiếp sau họa thấy, kiếp nầy hẳn thôi" (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du ông viết "chịu ảnh hưởng Phật giáo trong lúc suy tàn... vô tình ủng hộ cho thế lực phản động, kiềm hãm sức sống của dân tộc, không thể không gánh lấy một phần trách nhiệm đối với lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam" (Lời di cảo).

Lời văn của Sư Thiện Chiếu khi viết về những điều ngụy tạo, sai trái làm hoen ố tinh hoa Phật giáo rất thống thiết. Trong lời tựa của quyển "Phật giáo vấn đáp", ông đã phải kêu lên "Đau đớn thay! lạ lùng thay! Muốn bênh vực rằng Phật giáo không phải là một đạo mê tín hoang đường thì sờ sờ ra đó biết bao nhiêu là việc huyền hoặc dị đoan". Trong Phật giáo Tổng yếu, ông đã kết thúc những lời nói đầu bằng tiếng thán oán "Than ôi" kèm theo 3 dấu chấm than sau khi đã chỉ trích những kẻ chỉ biết trông cậy vào thần quyền là "một giống độc trùng sẽ phá hoại Phật giáo có ngày phải tiêu diệt".

Sự phê phán của ông với ý đồ tấn công vào mặt tiêu cực yếm thế của một bộ phận tăng sĩ Phật giáo quay mặt đi trước hiện tình đất nước, không mang lập trường dân tộc để đối diện với đại cuộc đất nước, đó là nhiệt huyết của ông nói lên tâm trạng một sĩ phu trong mầu áo tăng lữ.

– Nêu cao các tinh hoa Phật giáo có lợi cho cuộc đấu tranh của dân tộc.

Khi đi vào việc giảng dạy giáo lý Phật giáo, Sư Thiện Chiếu đã nỗ lực giải thoát tín đồ khỏi "mê hồn trận" của sách vở viết về Phật giáo. Không phải những điều kinh sách, tài liệu viết về Phật giáo đều trung thành với tư tưởng của đức Phật. Có rất nhiều điều sai trái do trình độ người viết bị hạn chế, do hiểu sai hay do cố tình thêm thắt bịa đặt để phục vụ cho mục đích đen tối nào đó. Ông viết: "Toàn là chuyện hoang đường, thần thoại đầy dẫy trong kinh sách Phật. Muốn duy trì địa vị là người chỉ lối đưa đường nhưng tiếng nói của họ không còn nghị lực. Họ phải cầu cứu với uy linh của người chết (cách đây hai nghìn năm) bằng tượng gỗ sơn son thếp vàng, hương trầm nghi ngút, chuông trống rình rang... Ngoài ra, họ còn cầu cứu với lũ quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa trên bức vẽ "mười cửa ngục..." (Tìm hiểu về Phật).

Để giải thích những điều rất căn bản của Phật giáo, Sư Thiện Chiếu đã đặt ra những tiểu tựa tóm tắt từng ý cơ bản hay gạch dưới để nhấn mạnh những ý quan trọng giúp người đọc thấy rõ sự gắn bó giữa tinh thần Phật giáo chân chính với lợi ích dân tộc. Ví dụ dùng chữ in đậm, viết hoa, lại còn gạch dưới nhan đề: Có Đúng Với Những Hành Động Cương Quyết Bảo Vệ Tự Do Độc Lập và Triệt Đểå Chống Đế Quốc Xâm Lược Của Loài Người Tiến Bộ Trên Thế Giới Hay Không? khi dẫn một số lời của Phật như các câu "Người họ Thích sống trên đất nước của họ..."; "Tâm lý của người làm vua là ham muốn tăng cường quân đội, xâm lấn nước ngoài, cướp đoạt tài sản, mở rộng biên cương" (Sư Thiện Chiếu bình luận thêm: "mặc dù Phật là con vua, vẫn thẳng tay lên án Vua là hiếu chiến, là xâm lược, không khác người Mác Xít ngày nay nói rằng Bản chất của đế quốc là xâm lược vậy"); lời đối đáp giữa Phật và A Nan khi vua A Xà Thế sai đại thần Võ Xá đến hỏi ý kiến về việc xâm lấn Bạt Kỳ (Sư Thiện Chiếu bình là Phật đập tan âm mưu xâm lược của A Xà Thế bằng những lời đối đáp đó. Dẫân những lời nói trên của Phật, Sư Thiện Chiếu làm cho người đọc tin rằng "Nếu sinh vào giữa thế kỷ 20 nầy, Phật sẽ kiên quyết ủng hộ (nếu có khả năng) sẽ làm hết sức mình, viện trợ chính trị, kinh tế, quân sự cho Việt namquét sạch, không cho xót lại một tên xâm lược" (Tìm hiểu về Phật).

*

Không thể dẫn hết những chỗ Sư Thiện Chiếu giải thích lời dạy của đức Phật theo hướng tích cực ủng hộ chính nghĩa của dân tộc ta trong giai đoạn lịch sử cụ thể lúc bấy giờ. Hành trạng của ông mang nặng trách nhiệm trước dân tộc bằng sự thể nhập của bậc Đại thừa Bồ tát, như lời kết ở tác phẩm "Chơn lý của Đại thừa" ông đã viết về tâm nguyện của mình: "Ngoài cái phương pháp Lục độ, còn có biết bao nhiêu là phương tiện. Như ở thời đại nầy, hoặc lấy phương pháp khoa học, hoặc dùng cái chánh sách kinh tế, nếu thuyết Duy tâm không thích hợp thì dùng thuyết Duy vật, dẫu có khác với phương pháp của Phật dạy hồi nguyên thỉ, miễn đạt được mục đích "chúng sanh hết khổ được vui" vậy mới được viên mãn cái hoằng nguyện lợi sanh, và mới phải là bực Đại thừa Bồ tát!". Quan niệm "chúng sanh" ở đây chính là nhân dân còn đang chịu lầm than bởi áp bức bóc lột của chính quyền thực dân, với ông chỉ có giải pháp làm thế nào đưa dân tộc thoát khỏi nền đô hộ mới là ý nghĩa "giải thoát" của người thực hành hạnh nguyện Bồ tát độ sanh vậy.

Điều rất đáng khâm phục là chính người đưa ra những lời diễn giảng đó giữ được "thế – pháp" vẹn toàn, làm tròn trách nhiệm của một nhà sư Việt Nam trong một giai đoạn lúc đất nước bị xâm lăng. Phần "thế", ông gói lại Cà sa để dấn thân vào cuộc đấu tranh chống đế quốc, rồi "được kết nạp vào tổ chức cách mạng", trực tiếp "tham gia vào phong trào Nam Kỳ Khởi nghĩa tại Hốc Môn", và "bị thực dân Pháp bắt đày Côn đảo", ông đã bị "bị tra tấn đến bại xuội", và từng "giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Gò Công"... (Tiểu sử Danh tăng tập I). Phần "pháp", ông là một trong các vị có công lao khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Namlịch sử mãi ghi khắc, ông đã viết nên những tác phẩm Phật giáo tích cực để làm trong sáng giáo lý, chính lòng nhiệt huyết với chánh "pháp" này, đã khiến ông trở thành kẻ cô đơn trong công trạng của mình từ quan điểm cải cách, đối đầu trực diện với một bộ phận lớn Phật giáo còn nặng tính bảo thủ cầu an, mang tư tưởng yếm thế tiêu cực phản ứng đối kháng rất gay gắt với quan điểm hiện thực của ông lúc bấy giờ.

Để lại cho lịch sử một quá trình cống hiến cho sự nghiệp của Phật giáo và dân tộc, ngày nay chúng ta nhận thức và tôn vinh ông cũng chính từø những tác phẩm với quan điểm dân tộc đã một thời gây nên sóng gió trong giới Phật giáo. Sư Thiện Chiếu đã đóng góp công sức không nhỏ vào tư tưởng tinh hoa của đạo Phật thêm rạng ngời và góp phần đưa Phật giáo Việt Nam xu hướng về hiện thực trong mạch sống của cội nguồn dân tộc./.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 01-12-2002

 

THỬ TÌM MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN
PHẬT GIÁO TỪ BỐI CẢNH LỊCH SỬ
HÒA THƯỢNG TỐ LIÊN(
[20])

1. Sự trao đổi sinh viên giữa các miền để giao lưu kiến thức và học tập lẫn nhau.

Bối cảnh là trường đại học Phật giáo đầu tiên năm 1936 tại Phật học đường Tây Thiên Di Đà do Sơn môn Tăng già Huế tổ chức, Hòa thượng Phước Huệ chủ giảng. Khóa học này có sự trao đổi sinh viên đầu tiên của ba miền. Miền Bắc có các vị Tâm Ấn, Tâm Chính, Tâm Thông, Thanh Thùy, Tố Liên... Miền Nam có các vị Thiện Hòa, Thiện Hoa, Bửu Ngọc, Trí Tịnh, Hành Trụ... Chính sự trao đổi sinh viên đầu tiên này, mà các vị tăng tài xuất chúng lãnh đạo giáo hội ngày nay đều ra trường từ lớp đại học đầu tiên của thời kỳ chấn hưng Phật giáo đó.

Sau khi tham cứu các chương trình Phật học ở Huế về, Ngài Tố Liên đã viết: "Tôi nghe nói trường Phật học ở Huế có cả triết học Đông Tây, nếu ngoài Bắc ta có mở trường Phật học cũng nên theo chương trình Phật học ở Huế, rồi tùy cơ châm chước mà giáo huấn thì Phật học hiện hữu mới được tiến đạt" (Đuốc Tuệ số 40 ngày 20-9-1936). Từ bối cảnh ngày xưa mà nhìn về sự nghiệp đào tạo tăng tài ngày nay. Ta thấy cần rút ra những điều để học tập:

– Hiện cả nước có 4 trường đại học Phật giáo, trải dài cả ba miền Bắc Trung Nam và mới đây là trường đại học Phật giáo Cần Thơ dành cho chư tăng Nam Tông Khmer, nhưng chương trình giảng dạy còn chênh lệch nhau khá xa. Tại sao ta không tổ chức trao đổi giáo trình cho thống nhất? Tại sao ta không cho sinh viên tự do lựa chọn trường để học? Tại sao ta không trao đổi giảng viên giáo thọ để giá trị đào tạo của trường ngày một nâng cao? Ngài Tố Liên đã đi trước chúng ta một bước về mặt giao lưu hội nhập, đó là nền tảng cho sự thống nhất Phật giáo lâu dài.

