Khảo sát các bài kệ truyền thừa pháp danh của Phật giáo đàng trong, liên hệ với cách đặt tên trong hoàng tộc nhà Nguyễn

28/05/20213:32 CH(Xem: 252)
Khảo sát các bài kệ truyền thừa pháp danh của Phật giáo đàng trong, liên hệ với cách đặt tên trong hoàng tộc nhà Nguyễn

KHẢO SÁT CÁC BÀI KỆ
TRUYỀN THỪA PHÁP DANH CỦA PHẬT GIÁO ĐÀNG TRONG,

LIÊN HỆ VỚI CÁCH ĐẶT TÊN TRONG HOÀNG TỘC NHÀ NGUYỄN
Phạm Đức Thành Dũng*         

 

Triều Nguyễn đã để lại một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng đồ sộ mà nhiều nghiên cứu gần đây đánh giá là có thể bằng tổng của các triều đại trước đó cộng lại, trong đó có một mảng văn hóa rất riêng chưa hề trùng lắp với bất cứ một triều đại nào ở Việt Nam hay các nước đồng văn khác, đó là một hệ thống đặt tên trong Hoàng tộc hết sức độc đáo mà đã nhiều nghiên cứu đề cập đến, song nhiều người vẫn còn mơ hồ vì sự đa dạng cũng như sự quy định quá rạch ròi theo một khuôn phép rất chặt chẽ đến từng chi tiết cho các hệ các phòng… Tiền hệ tức tính từ chúa Nguyễn Hoàng cho đến chúa Nguyễn Phúc Thuần gồm chín đời chúa có cách đặt tên khác; Chánh hệ là con cháu của vua Gia Long trở về sau lại chia ra Đế hệ dùng chỉ con cháu của vua Minh Mạng và Phiên hệ để chỉ con cháu của những hoàng thânanh em ruột của vua Minh Mạng, lại có những cách đặt tên riêng biệt. Bên phái nữ lại khác nữa, có những cách gọi tên hết sức riêng chưa hề có ở bất cứ thời đại nào trong lịch sửđến nay nhiều người vẫn chưa hiểu thấu đáo. Rồi số người thuộc Hoàng tộc nhưng đang ở quý hương, quý huyện (Tống Sơn - Thanh Hóa. Đang bàn trong bối cảnh thời vua Minh Mạng) lại đặt tên theo cách riêng nữa. Bên cạnh đó, khi truy tôn Hoàng đế cho ông Nguyễn Kim, ông Nguyễn Phúc Luân và 9 đời chúa Nguyễn, triều Nguyễn còn dâng lên các Miếu hiệu, Thụy hiệu rất đặc hữu; rồi lại có cả những quy định sẵn về tên gọi cho các vì vua được lên ngôi (Đế danh) chép rõ ràng trong kim sách; thậm chí khắc sẵn trên Cửu đỉnh những mỹ tự quy định Thụy hiệu cho các vua đời sau… Chúng tôi có khảo cứu một số triều đại trước Nguyễn, cả Việt Nam và Trung Hoa, song chưa hề thấy triều đại nào có những cách đặt nhân danh quá rạch ròi hệ thống và quá độc đáo sáng tạo như của triều Nguyễn, đặc biệt là vào thời vua Minh Mạng. Chỉ khi khảo cứu cách đặt pháp danh trong các dòng thiền của Phật giáo ở Đàng Trong, chúng tôi mới thấy có một số nét tương đồng, nên đem ra đối sánh hòng có thể có đôi chút gợi ý cho một mạch văn hóa liên tục nào đó trong lãnh vực quá độc đáo này.

I. Khái quát về cách đặt pháp danh ở các dòng thiền của Phật giáo Đàng Trong

Trong quá trình tìm tòi tư liệu về chùa Quốc Ân và các tổ sư sáng lập các thiền phái của Phật giáo Nam Hà, cụ thể là dòng thiền Lâm Tế, chúng tôi thấy có một số vấn đề tồn nghi ở các nghiên cứu trước đây, hoặc có nhận định nhưng chưa thống nhất lắm, hoặc không rõ lắm, nên cũng mạo muội bàn thêm một số ý kiến nhằm lý giải cho rạch ròi, và cũng đưa luôn vào chuyên khảo này nhằm bắt đầu từ đó để mở rộng đến phương pháp đặt pháp danh pháp tự trong Phật giáo Nam Hà, rồi liên hệ đến cách đặt tên trong Hoàng tộc nhà Nguyễn.

