4 Tâm trong đạo Phật

01/01/202110:24 SA(Xem: 188)
4 Tâm trong đạo Phật
TRÊN ĐƯỜNG VỀ NHÀ
THÍCH NỮ HẰNG NHƯ
Nhà xuất bản Ananda Viet Foundation
 

4

TÂM TRONG ĐẠO PHẬT

 

Việc tu hành của người theo đạo Phật là nhằm tu sửa cuộc sống hằng ngày bỏ ác làm lành. Học hỏi giáo lý, hành trì... để thanh tịnh hoá thân tâm. Phật dạy con người do năm uẩn hợp lại mà thành. Đó là Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành UẩnThức Uẩn. Sắc ở đây ám chỉ cơ thể con người, còn bốn uẩn kia hợp lại là Danh. Danh là một tên gọi khác của tâm. Như vậy Sắc là vật chất nên có hình tướng, màu sắc, chúng ta có thể nhìn thấy và sờ mó được. Còn tâm thì chỉ là ý niệm, khái niệm hay là trạng thái nên nó trừu tượng, không nhìn thấy, không va chạm được, thì làm sao sửa đổi hay thanh tịnh tâm? Cho nên, nếu như chúng ta không hiểu rõ tâm là gì thì rất khó mà tu tập.

          Ngày xưa người ta nói "tâm là trái tim", chúng ta cũng nghĩ như vậy.  Khi ta thương ai, ta hay vẽ hình trái tim, viết tên ta và tên người mình thương lên trái tim đó. Khi ta buồn, ta đau khổ, ta cũng vẽ hình trái tim nhưng có thêm mũi tên ghim vào, rồi vẽ thêm vài ba giọt máu rỉ ra từ vết thương. Lúc đó, ta cũng nghĩ "tâm là trái tim".

          Người ta tin tưởng "tâm là trái tim" tin tưởng theo truyền thống. Chứ thực ra tâm của chúng ta chính là những sự suy nghĩ, những tình cảm, những thương nhớ, buồn khổ... Những thứ này không hề xuất phát từ trái tim, bởi trái tim không biết suy nghĩ, nó chỉ có nhiệm vụ co giãn liên tục để bơm máu nuôi thân thể. Như vậy những buồn lo, hận thù, thương yêu, nhung nhớ kia ... xuất phát từ trong bộ não của chúng ta. Cho nên dứt khoát tâm nằm trong bộ não của con người!

          Nói về bộ não, thì bộ óc con người có khả năng kỳ diệu giúp con người suy nghĩ, giao tế, học hỏi, đặt kế hoạch cho tương lai. Trên đời này, con người là sinh vật duy nhấtngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp con người học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, phát minh khoa học kỹ thuật tinh xảo, phục vụ tiện nghi đời sống của con người ngày một văn minh hiện đại hơn.

          Vùng vỏ não là một phần của bộ óc mà chỉ riêng con người và một vài loài khỉ cấp cao mới có, nó được coi là nơi phát xuất ra trí thông minh giúp con người có khả năng kỳ diệu như trên. Con người dù có khả năng chế ngự thiên nhiên và muôn loài nhưng vẫn chìm đắm trong đau khổ triền miên, bởi vì bên cạnh những khả năng xuất chúng đó, con người cũng có khả năng tạo ra hận thù, giết chốc, tàn phá gây khổ đau ở một mức độ cao hơn bất cứ loài thú nào!

          Đức Phật khi thành đạo đã chứng ngộ được nguồn gốc sâu xa của đau khổ, và con đường đưa đến giải thoát những khổ đau đó. Ngày nay, chúng ta có thể đối chiếu những lời Phật dạy với những hiểu biết của Khoa học về não bộ để soi sáng con đường tu tập của chúng ta.

CÁC SẮC THÁI BIẾT

          Theo kiến thức thông thường thì con người ai cũng có cái "Biết". Biết qua suy nghĩ, tính toán, suy luận, phân biệt… Những cái biết này, chúng ta xử dụng hai cơ chế trong não bộ gọi là Ý CănÝ Thức.