– Sự phát triển tất yếu của khoa học và nhu cầu tiếp cận văn hóa giáo dục phổ thông của xã hội, đòi hỏi hệ thống giáo dục Phật giáo phải cập nhật hóa chương trình đào tạo, sao cho ngang tầm thời đại và bắt kịp các lĩnh vực nhạy cảm của nhu cầu xã hội đặt ra cho tôn giáo. Ngài Tố Liên thời đó là một thanh niên Tăng, đã có những trăn trở và ước vọng về xã hội hóa Phật giáo. Mà muốn xã hội hóa Phật giáo, trước hết hàng ngũ thanh niên Tăng phải cập nhật được kiến thức xã hội, mới có thể bước chân ra khỏi đại dương mà hội nhập vào thế giới. Ta thấy qua các bài viết của ngài đăng trong Đuốc Tuệ số 34 "Thanh niên Tăng chúng tôi với Phật học"; số 42 "Cái buồn chung của Tăng giới thiếu niên trụ trì". Chính vì nỗ lực cho mục đích ấy, mà sau này ngài được các tổ chức Phật giáo Việt Nam cử làm đại biểu đi tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới tổ chức tại Colombo, đem về lá cờ Phật giáo cho nước ta với tư cách thành viên quốc tế.

2. Lá cờ Phật giáo và pháp nhân của Phật giáo Việt Nam trên trường thế giới.

Lá cờ ngũ sắc của Phật giáo đã là một biểu tượng chung cho tất cả các quốc gia Phật giáo trên toàn thế giới, kể từ ngày 7 tháng 6 năm 1950 với 26 nước thành viên, mà Việt Nam là một thành viên sáng lập với chức danh đầu tiên là Phó Chủ tịch hội Phật giáo thế giới của ngài Tố Liên. Điều đáng tự hào ở đây, chính ngài Tố Liên là người soạn thảo chương trình trù bị cho hội nghị, khíến cả hội nghị đều kính nể đại biểu Việt Nam ăn nói hoạt bát hơn hết([21]). Ngày lịch sử của giáo kỳ Phật giáo thế giới lần đầu tiên treo phất phới tại chùa Quán Sứ là vào ngày lễ Phật đản mồng Tám tháng Tư năm Tân Mão (13-05-1951).

Chúng ta thấy rằng, lá cờ Phật giáo ấy đã được Phật giáo nước ta chấp nhận kể từ ngày ấy, trước khi Tổng hội Phật giáo Việt Nam được chính thức thành lập ngày 09-05-1951 gồm 51 đại biểu khắp cả ba miền Bắc Trung Nam. Thế thì, giáo kỳ này đã đương nhiên đã là giáo kỳ của các tổ chức Phật giáo Việt Nam từ đó trở về sau, chứ không phải là của riêng một tổ chức Phật giáo nào khác ngoài lãnh thổ Việt Nam tự nhận đó là của riêng mình hoặc phủ nhận nó không là của mình. Lịch sử đã chứng minh sự kiện này bởi công lao của ngài Tố Liên, đem về một điểm son rạng rỡ cho lịch sử Phật giáo Việt Nam kể từ ngày ấy.

Thế thì có gì là trở ngại mà khiến một thời gian dài, lá cờ này lại bị vắng bóng ở nơi địa phương đã treo nó đầu tiên? Mọi việc dẫu đã qua rồi theo thời gian do ý thức hệ khác nhau, nhưng giờ đây là lúc tất cả chúng ta những người con Phật tìm đường quay về nguồn cội, chúng ta tìm thấy trong bối cảnh của ngài Tố Liên thuở ấy một bài học lịch sử vẫn sáng giá cho sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết Phật giáo, lấy yếu tố thống nhất ý chí hạnh nguyện của những người con Phật khắp năm châu dưới một lá cờ ngũ sắc Phật giáo, tựa như chúng ta có đồng một bản thểPhật tánh vốn không thể phân chia xưa nay, trong ngoài, xa gần vậy.

3. Mô hình Tổng hội ngày xưa, có thể là mô hình của Phật giáo phát triển ngày mai?

A. Phật giáo Việt Nam qua những chặng đường thống nhất

– Chặng đường thống nhất đầu tiên là sự thành lập các hội Phật giáo của giai đoạn Chấn hưng 1930 – 1945. Trong giai đoạn này, Phật giáo đã có những cuộc tập họp đầu tiên, khơi nguồn cho các Hội Phật giáo ở khắp ba miền đất nước được thành lập. Ngài Tố Liên đã tích lũy kiến thức từ các Phật học đường để hoài bão cho công cuộc thống nhất.

– Chặng đường thứ hai, là việc tập họp thành một khối thống nhất cả nước, thông qua việc thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951 và Giáo hội Tăng Già toàn quốc năm 1952. Hai tổ chức Phật giáo này là sự đồng thuận đầu tiên cho quá trình phục hưng Phật giáo Việt Nam, đặt nền tảng cho sự pháp triển Phật giáo sau này. Chính chặng đường này, ngài Tố Liên là một trong những nhân tố chủ chốt của cuộc vận động thống nhất Phật giáo thời bấy giờ với phương châm "bước đầu là Tổng hội, bước hai là Giáo hội". Rất tiếc rằng việc thống nhất trên nền tảng liên hiệp các tổ chức Phật giáo của ngài Tố Liên mới làm được bước đầu, chưa thể đi xa hơn do cuộc chiến tranh Việt Pháp đã làm lu mờ vai trò của Tổng hội và bị đứt đoạn bởi sự chia đôi đất nước.

– Chặng đường thứ ba, sau khi đất nước chia đôi bởi Hiệp định Geneve năm 1954, miền Nam dưới sự cai trị độc tài của nhà Ngô đàn áp Phật giáo, các giáo hội, giáo phái, hệ phái ở miền Nam đã đoàn kết thành một khối đấu tranh chống lại sự bất công của nhà Ngô, dẫn đến cuộc cách mạng lật đổ chính quyền ngày 01-11-1963. Sau đó là sự ra đời của một tổ chức Phật giáo mới tại miền Nam: Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Giáo hội này với sự chủ súy của Ngài Trí Quang tiến hành trực tiếp bước đi thứ hai là hợp nhất như phương châm ngài Tố Liên từng đề xướng, nhưng yếu tố thống nhất toàn diện bằng cách đồng hóa các hình thức Phật giáo, đã vấp phải sự bất hợp tác của các giáo phái và sớm bị tan vỡ khối thống nhất ngay sau khi thành lập không bao lâu, do việc các tổ chức Phật giáo dần dần rút chân ra khỏi giáo hội này. Hội Phật học Nam Việt là một thành viên nòng cốt trong phong trào đấu tranh và hưởng ứng thành lập giáo hội, lại là thành viên rút chân đầu tiên ngay sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thành lập. Lý do vì giai đoạn quá độ từ hình thức liên hiệp – tổng hội trong khối đoàn kết ở bước một chưa thật sự chín mùi, và sự thống nhất mang màu sắc triệt để đã làm tan vỡ khối thống nhất ấy. Cuối cùng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tuy phổ cập ở khắp miền Nam, nhưng cũng không thể đại diện cho các màu sắc khác nhau của Phật giáo Việt Nam.

– Chặng đường thứ tư, kể từ khi đất nước được thống nhất năm 1975, Phật giáo hai miền Nam Bắc đã xúc tiến vấn đề thống nhất về một mối trên tinh thần thống nhất ý chí và hành động nhưng vẫn giữ nguyên bản sắc của sơn môn hệ phái, nghĩa là chính thức đi vào bước hai của phương châm ban đầu. Ban vận động thống nhất Phật giáo được thành lập, cổ động khắp cả ba miền để đi đến Hội nghị đại biểu Phật giáo tháng 11 năm 1981, thành lập ra Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày hôm nay. Chặng đường thứ tư này đã làm tốt sứ mệnh của nó trong 25 năm qua nhờ các yếu tố thuận lợi là:

Quốc gia độc lập thống nhất không còn ngoại xâm.

– Đặt trên cơ sở đồng thuận giữa các hệ phái, giáo phái.

– Được chính quyền địa phương cho phép và tạo điều kiện.

– Không áp dụng hợp nhất triệt để mọi hình thức bản sắc.

Tuy nhiên, cũng không phải là giáo hội hiện nay với mô hình thống nhất này không gặp phải những trở ngại trên bước đường phát triển ngay từ đầu.

B. Bài học từ những mô hình thống nhất trong lịch sử.

Qua bốn chặng đường này, chúng ta rút ra được bài học gì từ ý hướng thống nhất Phật giáo trong quá trình lịch sử? Đó là hai mô hình tổ chức giáo hội.

1) Mô hình thứ nhất, tôi tạm gọi là mô hình theo quan điểm của ngài Tố Liên (vì phát xuất từ giai đoạn hoạt động của ngài và còn có nhiều vị khác cũng đồng quan điểm này)([22]). Đây là mô hình kết hợp bước 1, liên hiệp các tập đoàn Phật giáo để bầu ra một ban lãnh đạo tinh thần, đại diện cho Phật giáo Việt Nam. Thế mạnh của mô hình này là dễ dàng thuyết phụcdung nạp được tất cả các tổ chức Phật giáo đồng lòng vào trong liên hiệp, dựa vào nhau để tồn tại trong ngôi nhà chung, giống như chính sách đại đoàn kết của Mặt Trận Tổ quốc, trở thành lực lượng đông đảo dưới lá cờ Tổng hội. Mô hình này cũng đã phát huy rực rỡ trong giai đoạn đấu tranh của Phật giáo năm 1963, khi mà Tổng hội Phật giáo thành lập ra Ủy Ban Liên Phái bảo vệ Phật giáo để đấu tranh cho 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo đồ. Chính lúc ấy, vai trò tổng lực của Phật giáo phát huy ở đỉnh cao nhất. Yếu điểm của mô hình này là không có hệ thống quản lý nhất quán, nên khó đạt được mục tiêu chung, thường không đồng nhất trong hành động chỉ vì lợi ích riêng của các tập đoàn.

2) Mô hình thứ hai, tôi cũng tạm gọi là mô hình theo quan điểm của ngài Trí Quang (và cũng có nhiều vị khác cũng đồng quan điểm này)([23]). Đây là mô hình ở bước 2, thống nhất tổ chức toàn diện, thống nhất hành động và tư tưởng để trở thành một giáo hội có tính quản lý cao. Thế mạnh của mô hình này là sự chặt chẽ trong hệ thống hành chính và giáo quyền xuyên suốt, với tính nhất quán trong hoạt động. Mô hình này dễ tạo ra các mệnh lệnh có hiệu lực để thực hiện một chủ trương đường lối do lãnh đạo đề ra. Ta thấy điển hình của mô hình này là Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhấtGiáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay. Yếu điểm cố hữu của mô hình này, chính là sự muốn gạt bỏ mọi giáo quyền riêng của các giáo phái thành viên, Điều này đã khiến cho tính thống nhất tuyệt đối không được bền lâu, bởi chỉ là một nên khó thể dung nạp tất cả dị biệt hay giáo quyền riêng của các tổ chức giáo phái khác.

