4. Bốn Nghiệp Thiện Lành Của Miệng

20/05/20214:08 CH(Xem: 335)
4. Bốn Nghiệp Thiện Lành Của Miệng

Như Hùng
SÁM HỐI SÁU CĂN
PHÁP TU VÔ CÙNG GIÁ TRỊ VÀ LỢI LẠC
Văn Học Phật Việt 2020


BỐN NGHIỆP THIỆN LÀNH CỦA MIỆNG


Trong sáu căn: mắt, tai, mũi, miệng lưỡi, thân, ý ba căn đầu tiên thường không có chữ nghiệp theo sau, chỉ có ba căn còn lại mới kèm theo chữ nghiệp: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, hay còn gọi là tam nghiệp. Điều này thể hiện tầm quan trọng của việc gìn giữ tác nghiệp, tạo nghiệp cũng như sự nhận lãnh trách nhiệm nhân quả một cách công bình và sòng phẳng. Từ suy nghĩ cho đến hành động ngôn ngữ nói năng, phần nhiều chúng ta để cho bản năng và cảm tính không thật dẫn dắt lôi kéo, tham sân si đưa đường chỉ lối, khiến ta chìm đắm trong phiền muộn, bất an, đau khổ. Hơn nửa thân, miệng, ý còn có sự liên đới, tương quan tương tác đến đối tượng chúng sanh, gây ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, cách này hay cách nọ đến với người khác. Điều thiện hay bất thiện, niềm vui hay nỗi khổ, tốt hay xấu, lợi hay hại, tích cực hay tiêu cực. Tất cả đều do ta có hết lòng bình tâm nhận diện, đổi thay chuyển hóa và có đủ năng lực cùng sức mạnh nội tâm quyết lòng ngăn ngừa gìn giữ đừng để cho ác nghiệp điều xấu phát sinh. Chỉ cần chúng ta tu tập thân, khẩu, ý cho thật trọn vẹn tốt đẹp, thường xuyên tỉnh thức trong mọi tư duy hành động tác tạo nói năng, thì con đường để đi đến an lạc giác ngộ sẽ luôn cận kề.

 

Trong năm giới Đức Phật chế ra cho hàng Phật Tử, (không được sát sanh, không được trộm cắp, không được tà dâm, không được nói dối, không được uống rượu, những chất gây nghiện) thì hai giới sau cùng đều liên quan đến miệng lưỡi. Điều đó thể hiện giá trị tích cực của việc phòng hộ ngăn ngừa gìn giữ khẩu nghiệp, không gây tạo ác nghiệp, thường xuyên tăng trưởng thiện nghiệp. Đó cũng là phương cách nâng cao phẩm chất đạo đức hoàn thiện bản thân, làm tốt đẹp cho gia đìnhxã hội, mang lại lợi lạc yên vui cho mình và kẻ khác.

 

Bốn nghiệp của miệng gồm có: nói dối, nói lời chia rẽ, nói nặng lời, nói lời vô nghĩa. Trong ngôn ngữ nói năng hay ngôn ngữ cơ thể, thì những tỏ bày trao đổi, chia xẻ cảm thông, truyền tải tín hiệu suy nghĩ cảm xúc. Nếu chúng ta mải mê chạy theo thói hư tật xấu, chạy theo cảm xúc cảm tính lệch lạc, không chịu từ bỏ những suy nghĩ lời nói bất thiện xấu ác, thiếu sự tỉnh thức cảm thông hiểu biết, để cho ác nghiệp lên ngôi không kiềm chế giới hạn, sẽ dẫn đến những căng thẳng quá đà gây hệ quả nguy hại, đau khổ phiền muộn bất an. Từ bỏ những lời nói hư dối không thật, những lời gây chia rẽ phiền muộn, những lời nói gây thương tổn nhói đau đâm vào tim vào lòng kẻ khác, những lời nói thiếu chuẩn mực vô nghĩa không phù hợp không thích nghi không lựa lời. Chúng ta tập cách lắng nghe trong sự yêu thương tâm lành ban trãi, nghe trong sự cảm thông chia xẻ, nghe nhiều hơn nói, chỉ nói trong chánh niệm tỉnh giác, những gì cần nói nên nói và nói vừa đủ.

 

Miệng lưỡi ở cùng sống chung nương tựa với nhau nhưng lại có những chức năng riêng. Lưỡi dùng để “nếm, nhai, nuốt, nói” trong bốn chức năng đó thì nói lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi và tạo nghiệp nhiều nhất, nếm nhai thuộc về vị giác. Miệng nơi bắt đầu tiếp nhận thức ăn nước uống, nhai nghiền nát, đưa xuống hệ tiêu hóa. Nhưng phần nhiều từ nơi miệng lưỡi, có những điều tốt đẹp thiện lành, đem lại niềm vui cho kẻ khác, nhưng cũng gây biết bao hệ lụy đau khổ phiền não cho mình cho người. Từ sự phân biệt đắm nhiễm đam mê món ăn chất uống vị giác ngon dỡ, cho đến ngôn ngữ nói năng xấu ác bất thiện, dối trá nặng lời đâm thọc phê phán đánh giá ngộ nhận. Đêm ngày luôn phiên tác tạo, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến người khác, gây phiền lụy cho mình và đối tượng.

 

Người hiểu biết tỉnh thức, từ nơi khẩu nghiệp từng lời từng chữ từng ngữ ngôn nở hoa giác ngộ, đến bằng trái tim nhân ái, tấm lòng đong đầy chân tình thương yêu cao cả. Tâm lành đó sự suy nghĩ hành động tác tạo đó, với cõi lòng bi mẫn rộng lớn bao la, ban trải khắp cùng cho tha nhânchúng sanh. Một khi giá trị và phẩm chất tốt đẹp được nâng cao, thân tâm chất chứa nghiệp quả thiện lành thì tự nhiên sống thở trong sự phủ vây của giác ngộ hương thơm của giải thoát, an trú trong sự an lạc. Tự bản chất đã là thiện là lành là tốt đẹp từ ái đủ đầy, thì phiền não thị phi bất thiện những điều không như ý khó mà quấy rối được. Một con người thường sống với điều thiện việc lành, thì con người đó không hề nghĩ đến điều ác, không làm những việc xấu, luôn giữ gìn tâm ý được trong sáng thanh tịnh, an ổn trong mọi tư duy hành động nói năng. Nếu chúng ta thường xuyên gìn giữ phát huy cái tốt điều đẹp việc thiện lành thì những điều ác cái xấu sẽ không có dịp trỗi dậy gây rối, sẽ không có cơ hội gây phiền muộn đau khổ. Thay vì chúng ta chạy theo thói hư tật xấu, để cho những quán tính cảm tính tai hại chi phối lộng hành, tác tạo nghiệp quả bất thiện từ nơi miệng lưỡi. Ngay từ bây giờ chúng ta phải thay đổi làm mới chuyển hóa, thường xuyên tăng trưởng tích chứa điều tốt đẹp thiện lành.

 

1. Chúng ta phải nói thật nói đúng với sự thật, những gì của sự thật những gì thuộc về sự thật. Trong ta chỉ có sự thật, chất chứa sự thật, sống thật với lòng mình tâm mình, gìn giữ sự chân thật từ con tim đến cõi lòng. Nói năng phù hợp với chánh pháp, đúng với bản chất như thật của từng vấn đề. Nếu phải nói cần thiết để nói, chỉ nói những lời ái ngữ, những lời cao quý hay đẹp, lợi mình lợi người, mang lại niềm vui an ổn hạnh phúc cho kẻ khác. Nói bằng trái tim bằng lòng từ bi, tâm tư luôn hoan hỷ nụ cười chân thật nở rộ trên môi. Chúng ta biết học hạnh lắng nghe, kiệm lời bớt nói cẩn trọng khi nói, tỉnh thức khi nói năng, sẽ không bị phiền não thị phi che mờ gây rối. Thay vì cố nói năng dành diễn đạt, ta dễ đánh mất sự kiểm soát cần thiết và không làm chủ được lời nói, sẽ gây bất an nguy hại cho bản thân và người khác. Ta chọn cách tịnh khẩu, giảm thiểu nói năng, đắn đo cẩn trọng từng lời, chỉ nói khi thật sự cần nói những gì cần thiết để phải diễn đạt bày tỏ. Ta cần tư duy một điều, chắc phải có lý do quan trọng nào đó cho nên chư tổ thường dạy “để cho cửa miệng đóng mốc”, nhiều khi không nói làm thinh nhưng lại cảm thông thấu hiểu giá trị còn hơn ngàn lời, chỉ cần lắng nghe san sẻ sớt chia ban trãi đôi khi ý nghĩa gấp vạn lần nói năng bày tỏ.

 

2. Chiếc lưỡi hoa sen tinh khiết mang hương sắc tươi đẹp đến cho đời cho tha nhân, những lời tỉnh thức đến từ tâm thiện lành lúc nào và bao giờ cũng có giá trị cao cả vượt thời gian. Thường sống trong sự hòa hợp thanh tịnh, nối kết tình yêu thương chân thật lý tưởng giải thoát trong mọi tư duy tác tạo. Sống trong tinh thần tương kính hòa thuận không gây thương tổn chia rẽ làm mất hòa khí tiêu tan niềm tin. Hạnh phúcan lạc thật sự chỉ có mặt khi ta không hề gây hại, sống trong sự bình đẳng nhu hòa, tương kính tương thuận thương yêutôn trọng lẫn nhau.

3. Chỉ có những lời nói lành lời nói đẹp xuất hiện trong nếp sống sự suy nghĩ của ta mà thôi. Làm ngược lại với lời nói ác, những lời nói dữ dằn khó chịu khó ưa, nói nặng lời, tức là thể hiện điều thiện việc lành lời hay ý đẹp rồi vậy. Những lời nói ý nghĩa cao đẹp, có hoa thơm cỏ lạ, có hương vị giải thoát chứa đầy lòng bi mẫn, đong đầy năng lượng giác ngộ. Một con người có được sự cao quý thánh thiện đáng được xưng tụng tán dương, là lúc nào và bao giờ hể một khi mở miệng thì sẽ mang lại niềm vui xoa dịu nỗi khổ cho kẻ khác, không nặng lời với một ai, nói lời thật lòng chân chất dễ thương dễ nghe dễ mến, chứa đầy tuệ giác đem lại hạnh phúc bình an cho tất cả. Một con người cao cả là hết lòng phụng sự tha nhân, chỉ nói những lời phát xuất từ lòng từ bi bao la, những lời đúng với chánh pháp chánh ngữ. Chúng ta đừng để, đừng làm đừng mang đến sự phiền muộn đau khổ bất an cho bất cứ một ai dù vô tình hay cố ý, đều dẫn đến hậu quả tai hại do những lời nói hung ác nặng nề khó nghe khó cảm.