1. Từ danh xưng của các Tổ sư - Dẫn luận từ Tổ sư Nguyên Thiều

Các Tổ sư ở các dòng thiền Phật giáo trong thời đại đang khảo xét có quá nhiều danh xưng trong những tư liệu đáng tin cậy nhất, khiến người đời sau rất hoang mang, và cho đến nay vẫn tồn nghi trong các chuyên luận. Xin dẫn luận từ danh xưng của Tổ Nguyên Thiều (1648-1728). Tổ được ghi lại bằng rất nhiều danh xưng:

- Tại tháp mộ ở Huế được ghi: Sắc tứ Quốc Ân đường thượng Lâm Tế húy Nguyên Thiều Thọ Tôn thụy Hạnh Đoan lão hòa thượng chi tháp.

- Tại long vị thờ ở chùa Quốc Ân được ghi: Sắc tứ Quốc Ân đường thượng Lâm Tế chánh tông tam thập tam thế húy Nguyên Thiều thượng Thọ hạ Tôn lão hòa thượng.

- Tại chùa Viên Thông ở phía nam núi Ngự Bình còn lưu giữ một bản khắc Chánh pháp nhãn tạng của ngài Chơn Kim-Pháp Lâm khoảng năm 1889, lại ghi: Đệ tam thập tam thế húy Siêu Bạch thượng Hoán hạ Bích hiệu Thọ Tôn hòa thượng.

- Tại ngôi cổ tự Giác Lâm ở Thành phố Hồ Chí Minh, có thờ long vị của Tổ, lại ghi: Sắc tứ Quốc Ân đường thượng Lâm Tế chánh tông tam thập tam thế, thượng Hoán hạ Bích húy Siêu Bạch lão tổ hòa thượng.

- Tại ngôi tháp vọng chùa Kim Cang ở Đồng Nai, lại đề: Quốc Ân Kim Cang đường thượng tam thập tam thế húy Siêu Bạch Hoán Bích hòa thượng tổ sư chi tháp.

Những danh xưng nêu trên đều ở trên tháp mộ và đồ tự khí nên hoàn toàn đáng tin cậy. Ngoài ra trong BAVH, tác giả Cadière lại ghi ngài họ Tạ, tên thời niên thiếu là Hoán Bích; hoặc một số tư liệu xưa gọi tên sư là Tạ Nguyên Thiều, tự Hoán Bích… những cách gọi này hoàn toàn không chuẩn với lễ pháp của Phật giáo nên không cần bàn thêm.

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi qua một số tư liệu, và nhờ vào kiến giải của các thầy ở Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán Huế, danh xưng của các vị sư thời trước được truyền thừa theo dòng kệ của các vị tổ khai sơn. Đặc biệt trong buổi giao thời khi các ngài mới xuất kệ, thì thường tồn tại nhiều pháp danh, pháp tự theo nhiều dòng kệ khác nhau.

2. Khảo về các bài kệ truyền thừa dòng Lâm Tế

Dòng thiền Lâm Tế vốn xuất phát từ dòng thiền từ ngài Ca Diếp, đến đời của Tổ sư Lâm Tế-Nghĩa Huyền thì bắt đầu xuất kệ riêng để truyền thừa pháp danh cho đệ tử của ngài trở xuống, nên Tổ được gọi là đời thứ nhất của dòng thiền Lâm Tế. Từ ngài Lâm Tế là đời thứ nhất, đến đời thứ 22, có ngài Vạn Phong-Thời Ủy đã xuất riêng một dòng kệ Ngũ ngôn để rạch ròi khi đặt pháp danh cho các đệ tử truyền thừa:

Tổ đạo giới định tông

祖導戒定宗

 

Phương quảng chứng viên thông

方廣證圓通

 

Hạnh siêu minh thiệt tế

行超明寔際

Liễu đạt ngộ chơn không

了達悟真空

Như nhật quang thường chiếu

如日光常照

Phổ châu lợi ích đồng

普周利益同

Tín hương sanh phước huệ

信香生福慧

Tương kế chấn từ phong

相繼振慈風

Theo dòng kệ này, sư Nguyên Thiều thuộc đời thứ 33 từ ngài Lâm Tế-Nghĩa Huyền, nên pháp danh vào hàng chữ Siêu (trong câu Hạnh siêu minh thiệt tế), đầy đủ là Siêu Bạch. Ứng với một pháp danh thì vị bổn sư luôn cho thêm một pháp tự đi kèm, và pháp tự tương ứng với Siêu Bạch của ngài thuộc dòng kệ này là Hoán Bích.