Hai mô hình này, tùy theo diễn biến của hoàn cảnh lịch sử, ta thấy đã có lúc thành công nhưng cũng có khi vấp phải sự bất đồng sâu sắc trong quá khứhiện tại.Với giai đoạn lịch sử giành độc lập từ ngoại xâm hay đấu tranh chống áp bức bất công, thì mô hình 1 của ngài Tố Liên là cần thiết để kết đoàn tập họp. Với giai đoạn lịch sử chính trị ổn định xây dựng nền tảng cơ sở để phát triển, thì việc chọn mô hình 2 để thống nhất về một mối là đúng đắnhiệu quả. Như thế chúng ta mới có được một giáo hội hợp nhất và đủ mạnh để quản lý xuyên suốt từ trung ương đến địa phương. Đó cũng là phù hợp theo diễn biến tất yếu của lịch sử nước nhà trong giai đoạn cần thiết có sự quản lý chặt chẽ.

Tuy nhiên, thế kỷ 21 là thế kỷ hội nhập, sau khi đất nước chúng ta mở cửa bắt tay bè bạn với cả năm châu không phân biệt ý thức hệ. Tôi nghĩ rằng sự phát triển tất yếu của Phật giáo ở giai đoạn mở cửa này để đồng bộ cùng đất nước, là chúng ta cần phải mở rộng vòng tay giáo hội, dung nạp các tổ chức Phật giáo trong ngoài nước về dưới ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam. Ở giai đoạn này thì ta thấy mô hình 1 của ngài Tố Liên có những yếu tố ưu việt để phù hợp với bước đi của thời đại.

Sở dĩ tôi có quan điểm như thế, cũng không có nghĩa mô hình liên hiệp – tổng hội là một bước lùi về quá khứ, càng không phải là sự lập lại nguyên bản một hình thức trong lịch sử, mà là chúng ta dựa trên nền tảng của mô hình 2 đã hình thành sẵn có, phát triển lên mô hình mới từ sự chọn lọc có tính kế thừa của cả hai bước mô hình đã có quá trình lịch sử.

Ví như trong lĩnh vực kinh tế, từ hình thức những công ty riêng lẻ (company) (A), người ta nối kết lại bằng hình thức liên hiệp đi lên tổng công ty (head of company) (B), rồi từ tổng công ty sẽ phát triển tiến lên thành tập đoàn (corporation) (C). Tập đoàn không có nghĩa là hình thức khác của Tổng công ty, vì nó có tính ưu việt và xuyên suốt trong lãnh đạo nhưng hoạt động tài chính và kinh doanh vẫn độc lập. Nghĩa là phải từ A đi đến B, rồi từ A + B sẽ phát triển lên thành C. Trên cơ sở ví dụ này, ta thấy mô hình 1 từ thời ngài Tố Liên (liên hiệp – tổng hội) không phải là sự lập lại danh nghĩa, mà ngay tự thân tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay (mô hình 2) sẽ tiến lên là ngôi nhà chung, chấp nhậndung nạp các tổ chức Phật giáo khác trong và ngoài nước để nâng lên thành một khối liên hiệp mà thống nhất, tôn trọng sự quản lý riêng mà cũng nhất quán trong lãnh đạo.

Thế thì, bài học từ bối cảnh hoạt động xưa của ngài Tố Liên, chúng ta kết hợp với những gì hiện có phát triển đi lên thành một tổ chức Phật giáo rộng rãi hơn, có tầm nhìn hiện đại vượt ra thế giới vậy. Giáo hội Phật giáo Việt Nam mới, phải là một giáo hội đủ mạnh về tiếng nói ở trung ương, có sức thuyết phục các tổ chức khác qui tụ về mình, đủ quyền lực với cơ sở Phật giáo hạ tầng, để làm lợi ích cho nhân sinh xã hội và đem lại an lạc giải thoát cho Phật giáo đồ.

Chỉ có mạnh dạn chấp nhận bước đi như thế, chúng ta mới gọi là mở rộng, là phát triển theo sự hội nhập của đất nước để hòa nhập vào với Phật giáo thế giới. Tất cả những người Việt Nam theo đạo Phật đã và đang sinh hoạt trên khắp thế giới cũng đang trông chờ những tín hiệu sự đổi mới đột phá từ nội tại tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, để họ có điểm tựa quay về cống hiến hoạt động cho quê hương xứ sở, như là Tăng thân Làng Mai của Hòa thượng Nhất Hạnh đang làm hiện nay vậy.

Từ quan điểm tư tưởng tầm cỡ của ngài Tố Liên làm điển hình tiêu biểu, chúng ta rút bài học ra từ ngay cuộc hội thảo khoa học này, mạnh dạn đề xuất những quan điểm đổi mới trong đường lối tổ chức vào ngay trong Đại hội Phật giáo kỳ 7 tới đây. Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ đi đúng bước lịch sửkế thừa phát huy, để làm rạng rỡ ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam ở ngày mai.

TP. Hồ Chí Minh, ngày 26-02-2007

Tài liệu tham khảo:

–             Lược khảo Phật giáo Sử Việt Nam, Vân Thanh, Sài Gòn 1973.

–             Phật giáo Việt Nam Sử Luận tập III, Nguyễn Lang, Paris 1985.

–             Tư liệu chuẩn bị cho hội thảo về HT Tố Liên, Nguyễn Đại Đồng, Hà Nội 2006.

–             Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam, HT.Trí Hải, NXB Tôn giáo 2004.

–             Tấm gương Tam quy, Tố Liên, Hội Việt Nam Phật giáo, Nhà in Đuốc Tuệ 1949.

–             Tiểu sử danh Tăng Việt Nam tập I, Thích Đồng Bổn chủ biên, TP.HCM 1996.

–             Phương tiện bán nguyệt san, số 17 – 28, Hội Tăng Ni Bắc Việt, Hà Nội 1950.

–             Tin tức Phật giáo, số 31 – 64, phụ trương Phương tiện bán nguyệt san, Hà Nội 1952

 

 

THIỀN VÀ TỊNH ĐỘ
TRONG MẠCH SỐNG VIỆT NAM

Vâng! Đây là sự thật chứ không phải chuyện đùa, bởi lâu nay ai cũng nghĩ rằng hễ Thiền thì không có Tịnh, và Thiền tông lúc nào cũng không chấp nhận sự hiện diện của Phật A Di Đà trong tâm thức hành giả.

Ở đây chúng tôi không dám luận bàn về tôn chỉ của hai phái, chỉ cung cấp một vài cứ liệu minh chứng cho sự hiện diện đó trong thực tế lịch sử.

Cứ liệu thứ 1: Tam pháp ấn của Thiền phái Trúc Lâm.

Ai cũng biết Phật giáo Việt Nam rực rỡthời kỳ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Một tư tưởng Thiền học đặc thù và tiêu biểu cho dòng Thiền Việt Nam gắn bó với dân gian, tinh thần dân tộc, ý thức bảo vệ đất nước, phóng khoáng trong tư tưởng qua hành trạng của Trúc Lâm Tam Tổ: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.

Điểm nổi bật của Thiền phái Trúc Lâm là "Phật pháp bất ly thế gian giác", tổng hợp được vạn pháp qui tâm nên dung hợp được cả ba pháp môn Thiền – Mật – Tịnh làm tôn chỉ trong đời sống Thiền gia.

Để dẫn chứng, chúng ta có thể thấy cách thờ cúng ở tất cả các chùa mang dấu tích của Thiền Trúc Lâm ở miền Bắc đều có thờ Tam thế Phật (Thích CaDi ĐàDi Lặc) biểu tượng của Tịnh Độ, có thờ Quan Âm thiên thủ thiên nhãn (hóa thân Chuẩn Đề) biểu tượng của Mật Tông, và khi gặp nhau trong mọi hoàn cảnh, câu Nam mô A Di Đà Phật là đầu cửa miệng lúc chào hỏi, là truyền thống xưa nay của nhân dân miền Bắc khi gặp nhau ở cửa chùa.

Cứ liệu thứ 2: Thiền Sư Chuyết Công với tượng Di Đà, chùa Phật Tích, Bắc Ninh.

Thiền Sư Chuyết Công (1590 – 1644) người Phúc Kiến, là vị Tổ truyền dòng Thiền Lâm Tế từ Trung Quốc sang Việt Nam. Chùa Phật Tích là nơi Ngài Chuyết Công hoằng dương đạo pháp, truyền thừa Tông phái, cũng như nổi danh ở trụ xứ này. Và tại đây cũng nổi tiếng với tượng Phật Di Đà bằng đá, một nét nghệ thuật hoàn chỉnh còn lại sau bao điêu tàn của thời gian thế cuộc. Tượng Di Đà này đã được phục chế phiên bản để trưng bày nơi viện Bảo Tàng Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, như minh chứng cho một nền nghệ thuật điêu khắc đặc sắc của Việt Nam, một thời kỳ vàng son của Phật giáo thời Trịnh – Lê, và minh chứng cho sự phát triển của Tịnh độ vào thời bấy giờ, phát xuất từ một Thiền Sư dòng Lâm Tế. Thế thì đó là sự truyền bá Thiền Tịnh song hành có phải chăng?

Cứ liệu thứ 3: Thiền Sư Chân Nguyên (1647 – 1726) và chùa Cửu Phẩm, Hải Dương. Dân gian quen gọi là chùa Cửu Phẩm vì trong chùa có một đài cửu phẩm do Thiền sư Chân Nguyên tạo dựng còn nguyên vẹn duy nhất ở miền Bắc ngày nay.

Ai cũng biết, cửu phẩm liên hoa là biểu trưng quả vị của Tịnh độ ở cõi Cực Lạc thế giới, thế mà do một vị Thiền Sư danh đức đương thời tạo dựng, để tiếp nối phổ hệ truyền thừa từ Thiền phái Trúc Lâm. Thế là dù Lâm Tế hay Tào Động, sang đất Việt Nam đều qui ngưỡng Trúc Lâm mà nối pháp vậy. Đài cửu phẩmThanh Hà, Hải Dương chính là kiểu mẫu được lấy từ đài cửu phẩm ở chùa Bút Tháp do Tổ Huyền Quang đã dựng trước kia.

Từ những cứ liệu trên, ta có thể thấy rằng Thiền chính thống của Việt Nam gồm Thiền – Tịnh song hành, là hai trong ba yếu tố của Thiền phái Trúc Lâm còn được duy trì cho đến ngày nay.

Với câu A Di Đà Phật, ngày nay còn các câu chào hỏi nhau ở miền Bắc khi đến cửa chùa. Cụ thể là nơi lễ hội chùa Hương hàng năm, ta có thể thấy lớp lớp dòng người lên xuống vào hội đều rôm rã câu A Di Đà Phật, Tăng hay tục, Việt Nam hay ngoại quốc, Thiền hay Mật – Tịnh, tôn giáo hay không tôn giáo... cũng đều với câu chào nhau như thế. Và nếu không như thế hoặc khác đi thì ta là người lạ lẫm và lạc lỏng trong biển người thuần nhất câu A Di Đà Phật, đã là một tục lệ gắn chặt vào đời sống sinh hoạt của lễ hội xưa nay.