 

4. Những lời chân thật từ tốn hòa ái hay đẹp mang đầy ý nghĩa là những lời cần nhất dễ thương nhất trong thế giới thống khổ hôm nay. Những lời nói từ nơi con tim đong đầy lòng bi mẫn còn là suối nguồn tuệ giác vi diệu, xoa dịu vỗ về san sẻ sớt chia niềm đau nỗi khổ. Chúng ta cần chấm dứt loại bỏ hoàn toàn những lời thị phi vô nghĩa xấu ác, để tâm hồn luôn được lành mạnh thanh thản, nhân cách và cuộc sống tăng phần giá trị đem lại lợi lạc cho mình và cho người.

 

Trong Kinh Trung Bộ, bài kinh số 41. Đức Phật đề cập đến Bốn thiện nghiệp của miệng như sau:

Bốn thiện nghiệp của khẩu:

1) “Có người từ bỏ vọng ngữ, tránh xa vọng ngữ, đến chỗ tập hội, hay đến chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, hay đến giữa các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì Ông biết". Nếu biết, người ấy nói: "Tôi biết", nếu không biết, người ấy nói : "Tôi không biết"; hay nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu thấy, người ấy nói : "Tôi thấy". Như vậy lời nói của người ấy không trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì.

2) Từ bỏ nói "hai lưỡi", tránh xa nói "hai lưỡi". Nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói với những người kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui thích hòa hợp,thích thú hòa hợp, nói đến những lời đưa đến hòa hợp.

3) Từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói nhu hoà, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy.

4) Từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, người ấy nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi”.

Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch

 

Ta có thể tạm chia ra làm hai mặt thiện ác tốt xấu của ngôn ngữ lời nói, những lời nói thiện lành hiền từ và những lời nói xấu ác khó nghe. Ngoài những lời nói dối, nói thêu dệt, nói hung ác, nói đôi chiều, còn có vô số những lời nói khó nghe khó cảm không đẹp như: Lời nói không thật, những lời nói gian dối, những lời đầu môi chót lưỡi, những lời gây đau khổ, những lời gièm pha thị phi ly gián, những lời nói đâm thọc hai chiều, chuyện có nói không chuyện không nói có, nghĩ một đường nói một nẻo, những lời mật ngọt, ru ngủ dụ dỗ, những lời chửi bới, chê bai hơn thua, những lời cay nghiệt ác độc... Những lời nói hiền từ dễ thương thì có: Những lời nói từ ái chan chứa tình thương, lời chân thật đầy tình người tình đạo, những lời xuất phát từ con tim lòng bi mẫn, những lời cảm thông thấu hiểu, những lời nói mang lại sự lợi lạc hạnh phúc, lời của chánh pháp, lời tỉnh thức giác ngộ, lời nói nở hoa...

 

Ngoài ra cũng có một số lời nói mới nghe qua thì rất dễ thương, nhưng ngẫm nghĩ lại thì ngầm chứa những mục đích khác, những lời mị ngữ, những lời nói khéo trau chuốt, những lời nịnh hót, những lời du dương làm êm tai thoả mãn người nghe, lỡ lời hối lỗi muộn màng, những xảo ngữ xảo ngôn, những lời nói êm ái nhẹ nhàng nhưng lại dối gian không thật, mê hoặc ru ngủ lòng người, lợi dụng gây hoang mang, xấc động, lời nói cay nghiệt làm đau thấu tâm can, những lời nói chứa đầy sân tâm thù hận, những lời chia ly xé nát cõi lòng, những lời thách thức gieo rắc sợ hãi, hăm dọa gây lo lắng đau khổ bất an cho kẻ khác, lời thị phi châm biếm gây hấn, giọng điệu cực đoan, những lời đáp trả dối trácay nghiệt, lời đường mật gây mê hoặc lòng người, những lời có cánh dụ dỗ... Những lời nói đầy sức thuyết phục lý luận sắc bén hay ho chỉ cốt cho vừa lòng nhau, nhằm dụ dỗ rủ rê thoả mãn toan tính tham vọng mục đích bất thiện. Những lời nói có cánh biết bay biết nhảy múa, lời mật ngọt dễ mến đáng yêu, những lời đầu môi chót lưỡi, những lời chỉ làm cho ta mê mẩn tâm thần chạy theo, đưa ta rơi vào mê lộ. Những lời bùi tai vẽ ra một thiên đường không tưởng, khiến ta đắm đuối lầm lạc nghe theo tin nhầm, những lời ru ngủ nhằm thỏa mãn bản năng xấu ác trong ta.

 

Dù ở dạng ngôn ngữ nói năng nào thì những biểu thị diễn tả và cách nào đi chăng nữa, thì điều quan trọng nhất vẫn là động cơ bên trong thực sự là gì, mục đích xuất phát từ đâu. Chỉ có chính mình mới thật sự hiểu rõ nó đến từ đâu và do đâu mà thôi. Trong nội tâm ta chất chứa cưu mang điều gì, không nhiều thì ít nó sẽ lộ ra phần nào ở bên ngoài, từ nói năng cho đến suy nghĩ hành động, phần nào phản ảnh được phẩm chất đạo đứcnăng lực tu tập trong mỗi chúng ta. Thế nên, nếu trong ta đầy rẫy những thói hư tật xấu, rối rắm phiền hà, nhiễm ô bất tịnh, ác nghiệp che mờ, dù được che dấu kiểu gì thì phần nào nó cũng hiện ra thông qua ngôn hành. Chúng ta phải tu làm sao như thế nào để cho miệng lưỡi của mình không tạo ác nghiệp nhân xấu.

 

Cuộc sống hôm nay có quá nhiều hệ lụy khổ đau phần nhiều đều do ác tâm lời nói ngôn ngữ bất thiện mang lại. Những lời nói dối, nói chia rẽ, nói nặng lời, nói vô nghĩa, những lời cố ý hay vô tình, nhưng lại đau thấu tâm can. Những lời tưởng chừng như vô hại lại gây thương tổn xúc phạm, những lời thiếu khôn ngoan, thiếu ái ngữ lòng từ, những lời gian dối mánh mung đâm thọc, thêm thắt dựng chuyện, không đúng với bản chất của sự việc. Chuyện không nói có, chuyện có nói không, lọc lừa dối trá không chân thật, hung ác dữ dằn đay nghiến, thiếu từ bi vắng tình người, gây thương tổn khổ đau phiền não bất an cho kẻ khác. Những điều đó, trở thành một thứ bản năng tập khí quán tính tai hại chất chứa đầy dẫy trong ta, thấm vào trong tim trong huyết quản của ta tự bao giờ, chỉ chờ có dịp có cơ hội là nó tự động phát tiết vung vãi mà không cần biết đến hậu quả và những hệ lụy. Ranh giới thiện và ác xấu và tốt mong manh như đường tơ kẽ tóc, chỉ cần trong tích tắc không kiểm soát, đánh mất sự tỉnh thức là ta đã lạc lối muôn trùng. Do vì ta thường xuyên xử dụng, sở trường đến mức chuyên nghiệp, không phân biệt được đâu là nói chơi hay thật, lẫn lộn thật giả khó phân, hỏi tới hỏi lui nhiều lần thử xem có đúng ý đúng tầm hay không. Cái ác điều xấu cứ thế lên ngôi đẩy lùi chiếm chỗ điều thiện việc lành, nên phải nhận lấy hậu quả đắng cay không vừa lòng bất như ý. Tất cả đều do ta chủ động cưu mang chứa chấp nuôi dưỡng tạo ra, thường xuyên ôm giữ những điều tệ hại, cũng bởi tại ta phó mặc dễ dãi để cho điều ác bất thiện lũng đoạn gây rối. Ta lại để các giác quan nhầm lẫn rủ rê gây hại tha hồ tác yêu tác quái, nếp sống suy nghĩ hành xử không lành mạnh bất thiện thao túng, rời xa nhân quả thiện ác đúng sai, đổ vào tâm ý những nhiễm ô bất tịnh. Nói năng không chừng mực, thiếu vắng ái ngữ lợi hành, rời xa chánh pháp đi ngược lại với chân lý, mất phương lạc hướng. Không chịu suy xét kỹ càng, không nhận chân bản chất thật sự của từng vấn đề, không tỉnh thức trước mọi tư duy ngôn hành tác tạo.

 

Tâm tính, cảm tính và cảm giác bất thường trôi nỗi lầm lẫn, thi nhau khởi lên muôn vàn trạng huống tình huống tâm cảnh dỡ khóc dỡ cười, đau khổ bất an mất phương lạc lối. Một sự giằng co xâu xé giữa cái ác điều thiện, sự so sánh hơn thiệt phần lợi phần nhiều sẽ thuộc về ai, một sự bán rẻ linh hồn cho cái ác sẵn sàng nhảy vào trục lợi làm chủ dẫn đưa. Sự trỗi dậy lớn mạnh của tâm tánh bất thiện, đang chờ chực trong ta từng phút từng giây, sẵn sàng thâm nhập vào mọi ngõ ngách của đời sống. Sự thờ ơ vô cảm không chịu trách nhiệm, của một lối sống cách sống tìm vui trong chốc lát, được phút nào hay phút đó, từng bước đẩy chúng ta càng ngày càng rời xa những giá trị của nếp sống đạo đức cần phải có.