Thế nhưng, khi ngang đời thứ 31, có ngài pháp danh hàng chữ Thông (trong câu Phương quảng chứng viên thông), là Thái sư phụ chính truyền của ngài Siêu Bạch (Tổ Nguyên Thiều) lại xuất riêng một dòng kệ Thất ngôn khác để đặt pháp danh cho đệ tử chân truyền từ ngài trở về sau:

 

Đạo bổn nguyên thành Phật tổ tiên

導本原成佛祖先

Minh như hồng nhật lệ trung thiên

明如紅日麗中天

Linh nguyên quảng nhuận từ phong phổ

靈源廣潤慈風溥

Chiếu thế chơn đăng vạn cổ huyền

照世真燈萬古懸

 

 

 

 

 

 

Từ dòng kệ này, vị Tổ vốn pháp danh chữ Thông đã đổi thành pháp danh chữ Đạo như thứ tự, đó chính là ngài Đạo Mân-Mộc Trần, và ngài này thụ giới cho ngài Bổn Khao-Khoáng Viên là sư phụ của ngài Siêu Bạch, nên trong dòng kệ truyền thừa này ngài Siêu Bạch lại hàng chữ Nguyên (trong câu Đạo bổn nguyên thành phật tổ tiên), pháp danh Nguyên Thiều là do ngài Bổn Khao đặt từ đó vậy. Cùng với pháp danh Nguyên Thiều, ngài lại được đặt pháp tự tương ứngThọ Tôn, nên gọi theo dòng kệ của Thái sư phụ vừa xuất ra, ngài là Nguyên Thiều-Thọ Tôn. Do vậy, danh xưng của ngài xuất hiện thường đi cặp pháp danh-pháp tự theo mỗi dòng kệ, đôi khi thêm vào tên thụy được chúa Nguyễn Phúc Thụ ban tặng lúc mất là Hạnh Đoan để càng thêm trang trọng. Hãn hữu có trường hợp, người ta gọi bằng một pháp danh 2 pháp tự, hoặc pháp danh ở dòng kệ này với pháp tự ở dòng kệ kia, nhưng trường hợp này không nhiều. Riêng với các sử gia lại khác, thông thường giới thiệu một nhân vật bao giờ cũng có họ (tính), tên (danh), và tên chữ (tự), nên khi nhắc đến một vị tăng họ cũng gọi theo kiểu đó, sau họ (tính) dùng luôn pháp danh làm danh, và pháp tự làm tự. Như ngài Nguyên Thiều xuất hiện trong Đại Nam nhất thống chí là: “… Tạ Nguyên Thiều, tên chữ là Hoán Bích, người gốc Triều Châu…”. Gọi như vậy hoàn toàn không đúng với lễ pháp của Phật giáo và dẫn đến sự hoang mang và ngộ nhận của người đời sau. Ngay cả Linh mục Cadière cũng nhầm lẫn, tưởng rằng Nguyên Thiều là thế danh của ngài.

Việc xuất kệ có những nguyên tắc nào không thì chúng tôi chưa nắm được chắc chắn, chỉ biết rằng cũng không câu thúc bao nhiêu đời được xuất kệ riêng. Việc xuất riêng một dòng kệ cũng là một việc lớn trong đạo nên không phải đơn giản tùy tiện. Có thể khi trải qua quá nhiều đời rồi, chúng đệ tử quá đông dẫn đến lộn xộn trùng lắp pháp danh pháp tự…; cũng có thể do bất đồng chính kiến với đồng môn; cũng có thể do tu tập đạt được, chứng đắc được một thành tựu nào đó muốn truyền riêng pháp môn tu tập cho đệ tử chân truyền; đôi khi lại là vấn đề độc lập ý thức hệ, hoặc có thể do cả chính trị, khi mà triều đình nhúng tay quá sâu… Tuy trong dòng thiền Lâm Tế, ngài Đạo Mân-Mộc Trần đời thứ 31 đã tách riêng một nhánh bằng bài kệ đã dẫn ở trên, nhưng ngay đến đời 34, ngài Minh Hải-Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh lại đã xuất riêng một bài kệ Ngũ ngôn để đặt pháp danh cho đệ tử truyền thừa của mình, nay vẫn gọi là dòng kệ Chúc Thánh:

 

 

   Minh thiệt pháp toàn chương

  明寔法全章

   Ấn chơn như thị đồng

  印真如是同

   Chúc thánh thọ thiên cửu

  祝聖壽天久

   Kỳ quốc tộ địa trường

  祈國祚地長

   Đắc chánh luật vi tuyên

  得正律為宣

   Tổ đạo hạnh giải thông

  祖導行解通

   Giác hoa bồ đề thọ

  覺花菩提樹

   Sung mãn nhơn thiên trung

  充滿人天中

Rồi ngay đến đời thứ 35, sư Liễu Quán vốn pháp danh là Thiệt Diệu (trong câu Hạnh siêu minh thiệt tế) cũng đã xuất riêng một dòng kệ truyền thừa:

Thiệt tế đại đạo

實際大導

Tánh hải thanh trừng

性海清澄

Tâm nguyên quảng nhuận

心源廣潤

Đức bổn từ phong

德本慈風

Giới định phước huệ

戒定福慧

Thể dụng viên thông

體用圓通

Vĩnh siêu trí quả

永超智果

Mật khế thành công

密契成功

Truyền trì diệu lý

傳持妙里

Diễn sướng chánh tông

演暢正宗

Hạnh giải tương ứng

行解相應

Đạt ngộ chơn không

達悟真空

Để bàn luận về vấn đề vì sao các ngài xuất kệ hẳn phải tốn nhiều công sức khảo cứu, phạm vi bài viết chỉ bàn thêm cho rõ về mặt hình thức danh xưng của các vị danh tăng thời trước, nên chỉ minh họa thêm bằng bảng kê dưới đây, để người quan tâm tiện theo dõi và đối sánh với cách đặt tên trong Đế hệ và Phiên hệ ở triều Nguyễn:

 

Lâm Tế

đời thứ

Kệ ngài Vạn Phong-Thời Ủy xuất

Kệ ngài Đạo Mân-Mộc Trần xuất

Kệ ngài Minh Hải- Pháp Bảo xuất

Kệ ngài Liễu Quán xuất

22

Tổ

 

 

 

23

Đạo

 

 

 

24

Giới

 

 

 

25

Định

 

 

 

26

Tông

 

 

 

27

Phương

 

 

 

28

Quảng

 

 

 

29

Chứng

 

 

 

30

Viên

 

 

 

31

Thông

Đạo

 

 

32

Hạnh

Bổn

 

 

33

Siêu

Nguyên

 

 

34

Minh

Thành

Minh

 

35

Thiệt

Phật

Thiệt

Thiệt (Diệu)

36

Tế

Tổ

Pháp

Tế

37

Liễu

Tiên

Toàn

Đại

38

Đạt

Minh

Chương

Đạo

39

Ngộ

Như

Ấn

Tánh

40

Chơn

Hồng

Chơn

Hải

41

Không

Nhật

Như

Thanh

42

Như

Lệ

Thị

Trừng

43

Nhật

Trung

Đồng

Tâm

44

Quang

Thiên

Chúc

Nguyên

45

Thường

Linh

Thánh

Quảng

46

Chiếu

Nguyên

Thọ

Nhuận

47

Phổ

Quảng

Thiên

Đức

48

Châu

Nhuận

Cửu

Bổn

49

Lợi

Từ

Kỳ

Từ

50

Ích

Phong

Quốc

Phong

51

Đồng

Phổ

Tộ

Giới

52

Tín

Chiếu

Địa

Định

53

 

Từ trên bản kê ta thấy rõ các pháp danh tương ứng với mỗi đời, và có thể hiểu vì sao các ngài có nhiều cách gọi tên như vậy. Nếu theo lôgic hình thức thì các vị tăng dòng Chúc Thánh từ đời Lâm Tế thứ 34 trở đi, hoặc dòng Liễu Quán đời thứ 35 trở đi có thể có đến 3 pháp danh và 3 pháp tự (nếu tổ Liễu Quánđệ tử chân truyền của tổ Minh Hải-Pháp Bảo thì đệ tử dòng này vẫn có thể có đến 4 pháp danh và 4 pháp tự khác nhau)…