Từ những cứ liệu logic đó, chúng tôi muốn nói rằng, Thiền của Việt Nam, tôn chỉhành trạng là sự dung hợp chứ không hề mang tính cố chấp một chiều chỉ biết có Thiền mà bác tất cả, hay bê nguyên xi cái của Thiền Tông Trung Quốc mà nhận làm Thiền của mình. A Di Đà Phậttự tánh, là thoại đầu là một phần không thể tách rời của Thiền Việt Nam chính thống.

Để kết luận về tính thực tế lịch sử này qua các cứ liệu được nêu, chúng tôi xin trích dẫn bài kệ thơ của nhà Thiền đã gồm đủ ý trên:

"Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Có không bóng nguyệt lòng sông

Nào ai hay đó có, không làm gì!".

Mùa Hạ năm 2000

 

HÃY TRỞ VỀ VỚI TRUYỀN THỐNG

Nhân một buổi nói chuyện nơi quá đường trường hạ, được nghe Hòa thượng Thiền chủ nhấn mạnh vấn đề "hình thái Antruyền thống khác với An cư tại chỗ" là thế nào? Cũng từ đấy, trong ý nghĩ người viết nảy sinh tư duy: nên chăng chúng ta cần xác định lại các hình thức an cư sẵn có theo qui định của Giáo hội và những hình thức phát sinh từ thực tiển sinh hoạt thời đại, hay đã có từ truyền thống xa xưa của Tổ 8 tương truyền.

Ở đây, trọng tâm là hai chữ "truyền thống", nghĩa là mục đích bài viết này chung qui muốn khôi phục, tìm lại cái gì hay đẹp đã từng "bị" mai một, và với xu thế phát triển dựa trên qui luật "phủ định của phủ định", chúng ta có thể gặp lại hình bóng quá khứ nơi những hình thái mới. Với nỗi niềm tư duy ấy, người viết xin được lạm bàn trong lĩnh vực An cư.

Từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 và nội qui ban tăng sự được ban hành. Theo định chế hành chính, có hai thể loại an cư được công nhận: An cư tập trung và An cư tại chỗ. Và thế là các điểm an cư của Sơn môn, Hệ phái, Tổ đình từ trước nếu không được phép tập trung thu nhận tăng ni về kiết hạ, thì đều được coi là An cư tại chỗ, dù vẫn phải xin phép để được cấp giấy chứng nhận an cư!

Đã 20 năm trôi qua, mọi việc ở đời, ở đạo cũng đều biến thiên theo qui luật. Ở đời thì trào lưu về nguồn tìm lại bản sắc truyền thống của văn hóa phong tục; ở đạo thì phát triển dần đi đến ổn định và trào lưu tìm lại giá trị nội tại của bản chất Phật giáo, thông qua Sơn môn, Tổ đình, Hệ phái. Từ đó, an cư kiết hạ đã hình thành rõ nét hơn dưới ba loại hình cụ thể:

1. An cư tập trung (Tác pháp an cư)

2. An cư truyền thống (Tác pháp an cư)

3. An cư tại chỗ (Đối thú và tâm niệm an cư)

1. An cư tập trung

Do Giáo hội đứng ra tổ chức ở một điểm trụ xứ nào đó, sinh hoạt theo nghi thức thống nhất, mang tính hành chính, chủ yếu là các khóa học giáo lý, bồi dưỡng kiến thức các mặt. Mục đích khóa hạ thiên về phổ biến đường lối của Giáo hội, tuyển chọn nhân tài hay thực tập diễn giảng... an cư tập trung còn có các tên gọi khác là Trường hạ phổ thông, Trường hạ điểm, Trường hạ Giáo hội, Tỉnh, Thành hội...

2. An cư truyền thống

Theo thông lệ vốn có ở các chốn Tổ đình, Sơn môn, Pháp phái, Hệ phái... Hàng năm, cứ đến hẹn lại lên, hàng Tăng lữ khắp nơi lại tìm về các chốn Tổ cùng an cư theo truyền thống đặc thù của trụ xứ ấy. Ở thành phố chúng ta có những Trường hạ như thế như: Vĩnh Nghiêm, Ấn Quang, Quảng Hương Già Lam, Linh Sơn, Kỳ Viên, Tịnh xá Trung Tâm, Xá Lợi, Giác Lâm, Viên Giác...

Đó là những trụ xứ có khóa hạ truyền thống theo nghi thức, lễ nhạc, nội qui, thời khóa chuyên biệt, có sự chọn lựa thành phần an cư cho phù hợp điều kiện mỗi nơi. Nhờ có sắc thái riêng biệt của từng Tổ đình, nên hành giả an cư có thể mỗi năm kiết hạ ở mỗi nơi khác nhau để học tập về truyền thống đặc thù đó.

Hạ truyền thống còn một điểm ưu việt nữa, là nắm giữ lại tư cách đạo đức của từng thành viên về an cư, để sang năm tới có quyền nhận hoặc không đối với thành viên cũ.

3. An cư tại chỗ

Theo luật nghĩa là "Tâm niệm an cư" và "Đối thú an cư", tức là tự mình không đến được đạo tràng để cùng chúng tăng hòa chúng an cư, vì những lý do: ở nơi xa cách tăng đoàn, bận duyên sự, nhất Tăng nhất tự v.v... còn "Đối thú an cư" nghĩa là ở trong trụ xứ chỉ có 3 vị tỳ kheo trở xuống, chưa đủ túc số thành Tăng để làm "Tác pháp an cư".

Thời nay, việc an cư tại chỗ ít nhiều bị hiểu sai, lạm dụng, trở thành biến tướng, đó là dấu hiệu suy đồi của tăng đoàn. Điển hình là việc "Tòng hạ", một hình thái mà trong Luật không có, tạo thành sự giải đãi cho tăng ni ngại đi an cư cực kho,å mà chỉ viện lý do nhất Tăng nhất tự, đi học, bận làm việc... để không cần đến nhập chúng tu học, chỉ an cư tại chỗ cũng được công nhận tuổi hạ, được chứng thực an cư, chỉ cần đến tòng hạ, nghe pháp ở các trường hạ cũng tự cho mình là an cư thực sự, cũng đầy đủ hạ lạp như ai! một kiểu an cư hợp thức hóa!

Ở miền Bắc, nhiều nơi là "nhất Tăng đa tự" chứ không phải chỉ "nhất Tăng nhất tự". Thế mà đến khi mùa hạ về, họ vẫn khăn gói về các chốn tòng lâm nhập chúng, phó thác chùa cảnh cho tín đồ trông nom. Và đã thành lệ, nếu chư Sư không đi an cư thì là chuyện rất lạ với họ, và sẽ mất ngay sự tín nhiệm của tín đồ. Đến mùa an cư, hầu hết các chùa cảnh miền Bắc không nơi nào có Sư, vì việc tu học – tuổi hạ là điều lớn nhất với người tu sĩ để dẫn dắt tín đồ.

Còn như chúng ta, ở thành phố lớn miền Nam đầy đủ các duyên này thì sao? Bậc thức giả tự hiểu lấy!

Trở lại vấn đề an cư truyền thống đã và đang được phục hồi để lập lại giềng mối đạo đức xứng đáng của một hạ lạp trọn vẹn, đúng nghĩa, có chất lượng, nối truyền được ý chỉ Môn phong, Tổ phái cho đời sau còn biết đến.

Thế nhưng, không phải ý hướng này ai cũng chấp nhận. Có nhiều lý do để họ phản kháng, một bộ phận thiên về quản lý hình thức, thì họ không muốn quyền lực bấy lâu nay bị phân tán, sợ không còn chủ động được các trường hạ ở các Sơn môn. Một bộ phận tăng ni quen với sự dễ dãi từ trước đến giờ của các khóa hạ tập trung phổ thông, hay tòng hạ, an cư tại chỗ, ngại trở về các khóa hạ Sơn môn truyền thống, vì qui tắc và nghi thức ở đấy nghiêm mật, sợ thua sút sự tinh tấn có thừa của chúng tăng đồng môn.

"Cái gì của Céasar hãy trả lại Céasar", trào lưu xã hội cũng đang hô hào tìm về cội nguồn truyền thống, thế thì tại sao ta không dám nghĩ và nhìn thấy thực trạng vấn đề, dám làm cái điều phải làm để không hỗ thẹn với liệt Tổ tiền nhân?

Mùa hạ năm 2000

 

 

PHẢI CÓ MỘT HỆ THỐNG
TRUYỀN BÁ HỮU HIỆU HƠN

Một nhu cầu bức thiết của tăng ni, phật tử và các chùa mà hiện nay luôn luôn thiếu hụt; đó là kinh sách truyền bá giáo lý phổ thông cũng như kinh tụng. Thế mà sự vắng bóng nhu cầu này trong một thời gian dài đã tạo nên một cơn sốt chợ đen các loại Kinh sách, đến nỗi giá cả khi hỏi đến khó lòng một phật tử lao động có thể mua nổi. Đôi khi tăng ni phật tử cần tìm một quyển kinh sách để tham khảo, phải khổ công đi dò hỏi ở chợ trời sách mất một thời gian mới tìm được với một giá thật phải chăng.

Từ những thực tế đó, đã khiến cho không ít kẻ lợi dụng thời cơ săn tìm kinh sách Phật giáo để bán; có biết bao chùa bị mất cắp, bị gạt gẩm, chiếm đoạt kho tàng giáo lý này. Đồng thời, tệ nạn in ấn lậu làm sai sót, mất phẩm chất bởi không đúng kỹ thuật đã cho ra đời hàng loạt ấn phẩm không đạt tiêu chuẩn và không được kiểm duyệt của các bộ phận chuyên trách trong Giáo Hội cũng như những ngành chức năng. Đây là một sự việc phức tạpchúng tôi muốn các bậc tôn đức lãnh đạo Giáo Hội và ngành văn hoá cần để tâm và có kế hoạch cụ thể chấn chỉnh, xây dựng lại mạng lưới ấn phẩm này, chớ để kinh sách giáo lý của một tôn giáo chính đáng được phép hoạt động công khai, có hiến chương, giáo điều hẳn hòi mà phải ở trong tình trạng xuất bản lậu và buôn bán chui.