          Ý CănÝ Thức là hai cái Biết của Tâm Phàm Phu thường đưa tới phiền não, khổ đau. Nhưng trong mỗi con người, cũng còn có cái Biết khác, đó là cái Biết của Tánh Giác. Tánh Giác chính là Tánh Biết, là cái Biết bẩm sinh, chân thật, khách quan, không cần học hỏi. Trong nhà Phật gọi đây là cái Biết của Tâm Bậc Thánh. Còn một cái Biết cao thượng sâu sắc hơn nữa, là cái Biết siêu vượt ngoài thế gian, là kho báu tâm linh phát xuất do thiền Định mà có, đó là Nhận Thức Biết của Tâm Phật.

          Trong bài này chúng tôi đặc biệt đề cập đến hai Cái Biết. Đó là Cái Biết của Tâm Phàm Phu và Cái Biết của Tâm Bậc Thánh là cái Biết của ba Tánh, đó là Tánh Thấy, Tánh Nghe và Tánh Xúc Chạm gọi chung là Tánh Giác.

          1) Sắc thái Biết của Ý CănTrí Năng: Về vị trí Ý CănTrí Năng nằm ở vùng vỏ não, tiền trán, bán cầu não trái.  Ý Căn là cơ chế tạo nên sự suy nghĩ, xét đoán, lý luận, tư duy, tính toán. Nó là nơi thành lập những gì đã được biết hoặc tưởng nhớ những gì đã xảy ra trong quá khứ.

          Trí Năngthành phần quan trọng của Ý Căn, nó nằm trong vùng Ý Căn. Trí Năng hình dung, vẽ vời, tưởng tượng xét đoán, so sánh với những kinh nghiệm đã học được. Đây là cơ chế lý luận bằng sự nói thầm trong não về một vấn đề nào đó đã xảy ra hầu tìm cách giải quyết hay phỏng đoán những gì xảy ra trong tương lai.

          Ý Căn liên hệ mật thiết với ngôn ngữ, đến sự nói thầm trong tâm. Tại vùng bán cầu não trái là vị trí của Ý Căn còn có một vùng Broca là vùng giải mã khái niệm, tức là ý niệm được chuyển sang ngôn ngữ, đưa qua cơ bắp lưỡi họng để phát âm thành lời. Đặc điểm của Ý Căndựa trên những tư tưởng cũ mà ta đã biết, đã học hỏi. Nó bươi móc những gì xảy ra trong quá khứ để suy nghĩ, suy luận... rồi sinh tâm buồn bực, chán ghét thù hận hay thương yêu. Chức năng của Ý Cănsuy nghĩ, thì thầm qua lại trong đầu, nên nó là chủ nhân tạo ra Ý Nghiệp.

          Trong kinh gọi Ý Căn"Ý". Tiếng Pàli là Mano, tiếng Sanskrit là Manas. Còn Trí Năng nằm chung với Ý Căn ở bán cầu não trái phía tiền trán, trong kinh gọi là "Tâm", tiếng Pàli và Sanskrit gọi chung là Citta. Tuy nhiên cả Ý Căn, Trí NăngÝ Thức trong nhà Phật được gọi chung là Tâm (Citta).

          2) Sắc thái Biết của Ý thức: Vị trí nằm ở vùng vỏ não, tiền trán, bán cầu não phải. Khi giác quan tiếp xúc với đối tượng thì Ý Thức là nơi nhận diện ra đối tượng. Ý Thứctrạng thái Biết luôn luôn dựa trên sự phân biệt, so sánh: Tốt xấu, phải trái, đúng sai, hay dở nên trong kinh gọi là Tâm Nhị nguyên. Ý Thức cần có đối tượng nó mới làm việc, nếu không đối tượng thì Ý Thức không khởi lên. Chức năng của Ý Thứcđiều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp để rồi cuối cùng đưa tới quyết định. Khi đã quyết định thì Ý Thức công bố thành lời hay biểu lộ bằng hành động cho người khác biết. Do đó Ý Thức là nơi tạo nên Khẩu nghiệpThân nghiệp.