 

Bốn ác nghiệp của khẩu:

1) “Có người vọng ngữ đến chỗ tập hội, chỗ chúng hội, hay đến giữa các thân tộc, các tổ hợp, hay đến giữa vương tộc, khi được dẫn ra làm chứng và được hỏi: "Này người kia, hãy nói những gì Ông biết". Dầu cho người ấy không biết, người ấy vẫn nói: "Tôi biết"; dầu cho người ấy biết, người ấy vẫn nói: "Tôi không biết"; hay dầu cho người ấy không thấy, người ấy vẫn nói: "Tôi thấy"; hay dầu cho người ấy thấy, người ấy vẫn nói: "Tôi không thấy". Như vậy, lời nói của người ấy trở thành cố ý vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ, hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên nhân một vài quyền lợi gì.

2) Và người ấy là người nói "hai lưỡi". Nghe điều gì ở chỗ này, đi đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, đi nói với những người này, để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy, người ấy ly gián những kẻ hòa hợp, hay xúi giục những kẻ ly gián, ưa thích phá hoại, vui thích phá hoại, thích thú phá hoại, nói những lời đưa đến phá hoại.

3) Và người ấy là người nói lời thô ác. Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến người đau khổ, khiến người tức giận, liên hệ đến phẫn nộ, không đưa đến Thiền định, người ấy nói những lời như vậy.

4) Và người ấy nói những lời phù phiếm, nói phi thời, nói những lời phi chơn, nói những lời không lợi ích, nói những lời phi pháp, nói những lời phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ. Vì nói phi thời, nên lời nói không có thuận lý, không có mạch lạc, hệ thống, không có lợi ích”. Trung Bộ Kinh, bài kinh số 41, Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch

 

Trong thời buổi tin học internet thông tin toàn cầu, cái miệng chuyên tạo nghiệp của mình, giờ đây lại nhờ có thân nghiệp gánh hộ. Thay vì dùng miệng lưỡi để nói năng trực tiếp bây giờ thông qua đôi tay để chuyên chở truyền tải thông tin tín hiệu ý muốn, nhắn tin trải lòng giãi bày gửi gắm tâm sự nhỏ to, dùng tay để trút nỗi phiền muộn lo lắng trong lòng. Ta thường xuyên xử dụng facebook, email, text message, messenger, instagram, nhấp chuột,...Thành ra khẩu nghiệp bây giờ, có phần tham dự tích cực của thân nghiệpý nghiệp, tính chung cọng lại với nhau. Cho dù bằng cách nào hoặc đến từ đâu, thì hậu quả của những hành động tác ý móng tâm thiện ác xấu tốt đó, trực tiếp hay gián tiếp cách này hay cách nọ, ta đều phải gánh lấy nghiệp quả, chịu phần trách nhiệm và không cách nào trốn chạy tháo lui được. Dù ta có che mặt dấu tên, sống ảo sống thật, lướt sóng dạo chơi, tò mò ghé lại, ném đá dấu tay, thay tên đổi họ. Mục đích có là gì và làm gì, xấu tốt lời hay ý đẹp, mua vui giả tạo, những hành động suy nghĩ tác tạo nói năng, việc làm đó nhân quả đó lúc nào cũng đeo bám theo ta như bóng với hình, không chịu bỏ qua không thương lượng đổi chác.

 

Ở một nơi tạm gọi sống ảo sống thật, nghiện internet đó, ta đầu tư công sức thời gian đổ vào cuộc ảo tìm kiếm sự thỏa mãn, giả danh nửa kín nửa hở, không ai hay chẳng ai biết, ta tha hồ tung hoành ngang dọc, chẳng bận lòng lo lắng, tìm vui lãng quên trong chốc lát, rủ rê thoả mãn cái tôi bản ngã. Ta lướt mạng dạo net, trải lòng tâm sự chuyện nhỏ việc lớn, chuyện nhà việc người, chuyện ta chuyện nhà bạn bè lối xóm. Ta có được niềm vui đâu đó, nơi kẻ thân người lạ gần xa hội tụ đem lại, lời khen giả tạo tiếng tung hô vang dội, thế là ta tạm cho đó niềm vui hạnh phúc. Có phải ta đang bị chính cảm giác và sự ảo tưởng nào đó trong ta đánh lừa? Hơn ai hết ta biết rõ một điều, có hạnh phúc nào mà không đánh đổi trả giá, không trải nghiệm dưỡng nuôi?

 

Cứ vậy, đủ thứ đủ việc đêm ngày tràn ngập, chuyện ta việc người khiến ta bận rộn không hở tay đầu óc căng cứng, tạm gởi tạm quên tạm vui trong giây phút nhưng lại trôi nỗi đến tận bây giờ. Dù ta suy nghĩ hết sức đơn giản, chỉ là giao tiếp xã giao kết nối thăm hỏi người thân kẻ sơ, chia xẻ quan tâm lo lắng, hoặc thông qua đó kêu gọi đánh thức lòng thương gây sự chú ý, có khi thể hiện bản ngã cái tôi, khoe cảnh khoe người, độ giàu sang số an hưởng. Đàng nào thì cách xử sự trong ta phần nhiều đều do cảm xúc cảm giác không thật núp bóng trá hình, dẫn dắt mua chuộc chạy theo nâng cấp bản tính, thói hư tật xấu tồn đọng từ lâu. Những cách biểu lộ thái độ cảm xúc nhất thời, yêu ghét, thích hoặc không thích, tưởng chừng không có hại theo thói quen của bản năng, có hoặc không có chủ đích. Những gì do ta tác tạo gây nên cố ý hay vô tình, không hề biến mất nó vận mãi theo ta như bóng với hình, đến lúc chín mùi ta phải gặt hái nhân quả. Những lo toan vui buồn chạy theo cuộc sống, làm cho ta không có dịp tìm thấy giá trị đích thật của sự sống. Phút giây tưởng chừng của hạnh phúc đâu đó trá hình núp bóng, đều được ta nâng cấp tung hô gọi mời dàn trải lên net, tự hào tự mãn cho là thành công, khuôn mẫu thước đo bao người mơ ước. Thói hư tật xấu trỗi dậy, ganh tị ích kỷ, nhỏ nhen tự ti so sánh tìm cách lấn sân ngự trị, trầm trồ khen ngợi ước ao toan tính, tra tấn mắt tai người nghe kẻ thấy.

Ta đầu tư công sức thời gian năng lực vào đó cho nhiều hao tổn, cuối cùng để rồi ôm lấy phiền muộn khổ đau hụt hẫng nuối tiếc. Ở đời cái gì việc gì cũng vậy đều có mặt trái mặt phải, thiện ác đan xen lẫn lộn, ta phải xử dụng đến trí tuệ và cần có sự tỉnh thức để nhận diện rõ ràng bản chất của từng vấn đề. Cái hiện tại và bây chừ chỉ có nhiêu khê núp bóng, trá hình ru ngủ, lộng giả thành chơn, phân minh rạch ròi hiếm thấy, ta quờ quạng tối tăm, để cho thói hư tánh xấu lung lạc đưa đường. Nếu ta biết được rằng, niềm vui nào đến từ những gì không do tâm mình phát khởi thật sự, không do quá trình trải nghiệm mang lại, mà do kẻ khác hay bên ngoài dâng cho bố thí, ca ngợi tán dương bày trò ủy mị, thì không trước sau cũng phải lụy phiền đớn đau hụt hẫng nuối tiếc. Có khi nào ta tự chiêm nghiệm tư duy đánh giá lại chính mình con người mình, một cách minh bạch tinh tường là khi làm một việc gì ta thật sự có nghĩ đến hậu quả của nó không, có gây thương tổn đau khổ cho một ai không? Một người có được nội lực tu tập có sự vững chãi nơi nội tâm, có phẩm hạnh đạo đức, lúc nào và bao giờ cũng làm chủ được hành động suy nghĩ của mình. Thường xuyên sống trong sự tỉnh giác, ý thức một cách sáng suốt minh mẫn nguyên cớ nguồn cơn, biết đâu là giới hạn, đâu là giải trí tìm tòi học hỏi, đâu là cháy bỏng đam mê, đâu là chừng mực vừa phải, đâu là ảo mộng đang mơ.

 

Lối sống cách sống tâm cảnh sống của ta bây giờ cao siêu tinh vi hiện đại đủ đầy, có muôn ngàn hồng tía thật giả khó phân, lòng người sâu thẳm khó đoán khó dò, có vô số chiêu thức thủ đoạn dối trá lừa lọc, đêm ngày lôi kéo ta mải miết chạy theo. Ta sống với cái quá khứ ra đi biền biệt không hẹn ngày về, ta ôm cái hiện tại chạy nhảy lăng xăng, ta hướng đến cái tương lai không hề có sự bảo đảm. Ta tìm vui trong chốc lát ngủ quên trong hào quang chiến thắng, mải mê lặn hụp trong não phiền sông mê biển ái. Ta lạc hướng mất phương nửa mê nửa tỉnh sống gửi sống tạm, lộng giả thành chơn, tháng ngày trôi qua trong sự phiền não tái tê. Để lắp vào khoảng trống đơn côi nghiệt ngã tệ hại bao phủ đó, ta tìm quên trong men say những chất độc hại làm cho tâm trí mê mờ, ta dạo sóng lướt net phê phán thị phi, quên thời gian trống trải tháng ngày vất vả lo toan. Những cuộc mua vui giả tạm, canh bạc đỏ đen, rượu chè cung phụng, nhả khói hít mây, món ngon vật lạ đó. Khiến cho ta tối tăm mặt mũi không thấy ngày mai, những hối hả toan tính đó, những lầm lạc tai hại đó, cũng chỉ nhằm thỏa mãn bản năng thể hiện cái tôi bản ngã, chứa đầy lòng tham sân si đang cuồn cuộn dâng cao choáng ngợp trong ta. Để rồi sau đó, khi cuộc vui chóng tàn nuối tiếc hụt hẫng dâng cao, còn lại khoảng trống im lìm choáng ngợp, đơn côi nghiệt ngã đợi chờ, nỗi buồn vây quanh đớn đau vạn nẻo đón chào. Biết khi nào ta mới dừng lại mới nhận ra, làm một con người hiểu biết thánh thiện cao cả, tốt đẹp thiện lành trong mọi tác tạo nói năng.