Để ngăn chặn được cơn sốt chợ đen và tệ nạn in ấn lậu này; chúng tôi nhận thấy biện pháp hữu hiệu hơn cả là phải xuất bản, tái bản được những ấn phẩm chính thức có chất lượng để phổ biến cho tăng ni bà con phật tử với giá cả được quy định hẳn hòi phù hợp với điều kiện sinh hoạt kinh tế của mỗi người. Với việc làm này, chúng ta sẽ đủ sức cạnh tranh với số sách lậu đang lưu hành trên thị trường sách với giá cắt cổ. Khi số cung đã đáp ứng được số cầu một cách chính đáng, thì ấn phẩm lậu sẽ không còn chỗ đứng trên thị trường lần dẫn đến sự đào thải của nó.

Một vấn đề nữa, các bộ phận chức năng cũng nên hình thành một bộ phận kiểm duyệt kinh sách, và ngành văn hoá Phật giáo cũng nên theo dõi các ấn phẩm khác về nội dung tư tưởng cũng như chất lượng. Theo ý chúng tôi, bởi vì kinh sách thời chế độ cũ được xuất bản khônghệ thống, do có quá nhiều nhà soạn dịch trùng lập với nhau bởi kiến giải không đồng nhất, vì quan điểm Tông môn hệ phái khác nhau, rồi lại có khi chống trái nhau, phản bác nhau! Thành thử ra, người muốn tìm hiểu chánh pháp không biết đâu là đúng đâu là sai cả! Chúng tôi thử lấy ví dụ như Kinh Kim Cang hay Pháp Bảo Đàn, đã có không dưới một chục nhà dịch thuật chú thích với kiến giải khác nhau, bộ lương Hoàng Sám, Thủy Sám cũng nhiều dịch giả và nhiều nhà xuất bản khác nhau...

Sau ngày thống nhất đất nước và lần đi tới thống nhất Giáo Hội chúng ta chưa có điều kiện xuất bản cũng như đường hướng cụ thể cho vấn đề này; trong thời gian đó đã phát sinh ra một số ấn phẩm mới dưới nhiều hình thức: in Ronéo thành lập; in lụa thủ công; đánh máy; chép tay v.v... lưu hành trong mọi tầng lớp tăng ni phật tử. Đúng hay sai, hợp pháp hay không hợp pháp, chính đáng hay không chính đáng; chúng tôi trông chờ các bậc lãnh đạo Giáo Hội và ngành văn hoá Phật giáo có phương hướng hợp thức hoá cái nào chính đáng để xuất bản phát hành hầu tránh mọi hoang mang cho người tìm đọc nghiên cứu Giáo lý, cũng như công bố danh mục loại nào không được lưu hành giúp người phật tử tránh được sai lầm về tư tưởng đồng thời ngăn chặn hướng tuyên truyền ngăn chặn các ấn phẩm với nội dung thiếu chất lượng.

Văn hoá, Giáo dụcHoằng pháp là một cụm của ba ngành có trách nhiệm về vấn đề này trong việc truyền bá tư tưởng giáo lý đúng đắn phù hợp lịch sử kế thừa của quá khứ hiện tại và tương lai mang mạch chánh Pháp. Chúng tôi mong rằng Giáo Hội và các ngành chức năng sớm có quan tâm và có việc làm cụ thể cho vấn đề được đặt ra.

Theo nhận xét khách quan của chúng tôi, trong thời gian qua, số ấn phẩm chính thức của Giáo Hội quả thật không nhiều, và không đáp ứng được nhu cầu của quần chúng tăng ni phật tử. Ngoài Tập vân Phật Giáo và các bộ kinh của hoà thượng Minh Châu được phép xuất bản, gần đây mới có Bộ Đại Bảo Tích đang lần lượt ra mắt; quả thật quá ít ỏi so với nhu cầu tìm hiểu. Sở dĩ như thế, bởi do chúng ta chưa đặt cơ sở giám định sàng lọc lại để tái bản các ấn phẩm phù hợp nhu cầu thực tiễn của quần chúng, cho nên mới xảy ra các hiện trạng như trên. Điển hình như các loại ấn phẩm có nhu cầu bức thiết đang khan hiếm là: Bộ Giáo lý cơ bản Phật Học Phổ Thông; Kinh Pháp Hoa; Kinh Thủ Lăng Nghiêm; Kinh Niết Bàn v.v... Trước mắt, những ấn phẩm này là những của quí đã được đa số quần chúng phật tử coi là nền tảng tu học của Phật Giáo Việt Nam đã lần lần không còn xuất hiện trong nhu cầu học hỏi.

Lý do mai một lần lần của các loại kinh sách đó, là do sự hư hoại cuả thời gian, một phần do cung ứng cho nhu cầu học hỏi của phật tử ở phía Bắc vì ngoài đó chỉ có Kinh sách chữ Hán mà thiếu hẳn chữ Việt, một phần được các phật tử chúng ta "xuất khẩu" cho thân nhân ở nước ngoài. Từ đó tạo nên sự khan hiếm của thị trường kinh sách.

Chúng tôi nhận thấy sự truyền bá giáo lý cho quần chúng phật tử học hỏi, nhận thức một cách đúng đắn để xoá bỏ các tệ nạn mê tín dị đoan xen lẫn trong chánh Pháp không có gì hơn là có được ấn phẩm kinh sách, giáo lý để nghiên cứu học hỏi. Ở những vùng quê xa, người phật tử chỉ biết đi chùa lễ Phật cầu phước, chứ có ai hiểu giáo lý là gì; do đó nạn mê tín dị đoan đến với họ cũng là điều dễ hiểu. Còn nói việc thuyết giảng giáo lý của các vị giảng sư, đâu phải ai cũng có điều kiện đến giảng đường để nghe, vả lại, chưa hẳn nghe mà nhận được một cách thấu đáo chính xác bởi trìnhh độ chênh lệch nhau và căn cơ cao thấp của mỗi người. Thế thì, điều tất yếu phải là kinh sách giáo lý được phát hành truyền bá rộng rãi đến các nơi làng quê hẻo lánh để người phật tửđiều kiện học hỏi khai mở trí tuệ, nhận thức kịp với thời đại mới đi vào nội dung thực tiển của chính Pháp hơn là tín ngưỡng thần quyền.

 

 

LỊCH SỬ NGÔI TỔ ĐÌNH SẮC TỨ
PHƯỚC SƠN

Ngôi Tổ Đình Sắc Tứ Phước Sơn toạ lạc tại thôn Tân Phước, xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Chùa này do Ngài Tổ Liễu Năng, hiệu Đức Chất sáng lập vào năm Gia Long nguyên niên (Nhâm Tuất), tức 1802 Dương lịch, đến nay được 191 năm, truyền thừa được 6 đời liên tục.

Chùa Phước Sơn xây dựng trên quả núi tên là Phú Mỹ Sơn, mặt hướng về Nam, trước cánh đồng lúa có tên là Đồng Tròn, và con song La Hai chảy vắt qua. Chùa được mọi người gọi là nơi thắng cảnh nhờ có núi có sông và đồng ruộng điểm tô cảnh sắc như tranh vẽ.

Tổ Liễu Năng có 2 vị sư đệ là Tổ Liễu Diệu khai sơn Tổ đình Triều Tôn ở thôn Triều Sơn, xã Xuân thọ 2, huyện Sông Cầu, và Tổ Liễu Căn khai sơn Tổ đình Bảo Sơn ở thôn Phong Thăng, xã An Định, huyện Tuy An, cả hai ngôi chùa được xây dựng sau chùa Phước Sơn 1 năm, họp lại thành 3 ngôi Tam Bảo danh tiếng ở Phú Yên.

Chùa Phước Sơn khi mới sáng lập, chỉ là một ngôi chùa lợp tranh vách đất, nhưng với đức độ của một vị Cao Tăng thạc dức như Tổ khai sơn, đã gây được ảnh hưởng đạo đức rất lớn với nhân dân địa phương. Đến đời Tổ thứ 2 là Quảng Thiện, sau khi thừa kế Tổ Đình Phước Sơn, đã khuyến giáo cha mẹ đem cả sản nghiệp cúng vào chùa để xây dựng thành ngôi Tam Bảo khang trang. Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân), tức 1836 DL, chùa được xây dựng lại chánh điện và hai nhà Đông, Tây đường.

Ngoài việc xây dựng lại chùa, Tổ Quảng Thiện là người chuyên cần trì kinh lễ Phật và giảng dạy đạo lý cho hàng tín đồ, nên được Phật giáo trong tỉnh Phú Yên cung thỉnh làm Giáo Thọ Hoà Thượng tại Đại giới Đàn chùa Lăng Nghiêm xã Xuân Thọ.

Đời thứ ba kế tục ngôi Tổ Đình Phước Sơn là Tổ Huệ Nhãn. Ngài là 1 vị danh Tăng thời bấy giờ, được xem là bậc Long Tượng trong Phật Pháp với đức hạnh thanh cao, nên được Tổ Quảng thiện cử làm vị kế tục vào năm Tự Đức thứ 17 (Giáp Tý) tức 1864 DL.

Trong quá trình hành đạo tại chùa Phước Sơn, Tổ Huệ Nhãn đã vận động phật tử tín đồ đúc một số Phật tượng và in kinh ấn tống. Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ các Đại giới Đàn chùa Hội Sơn (năm 1878), Đại giới đàn chùa Bảo Sơn (năm 1882), và kiêm nhiệm trụ trì chùa Từ Quang (Đá Trắng) sau ngày Tổ Quảng Giác viên tịch.

Ngài có công mở con đuờng từ Quốc lộ lên đến cổng chùa Từ Quang dài khoảng 500 mét trên đường núi, và còn đào tạo được một danh Tăngtiếng tăm là một Hoàng Tử dòng Tuy Lý Vương. Nhân chạy nạn lánh vào Phú Yên, ông Hoàng dòng Tuy Lý Vương thường đến chùa thăm viếng hỏi đạo, được Tổ Huệ Nhãn cảm hoá mà xin xuất gia học đạo. Hành đạo được gần 10 năm, Ông được thọ giới Tỳ kheo và Tổ ban cho Đạo hiệuPháp Thân. Tỳ kheo Pháp Thân sau ngày trở về Thuận Hoá (Huế) có kiến lập một ngôi chùa. Để kỷ niệm ngôi chùa do Bổn sư trụ trì là Phước Sơn và Đạo Hiệu của Bổn sư là Huệ Nhãn, Tỳ kheo Pháp Thân đặt hiệu chùa là Phước Huệ. Chùa này đến nay vẫn còn tồn tại toạ lạc tại thôn Vĩ Dạ cách kinh thành Huế 5 km.

Trong hàng xuất gia đệ tử của Tổ Huệ Nhãn, Ngài Pháp TạngTrưởng Tử, và được cử làm thừa kế Tổ đình Phước Sơn, là vị Tổ đời thứ tư của chùa này. Ngài đã tái xây dựng lại ngôi Chánh điện và mua tạo một số ruộng vườn làm hương hoả cho chùa. Về phần tiếp tăng độ chúng. Ngài có 4 vị đệ tử nổi danh trong số các đệ tử:

–  Vị thứ nhất là Ngài đạo hiệu Thiền Phương, Tổ kế vị đời thứ 5 Tổ Đình Phước Sơn.