          "Ý Thức" trong kinh gọi là "Thức", tiếng Pàli là Vinnãna, tiếng Sanskrit là Vijnãna. Hai chữ này được bắt đầu bằng từ "Vi" nghĩa là "sự phân chia" hay "sự phân biệt". Còn từ "nãna" hay "jnãna" nghĩa là "biết". Do đó Ý Thức là cái Biết có sự phân biệt, so sánh.

          Như vậy Ý CănÝ Thức có nhiều điểm giống nhau, nhưng cũng có đặc tính khác biệt. Đó là Ý Căn chuyên nói thầm trong não, trong khi Ý Thức thì sau khi nói thầm trong đầu, lại có khuynh hướng công bố ra bằng lời nói hay hành động.

          3) Vùng Kiến giải tổng quát: Các nhà Khoa học gọi phía sau bán cầu não trái là Cơ chế Kiến Giải Tổng Quát (General Interpretative), vì họ căn cứ trên chức năng của nó là kiến giải. Khi giác quan tiếp xúc với đối tượng bên ngoài chúng ta nhận biết liền một cách tổng quát gọi là Kiến Giải Tổng Quát. Họ cũng gọi đó là vùng Ý Thức cao, là vùng Giác Tri Tâm Linh (The Spiritual Area), họ cũng gọi là Vùng Ngộ (Gnostic area). Các nhà Khoa học biết trí tuệ tâm linh, tức trí tuệ siêu vượt, bật ra tại vùng Kiến Giải Tổng Quát, nhưng không biết làm sao để trí huệ tâm linh bật ra. Thiền Phật Giáo thì biết cách khai triển trí tuệ tâm linh bằng cách tu tập theo Phật trình: Giới-Định-Huệ.

          Trong nhà Phật gọi vùng thứ ba này là vùng Tánh Giác, là Chân Tâm. Giác là Buddhi, nghĩa là Biết, dịch qua tiếng Anh là Awareness. Giác này không phải là Giác ngộ. Giác ngộPhật Tánh thì khác, đó là Buddhatà. Tánh Giác ở đây là Buddhità, đơn giảnTánh Biết.

          Tánh Giác gồm bốn thành phần: Tánh Nghe, Tánh Thấy, Tánh Xúc Chạm và Tánh Nhận Thức Biết. Khi giác quan tiếp xúc đối tượng thấy qua mắt, nghe qua tai, xúc chạm qua thân... biết như thật về đối tượng không phê phán, khen chê, không thương yêu, ghét bỏ... tức không dính mắc với đối tượng thì đó là cái biết khách quan của Tánh Giác.

TÂM TRONG PHẬT GIÁO

          Con người có nhiều sắc thái tâm khác nhau. Thí dụ, chúng ta nhìn dĩa trái cây. Chúng ta biết đó là trái cam, trái táo. Trái cam thì màu vàng, trái táo thì màu đỏ. Cái thấy biết trái cam màu vàng, trái táo màu đỏ, đó là tâm. Cái tâm nó biết. Khi ta nhìn tôn tượng Phật, chúng ta thấy tượng Phật đẹp, thanh khiết, trong đầu chúng ta khởi ý kính trọng. Sự khởi ý kính trọng đó là tâm. Cái tâm kính trọng của chúng ta đối với tượng Phật. Chúng ta đi dự tiệc quen một người bạn mới, chúng ta cảm thấy thích người đó. Cái gì thích? Đó là cái tâm thích người bạn mới gặp. Về nhà chúng ta nhớ người đó. Một tháng sau cũng còn suy nghĩ không biết bây giờ người đó đang làm gì? Người đó có nghĩ đến ta chút nào không? Những suy nghĩ đó chính là tâm. Tâm này là tâm nhớ nhung. Như vậy, hễ chúng ta giận thì đó là tâm giận, chúng ta vui thì đó là tâm vui, buồn thì đó là tâm buồn...