 

Ta không nên nói trong khi mình bị mất kiểm soát, không làm chủ được lời nói và hành động, lúc nóng giận vội vàng bực bội, thiếu vắng sự tỉnh thức, không “uốn lưỡi bảy lần”. Khi nói trong những tình huống mất đi sự sáng suốt, tâm trạng bất an, thiếu vắng sự kiểm soát của lý trí, lúc đó ta dễ bị nhầm lẫn dẫn dắt bởi sân tâm cảm xúc, hỷ nộ ái ố, buồn vui bất chợt. Khi ở trong tâm trạng bất an dễ đưa đến những lầm tưởng ngộ nhận đáng tiếc.

 

Trong Kinh Người Áo Trắng, Đức Phật dạy: “Vị đệ tử áo trắng xa lìa nói dối, chấm dứt sự nói dối, chỉ nói sự thật, tìm niềm vui trong sự nói lên sự thật, an trú nơi sự thật không lúc nào đổ dời, có thể được tin cậy hoàn toàn và không bao giờ dám miệt thị kẻ khác. Vị ấy diệt trừ tận gốc sự nói dối”.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh dịch, langmai.org

 

Cũng một lời nói nhưng đem lại lợi ích hay nguy hại, tất cả còn tùy thuộc vào bản năng tâm tính bản chất thiện ác của từng con người. Lời của những bậc giác ngộ giải thoát, những hành giả tu tập sẽ chuyển hóa tâm linh soi sáng lòng người, hướng đến chân thiện mỹ, làm cho cuộc sống của chúng ta tăng thêm phần giá trị lợi lạc. Lời nói của người chính nhân quân tử sẽ được nhiều người kính trọng quý mến, thêm điều hay lẽ phải. Lời nói chỉ thị của những vị nguyên thủ, thủ tướng quốc gia, những người có chức cao quyền trọng sẽ làm thay đổi cả một dân tộc quốc gia con người theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Chỉ một lời nói của những vị đó có thể cứu người, cứu dân cứu nước, cứu muôn loài chúng sanh. Ngược lại nếu lời nói của họ thiếu đi sự sáng suốt tỉnh thức, thì sẽ gây khổ đau cho con người, bất an cho dân tộc, gây tổn hại đến muôn loài. Lời của quan chức những nhà chính trị, những người có quyền hành thì trọng lượng của những lời nói vô cùng lớn lao có thể thay đổi cả tương lai của một hay nhiều người. Lời nói của người có thế lực lắm tiền nhiều bạc, có thể cứu người và cũng có thể gây chết người, nếu muốn họ có thể thay trắng đổi đen, đưa kẻ khác đến chỗ bất an bầm dập, tra tấn tù đày gánh tội thế tội.

 

Lời nói của những người có từ tâm, bao dung độ lượng sẽ làm thay đổi chuyển hóa con người, hướng đến điều tốt đẹp cho xã hội nhân sinh. Cứu người hay giúp người, tích cực hay tiêu cực, vị tha hay ích kỷ, phục vụ hay tiêu diệt, đều tùy thuộc vào tấm lòng thiện ác hay trung dung không thiện không ác của chính họ. Làm cho kẻ khác rơi vào bất an lo sợ phiền não khổ đau hay giúp đỡ vỗ về xoa dịu không gây phương hại đến ai. Tất cả đều tùy vào bản chất thiện lành của từng con người, ngôn từ mức độ cung bậc của từng lời nói. Tâm thiện và tâm ác lẫn lộn đan xen như đường tơ kẽ tóc, rất dễ chệch hướng sai lầm, chúng ta cần có sự tỉnh giác liên tục, mới trông thấy được nguồn cơn, nhận diện rõ ràng mọi đi lại trôi nỗi của tâm thức.

 

Lời nói có đi đôi với hành động, có nghĩ sao nói vậy, thật lòng hay giả dối, đôi khi chúng ta thấy vậy nghĩ vậy nói vậy nhưng chưa hẳn như vậy và cũng không chắc sẽ như vậy. Nhưng oái oăm thay lại trở thành chuyện thường tình điều tự nhiên của con người, nói không đúng với sự thật, thật giả khó phân thiện ác khó đoán lòng người khó dò, đoán già đoán non nghi ngờ mọi thứ sẽ làm cho ta bất an lo sợ, nhưng nếu không kiểm soát phòng bị chẳng may xảy ra những chuyện bất như ý không vừa lòng, lúc đó sẽ tức tối hối hận, mất bình tỉnh không chủ động được chính mình, thì đó lại là vấn đề của chính ta. Những lời nói thẳng, nói thật nói từ tâm can cõi lòng, dù làm cho ta khó nghe khó chịu nhưng lại là những lời nói thật, lời nói chân tình không khách sáo. Chúng ta cần nhận chân rõ ràng, tất cả điều đó dù tích cực tiêu cực, trực tiếp hay gián tiếp đều có sự can dự không ít thì nhiều của tham sân si, đẩy ta rơi vào vòng xoáy luẩn quẩn của đau khổ sinh tử. Ta có đủ lòng từ để tha thứ, có đủ tỉnh thức để hoan hỷ bỏ qua, có đủ trí tuệ để nhận diện đương đầu. Đó cũng chính nội lực tu tập và sự trân trọng gìn giữ bản chất thiện lành trong mỗi chúng ta.

 

Trong Kinh A Hàm Đức Phật dạy có 5 loại ngôn ngữ mà vị Tỷ Kheo có thể nói: “đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Tại đây, các Tỷ Kheo cần phải học tập, giữ tâm không có uế nhiễm, không nói lời ác ngữ, sống với lòng lân mẫn, từ bi, không sân hận đối với người, biến mãn thế giới với tâm từ bi”.

Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch.

 

Nói vào một thời điểm thích hợp, đó là lúc tỉnh thức hiểu biết, gìn giữ chánh niệm làm chủ được thân tâm ngôn hành, phù hợp với chánh pháp, nhận diện rõ ràng những lời chơn thật hay hư dối, những lời từ ái yêu thương hay lời hung ác thô bạo, có đem lại lợi ích thiết thực hay không, có đánh mất đi tinh thần tương kính tương thuận lục hòa, có tâm từ hay với sân tâm. Đức Phật kêu gọi chúng ta gìn giữ tâm không bị nhiễm ô, không nói lời hung ác, thường sống với tâm lành cao đẹp, không sân hận với một ai, trải lòng từ bi đến với tất cả, hướng đến chánh đạo thiện nghiệp.

 

Miệng lưỡi dùng để ăn uống và nói năng, nhưng cũng chính từ cái miệng ấy đưa đến bao nhiêu điều, bao nhiêu việc bao nhiêu thứ dễ thương cũng có phiền não cũng nhiều. “Tô vẽ điều sai, nói không thành có”. Từ xưa đến nay miệng lưỡi của mình chuyên gây rắc rối phiền hà, lắm việc nhiều chuyện, mang lại niềm vui thì ít nỗi khổ buồn phiền thì nhiều thị phi cũng lắm. Một khi biết kiềm chế những phát sinh từ miệng, làm chủ và xử lý thật tốt những phiền não rối ren bất an, kiểm soát được những cảm xúc khen chê, được mất hơn thua tranh giành níu kéo, đừng để những ngon dỡ của vị giác đánh lừa, như thế chúng ta loại trừ sự gây hại đến từ khẩu nghiệp.Tất cả đều tùy vào mức độ cảm thông hiểu biết, tỉnh thức, ái ngữ lợi hành trong ta như thế nào, có tự chế kiệm lời tâm từ ban trãi, phát huy hạnh nghiệp thiện lành cao quý. Chúng ta chuyển hóachuyển hướng miệng lưỡi một cách tích cựchoàn thiện, thay đổi thói quen bun nhiễm, tật xấu quấy rầy nâng cao phẩm chất và giá trị đạo đức. Thay vì để cho nó phát sinh những nguy hại bất an, bây giờ ngôn ngữ phát ra đong đầy từ ái an vui, chứa đựng tình người tình đạo. Nói lời thật việc thật những lời chân thật không hư dối, những lời nói phát xuất từ nơi con tim bao dung độ lượng. Những lời nói phù hợp với chân lý, những lời tỉnh thức, mang lại hạnh phúc an vui cho mình và tha nhân.

 

Tất cả mọi hành động nghĩ suy và tác tạo nói năng, đều dẫn đến nghiệp quả thiện ác, những gì chúng ta tương tác đều có sự phản ứng, dù tốt hay xấu tích cực hay tiêu cực. Nhân quả là một định luật công bình và sòng phẳng, ta phải chịu phần trách nhiệm những gì mình gây tạo ra, và không một ai có thể thay ta gánh thế và chịu dùm được cả. Thế nên thay vì nói những lời hung ác cay đắng bây giờ lại là những lời nói từ ái dễ nghe dễ thương, thay vì chọc giận thiên hạ thì bớt nói năng bớt phát biểu tỏ bày, thay vì sanh sự sự sanh từ nơi miệng bây giờ lời nóiviệc làm luôn phù hợp với chánh pháp, làm các điều đúng pháp các điều chơn chánh, biết tự chế và kìm chế luôn giữ sự bình tâm trước mọi biến động. Sống sao cho thật tốt thiện lành, trân trọng những giá trị đạo đức cao đẹp, luôn làm người tử tế ích lợi cho mình và tha nhân.

 

Trong Bát Chánh Đạo, (Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định). Tám con đường dẫn đến an lạc hạnh phúc đích thật, hoàn thiện giác ngộ giải thoát. Đức Phật kêu gọi chúng ta thực hành Chánh ngữ, những lời nói chân chính chân thật không hư dối, những lời nói chánh niệm tỉnh thức, những lời nói phù hợp với chánh pháp, những lời xuất phát từ lòng từ bi bao la rộng lớn, những lời giác ngộ mang lại hạnh phúc cho mình và người, những lời dễ thương chân thật lợi mình vui người.

 

Kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập: “Thế nào là Chánh ngữ? Là lời nói ra không gây phiền não cho mình cũng không làm cho người khác phiền não, không tự làm ô nhục cũng không làm ô nhục người khác, không tự khinh mạn cũng không khinh mạn người khác, không tự dối cũng không dối người khác, đó là Chánh ngữ. Lại nữa, phàm những lời nói nào nói rằng tất cả các pháp đều bình đẳng, khéo léo phân biệt tướng của các pháp hữu vi, là Chánh ngữ. Lại nữa, Chánh ngữ là nói tất cả các pháp đều không, vốn vô tướng, không sinh, không diệt, không đến, không đi. Lại nữa, Chánh ngữ là nói có Khổ, Vô thường, Vô ngã, Niết bàn tịch tịnh; nói rằng chúng sinh, tất cả đều không có tướng sang hèn, tất cả các pháp đều do duyên sinh, cũng do duyên diệt, tất cả đều vận hành theo nguyên lý nhân quả”.