–  Vị thứ hai là Ngài đạo hiệu Thiền Tôn, Trụ trì Tổ Đình Bảo Sơn, xã An Định, Tuy An.

–  Vị thứ ba là Ngài đạo hiệu Thiền Cơ, Trụ trì chùa Thiên Hưng, xã An Ninh, Tuy An.

–  Vị thứ tư là Ngài đạo hiệu Thiền Tâm, Trụ trì chùa Hội Phước, thành phố Nha Trang.

Đến năm Thành Thái thứ 5 (Quý Tỵ) tức 1893 DL, Tổ Pháp Tạng được cung thỉnh làm Yết Ma Hoà Thượng tại Đại giới đàn chùa Chúc Thánh, tỉnh Quảng Nam, và trong 2 năm Thành Thái thứ 11 và 12 (1899 – 1900 DL), Ngài thường ra cố đô Huế đến hai Tự viện Kim QuangViên Thông gia trì thuyết pháp, được vua Thành Thái ban cho đồng kim tiên, một chiếc cà sa và một chiếc mão Quan Âm. Cũng nhân thời gian lưu lại Huế, Ngài vận động tín đồ góp sức đúc được một quả Hồng chung nặng độ 100 kg.

Năm Thành Thái thứ 18 (Bính Ngọ – 1906 DL) Tổ đình Từ Quang khai Đại Giới đàn cung thỉnh Tổ Pháp Tạng làm Đàn đầu Hoà Thượng. Qua năm Duy Tân Nguyên niên (Đinh Mùi 1907 DL) chùa Phước Sơn thiết Đại giới Đàn thí giới cho giới tử các nơi, Ngài là Đàn chủ.

Trước ngày viên tịch, Tổ Pháp Tạng lập cử Trưởng tử của Ngài là Thiền Phương làm Tổ thừa kế đời thứ 5 tại Tổ Đình Phước Sơn. Từ ngày được thừa kế đến sau này, Tổ Thiền Phương đã tái xây dựng lại hai nhà Đông, Tây đường và tu bồi những ruộng đất bị mưa lụt làm hư lở. Riêng phần Hoằng Đạo truyền Pháp, tiến độ Tăng đồ, Tổ Thiền Phương có số đệ tử xuất gia trên 30 vị, Đạo hiệu chữ Bảo có 4 vị, Đạo hiệu chữ Phước có 8 vị, như các vị: Phước Hộ, Phước Cơ, Phước Bình, Phước Ninh, Phước Trí...

Hoà Thượng Phước Trí được Tổ Thiền Phương giao kế vị trụ trì Tổ đình Phước Sơn đời thứ 6. Ngài đã có công xây dựng lại chùa theo kiến trúc mới bằng vật liệu bền vững đá chẻ và bê tông, mái ngói, hoàn thành vào năm 1960. Nhưng sau đó bị chiến tranh tàn phá, chùa bị máy bay ném bom xăng đốt cháy vào năm 1965 và sụp đổ toàn bộ. Đến sau ngày thống nhất, Hoà Thượng Phước Trí đã xin phép tái thiết, cho mãi đến nay mới khánh thành vào ngày 26 tháng 9 năm 1993 tức 11 tháng 8 năm Tân Dậu.

Đặc biệt, Tổ đình Phước Sơn là nơi vượng khí ung đúc những danh Tăng lỗi lạc cho Phật giáo nước nhà, là nơi có những bảo vật quí giá của Triều đình Nhà Nguyễn ban tặng cho chùa bởi cảm phục đức độ các bậc danh Tăng. Sự ban thưởng này trước sau 6 lần:

Lần thứ nhất, niên hiệu Tự Đức thứ 34 (1881), Bà Bác Huệ Thái Hoàng Thái Hậu ban cho 2 cây gấm tên là "Vạn Thọ Như Ý", do Nhà Thanh Trung Hoa tặng cho Nhà Nguyễn và Triều đình cúng lại cho chùa.

–  Lần thứ hai, niên hiệu Thành Thái thứ 8 (1896), Bà Từ Nghi Hoàng Thái Hậu ban cho một bộ y ca sa màu đỏ, một mão Quan Âm và một đồng kim tiền.

–  Lần thứ ba, niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1897), chính vua thành Thái ban tặng một Đại Hồng Chung, một cặp Bảo cái, một y ca sa và một mão Quan Âm.

–   Lần thứ tư, niên hiệu Thành Thái thứ 10 (1898), cũng vua Thành Thái ban cho một chiếc kim khánh có khắc 2 chữ "Khâm Tai", một kim tiền có khắc 4 chữ "Triệu Dân Lại Chi".

–  Lần thứ năm, niên hiệu Thành Thái thứ 13 (1901), Bà Bác Huệ Thái Hoàng Thái Hậu ban cho một đồng ngân tiền.

–  Lần thứ sáu, niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (1939), Triều đình ban cho Tổ Đình Phước Sơn "Biểu Ngạch Sắc Tứ".

Từ đó, chùa Phước Sơn được gọi là "Chùa Sắc Tứ Phước Sơn", Tổ đình của một chi phái Chúc Thánh dòng Lâm Tế Chánh Tông tại tỉnh Phú Yên.

Tài liệu tham khảo:

–             Bản tiểu sử Tổ Đình Phước Sơn Phú Yên.

–             Lời thuật của HT Phước Trí.

–             Non nước Phú Yên.

–             Gia phả truyền thừa dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

–             Tập Tiểu sử các HT Tổ Đình Đông Hưng.

 

 

 

CHÙA PHẬT TÍCH
VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

(Bài viết hội thảo khoa học về Chùa Phật Tích
trong tiến trình lịch sử.)

Ngôi chùa với huyền thoại Từ Thức gặp tiên, của pho tượng Phật Di Đà tuyệt tác bằng đá xanh cổ nhất Việt Nam, tuy chùa phát tích từ đời Lý (xây dựng năm Thái Bình thứ tư – 1057) với công đức của vua Lý Thánh Tông và vương phi Ỷ Lan, nhưng vẫn có chứng tích của thiền phái Trúc Lâm qua việc vua Trần Nhân Tông đã cho xây dựng một thư viện lớn tại đây và xây dựng cung Bảo Hoa, để rồi khi khánh thành cung điện này, Vua-Phật Trần Nhân Tông đã viết nên tác phẩm "Bảo Hoa dư bút" dày đến 8 quyển. ([24])

Mặc dù tác phẩm này đã không còn với thời gian, nhưng tên của tác phẩm "Bảo hoa" đã nói lên được nhiều điều:

Thứ nhất, đây là một ngôi chùa có đầy hoa thơm báu lạ, đã khiến nhà vua tức cảnh sinh ý thiền mà viết nên các bài thơ về "Bảo hoa" này. Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686) ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá...([25])

Thứ hai, câu chuyện Từ Thức-Giáng Tiên viếng chùa lạc vào vườn hoa Mẫu đơn, đủ thấy vườn hoa mẫu đơn nơi đây đã một thời rung động bao lòng người cám cảnh hương hoa mà quên mùi tục lụyTheo tương truyền, bậc nền thứ nhất là sân chùa với vườn hoa mẫu đơn, nơi xảy ra câu truyện Từ Thức gặp tiên: "...Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên...". Do tích này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.(2)

Thứ ba, các thiền sư đời Trần trong thiền phái Trúc Lâm vốn là các thi sĩ tài hoa, trước cảnh đẹp với muôn hoa nổi tiếng của chùa Phật Tích, chắc chắn trên bước đường vân du đều phải đến đây để tìm ý thiền và tứ thơ, trau giồi tư lương cho hành giả trên đường du hóa hành đạo.

Thứ tư, với tuyệt tác là pho tượng đá xanh Phật Di Đà, rồi với vườn hoa, cảnh đẹp, phải chăng là một góc nhỏ của cõi Cực Lạc phương Tây, mà tiền nhân đã dày công vun tạo cho người tín tâm tìm đến nơi này thấy được một cõi tịnh độ nhân gian?

Thứ năm, trong Ức Trai thi tập của thi hào Nguyễn Trãi, ông có một bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích, khiến người xem mọi thời đều rung động. Bài thơ cũng nói về hoa nơi vườn chùa này nhiều đến nỗi xác hoa ngập đầy suối, nước cuốn trôi đi mà hương vẫn còn ở lại: ([26])

Đoản trạo hệ tà dương

Thông thông yết thượng phương

Vân quy thiền sáp lãnh

Hoa lạc giản lưu hương

Nhật mộ viên thanh cấp

Sơn không trúc ảnh trường

Cá trung chân hữu ý

Dục ngữ hốt hoàn vương

Bản dịch của Đào Duy Anh:

Bóng xế con thuyền buộc

Vội lên lễ Phật đài

Mây về giường Sãi lạnh

Hoa rụng suối hương trôi

Chiều tối vượn kêu rộn

Núi quang, trúc bóng dài

Ở trong dường có ý

Muốn nói bỗng quên rồi!

Với năm ý nghĩa trên đây, chùa Phật Tích ngày xưa xứng danh là "ngôi chùa của hoa" điều này chúng tôi muốn nói cho chùa Phật Tích của chúng ta ngày nay, trong quá trình phát triển của lịch sử, dù có lúc thịnh lúc suy, nhưng ngày nay đã và đang được phục dựng, trùng tu, phát triển to lớn hơn, xin hãy giữ được cái hồn của "ngôi chùa của hoa", để mùi thơm tự ngàn xưa lan tỏa đến ngàn sau vậy. Có như thế, truyền thống về chùa Phật Tích sẽ là điểm đến cho người cám cảnh tu hànhvăn nhân thi sĩ có nơi tức cảnh sinh thiện tâm để gieo duyên lành với ngôi nhà Phật bảo vậy.

Điều quan trọng mà chúng tôi nêu ở đầu đề "Chùa Phật Tích với thiền phái Trúc Lâm" mục đích nói lên quan điểm của thiền phái Trúc Lâm ngày xưa có sự dung nạp cả ba pháp môn "Thiền-Tịnh-Mật". Ở đây, chúng ta thấy vua Trần Nhân Tông đã đến đây viếng cảnh lễ Phật, tất nhiên là sẽ lễ pho tượng Phật Di Đà ngồi ở giữa chùa rồi! Ngoài tượng Phật Di Đà, chùa ngày xưa còn có cây tháp Cửu Phẩm, một đặc điểm minh chứng cho hai pháp môn Mật – Tịnh song hành cùng pháp môn thiền định, mà vị tổ sư tiêu biểuthiền sư Chuyết Công – Lý Thiên Tộ (1664), ngài thị tịch lúc 55 tuổi đã để lại di cốt nới tháp Báo Nghiêm của chốn tổ này.