          Tóm lại, tâm chính là cái biết, biết trạng thái xảy ra trong đầu, trong não của chúng ta. Do giác quan tiếp xúc với đối tượng bên ngoài, khiến cho chúng ta nghĩ ngợi. Sự nghĩ ngợi ngay lúc đó chính là Tâm Hiện Tại, hay chúng ta suy nghĩ những chuyện đã qua đó là Tâm Quá Khứ. Suy nghĩ những chuyện chưa xảy ra, đó là Tâm Tương Lai.

          Khi nói đến tâm trong Phật giáo. Ở mức độ đơn giản nhất, chúng ta chỉ cần nắm bắt 2 sắc thái tâm khác nhau trong mỗi con người chúng ta. Một sắc thái tâm tạm đặt tên là Tâm Phàm Phu hay Vọng Tâm và một sắc thái tâm thứ hai cao thượng hơn gọi là Tâm Bậc Thánh hay Chân Tâm. Còn tâm thứ ba là cái tâm sâu sắc, hoàn hảo, trong sạchchúng ta thường nghe nhắc đến, đó là tâm Phật.   

TÂM PHÀM PHU

          Tâm Phàm Phu là tâm mà chúng ta thường sống hằng ngày với nó. Nó bắt nguồn từ sự suy nghĩ của ta. Mà khi chúng ta suy nghĩ, bình thường phải nhờ các sự việc đã xảy ra trong quá khứ để mình suy nghĩ, bởi vì nếu không có chuyện gì xảy ra, không có đối tượng, thì lấy gì để suy nghĩ?  Suy nghĩchức năng của Ý Căn. Vì Ý Căn dính mắc với quá khứ nên được xếp là Tâm Quá Khứ.

          Còn khi trong buổi tiệc chúng ta gặp người bạn mới, chúng ta khởi ý thích người nào đó, có nghĩa là lúc đó giác quan của chúng ta tiếp xúc với đối tượng ngay trong hiện tại, chúng ta khởi ý thích hay không thích thì đó là chức năng của Ý Thức.  Không có đối tượng, Ý thức nằm yên không hoạt động. Gặp đối tượng thì nó khởi ý phân biệt, so sánh cái này đẹp cái kia xấu, phân biệt thiện ác, thương ghét, mới cũ v.v... Như vậy tâm này dính mắc với đối tượng ngay trong hiện tại nên được xếp là Tâm Hiện Tại.

          Chức năng của Ý thứcphân biệt, tìm hiểu, so sánh nên nó thường bị gọi là "Tâm hai bên" hay "Tâm nhị nguyên". So sánh rồi nó tuyên bố ra lời hoặc hành động tạo nên Khẩu nghiệpThân nghiệp. Còn Ý Căn thì tạo Ý nghiệpÝ Căn chỉ suy nghĩ trong đầu chứ chưa nói ra lời.    

          Trí Năng nhận dữ kiện từ Ý Căn và Ý Thức, rồi suy luận vẽ vời tưởng tượng hướng đến tương lai sẽ như thế này như thế nọ.  Đó là dính mắc với tương lai, mà chưa chắc tương lai sẽ xảy ra đúng như sự tưởng tượng của mình. Trí Năng được xếp là Tâm Tương Lai vì nó luôn hướng về tương lai.

          Ba cái nguồn Tâm Quá Khứ, Hiện Tại, Tương Lai này, Kinh Kim Cang gọi chung là "Tâm Ba Thời".  Tâm Ba Thời bị xem là "bất khả đắc".  Đắc là đắc ý, hài lòng, chấp nhận, bất là không. "Bất khả đắc" nghĩa là không thể chấp nhận được. Thiền Tông gọi ba cái tâm này là Vọng Tâm, Vọng Tưởng, Đức Phật thì gọi nó là Tâm Phàm Phu, là Hồ Nước Đục, là Cái Bị Sanh. Còn chúng ta thì tạm gọi nó là Tâm Thế Gian cho dễ hiểu.