 

Chánh ngữ, những lời như thật phù hợp với chân lý, như thật tánh như thật tướng của các pháp, những lời của chánh đạo thiện pháp. Khi ta tu tập tinh cần tỉnh giác, ba nghiệp đều hướng đến thiện lành, tăng trưởng lòng từ bi phát huy tấm chân tình cao quý. Ta nói từ trong con tim yêu thương, nói lời chân chính không hư dối, nói từ tận đáy lòng chân thật nên tạo được sự cảm thông tin tưởng khiến người nghe sanh tâm hoan hỷ, mang đến sự lợi lạc cho mọi người. Đến lúc ta phải chuyển hóa những gì không được đẹp những gì gây nguy hại trở nên tốt lành, hằng sống trong sự phủ vây của hương thơm tuệ giác. Tâm tư ngôn ngữ lời nói lúc nào cũng chứa đựng sự tỉnh thức giác ngộ, loại trừ những bất thiện xấu xa làm mới hoàn thiện con người của mình, nuôi dưỡng những đức tính tốt đẹp, mang lại sự an lòng vững tâm cho người đối diện. Thường sống chuẩn mực với tâm thiện lành, hành xử thiện lời nói thiện suy nghĩ thiện.

 

Khi ta dâng hết tâm từ để ban trải, lòng từ bi tràn ngập trong mọi tư duy hành động nói năng, không do dự đắn đo thì tâm mới được an tịnh, chỉ khi nào bằng lòng thanh thản với buồn vui được mất, với vô thường biến hiện đổi thay, chấp nhận an nhiên với những gì hiện hữu. Hiểu và sống trọn vẹn được như vậy mới không bị chi phối, không bị cạn kiệt hư hao, không lo sợ bị tước đoạt, mới thanh thản đến đi trong cuộc đời. Một khi ta thức tỉnh quán chiếu, hiểu rõ căn nguyên mọi sự vốn dĩ như thế rõ ràng như vậy, bản chất thật hữu của từng hiện thể, sự đi lại của sanh diệt vô thường khổ đau. Ta mới quyết tâm dốc lòng đương đầu trực diện bằng lòng vượt thoát, mỉm cười hoan hỷ đón nhận tất cả, an nhiên sống với vô thường biến động, tìm thấy hạnh phúc đích thực trong cõi chân thường.

 

Sám Hối Sáu Căn, phương pháp tu tậpgiá trị vượt thời gian, do Trần Thái Tông (1218-1277) một vị Thiền Sư Cư Sĩ vĩ đại biên soạn. Nhằm cảnh tỉnh nhắc nhở chúng ta ngăn ngừa bảo hộ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đây còn là cửa ngõ đi lại giao tiếp, giúp cho chúng ta nhận diện minh bạch rõ ràng mọi sự biến hiện tác động trôi nỗi của các căn, góp phần thiết thực cho tiến trình chuyển hóa nghiệp lực của chúng ta, mang lại sự an lạc đích thật. Một khi chúng ta hiểu biết những tác hại phiền nhiễu đến từ miệng lưỡi các căn như thế nào, thì việc gìn giữ nâng cao phẩm hạnh thiện lành, trãi lòng sám hối quyết không tái phạm, phát nguyện tu tập chuyển hóa các căn thanh tịnh là điều cần thiết.

 

Nghiệp căn Lưỡi là:

Tham đủ mọi thứ, thích xét ngon dở,

Nếm hết các thứ, rõ biết béo gầy.

Sát hại sinh vật, nuôi dưỡng thân mình,

Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú.

Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.

Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.

Hoặc đến đàn chay, cầu thần lễ Phật,

Cố cam bụng đói, đợi lúc việc xong.

Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều,

Giống hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.

Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,

Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.

Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con,

Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.

Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,

Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.

Chửi mắng Tam bảo, nguyền rủa mẹ cha,

Khinh khi Hiền thánh, lừa dối mọi người.

Chê bai người khác, che dấu lỗi mình,

Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ.

Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo,

Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.

Lời dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn,

Tô vẽ điều sai, nói không thành có.

Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông,

Tán dóc Tăng phòng, ba hoa điện Phật.

Những tội như thế, vô lượng vô biên,

Ví như cát bụi, đếm không thể cùng.

Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt thiệt

Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.

Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh,

Dù được làm người, lại bị câm bặt.

Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ,

Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối”.

 

Đệ tử chúng con, chí tâm phát nguyện:

 

Một nguyện ăn no, vị vô thượng đạo,

Hai nguyện nhả hết, vị trần tanh hôi,

Ba nguyện biện tài, trừ các lậu hoặc,

Bốn nguyện thích nói, độ được quần sanh,

Năm nguyện đọc hết, kho báu vô tận,

Sáu nguyện sông pháp, uống sạch cạn khô,

Bảy nguyện sớm nhận, Đại Ngu thè lưỡi,

Tám nguyện nhanh đồng, tiếng hét Lâm Tế,

Chín nguyện lưỡi dài, cùng Phật không hai,

Mười nguyện trong sạch, như bầu trời xanh,

Nguyện thứ mười một, thế gian không câm,

Và nguyện mười hai, địa ngục hết cày”.

Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch

 

Lưỡi vướng vị ngon cũng chính vì ưa thích tham đắm món ăn ngon dỡ, đắm chìm nơi hương vị khen chê, thích mùi vị thịt cá chiên xào nấu nướng mà chúng ta gây tạo biết bao ác nghiệp, chạy theo món ngon vật lạ, kiếm tìm tính toán ăn thứ gì uống chất gì cho ngon cho bổ. Cũng chính vì chúng ta chạy theo vị giác ngon dỡ, đòi hỏi cung phụng cho tấm thân món ngon vật lạ đủ đầy, sợ kẻ khác chê cười đàm tiếu, độ chơi kém cạnh không hết lòng với bạn bè. Đưa vào miệng những thứ không phù hợp gây tổn hại cho cơ thể, bỏ vào mồm những thứ tẩm hóa chất độc hại tiện lợi và khói khẩu, ham ăn thích uống nhậu nhẹt linh đình, bệnh tật phát sinh khổ mình và cả người thân.

 

Khi ta ăn uống, có những thực phẩm thức uống thích hợp để nuôi cơ thể, ngược lại cũng có rất nhiều loại thức ăn chất uống không có giá trị dinh dưỡng và không thích hợp để đưa vào cơ thể, nhưng nếu do tham lam mê đắm hương vị ngon dỡ ta không chọn lọc kỹ càng sẽ gây hại cho thân thể. Nếu ta ăn uống không tiết chế điều độ đưa vào cơ thể quá nhiều chất đạm chất béo sẽ làm cho ta bị bệnh béo phì, tiêu hóa khó khăn gan thận làm việc quá tải, ảnh hưởng đến sức khỏe những bệnh về tim mạch. Những chất dầu mỡ, đường, muối nếu tiêu thụ quá nhiều dư thừa đến khi các bộ phận yếu kém sẽ làm cho chúng ta dễ bị cao máu cao mỡ cao đường ảnh hưởng đến sức khoẻ “bệnh từ nơi miệng” là vậy. Ở phương diện tâm thức, những tác tạo và sự huân tập, cũng như môi trường sống, cách sống lối sống của ta đều tạo sự ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự hình thành nghiệp quả. Nếu ta tha hồ nhận vào đổ vào đó tất cả, không chịu gạt bỏ những thói hư tật xấu, không chịu thanh tẩy, không chịu “nguyện nhả hết, vị trần tanh hôi”, cứ thế biến tâm của mình trở thành bãi rác chỉ kết nạp dung chứa, và cất giấu những thứ uế nhiễm độc hại, sẽ khiến cho ta lún sâu chồng chất chết chìm trong dòng đời đau khổ bất an. Nếu chúng ta không chịu loại trừ tâm ác bất thiện, gạt bỏ tham sân si não phiền, quán chiếu tinh tường, nhìn xa trông rộng, giải phóng chính mình ra ngoài mọi khổ đau, thì chúng ta mãi trôi lăn lạc loài trong biển khổ mênh mông không thấy đâu là bến bờ.

 

Khi uống rượu bia những chất gây nghiện, làm cho tâm trí ta mê mờ, say sưa nghiện ngập, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể. Theo nhũng nhà nghiên cứu khi lạm dụng rượu bia sẽ đem đến nhiều tác hại như: ảnh hưởng đến não bộ, tim mạch, tác hại cho dạ dày, gan, làm tổn thương tuyến tụy, gây tiểu đường ung thư, tăng nguy cơ mắc bệnh gout, loãng xương tiêu cơ bắp. Nước ngọt có ga chứa nhiều hóa chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ như: béo phì, hen suyễn, tiểu đường, bệnh tim mạch. Thông thường, rượu vào lời ra gây mất hòa khí, bất đồng quan điểm, không vừa lòng toại ý, sân si nổi lên chửi bới lẫn nhau, tranh luận cãi vã tranh giành phần thắng, nói năng hằn học, dẫn đến bạo động, “họa từ nơi miệng” là vậy. Do mất đi sự sáng suốt, không kìm chế được tâm tư và hành động, không làm chủ được chính mình dẫn đến những nguy hại cho bản thân gia đìnhxã hội.