Tư tưởng Tam Hợp của thiền phái Trúc Lâm bén duyên nơi ngôi chùa này, cho thấy thiền phái này đã dung thông được Tịnh-Mật hòa quyện với Thiền, làm cho Phật giáo Trúc Lâm trở thành một thiền phái đặc biệt của Việt Nam, mang đủ ba yếu tố trên từng tồn tại và phát triển tại chùa Phật Tích.

Suốt tiến trình từ đời Lý cho đến ngày nay, bao dấu tích của Phật giáo Việt Nam như khu vườn tháp với 32 ngôi tháp và nghệ thuật trên đá (10 pho tượng thú) ở chùa Phật Tích vẫn lưu dấu tích với thời gian, cho thấy sinh hoạt tín ngưỡng tu học từ ngôi chùa này, trải qua ngàn năm vẫn được duy trì liên tục, đó là điều hiếm thấy trong lịch sử Phật giáo, bởi hầu hết các đạo tràng chốn tổ cũng có một giai đoạn trở thành phế tích, có nơi chỉ còn là di chỉ, hoặc có nơi được khôi phục sau thời gian dài hoang phế bởi chiến tranh hay theo định luật "Thành Trụ Hoại Không" của lẽ thường cuộc đời.

Đúc kết bài viết này, chúng tôi xin tóm tắt vào ba ý chính như sau:

1. Chùa Phật Tích xứng danh là "Ngôi chùa của Hoa", cụ thể là hoa mẫu đơn như truyền thuyết, hoặc gọi là "chùa hoa mẫu đơn". Thế thì các nhà phục dựng và Sư tăng trụ trì phải làm thế nào cho tên gọi này được xứng đáng với truyền thuyết. Như thế thì nơi đây sẽ lại trở thành điểm thu hút sự chiêm bái của thập phương thiện tínvăn nhân nghệ sĩ, trở thành thắng cảnh du lịch tâm linh của tỉnh nhà vậy.

2. Chùa Phật Tích là điển hình minh chứng cho sự dung hợp ba pháp môn Thiền-Tịnh-Mật của thiền phái Trúc Lâm đã từng có chứng tích tại đây từ sơ tổ Trúc Lâm Đầu Đà. Thế thì thiền phái Trúc Lâm là niềm tự hào cho mọi người học Phật Việt Nam được xem mình là đệ tử của thiền phái này, chứ Trúc Lâm không phải chỉ riêng của thiền phái không dung hợp được pháp môn Tịnh-Mật.

3. Thi hào Nguyễn Trãi cám cảnh chùa Phật Tích mà viết nên bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích trong Ức Trai thi tập, rồi đến bản dịch của cụ Đào Duy Anh, cũng là sự rung động bài thơ trên mà chuyển sang quốc ngữ thành thể ngũ ngôn. Nay chúng tôi cũng có chút cảm nhận tâm hồn của hai vị tiền bối, mạo muội chuyển ngữ thêm thể Lục bát, để góp phần cúng dường của mình vào tài sản văn học của chốn tổ Phật Tích:

      Hoàng hôn nhẹ lướt mái chèo

Cắm sào dưới bến ta vào Không môn

      Tấc lòng lễ Phật thong dong

Chợt mây ùa đến lạnh phòng Thiền tăng

      Hoa rơi đầy suối ngát hương

Nước khe trôi tiễn nguồn cơn bụi trần

      Chiều buông vượn hú dập dồn

Non thiền bóng trúc gợi hồn quê xưa

      Dường như nơi ý có thừa

Bỗng nhiên quên mất dẫu chưa nên lời.

Viết tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 23.12.2010

 

 

ĐÓNG GÓP THÊM CÁC BẢN DỊCH MỚI
VỀ BÀI KỆ CỦA THIỀN SƯ TỪ ĐẠO HẠNH

(Hội thảo kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long)

Trong số các tác phẩm, thiền sư Từ Đạo Hạnh để lại, có một bài kệ mà người viết bài rất tâm đắc và bất hủ với thơi gian. Nhân duyên của bài kệ này là khi có vị tăng nhân hỏi: "Phải chăng hành trụ tọa ngọa là Phật tâm?"([27]). Ông đáp rằng:

Tác hữu trần sa hữu,

Vi không nhất thiết không.

Hữu không như thủy nguyệt

Vật trước hữu không không.

"Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116) tục gọi là đức thánh Láng, là một thiền sư nổi tiếng Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời ngài được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền thoại. Dân chúng lập đền thờ ngài tại chùa Thiên Phúc (nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội), tục gọi là chùa Thầy và chùa Láng, ở Hà Nội. Hàng năm, lễ hội chùa Thầy được mở vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, tương truyền là ngày ông viên tịch.

Tương truyền ông tên là Lộ, con của quan đô sát Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan. Do Từ Vinh bị giết bởi một pháp sư có tên là Đại Điên, Từ Lộ đã đi tu luyện phép thuật và giết được Đại Điên để trả thù cho cha. Sau đó, ông đi vân du khắp nơi để học đạocứu nhân độ thếcuối cùng viên tịch tại núi Sài Sơn.

Truyền thuyết lưu rằng, sau khi Từ Đạo Hạnh chết, ông đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu – em trai của vua Lý Nhân Tông. Vị vua này không có con nên đã nhường ngôi cho con của Sùng Hiền Hầu, người con này chính là Từ Đạo Hạnh đầu thai, trở thành vua Lý Thần Tông." ([28])

*

Bản diễn nghĩa trước đây bằng thơ lục bát đã thể hiện tuyệt tác này như sau:

Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Vừng trăng vằng vặc in sông

Chắc chi có có không không mơ màng.

Huyền Quang([29])

Thiền sư Nhất Hạnh cũng đã diễn dịch văn vần bài kệ này như sau:

Có thì có tự mảy may,

Không thì cả vũ trụ này cũng không

Có, không bóng nguyệt lòng sông

Cả hai tuy vậy chẳng không chút nào!

Nguyễn Lang([30])

Trước đây, cũng có lưu truyền phổ biến trong nhân gian một bản dịch có khác ở 2 câu sau, song chưa biết được tác giả, bản dịch này được sử dụng rộng rải hơn hai bài đầu:

Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Có không bóng nguyệt lòng sông

Nào ai hay có với không làm gì.

Khuyết danh([31])

Các dịch phẩm trên đều là tuyệt tác, nhưng hình như chưa có dị bản nào cho hai câu kệ đầu khi diễn nghĩa, có thể chỉ vì hai câu đầu tiên này được diễn dịch quá tuyệt vời, nên chắc cũng không có bản dịch nào sau này hay hơn được, thế nên không có sự khác nhau chăng?

*

Do người viết bài tư duy cảm nhận và rung cảm với bài kệ trên, cũng để tỏ lòng trân trọng tác phẩm bất hủ này của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Nay nhân sự kiện kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long, xin đóng góp vài bản dịch mới, mục đích làm phong phú thêm cho bài kệ trên và thêm giá trị kho tàng Văn học Phật giáo đời Lý, là nền tảng căn bản của một triều đại đã làm nên Thăng Long thành ngày xưa và thủ đô Hà Nội ngày nay.

1) Đầu tiên là một bài theo thể thất ngôn bằng cảm nhận của mình với khắc khoải sự không hay có qua bóng trăng đáy nước, rồi giải quyết kết thúc bằng từ ngữ "bận lòng chi":

Đã có, xưa nay vốn có rồi,

Là không, ngàn thuở vẫn đều không.

Bóng trăng đáy nước không hay có?

Bận lòng chi mãi có với không!

(Chiêu đề)

"Ngôn ngữ là sự thể hiện của tư tưởng, các thiền sư đời Lý quen sống với tư tưởng nên họ nhìn vụ trụ nhân sinh quan bằng quan niệm: Có, Không; "Hữu hình cũng là một cái với vô hình và ngược lại, cái vô hình cũng có thể diễn đạt bằng cái nhìn hữu hình"."([32])

2) Bài thứ hai, là một bài kệ theo lối thơ lục bát, cũng giải quyết bằng từ ngữ "bận lòng chi" nhưng là thề khẳng định ngay trong câu thứ ba:

Ngàn xưa có đã có rồi,

Ngàn sau không vẫn mãi là trống không

Tựa như trăng hiện đáy sông

Có không xin chớ bận lòng làm chi!

(Chiêu đề)

"Cảm nhận sống hết cái triết lý Bất Nhị, các thiền sư đời Lý nhìn đâu cũng thấy là Chân Như." ([33])

3) Trong bài lục bát thứ hai, là bài không còn giải quyết giới hạn bởi từ ngữ "bận lòng" như hai bài đầu, mà thể hiện bằng nhìn ví dụ trăng đáy nước để tạo nghi vấn trong khẳng định bằng từ ngữ "Đố ai":

Đã có thời có từ xưa

Đã không tìm mãi trên đời cũng không

Kìa xem bóng nguyệt lòng sông

Đố ai biết được có, không trăng thiền...

(Chiêu đề)

"Thi ca đời Lý, có thể nói, là thứ ngôn ngữ siêu ngôn ngữ, triết lý siêu triết lý, có khả năng rút tất cả thế giới vào trong một vài chữ (Có-Không) bằng một ý niệm (idée) mà vẫn diễn đạt được hết mọi lẽ sinh hóa của vũ trụ vạn hữu." ([34])

4) Đến bài cuối cùng trong loạt cảm tác này, tác giải dùng thể loại thất ngôn tứ cú để diễn nghĩa bài kệ của thiền sư Từ Đạo Hạnh bằng cách tự vấn, đặt dấu chấm hỏi ngay từ hai câu thơ đầu:

Trên cao trăng có tự khi nào?

Ảnh hiện đáy sông, trăng thật sao?

Có, không, trăng vẫn là trăng ấy,

Nào luận có không để hỏi nhau!

(Chiêu đề)

"Một ánh nắng, một bông hoa nở, một áng mây, một giọt sương rời đều mang một ý nghĩa mật ẩn sâu xa; tất cả chỉ là hình ảnh của Tâm hay Chân Như biến hiện và sự sống từ đó tràn lan bất tận vô thủy vô chung." ([35])

*

Qua bài kệ của thiền sư Từ Đạo Hạnh, ta thấy hệ tư tưởng Hoa Nghiêm "Vạn pháp trùng trùng duyên khởi" đã hiển hiện nơi hai câu thơ đầu của bài kệ:

"Đã có xưa nay vốn có rồi

Là không muôn thuở vẫn đều không"

Đây là triết lý cốt lõi đại thừa dung thông, chứng tỏ thiền sư đã đạt được đỉnh cao rốt ráo làm cho nền tảng tư tưởng này đã có mặt ở đất Việt từ thời Lý. Chúng ta dễ dàng bắt gặp tư tưởng triết lý này phổ biến ngày nay trong tông chỉ Mật giáo Tây Tạng"Cái gì có ở nơi này, thì có ở nơi khác".