          Tại sao là Tâm Thế Gian? Tại vì chúng ta sống với nó hằng ngày. Từ khi mới chập chững biết đi, chúng ta đã được cha mẹ dạy dỗ sống với nó. Lớn lên đến trường học chúng ta được thầy cô dạy chúng ta sống với nó. Khi ra ngoài xã hội chúng ta cũng đem ba cái tâm này mà đối đãi với mọi người xung quanh, nghĩa là cũng sống với nó.

          Tóm lại, Tâm Thế Gian hay Tâm Phàm Phu gồm có 3 thành phần: Ý Căn, Ý ThứcTrí Năng. Chúng ta sống nhờ vào 3 tâm này. Nhờ có Ý Cănchúng ta học hỏi được những kinh nghiệm sống từ lúc nhỏ cho đến lúc lớn khôn, lập gia đình, có con cái. Nhờ có Ý Thức, chúng ta thu nhập ghi nhớ những bài học ở trường, những bài học về hiện tượng thế gian, biết phân biệt được đúng sai, hay dở thiện ác tốt xấu. Nhờ có Trí Năng sắc bén, vẽ vời tạo nên những hình ảnh tương lai để hy vọng, để tiến lên.

          Như vậy, Tâm Thế Gian hay Tâm Ba Thời cũng có phần ích lợi tích cực của nó. Nhờ có nó mà chúng ta mới tạo nên cuộc sống ấm êm hạnh phúc, có nhà ở, có xe đi, có cơm ăn, áo mặc, có danh vọng, địa vị trong xã hội. Nhưng để có những thứ đó, thì chúng ta phải trả một giá rất đắc là tâm chúng ta không lúc nào được yên lặng, nghỉ ngơi, bởi thường xuyên phải lo nghĩ đối ngoại, đối nội. Còn thân thì phải làm việc cực nhọc mệt mỏi hết ngày này qua ngày khác. Dù là luật sư, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, giáo sư, thư ký văn phòng, công nhân hãng xưởng, nghề tóc, nghề nail, địa ốc hay giới thương mại. Làm nghề nào cũng vất vả, cũng khổ tâm, mới kiếm được đồng tiền để phục vụ cho đời sống.

          Trong nhà Phật, Tâm Ba Thời bị chê là bất khả đắc vì những niềm vui hạnh phúc do nó mang đến chỉ tạm thời, trong khi đó nó thường mang đến hậu quả buồn phiền, dính mắc, khó chịu, bệnh hoạn, đau khổ triền miên mà thôi! Nếu chúng ta cứ mãi sống trong tâm trạng lúc vui, lúc buồn, lúc thương, lúc ghét, lúc oán, lúc thù... sẽ có ngày chúng ta mắc những chứng bệnh áp suất máu cao, đường trong máu cao, cholesterol cao, béo phì. Nhẹ thì quên trước quên sau, nặng thì mất trí nhớ hay bệnh lú lẫn (Alzheimer) hoặc bệnh liệt run (Parkinson), bệnh ảo giác, bệnh trầm cảm (Stress) v.v...  Đây là những căn bệnh thời đại, do bởi lo âu phiền muộn dính mắc từ công ăn việc làm và cuộc sống hằng ngày khiến cho tâm bị dao động, rối loạn, gây ra những chứng bệnh trên thân. Bệnh này là do tâm gây ra nên gọi là bệnh tâm thể. Nếu không kịp chận đứng nó sẽ đưa đến chứng ung thư mất mạng. Đó là về thân, còn về trí tuệ, mình chỉ có thể phát huy kiến thức thế gian.

          Tâm Thế Gian bị gọi là Vọng Tâm, là Hồ Nước Đục vì bên dưới cái tâm này là những mớ làm cho tâm bị ô nhiểm, mà trong kinh Đức Phật gọi là lậu hoặc.  Lậu hoặc, nghĩa đen là những chất mủ từ trong thân cây tiết ra. Nghĩa bóng, là những sở thích, đam mê, những thói quenchúng ta đã huân tập từ bao nhiêu đời trong quá khứ cho tới đời này. Nói chung đó là tham sân si, là năm triền cái, là nghiệp xấu, cản trở con đường tu tập đi đến giác ngộ giải thoát của chúng ta.