 

Việc ăn uốnghoàn toàn do ta lựa chọn nên ăn gì và uống gì, không ai có thể ép buộc được ta cả. Thế nên chọn ăn những gì không gây tạo ác nghiệp, tăng trưởng thiện nghiệp lòng từ bi, làm bạn với muôn loài, ăn chay là cách chọn lựa hiểu biết công bình và bình đẳng nhất. Nếu tất cả sinh mạng đều đáng được quý trọng thì không một ai có thẩm quyền hoặc nhân danh điều gì lý do gì, để giết hại tàn sát những sinh mạng khác dù lớn hay nhỏ. Những con vật bị chúng ta giết hại để ăn thịt thì không hề có một sự lựa chọn nào cả, ta xử dụng đến sức mạnh trí thông minh để hiếp đáp bóc lột những chúng sanh bé nhỏ yếu đuối không có khả năng tự vệ. Chúng ta kêu gào đau đớn khi người thân bạn bè mất, đau khổ khi phải chia lìa âm dương đôi ngã, nhưng đối với sinh mạng của chúng sinh ta lại thờ ơ vô cảm dửng dưng một cách lạnh lùng. Những con vật đều tham sống sợ chết, cũng sợ hãiđau đớn như chúng ta vậy. Chỉ vì “Sát hại sinh vật, nuôi dưỡng thân mình” mà ta gây tạo không biết bao nhiêu ác nghiệp, trả hoài trả mãi vẫn chưa xong.

 

Ăn chay là một hành động cao cả, đáng được kính trọng tán dương, sẽ là ý nghĩa hơn nếu chúng ta hướng đến tình yêu thương rộng lớn và trọn vẹn. Ăn chay là một sự tự nguyện, hoặc do mình phát nguyện, có nhiều lý do để dẫn đến việc ăn chay, ăn chaynuôi dưỡng lòng từ bi, có người ăn chaylý do tôn giáo, ăn chaylý do bệnh tật, sức khỏe, thẩm mỹ, ăn chay theo truyền thống, ăn chay để bảo vệ môi sinh, sự hâm nóng toàn cầu, ăn chaysở thích. Phần nhiều người Á châu ăn chaylý do tôn giáo, còn người Âu Mỹ ăn chay theo sở thích. Họ quan niệm việc ăn chay rất đơn giản nhẹ nhàng, ăn chay là góp phần bảo vệ trái đất trước sự hâm nóng toàn cầu, tác hại môi sinh môi trường sống. Họ ăn chay không cần nhân danh một điều gì cả, không vì ích lợi cho cá nhân mà cho cả tất cả muôn loài. Theo những nhà ăn chay vì môi sinh thì một người ăn chay có thể cứu được khoảng 100 con vật mỗi năm, (trung bình một người tiêu thụ khoảng 200 pounds thịt một năm, tốn khoảng 4,000 USD) trong khi đó phải tốn khoảng 13 pounds (khoảng 6kg) ngũ cốc mới tạo ra được 1 pound thịt (nửa kg thịt). Có khoảng 70% ngũ cốc được sản xuất ra ở Mỹ là dùng để nuôi động vật lấy thịt. Nếu người dân Mỹ thay vì dùng số lượng ngũ cốc để nuôi động vật ăn thịt, thì có thể nuôi được 800 triệu dân, nếu bán số lượng ngũ cốc đó ra nước ngoài thì thâu về được khoảng 80 tỷ một năm. Tính chung trên thế giới, có khoảng 1/3 ngũ cốc là dùng nuôi động vật để lấy thịt. Đó là chúng ta chưa đề cập đến số lượng nước dùng để tưới thực phẩm hoa màu, và cho những con vật đó uống. Phân bón, cũng như chất thải từ những con vật nuôi ấy, ảnh hưởng gây tác hại cho môi trường, sự hâm nóng toàn cầu gây hậu quả rất lớn đến từ kỹ nghệ chăn nuôi, nhằm cung phụng cho con người mà ra. Hiện nay số lượng người Mỹ ăn chay có gần 25 triệu người, chiếm khoảng 8% dân số.

 

Chỉ vì sự khoái khẩu lòng ham muốn món ngon vật lạ, cung phụng cho tấm thân tứ đại mà sinh mạng của những con vật phải bị giết hại, “Giết hại chúng sanh vì ba tấc lưỡi”. Chúng ta đâu có biết là khi những sinh vật bị giết, sự đau đớn oán hờn la hét co giật của chúng kết nối vào cơ thể vào từng tế bào thớ thịt, nên khi chúng ta ăn vào đều bị ảnh hưởng, hơn nửa trong cơ thể của chúng đều có những mầm mống bệnh hoạn tiềm ẩn. Một người ăn chay thì cơ thể và tâm của họ thường nhẹ nhàng, sống thọ và ít bệnh tật hơn.

 

Để cho lạ miệng và tăng thêm phần kích thích vị giác, nhằm thỏa mãn lòng tham tánh hiếu sát, tự hào thưởng thức món ngon vật lạ trên đời. Họ còn nghiên cứu tìm tòi ăn con gì để bổ cái gì, ăn uống thứ gì để sống lâu sống khỏe, từ những con sinh sản nơi thiên nhiên đến những con vật chăn nuôi, loài vật cho đến côn trùng, họ ăn bất cứ con gì cựa quậy nhúc nhích. Với quan niệm không bổ ngang cũng bổ dọc, không bổ chỗ này cũng bổ chổ khác. Họ ra tay tàn sát săn bắn và tiêu diệt những gì họ thích, nếu không có luật bảo vệ động vật hoang dã, thì mức độ tàn sát sẽ vô cùng khủng khiếp. Chúng ta đang ở vào thời kỳ báo động đỏ việc khan hiếm thực phẩm nước uống, mỗi ngày ở trên thế giới có hàng vạn trẻ em hàng ngàn con người chết vì thiếu ăn thiếu nước uống.

 

Trong việc ăn chay, nhiều khi ta ăn chay theo kiểu có thánh thần đứng một bên trông coi ghi việc sổ sách, hoặc hứa hẹn ăn chay để cầu xin một việc gì đó. Như vậy ăn chay trở thành miễn cưỡng bắt buộc chứ không còn là sự tự nguyện, tự mình làm khổ chính mình. Có khi ta lại khó tính và chú trọng quá nhiều đến cách ăn uống, hoặc khi ngửi thấy mùi mặn thấy đồ mặn ta lại bịt mũi lắc đầu nhăn nhó tỏ vẻ khó chịu, điều đó sẽ gây khó khăn phiền hà cho mình và người khác. Những món chay bán ở các tiệm thực phẩm nhà hàng, hầu hết đều đặt tên bằng những món mặn, từ cách chế biến cho đến hình dáng, từ hương vị đến mùi vị rất giống những món mặn như: cá chay, gà chay, thịt bò chay, thịt heo chay, bún bò giò heo chay... Không biết khi ta ăn những món giả mặn như thế, ta có so sánh liên tưởng tác ý móng tâm? Khi ta ăn bằng mắt, mũi, miệng hay trong tâm ý thì kết quả cũng giống như nhau. Thế nên muốn đoạn trừ ác tâm bất thiện chúng ta phải phát khởi tâm từ, học hạnh lắng nghe nỗi đau sự khổ của muôn loài, quán tưởng đến tiếng kêu la đau đớn của những chúng sanh bị giết hại. Đem lòng bi mẫn nguyện cầu cho những chúng sanh ấy sớm được siêu thoát, điều quan trọng phải thường xuyên nuôi dưỡng lòng từ bi trong ta luôn được lớn mạnh.

 

Có điều chúng ta cũng cần lưu ý, việc ăn chay thì là như vậy tương đối rõ ràng, còn việc uống nhiều khi chúng ta dễ bị nhầm lẫn hơn. Trong y dược Đông Y hay dược phẩm chức năng bồi bổ, có một số thuốc đến từ động vật như: cao hổ cốt, lộc nhung, mật gấu, rượu ngâm những con vật, rượu dùng để dẫn thuốc... còn có dầu cá, yến sào, vỏ nghêu sò...Để nuôi dưỡng lòng từ bi một cách trọn vẹn, những thứ dùng để trị bệnh, ngăn ngừa bệnh hay bồi dưỡng cho cơ thể có liên quan đến sinh mạng sự khổ đau của chúng sanh, chúng ta cũng cần phải cẩn trọng.

 

Thực phẩm chay ta thường ăn, vì để tiện lợi và ngon miệng ta đều mua dưới dạng chế biến sẵn do những công ty từ Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc sản xuất. Thông thường đồ ăn thức uống được chế biến sẵn, những nhà sản xuất đều phải bỏ những chất phụ gia những chất bảo quản vào trong đó, để cất giữ lâu ngày không bị hư mốc. Những thực phẩm đó đều có hóa chất dễ gây ung thư không tốt cho sức khỏe, chúng ta ăn vào sẽ tích lũy trong cơ thể bệnh tật phát sinh. Ta cần phải ăn uống một cách lành mạnh và đầy đủ chất dinh dưỡng, không nên ăn chỉ vì sự khoái khẩu lạ miệng.

 

Thật ra nếu ta chỉ đặt mục đích của việc ăn chay, như là tăng trưởng lòng từ bi, thương xót chúng sanh không nở giết hại, làm bạn với muôn loài, ăn chay để bớt đi nghiệp sát hại, ăn chayluật nhân quả. Tức là ta ăn chaychủ đíchmục tiêu, ta lo cho bản thân cho nghiệp quả, ta nghĩ đến lợi lạc cho riêng mình, ta lo sợ đủ thứ đủ việc vay trả trả vay nên ta ăn chay. Đây là điều chúng ta cũng cần suy nghĩ, thay vì ích lợi cho riêng mình, chúng ta vâng theo lời Phật dạy đem lòng từ bi hướng đến sự cao cả rộng khắp cho tất cả muôn loài chúng sinhTa hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài”. Có như thế thì việc ăn chay của ta mới mười phần viên mãn, đem lại lợi lạc thiết thực cho muôn loài.

 

Những vị ăn thực vậtlý do môi sinh là mong cho quả đất này giảm bớt đi sự hâm nóng toàn cầu, không muốn cho bầu khí quyển nóng thêm lên, gây khổ đau chết chóc cho muôn loài. Vì mục đích như vậy nên những vị ấy tự nguyện ăn thực vật, ăn đồ rau cải, và cũng không cần ai biết ai chứng ai khen, cũng chẳng cần cầu xin ân sủng từ đấng nào. Những vị đó không nghĩ đến bản thân, qua việc ăn như thế sẽ được trả công cái gì điều gì, họ cũng chẳng phải lo lắng để được lên cảnh giới nào hoặc bị trừng phạt xuống hỏa ngục. Ngoài việc họ chỉ là một phần tử nơi quả đất này, nên có trách nhiệm bảo vệ trái đất tốt hơn đẹp hơn an ổn hơn. Một sự tự nguyện cao cả và đầy ý nghĩa, một sự lựa chọn bình đẳnggiá trị, tất cả là vì muôn loài chúng sinh mà không mong cầu riêng cho bản thân. Đó cũng là cách thể hiện lòng từ bi yêu thương một cách cao đẹp và trọn vẹn.

