Thấy chân thường, thấy mùa xuân vĩnh cửu

06/02/20211:02 SA(Xem: 1314)
Thấy chân thường, thấy mùa xuân vĩnh cửu

blank
THẤY CHÂN THƯỜNG,
THẤY MÙA XUÂN VĨNH CỬU 

Nguyễn Thế Đăng

Rỡ ràng tỏ rõ mười hai thì
Tự tánh vô công khắp hiện bày
Sáu căn vận dụng chân thường thấy
Vạn pháp tung hoành: chánh biến tri.

Hiển hách phân minh thập nhị thì
Thử chi tự tánh nhậm thi vi
Lục căn vận dụng chân thường kiến
Vạn pháp tung hoành chánh biến tri.

Đây là bài kệ thị tịch của Thiền sư Chân Nguyên (1647-1726). Bài kệ nói về tự tánh, tức là bản tánh của tâm của mỗi người, dù đã chứng ngộ hay chưa chứng ngộ, và sự biểu hiện của nó trong thế giới hình tướng của thế gian.

“Rỡ ràng tỏ rõ mười hai thời”

Tự tánh, từ ngữ được Lục Tổ Huệ Năng dùng suốt trong Pháp Bảo Đàn Kinh, để chỉ bản tánh của tâm, hay “Phật tánh mà tất cả chúng sanh đều có” được nói trong kinh Đại Bát Niết Bàn. Tự tánh này còn được gọi là tánh giác trong truyền thống Thiền, và trong Đại Toàn Thiện (Dzogchen) Ấn - Tạng gọi là tánh giác Rigpa. Tự tánh này luôn luôn tự tỏa sáng “rỡ ràng tỏ rõ mười hai thời”, cả ngày lẫn đêm, khi thức cũng như khi ngủ. Đây là ánh sáng căn bản của bản tánh của tâm mà kinh thường nói đến bằng từ “quang minh”.

Khi nói “rỡ ràng tỏ rõ” là nói đến phương diện Chiếu (hay Quán) của tự tánh, còn khi nói “tịch lặng bất động” là nói đến phương diện Tịch (hay Chỉ) của tự tánh. Tự tánh thì vừa Tịch vừa Chiếu, Chỉ Quán đồng thời.

Lục Tổ Huệ Năng nói tự tánh chiếu soi như sau:

“Trên đất tâm mình là tánh giác Như Lai, phóng ánh sáng lớn, ngoài chiếu soi sáu cửa thanh tịnh, hay phá các cõi trời lục dục. Tự tánh chiếu bên trong, ba độc liền dứt, các tội địa ngục nhất thời tiêu diệt. Trong ngoài sáng suốt chẳng khác Tịnh độ Tây phương” (Phẩm Nghi Vấn).

Tự tánh vô công khắp hiện bày

Chữ vô công để dịch chữ nhậm vận, vô công dụng đạo.

Tự tánh tự nhiên, không ra sức, mà hiện bày khắp trong tất cả các hình tướng. Bởi vì tự tánh là ánh sáng căn bản vốn có, nên trên nền tảng ấy các hình tướng xuất hiện, như một tấm gương sáng thì trong đó có các hình bóng xuất hiện. Như một thiền ngữ xưa nói: “Trúc biếc xanh xanh đều là Pháp thân; Hoa vàng rờ rỡ không gì chẳng phải là Bát nhã”.

Thiền sư Thiền Lão (đời thứ sáu dòng Vô Ngôn Thông) nói:

Trúc biếc hoa vàng đâu (phải) ngoại cảnh
Trăng trong mây bạc lộ toàn chân.

Ánh sáng tự tâm thì chiếu khắp, nhưng khó thấy. Nhờ có sự vật được chiếu sáng mà dễ dàng thấy ánh sáng. Sự vật vừa được ánh sáng làm cho hiển lộ, nếu không có ánh sáng sẽ không có sự vật, vừa là chỗ để ánh sáng dựa vàobiểu lộ sự soi chiếu của nó. Sự vật chính là nơi ánh sáng biểu lộ. Sự vật là ánh sáng và cũng chẳng phải là ánh sáng. Sự vật thì chuyển động, vô thường, ánh sáng tự tâm thì không chuyển động, thường còn.

“Tự tánh vô công khắp hiện bày” là ánh sáng tự tánh, nền tảng ánh sáng tự tánh khắp hiện bày này nhờ nó mà tất cả các hình tướng xuất hiệnrỡ ràng tỏ rõ. Cho nên với người thấy tánh, sự vật chính là sự hiển bày của ánh sáng tự tánh vô công khắp hiện bày.