           Ngoài ra bên dưới của Tâm Phàm Phu này còn chấp cái Ngã là thật. Ngã tức là Ta. Khi bàn đến cái Ta thì trong nhà Phật thường nhắc đến Cái của Ta, Tự Ngã của Ta, để mô tả sự ích kỷ, ham muốn không biết đủ. Cái gì cũng gom góp về cho mình như: Cái nhà của ta, chiếc xe của ta, vợ của ta, con của ta, gia tài của ta, đạo của ta, đảng phái của ta, quốc gia của ta v.v... và v.v... Lòng ham muốn, khao khát, không bao giờ biết đủ đó gọi là tham dục, tham ái. Tham dục chính là dục lậu trong bốn dục: vô minh lậu, dục lậu, hữu lậu, kiến lậu gọi chung là lậu hoặc, là nguyên nhân gây khổ đau và luân hồi sanh tử.

         Ngày xưa Đức Phật chỉ giảng về cái tâm nhưng không nói rõ tâm nằm ở chỗ nào. Ngài chỉ nói cái tâm ở trong con người cao một trượng này. Bây giờ Khoa học cho biết vị trí của Tâm Phàm Phu nằm ở tiền trán. Bên trái là Ý Căn. Trong Ý CănTrí Năng. Bên phải là Ý Thức. Họ cũng cho biết Ý Căn là vùng tư duy, suy nghĩ. Ý thức là vùng phân biệt, so sánh, điều tra, nghiên cứu, quyết định, công bố. Vùng Trí Năng là vùng tưởng tượng, vẽ vời. Bên cạnh vùng Trí Năng còn có một vùng biểu lộ sự thông minh và nhân cách của con người nữa.  

Như vậy, những khám phá của Khoa học thời đại ngày nay, nếu đem so sánh với lời dạy của Đức Phật về chức năng của Tâm Thế Gian ngoài đời mà trong đạo Phật gọi là Vọng Tâm cũng có phần khế hợp tương ưng.

 

 

TÂM BẬC THÁNH

          Ngoài Tâm Phàm Phu, chúng ta còn có một sắc thái tâm khác cao thượng hơn, trong sạch hơn, gọi là Tâm Bậc Thánh. Tâm Bậc Thánh này cũng có cái Biết nhưng đây là cái Biết khách quan, vật như thế nào nhận biết đúng y như vậy không thêm không bớt.

          Thí dụ: Đây là cái chuông. Chúng ta nhìn, thấy, biết đó là cái chuông, không cần phải tìm hiểu cái chuông này do đâu mà có, cái chuông này do ai cúng dường. Cũng không phân biệt chuông này đẹp hay không đẹp.  Khi chúng ta tìm hiểu khen chê thì chúng ta đang sống với Ý Thức, tức là Tâm Hiện Tại.

          Khi chúng ta nhìn bình hoa, chúng ta biết đó là bình hoa, rồi thôi, không nghĩ ngợi thêm hoa mua ở đâu, mua lúc nào, hoa còn đẹp hay hoa đã héo tàn v.v... Thấy bình hoa biết bình hoa thế thôi, thì cái Biết này hoàn toàn khách quan, tâm của chúng ta lúc đó yên lặng không lăng xăng dao động. Ngay lúc đó, Ý không khởi lên thắc mắc, không nói lên lời bình phẩm khen chê qua lời, và cũng không có cử chỉsai trái. Với cái thấy biết khách quan như vậy, tâm chúng ta hoàn toàn tĩnh lặng, ba nghiệp thanh tịnh, có thể nói ngay giây phút đó tâm chúng ta được giải thoát.

          Ở trong kinh, khi đệ tử của Đức Phật nhận ra được cái Biết này thì Đức Phật xác nhận: "vị đó đã bắt đầu bước vào dòng Thánh". Cho nên ở đây, chúng ta cũng tạm gọi cái tâm hoàn toàn khách quan không dính mắc với quá khứ, hiện tại và tương lai là Tâm Bậc Thánh.