 

Trong Kinh Trường Bộ, Đức Phật đề cập đến bốn loại thức ăn: Đoàn thực (thô hay tế) Xúc thực, Tư niệm thực, Thức thực. Thức ăn đầu thuộc về yếu tố vật chất, ba thức ăn còn lại thuộc về tinh thần. Thế nào là đoàn thực? Đó là thức ăn để nuôi sống cơ thể vật chất, chỉ ăn vừa đủ cần thiết để duy trì sự sống, ăn những gì thích hợp phù hợp nuôi dưỡng thân mạng mà thôi. Xúc thực là những giao tiếp, những tiếp xúc tương tác của chúng ta với mọi thứ chung quanh, vì những điều đó không nhiều thì ít sẽ tác động gây ảnh hưởng thấm nhuần đến chúng ta. Chỉ nên tiếp xúc với những gì cao quý thánh thiện đẹp đẽ. Môi trường sống cách sống của những hành giả luôn hướng đến sự tu tập giải thoát, sức mạnh an lạc của nội tâm năng lượng giác ngộ bao phủ lan tỏa, phần nào ảnh hưởng đến ta theo đó tự mình vận dụng mọi thắng duyên nội tại nỗ lực noi theo hành xử.

 

Điều cần nhất ta cố gắng chế ngự căn, trần, thức, những đi lại của tâm ý, đừng để cho nó dẫn dắt đẩy đưa ta rơi vào mê lộ, trôi nổi trong biển khổ. Ta cố gắng đoạn trừ những bất thiện xấu xa, huân tập những thiện lành cao quý, nâng cao phẩm hạnh tự thân, không để nhiễm ô bất thiện, không để phiền não khổ đau cứ mãi đeo bám. Tư niệm thực món ăn thiền định, quán chiếu tư duy đi vào suối nguồn vi diệu của tuệ giác, trí tuệ tăng trưởng đoạn tận vô minh não phiền. Thường xuyên nghĩ nhớ quán tưởng đến Đức Phật, nhân cách cao quý trí tuệ siêu việt sáng ngời của Ngài, thường sống trong chân lý nhiệm mầu cao cả của Đức Thế Tôn. Thức thực món ăn đến từ sự khéo hiểu biết nhận biết rõ ràng minh bạch những lời dạy bảo của Đức Phật, tinh cần nỗ lực tu tập nuôi dưỡng thân huệ mạng, giải phóng khổ đau về với an lạc thường hằng. “Nguyện ăn no, vị vô thượng đạo”, Pháp hỷ thực, thường sống trong sự hoan hỷ sung mãn an lạc trong chánh pháp của Đức Thế Tôn, thực hiện hành xử trọn vẹn những lời dạy bảo của Ngài. Thiền duyệt thực, món ăn của định tuệ tuyệt vời, tỉnh giác soi sáng đêm ngày, tự tại an nhiên trên mọi bến bờ.

 

Ăn uống trong sự chừng mực biết vừa biết đủ, không đàn áp cũng không o bế, chỉ cốt nuôi tấm thân tứ đại để tu tập, không cầu kỳ khó khăn, ngon dỡ hương vị chẳng ảnh hưởng, ăn trong chánh niệm tỉnh giác trong sự bố thí mà không đòi hỏi mong cầu. Những gì ta ăn uống đều đưa vào cơ thể tích tụ ở đó, hoặc nuôi dưỡng hoặc gây nguy hại, cơ thể của chúng ta chỉ cần tiếp nhận bao nhiêu chất dinh dưỡng là đủ, đừng vì lòng tham ham ăn ham uống khoái khẩu đã miệng, ta đưa vào đó quá nhiều những thứ dư thừa không cần thiết, tạo cơ hội cho bệnh tật phát sinh. Ta “Nguyện nhả hết, vị trần tanh hôi” từ bỏ nhiễm ô uế trược, những vướng bận mê mờ tăm tối, đoạn trừ phiền não tham sân si, phát khởi lòng từ tâm bi luôn lớn mạnh để có được đời sống an lạc đầy giá trịý nghĩa, lợi mình lợi người và muôn loài chúng sanh.

 

Nếu tất cả sinh mạng của chúng sanh đều có giá trị như nhau, thì không một ai có đủ thẩm quyền hoặc nhân danh điều gì, để ra tay tiêu diệt đàn áp khống chế một sinh mạng khác cho dù bé nhỏ như con kiến. Có sinh mạng nào trên quả đất này mà không bị bàn tay còn người giết hại tiêu diệt, có sự sống nào mà không bị con người tìm cách tước đoạt đe dọa? Hoặc có ý định giết muốn giết thích giết, thấy kẻ khác giết hại vui mừng tán đồng. Có phải tất cả chỉ vì lòng tham sân si, sự khoái khẩu cung phụng cho tấm thân hư huyễn, thỏa mãn bản năng bất thiện, dung dưỡng bản tính hiếu sát? Để có được sự an lành thanh thản đích thực, thì chỉ có tình thương yêu mới hóa giải thù hận niềm đau, lìa bỏ ác tâm không gây thương tổn đến bất cứ một ai chúng sanh nào.

 

Kinh Thương YêuNguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh. Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn. Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài”.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh dịch, langmai.org

 

Điều quan trọng và cần thiết nhất là ta phải phát khởi lòng từ bi yêu thượng rộng lớn, cùng hạnh nguyện cao cả hiến dâng phụng sự cho muôn loài. Chỉ có tâm nguyệnhạnh nguyện cao tột, mới đủ năng lực khai mở tuệ giác xua tan bóng đêm dày đặc vô minh tăm tối, đem đến cho ta một bình minh tươi đẹp trong ý nghĩa vượt thắng của giác ngộ, mang lại hạnh phúc an lạc đích thực cho chính mình, rãi từ tâm hướng nguyện đến tha nhân muôn loài.

 

Nếu chúng ta cứ mãi tiếp tục tàn phá môi sinh, hủy hoại môi trường sống của muôn loài, không một chút tiếc thương, chỉ biết hủy diệt mà không bảo vệ, thì sự sống của muôn loài trên trái đất ắt hẳn sẽ phải đi đến chỗ diệt vong. Chúng ta đang đứng trước thảm họa do chính chúng ta góp phần tạo nên, nguồn nước sạch bị ô nhiễm, dịch bệnh phát sinh, hâm nóng toàn cầu, băng tuyết tan chảy, nước biển dâng cao, vũ khí nguyên tử, hóa học vi trùng, hiệu ứng nhà kính, khí thải từ những nhà máy v.v... Sự thành công vượt bậc của công nghệ, khoa học đáng được ca tụng nhưng cũng kéo theo quá nhiều hệ lụy, trái đất đang ngày đêm oằn oại dưới bàn tay phá hoại thô bạo của con người, lợi ích cá nhân tập đoàn quốc gia đêm ngày ra sức tàn phá tiêu diệt, tha hồ dốc sức gom vào tích lũy của cải vật chất, mộng bá quyền, nước lớn chèn ép nước nhỏ. Phải chăng ngày hôm nay nhân loại đang nhận lấy những gì mình đã gây tạo? Những gì chúng ta gây nên cũng đến lúc thiên nhiên trả lại, chỉ là vấn đề thời gian chậm hay mau và như thế nào. Đàng nào thì chúng ta cũng phải nhận lấy hậu quả không loại trừ một ai, không còn cách nào để từ chối hay trốn chạy được, vì đó là luật nhân quả một định luật công bình và sòng phẳng.

 

Hành động, nói năng và suy nghĩ từ nơi thân, khẩu, ý tạo ra muôn ngàn ác nghiệp, tất cả đều do vô minh tham sân si, thiếu hiểu biết, không làm chủ chính mình, không kiểm soát được mọi khởi động của thân tâm ngôn hành. Những lời nói bộc trực thẳng thắn lại rơi vào cảnh “lời ngay thẳng dễ gây mất lòng”. Vậy thì phải làm sao nói sao sống sao cho vừa lòng nhau, cho phù hợp với chánh pháp? Phật dạy: “không tán thán, không khen chê, không phê bình, không chỉ trích”, chỉ nên nói lời từ ái tế nhị chánh ngữ, nói trong sự tỉnh giác, thường sống trong suối nguồn vi diệu của tâm lành ban trãi. Bậc cổ đức thường nhắc nhở chúng ta phải từ bỏ những nhân ác xấu, nuôi dưỡng lòng từ bi tăng trưởng thiện nghiệp, giảm thiểu sự nói năng “để cửa miệng đóng mốc” nhằm cảnh tỉnh răn dạy chúng ta những hậu quả tác hại do miệng lưỡi gây ra. Thiền sư Chân Nguyên trong bài thi kệ có câu: “nói ra là bị kẹt, nhưng không nói cũng chẳng xong” thế nên chúng ta cần phảinói năng như chánh pháp, im lặng như chánh pháp” làm thinh như bậc thánh, chỉ nên nói những gì cần nói đúng thời đúng lúc đúng đối tượng, cần phải tu tập gìn giữ thân, khẩu, ý cho được trong sáng, nâng cao phẩm hạnh cao quý, nhiều khi chỉ một hành động mà ngàn lời cũng không sánh kịp. Chúng ta chỉ nói những lời Phật dạy, những lời phù hợp với chân lý, những lời từ bi lan tỏa yêu thương, miệng thường xuyên niệm Phật, thực hành theo hạnh nguyện cao cả của chư Phật, quán tưởng nghĩ nhớ đến công hạnh hóa độ của chư Phật Bồ Tát. Chỉ có hành giả hết lòng nỗ lực tu tập sẽ không nói lời khen chê, làm chủ được thân khẩu ý, bình thản an nhiên trước mọi biến động, thường sống trong sự tỉnh thức có được an lạc giải thoát ngay trong hiện tại.