Đạo sư Padmasambhava nói về tự tánh hay tánh giác tỏa sáng này như sau:

Tánh giác của con vốn biết, vốn sáng tỏrạng rỡ quang minh


Khi nó hiển hiện thì được gọi là Bồ đề tâm, tâm giác ngộ
Không có bất kỳ hoạt động thiền định nào, nó siêu việt mọi đối tượng của hiểu biết
Không có bất kỳ xao lãng nào, nó là sự trong sáng quang minh của bản tánh.
Những hình tướng trống không trong chính chúng, trở nên tự giải thoát
Sáng tỏtánh Không bất khả phân là Pháp thân.
Bởi vì rõ ràng là không có cái gì để thành tựu trên con đường đến Phật quả
Vào lúc này con sẽ thực sự thấy Phật Kim Cương Tát Đỏa.

 (Self‑Liberation through seeing with naked Awareness, Vajranatha dịch; Tự giải thoát qua thấy với tánh giác trần trụi, ban dịch thuật Thiện Tri Thức).

“Sáu căn vận dụng chân thường thấy”

Tánh giác chiếu soi qua sáu căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý. Tánh giác là bản tánh của sáu căn, như kinh Lăng Nghiêm nói, “Một tinh minh (tánh giác) phân làm sáu phần hòa hợp (sáu căn)”. Cho nên khi sáu căn hoạt động (vận dụng) chúng ta có thể nhận biết nền tảng giác hay bản tánh giác của chúng. Bản tánh giác ấy là chân thường nên bài kệ nói “chân thường (được) thấy”. Cái thấy chân thường là một với chân thường, nên thấy chân thường chính là chân thường thấy, trong đó không có chủ thể và đối tượng. Chủ thể và đối tượng hòa tan vào cái thấy chân thường.

Người làm thanh tịnh tâm mình bằng thực hành Phật pháp thì khi được kinh điển hay một vị thầy khai thị thì có thể thấy bản tánh giác chân thường này nơi sáu căn, bởi vì sáu căn là sự biểu lộ của bản tánh giác chân thường ấy. Như các hình bóng trong tấm gương là sự biểu lộ của tấm gương sáng tỏ và bất động. Các hình bóng không nằm ngoài gương, nền tảng hay bản tánh của các hình bóng ấy chính là tấm gương.

“Vạn pháp tung hoành: chánh biến tri”

Khi thấy, nhận biết đầy đủ và thuần thục trong tánh giác thì người ta thấy, nghe, xúc chạm… tánh giác ở khắp cả, vì không đâu không là sự biểu lộ của tánh giác.

“Tung hoành” là dọc ngang. Muôn pháp, tất cả các pháp, dọc ngang khắp mười phương, đều là tánh giác. Đây là cái thấy biết của Phật, được gọi là Chánh Biến Tri (cái thấy biết chân chánh cùng khắp).

Trong các kinh, khi Đức Phật thuyết pháp xong, thường nói có bao nhiêu vị đắc pháp nhãn tịnh, bao nhiêu vị đắc Vô sanh pháp nhẫn. Pháp nhãn tịnh là con mắt pháp thanh tịnh, thấy tất cả các pháp “bổn lai thanh tịnh”. Khi con mắt pháp thanh tịnh này khai mở hoàn toàn thì được gọi là Chánh Biến Tri. Khi ấy, tất cả các pháp được thấy biết bằng Chánh Biến Tri thì trở thành Chánh Biến Tri: tất cả mắt tai mũi lưỡi thân ý và tất cả những đối tượng của chúng sắc thanh hương vị xúc pháp đều trở thành Chánh Biến Tri.

Khi mắt tai mũi lưỡi thân ý đều là tánh giác thì sắc thanh hương vị xúc pháp đều là tánh giác. Khi ấy người ta bước vào Tịnh độ của Phật hay nói theo Mật giáo là bước vào và ở nơi trung tâm Mạn đà la, trở thành một thành tựu giả: tất cả âm thanhthần chú, tức là lời của Phật, tất cả sắc tướng thế giớichúng sanhHóa thân của Phật. 

Bài đọc thêm:
Thiền Sư Chân Nguyên - Con Người Của Thế Kỷ Thứ 17 (Như Hùng)




 

Tạo bài viết
Theo The Insider (Anh Quốc) vào ngày 18/1/2021, tại The Tampak Siring Temple ở Bali, Nam Dương, người ta cột con dao vào chân con gà trong trận đá gà truyền thống của người Balines Ấn Độ. Đây là một bộ phận của nghi lễ tôn giáo để thanh tẩy và trừ tà bằng máu của các con vật qua cuộc đá gà. Đá gà không phải lễ nghi tôn giáo được coi là cờ bạc tại Nam Dương.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.