 

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÍNH MẮC

          Trong não chúng ta suy nghĩ triền miên, hết chuyện này qua chuyện khác, sự suy nghĩ đó chính là sự nói thầm. Nghĩ ngợi hoài về một đối tượng thì đó là dính mắc với đối tượng.

          Khi chúng ta dùng ngôn ngữ (ngôn ngữ phải học mới biết) hay những sự suy nghĩ, suy đoán, phân biệt, so sánhchúng ta đang xử dụng cái kiến thứcchúng ta đã thu thập được từ học đường, từ xã hội...  đó là chúng ta đang xử dụng cái biết của Ý Căn, Ý Thức hay Trí Năng, là cái Biết Có Lời, nên tâm lúc nào cũng dao động.

          Còn khi chúng ta dùng giác quan (mắt, tai, da, mũi, lưỡi) tiếp xúc với đối tượng, chỉ "nhận biết" mà thôi, thì đó là cái "Biết bẩm sinh". Cái biết này đối với những ai có bộ não bình thường đều biết. Từ khi mới sinh ra đã biết, không cần học hỏi, không cần kinh nghiệm. Có đối tượng biết. Không đối tượng cũng biết.  Đây là cái Biết khách quan. Vì không có suy nghĩ thương yêu ganh ghét xen vào nên đó là cái Biết Không Lời của Tâm Bậc Thánh.

          Ở trong Thiền gọi cái Biết khách quan của con mắt thấy là cái Biết của Tánh Thấy. Cái Biết khách quan của tai nghe là cái Biết của Tánh Nghe. Cái Biết của da, mũi, lưỡi khách quan là cái Biết của Tánh Xúc Chạm. Tánh tức là cái bản thể, bản chất chân thật không thay đổi của hiện tượng thế gian trong đó có con người.

          Từ xưa đến nay, mỗi người trong chúng ta đều xử dụng cái Biết của ba Tánh Nghe, Thấy, Xúc Chạm mà chúng ta không hay biết. Sau khi chúng ta tiếp xúc đối tượng trong sát-na đầu tiên chúng ta đã xử dụng cái Biết đó rồi, gọi là "cái loé sáng biết đầu tiên của Tánh Giác". Nhưng tiếp sau đó, chúng ta đem những kinh nghiệm đã học hỏi từ học đường, sách vở, từ lời dạy của cha mẹ, thầy cô, hay từ xã hội ra để áp dụng. Cho nên, cái Biết sau cùng không còn khách quan, không còn đúng với sự thật, khiến cái Biết đó đã biến đổi, méo mó theo ý thích riêng của mỗi người. Từ cái Biết trong sáng không ô nhiễm đầu tiên của Tâm Bậc Thánh mà ai cũng sở hữu, trở thành cái Biết dính mắc của Tâm Phàm Phu.

           Nhìn lại, trong thời gian qua, chúng ta đã đi ngược chiều quá xa. Bây giờ là lúc cần quay đầu lại trở về "nhà", đòi hỏi thời gian, lòng kiên nhẫn. Trước hết, chúng ta phải biết con đường nào đúng và thích hợp để chúng ta trở về (Chánh kiến). Mà nhà của chúng ta ở đâu? Nhà của chúng ta chính là cái "Biết không lời của Tánh Giác". Chúng ta phải tu tập để chuyển đổi từ "cái Biết Có Lời của Tâm Phàm Phu" sang "cái Biết Không Lời của Tâm Bậc Thánh". Đó là chúng ta trên đường quay về Nhà.

          Ở đây, chúng ta chỉ mới khai triển cái nhìn Căn Bản thôi. Còn thực sự cái mục tiêu tối cao của Đức Phật dạy, là còn có một ngôi nhà cao thượng sâu sắc hơn nữa, đó là ngôi nhà Tâm Như.