 

Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật chỉ nói trong những trường hợp như sau: “Cũng vậy, này Vương tử, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói những lời ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, thời Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai ở đây biết thời giải thích lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân. không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa thích, Như Lai không nói lời nói ấy. Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy. Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết thời giải thích lời nói ấy. Vì sao vậy? Này vương tử, Như Lai có lòng thương tưởng đối với các loài hữu tình.”

Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch

 

Ở vào thời kỳ lên ngôi của ngôn ngữ chữ nghĩa biện luận lý giải, ta dễ bị dẫn dắt vào mê lộ của tâm thức, lầm lạc trong sự nhảy múa của chữ nghĩa tư tưởng. Ta cần phải tỉnh thức tư duy mở tung năng lực nhiệm mầu của tuệ giác, tìm hiểu gạn lọc kỹ càng nhận diện rõ ràng bản chất của từng vấn đề. Tìm đến với những gì phù hợp với chánh pháp với chân lý như thật, đưa ta tiếp cận với giác ngộ trong sự rộng mở an lạc của nội tâm. Nhưng trên hết ta phải tự mình thẩm định và trải nghiệm, tìm thấy được những giá trị cao đẹp từ nơi thân tâm ngôn hành. Nếu không như vậy ta chỉ lập lại và làm thế cái việc của kẻ khác, dù đó là điều ta chẳng mong muốn, và quan trọng hơn nữa đừng biến mình phải khổ đau sống chết, theo từng ngôn ngữ tung hô tâng bốc gọi mời của kẻ khác, sống dựa trên tiêu chuẩn của người khác áp đặt. Đừng để cho những cảm xúc không thật trá hình lừa dối, những ngôn ngữ vui buồn hân hoan bất chợt do kẻ khác ban tặng miễn phí. Chạy theo tâm lý thường tình, dẫn dắt lôi kéo của ý thức nhiễm ô sai khiến, biểu hiện của những thành tựu hãnh diện tự mãn tự cao. Đêm ngày chạy theo sở học kinh viện giáo điều tư tưởng không phù hợp với đạo lý như thật, quay cuồng trong sự luân phiên xúi dục kiềm toả của vô minh tham sân si. Đến khi nào chúng ta mới thật sự từ bỏ những xấu ác do thân khẩu ý mang lại, chấm dứt sự lôi kéo đưa đẩy tác hại của căn trần, thức? Đừng để cho câu “càng nói càng sai” vận vào người lấy mình làm điểm hẹn, ác tâm lên ngôi nắm giữ đánh mất nhân phẩm giá trị đạo đức, phiền não đau khổ đêm ngày gặm nhấm.

 

Điều quan trọng nhất chúng ta cần phải liên tục nâng cao tâm thiện lành cao quý trong mọi ngôn hành tư duy tác tạo, thường sống với tỉnh thức giác ngộ, thì mới có được sự bình an hạnh phúc đích thực trong cõi nhân sinh. Một lòng hướng đến sự giải thoát, nỗ lực tinh cần tu tập thực tu thực chứng, quyết  chí rời xa ác tâm khổ đau bất an phiền muộn. Tất cả, tùy thuộc vào những khơi mở đúng mức ở trong ta, có hết lòng buông bỏ xả ly, lìa xa thói hư tật xấu, bỏ xuống những nhọc nhằn phiền muộn lo toan? Rốt cuộc, ta bỏ xuống hay nâng lên, ôm vào hay đẩy ra, để cho ác tâm bất thiện tung hoành ngang dọc, hay buông xả để được thong dong tự tại? Quyết định như thế nào, thẩm quyền thay đổi và chuyển hóa đó, đều do chính ta chứ không một ai khác làm được, vì ta chủ nhân của mọi tác tạo hành xử tự mình nhận lãnh và chịu trách nhiệm chứ không một ai khác. Nếu ta không chịu hành động, không làm hoặc không muốn làm, hoặc chỉ làm nửa vời không có sự nhẫn nại, lần lựa hẹn mãi khất mãi, thì sẽ chẳng có một ai gánh chịu dùm ta thế ta, một khi vô thường bệnh tật viếng thăm.

 

Khi nào tâm thức chưa được chuyển hóa, chưa buông bỏ xả ly, còn lẩn quẩn nơi cảm xúc hỉ nộ ái ố, còn để cho tam độc dẫn đưa lôi kéo, còn mải mê rong ruổi hướng vọng tìm cầu, còn tranh giành thị phi nói năng phê phán hơn thua, còn để cho thân khẩu ý đưa đường dẫn lối, vẫn để cho định kiến chủ quan lầm lẫn tai hại nắm giữ chấp chặt, thì còn phải phiền lụy trôi nỗi khổ đau dài dài đau khổ mãi mãi. Những trạng thái tâm cảnh đó, vốn tùy tiện tùy hứng đến đi, nhưng lại thường xuyên phát tiết đưa đến nguy hại bất an, ta cần phải phòng bị ngăn ngừa, nhận diện điểm danh, chuyển hóa gạn lọc. Loại trừ bất thiện nhiễm ô, tích chứa thiện lành cao quý, loại bỏ những xấu xa tác hại, lìa xa nhân quả ác nghiệp, từ bỏ những bất thiện từ nơi miệng lưỡi, đừng gây khổ đau thương tổn cho một ai, trải lòng từ bi hướng nguyện đến muôn loài. Ba nghiệp của thân khẩu ý còn là tác nhân và là mầm mống của phiền não khổ đau, đó chính là nguồn cơn mấu chốt của mọi nguyên nhân, đầu mối của mọi vấn đề. Tất cả đều có sự tương quan mật thiết kết hợp với sáu căn, trần, thức phát sinh khởi động, dẫn đầu vẫn là thức một tác nhân khó nhận diện khó dò tìm, nhưng khả năng sai khiến gây rối điều khiển thì lớn lao vô cùng. Nhưng dù là vậy cũng không thể cứ mọi chuyện mọi việc xảy ra là ta lôi tên thức ra để đổ thừa gánh tội, và càng không có nghĩa cứ để cho thức phải chịu trận chịu mọi hàm oan không một cơ hội biện hộ. Nếu chuyển hóa đúng mức, vực dậy sự linh hiện trong từng tâm thức, thức sẽ trở thành tỉnh thức giác ngộ.

 

Trong Kinh A Hàm, Đức Phật dạy: “Khi nào có sự tiếp xúc của 6 căn 6 trần 6 thức, thời có xúc, có thọ, có tưởng, có suy tư có hý luận, vọng tưởng hiện khởi, khi nào không có sự thi thiết của 6 căn, 6 trần 6 thức, thời không có sự thi thiết của xúc, thọ, tưởng, suy tư của sự hiện thành hý luận vọng tưởngHòa Thượng Thích Minh Châu dịch.

 

Chỉ khi nào chấm dứt sự tiếp xúc giao thoa trôi nổi vọng khởi của căn trần thức đừng để phát sinh đắm nhiễm, từ bỏ vọng tưởng khởi động, lìa xa ác nghiệp dẫn đưa, khiến chúng ta chìm mãi chìm sâu trong sông mê biển khổ. Chỉ khi nào chận đứng được mọi tác động lôi kéo nối kết, không tạo cơ hội tương thích để nó tìm cách gây hại, thì mới chấm dứt được nguồn cơn bất an đau khổ. Nếu chúng ta để nguyên vị và làm đúng chức năng của các căn, không có sự nhảy vào gây rối của thức, loại trừ những tập quán nhiễm ô bất tịnh lầm lạc mê mờ, đừng tạo dịp cho những quán tính tập khí bất thiện trổi dậy, thì sẽ không có những tác hại não phiền khổ đau đeo bám.

 

Điều đó phải được đánh đổi bằng sự nỗ lực tu tập tỉnh giác tinh cần, vực dậy chân tánh thường hằng, xóa bỏ mọi điên đảo mộng tưởng, chuyển hóa xúc, thọ, tưởng thành một năng lượng nhiệm mầu tương tác. Khi nào trong ta có được sự bình an lắng đọng thuần khiết, từ tâm đến cảnh từ suy tư đến hành hoạt nói năng tỏ bày. Đâu đó tự tại an nhiên giữa vô thường biến động vây quanh, một sự an tịnh cao tột nhất như, bằng tất cả tâm lực hùng lực vượt thoát ra ngoài nổi trôi hệ lụy.

 

Cho cùng, âm thanh ngôn ngữ đều vô thường, miệng vừa mở lời đã cao bay xa chạy, nhưng khẩu nghiệp mãi còn đọng lại, đừng tạo ác nghiệp đừng gây nhân xấu. Chỉ có tình thương yêu cao cả mới chiến thắng được hận thù và tâm ác. Chỉ có lòng từ vị tha không biên giới mới giải quyết trọn vẹn niềm đau nỗi khổ. Chỉ có thân khẩu ý thiện lành bi mẫn, mới đưa ta đến bến bờ của hạnh phúcan lạc thật sự.

 

Mong rằng tâm của ta không bị biến nhiễm! Mong rằng ta sẽ không nói những lời ác ngữ! Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, không ôm lòng sân hận”.

Tạo bài viết
Hôm thứ Năm, ngày 29 tháng 7 vừa qua, nhà cầm quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc phản ứng giận dữ bởi cuộc gặp gỡ giữa Ngoại trưởng Hoa Kỳ thứ 71 Tony Blinken và diện cấp cao của nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng được tôn kính trên toàn cầu Đức Đạt Lai Lạt Ma ở New Dlhi, nói rằng hành động này vi phạm cam kết của Washington thừa nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc, và không ủng hộ nền độc lập của Tây Tạng.
Mùa Vu Lan là mùa cứu độ. Cứu độ vạn linh trong chốn u đồ. Cứu độ chính mình làm sao vượt thoát tâm lý đầy hãi hùng, khiếp sợ, kinh hoàng trước đại dịch đang tràn ngập hiện nay. Định lực là sức mạnh cần thiết. Quán chiếu tử sinh giúp ta bớt kinh hãi. Chuẩn bị rũ bỏ kiếp người giúp ta bớt mưu toan. Phải đối diện với sự sống và chúng ta cần sống được chút bình an giữa vạn điều bất an. Giáo hội kêu gọi chư Tăng Ni tinh tấn tu tập để nhờ năng lực này cứu giúp phần nào kiếp nạn của con người hôm nay. Nguyện xin Tam Bảo soi đường cho chúng con.