Ngàn xưa có đã có rồi,

Ngàn sau không vẫn mãi là trống không

Qua đó, đủ biết rằng dòng thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã dung thông được Thiền – Mật một cách rốt ráo cả Thể và Dụng trong việc hoằng truyền và phổ độ chúng sinh tại đất Việt ngày xưa.

Nhận định này cũng phù hợp với đánh giá về văn học đời Lý: "Thơ văn đời Lý chịu ảnh hưởng sâu xa của nguồn giáo lý Đại thừa Phật giáo, nhất là về thiền tôngMật tông, nên "huyền diệu, thần bí lạ lùng!" ([36])

Tựa như trăng hiện đáy sông

Có không xin chớ bận lòng làm chi!

*

Triều đại nhà Lý vì thế trở thành nền tảng bền vững, trải qua một ngàn năm vẫn lưu dấu tích của thiền sư Từ Đạo Hạnh nơi hai ngôi chùa Láng và chùa Thầy.

"Tại Hà Nội có chùa Láng, tên chữ là Chiêu Thiền Tự được xây dựng đời vua Lý Anh Tông (con của Lý Thần Tông). Chùa thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông. Bên cạnh đó có chùa Nền, tên chữ là Đản Cơ Tự dựng trên nền ngôi nhà cũ của Từ Đạo Hạnh.

Chùa Thầy là một ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây nam, đi theo đường cao tốc Láng – Hòa Lạc. Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa được gọi là chùa Thầy. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý. Đây là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, lúc này núi Thầy còn gọi là núi Phật tích.

Chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc đời Từ Đạo Hạnh, còn chùa Thầy lại chứng kiến quãng đời sau cùng cho đến ngày thoát xác của vị sư thế hệ thứ 12 thuộc dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi này.

Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự). Đầu thế kỷ 17, Dĩnh Quận Công cùng hoàng tộc chăm lo việc trùng tu, xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia, gác chuông. Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng." ([37])

Tự hào là người dân nước Việt ngày nay, chúng ta lại tự hào lịch sử nước nhà đã có những nhà tư tưởng thâm thúy, mà bài kệ trên của thiền sư Từ Đạo Hạnh là một giá trị văn học đã đạt đến chân lý giác ngộ, góp phần cho tư tưởng chủ đạo nước nhà thời bấy giờ.

Nhưng trên tất cả, tư tưởng của ngài từ bài kệ bất hủ trên đã làm vị trí thiền sư sống mãi trong lòng bao thế hệ tinh hoa dân tộc Việt, khi nghĩ về sự kiện kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long từ câu thơ:

Kìa xem bóng nguyệt lòng sông

Đố ai biết được có, không trăng thiền . . .

Viết tại Tp. Hồ Chí Minh, ngày 26. 06. 2010

MỤC LỤC

Lời Giới Thiệu

Thiền Phái Trúc Lâm Với Thuyết Tam Hợp

Phật Giáo Trúc Lâm  Đâu Chỉ Có Thiền Học

Hòa Thượng Thích Trí Hải

Với Hoài Bão Nhân Gian Phật Giáo

Phương Nam Nghĩ Về  Hòa Thượng Tuệ Tạng

Kỷ Niệm 100 Năm Ngày Sinh Cư Sĩ Thiều Chửu

Lãng Đãng Một Khuất Nguyên

Trĩu Nặng Bên Lòng Với Phật Giáo Hà Tĩnh

Truyện Kể Các "Đường Tăng" Việt Nam

Sống Và Chết Thế Nào Cho Có Ý Nghĩa

Quan Điểm Dân Tộc Qua Tác Phẩm

Của Sư Thiện Chiếu

Thử Tìm Mô Hình Phát Triển  Phật Giáo

Từ Bối Cảnh Lịch Sử  Hòa Thượng Tố Liên

Thiền Và Tịnh Độ Trong Mạch Sống Việt Nam

Hãy Trở Về Với Truyền Thống

Phải Có Một Hệ Thống Truyền Bá Hữu Hiệu Hơn

Lịch Sử Ngôi Tổ Đình Sắc Tứ Phước Sơn

Chùa Phật Tích Với Thiền Phái Trúc Lâm

(Bài Viết Hội Thảo Khoa Học Về Chùa Phật Tíchtrong Tiến Trình Lịch Sử.)

Đóng Góp Thêm Các Bản Dịch Mới Về Bài Kệ Của Thiền Sư Từ Đạo HẠNH(Hội thảo kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long)

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
53 Tràng Thi – Hoàn Kiếm – Hà Nội
ĐT: 04.37822845 – Fax: (04).37822841

Chịu trách nhiệm xuất bản:
NGUYỄN CÔNG OÁNH

Biên tập:
TRẦN XUÂN LÝ

Sửa bản in:
GIÁC Ý

Thiết kế:
PHATQUANG Design Dept.

Thực hiện liên doanh:

CTY TNHH VĂN HÓA
PHÁT QUANG

ĐT: 08.38.114.009 – 38.110.211
Fax: 08.62.938.562 – DĐ: 0903.310.145
Email: tam@hcm.fpt.vn
minhtamvuongthi@yahoo.com

In 1.000 cuốn khổ 14,5 x 20,5 cm. Tại Công ty in Khuyến Học Phía Nam. Số giấy phép: 1008-2010/CXB/109-163/TG cấp ngày 1/12/2010. In xong và nộp lưu chiểu quý 2/2011.


[1].  Tham luận hội thảo Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang và
Thiền phái Trúc Lâm trong quá trình phát triển Phật giáoViệt Nam.

[2]Tham luận Hội thảo Phật giáo đời Trần ở Quảng Ninh.

[3].  PGVN Sử Luận. Nguyễn Lang, tập I, tr 501

[4].  PGVN Sử Luận. Nguyễn Lang, tập I, tr 489

[5].  PGVN Sử Luận. Nguyễn Lang, tập I, tr 489

[6].  Toàn tập Trần Nhân Tông. Lê Mạnh Thát, tr 200

[7].  PGVN Sử Luận. Nguyễn Lang, tập I, tr 491

[8].  PGVN Sử Luận. Nguyễn Lang, tập I, tr 407

[9].  PGVN Sử Luận. Nguyễn Lang, tập I, tr 494

[10]Thiền và Tịnh độ trong mạch sống dân tộc. Ta Bà Ha. 1995

[11]. PGVN Sử Luận. Nguyễn Lang, tập I, tr 495

[12]Tham luận hội thảo "Phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc và nhà sư Trí Hải".

[13]Tham luận hội thảo kỷ niệm 50 năm ngày mất của Hòa thượng Tuệ Tạng.– Thích Tâm Thi.

[14]. Theo "Cư sĩ Thiều Chửu – Nguyễn Hữu Kha", Trần Việt Quang và Nguyễn Hải Trừng, Tài liệu lưu hành nội bộ.

[15]. Tự điển Hán Việt, bản in lần thứ nhất của NXB Đuốc Tuệ, 1942.

[16]Phật học Phổ thông khóa thứ V, Thiền tôn, tr.202, Thành hội PG Tp.HCM xb, 1997.

[17]. Lê Hoan, kẻ đã làm tay sai cho giặc, chỉ huy đánh úp ông Hoàng Hoa Thám – tức cụ Đề Thám, lãnh đạo khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) năm 1913, ông bị tay sai thực dân Pháp ám hại.

[18]. Bài viết này ông gửi cho anh Đường tìm cách phổ biến trong nội thành, sau anh đã bị giặc bắt. Tự Bạch của Thiều Chửu, tr.14. Tài liệu lưu hành nội bộ.

[19]. Lời ông viết ở những dòng cuối cùng của bản Tự Bạch-Sđd, nhưng có chỗ cần đính chính là Nhạc Phi ở đời Nam Tống chứ không phải đời Đường. Tuy nhiên, người viết vẫn trích dẫn nguyên văn.

[20]Tham luận hội thảo khoa học.

[21]. Theo Lược khảo PG sử Việt Nam, chương Tổng hội PGVN ra đời, trang 250.

[22]. Hầu như chư tôn đức bên Tăng giàcư sĩ đều có quan điểm như ngài Tố Liên, tham gia Tổng hội nhưng vẫn giữ lại tổ chức Phật giáo riêng của địa phương. Ở miền Nam tiêu biểuCư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền.

[23]Quan điểm của ngài Trí Quang rõ rệt trong việc hợp nhất trong GHPGVNTN, khiến cho các tổ chức PG khác không đồng tình mà rút lui khỏi giáo hội như Hội Phật học Nam Việt, Giáo hội Thiền tịnh Đạo tràng, Hội Sư Sãi Tây Nam bộ, Thiên Thai Giáo Quán Tông, Giáo hội Khất sĩ...

[24]Lịch sử chùa Phật Tích, Wikipedia website.

[25], 2.  (Sđd)

[26]. (Sđd)

[27]. Lĩnh Nam Chích Quái: Trần Thế Pháp: Từ Đạo Hạnh: website Wikipedia.

[28]. Chùa Thầy, chùa Láng: Từ Đạo Hạnh: website Wikipedia

[29]. Loại hình tác phẩm: Thuyền Uyển Tập Anh:Nguyễn Hữu Sơn: Viện Văn Học: Trung Tâm KHXH&NVQG: nxb KHXH: Hà Nội 2003

[30]Phật Giáo Việt Nam Sử Luận: T1: tr152: nxb Văn Học: Hà Nội 1994

[31]. Đây là bài phổ biến nhất, nhưng người viết chưa tìm được tác giả, có người nói là của Tản Đà-Nguyễn Khắc Hiếu?

[32]. Những đóng góp to lớn của Đạo Phật cho dân tộc dưới triều Lý (1010-1225): HT Thích Đức Nhuận: website Thư Viện Hoa Sen.

[33]. Những đóng góp...Sđd

[34]. Những đóng góp... Sđd

[35]. Những đóng góp... Sđd

[36]. Thích Đức Nhuận: Sđd

[37]. Chùa Thầy, chùa Láng... Sđd

 

Tạo bài viết
21/01/2018(Xem: 12757)
12/10/2016(Xem: 11105)
12/04/2018(Xem: 11337)
06/01/2020(Xem: 3716)
24/08/2018(Xem: 3152)
28/09/2016(Xem: 18060)
27/01/2015(Xem: 14593)
14/04/2020(Xem: 600)
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thường và công bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đang cách ly an toàn với coronanvirus tại tư thất của ông ấy ở vùng núi cao Hy Mã Lạp Sơn, nhưng nhờ công nghệ thông tin đã giúp ông ấy kết nối với mọi nơi trên thế giới. Chúng tôi đã nói chuyện với ông qua ứng dụng truyền thông liên kết video về lòng từ bi, sự phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ và về Tổng thống Trump, trong số các vấn đề khác.