KẾT LUẬN

          Tóm lại "Tâm Trong Đạo Phật" gồm có ba, đó là: Tâm Phàm Phu, Tâm Bậc Thánh và Tâm Như. Thật ra con người chỉ có một tâm thôi, nhưng nếu tâm chúng ta lăng xăng, suy nghĩ, dao động thì đó là trạng thái "Biết Có Lời" của Tâm Phàm Phu. Nếu Tâm yên lặng, "Biết Không Lời"trạng thái của Tâm Bậc Thánh. Còn khi tu tập đến chỗ ngôn hành, ý hành, thân hành không động mà Tánh Nhận Thức Biết luôn sáng suốt, thì đó là trạng thái Tâm Như hay Tâm Phật.

          Ai sống thường xuyên với Tâm Phàm Phu, cuộc đời vui ít khổ nhiều. Vì bên dưới tâm này đầy vẫy những lo toan phiền não, do ảnh hưởng của lậu hoặc, là những nghiệp xấu từ nhiều đời kiếp trước theo ta đến đời này. Ngoài ra, bên dưới tâm này còn có cái Ta, cái Ngã làm chủ. Hễ có Ta là có ích kỷ. Cái Ta ích kỷ của mình xung đột với cái Ta ích kỷ của người khác tạo ra không biết bao nhiêu là nghiệp xấu. Do nghiệp xấu này mà Ta phải chịu trả quả xấu khi hội đủ các duyên tác động.

          Muốn tránh bị nghiệp lực lôi kéo thì chúng ta phải tu tập, làm quen sống với Tâm Bậc Thánh. Với cái tâm trong sạch thanh tịnh không tạo nghiệp này, chúng ta sẽ làm chủ lấy nghiệp của chúng ta khi còn sống ở trên cõi đời này, cũng như khi sắp ra đi.

          Muốn an trú trong Tâm Bậc Thánh, chúng ta thực tập thu liễm lục căn, bằng cái Biết chân thật. Thấy, nghe, xúc chạm đối tượng như thế nào thấy biết như vậy thôi! Thấy ông A biết ông A, thấy chị B biết chị B. Thấy quả táo biết quả táo không thêm bớt gì nữa hết. Đó là cái Biết trong sạch, cái Biết thanh tịnh của Bậc Thánh.

          Qua bài viết này chúng tôi chỉ mạn phép chia sẻ cùng quý Phật tử, cái nhìn khái quát về Tâm Phàm Phu và Tâm Bậc Thánh. Còn vấn đề đường lối hay pháp tu của mỗi tông phái tuy có khác nhau, nhưng thiết nghĩ chung quy cũng là cách tu tập để trở về ngôi nhà Tánh Giác hay ngôi nhà Tâm Như của chúng ta. Trước khi tạm dừng bài viết, chúng tôi kính chúc quý vị hưởng được sự thanh tịnh trong cái Biết Không Lời của Tâm Bậc Thánh.

        Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

June 11-2019

Tài liệu:

- Tác Phẩm: Luận Giảng Vấn Đấp về "THIỀN VÀ KIẾN THỨC KHOA HỌC".  Tác giả THÍCH THÔNG TRIỆT, Hội Thiền Tánh Không ấn hành. Phật lịch 2558. Dương lịch 2014.
Tạo bài viết
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Tổng thống Biden để gửi lời chúc mừng sâu sắc về việc ông trở thành Tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Đại lễ Kính Mừng Đức Thích Ca Mâu Ni Thành Đạo đã được long trọng diễn ra vào lúc 11 giờ sáng Chủ Nhật ngày 29 tháng 12 năm 2019, tại Chùa Thiên Ân, cũng gọi là Trung Tâm Thiền Sa Mạc “Desert Zen Center”, tọa lạc tại thành phố Lucerne Valley, California, cách vùng Little Saigon miền Nam California khoảng hai giờ lái xe, hướng Đông Bắc.
Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Phố Tuệ, 104 tuổi, khai thị cho Tăng Ni về phẩm chất của người tu - Thông Điệp Vesak 2019 – Lời chúc Tết năm 2020 và phóng sự về Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Phố Tuệ cùng chư tăng làm ruộng trồng rau