Chúng ta hiểu rằng, từ thời các chúa Nguyễn, Phật giáo Đàng Trong rất hưng thịnh, được tôn vinh hàng quốc giáo và là một lá chắn tâm linh trong công cuộc mở nước về phương Nam bằng hình thức cộng cư giữa dân tộc Việt và các dân tộc khác, đặc biệt là tộc người Chăm. Pháp danh trong Phật giáo không phải chỉ dành cho các đệ tử xuất gia mà cả đệ tử tục gia, do vậy với một số lượng đệ tử ngày càng nhiều làm sao phân biệt được thế thứ khi tiếp xúc với nhau? Cách đặt tên theo các dòng kệ giúp cho mọi người chỉ thông qua tên gọi là hiểu ngay vai vế hay thứ tự các đời, hoặc thân sơ…; nói cách khác, chỉ cần nghe tên có thể hiểu ngay đối tượng quan hệ như thế nào với mình, sư bá tổ, sư thúc tổ, sư bá, sư thúc, sư huynh hay sư đệ, hay sư điệt… Đôi khi một vị sư có thể từ dòng thiền này sang tu tập ở một dòng thiền khác, lại có thể có thêm pháp danh pháp tự; và cũng có thể, một vị sư ở dòng thiền này lại qua đắc pháp với một vị sư phụ ở dòng thiền khác mà không tuân thủ hoàn toàn thứ tự, tức không phải trên mình một đời, ví dụ sư đời thứ 32 lại đắc pháp với một vị sư phụ cũng đời thứ 32 hoặc đời thứ 30 ở một dòng thiền khác, thì vai vế trong dòng thiền bị tụt xuống hoặc nâng lên một bậc, và hẳn là có thêm pháp danhpháp tự không ngang hàng với mình. Tất nhiên đó là trường hợp hãn hữu, và cũng không nằm trong những vấn đề cần bàn ở đây. Đọc kỹ cách đặt pháp danh theo các dòng thiền đã dẫn ở trên, chúng ta sẽ thấy có nhiều điểm tương đồng với quy định đặt tên trong Hoàng tộc nhà Nguyễn, đặc biệt là trong Đế hệ và Phiên hệ thời vua Minh Mạng ban hành.

II. Cách đặt tên trong Hoàng tộc nhà Nguyễn

Từ việc tìm hiểu các dòng kệ truyền thừa của Phật giáo ở Đàng Trong, trong quá trình khảo sát cách đặt tên trong dòng tộc nhà Nguyễn, chúng tôi thấy có những điểm tương đồng. Bên cạnh những vận bộ chữ Hán bắt buộc trong tên của con cháu một số chi phái, hoặc ở các vị trí quan yếu của triều đình, như bộ Thủy () trong tên các chúa Nguyễn, bộ Nhật () trong tên của các công tử (sau khi chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương năm 1744 cho đến thời vua Gia Long), hoặc chữ Ngọc () trong tên đệm của các hoàng nữ, công chúa (như Ngọc Vạn, Ngọc Khanh, Ngọc Tú…); thì đến thời vua Minh Mạng, khi mà tông tộc của họ Nguyễn đã rộng khắp, việc khẳng định thế thứ là điều vô cùng quan trọng, đồng thời trong dòng tộc khi gặp nhau có thể khẳng định ngay vai vế của đối tượng so với mình là ông, bác, chú, anh, em, cháu, chắt như thế nào…, thông qua tên gọi, là một điều hết sức quan trọng. Đồng thời, từ tên gọi có thể nhận ra ngay, đối tượng đang xét thuộc hệ nào, phòng nào…, như trường hợp các dòng truyền thừa của Phật giáo vậy. Có thể nói, các vua chúa nhà Nguyễn, mà đặc biệt là vua Minh Mạng đã vận dụng phương pháp định pháp danh trong Phật giáo hết sức linh hoạtsáng tạo. Hơn thế, vị vua có tài kinh bang tế thế này, trong tư duy khoa học rất cụ thể, đã có những cách đặt tên rạch ròi đến từng hệ trong thời đại của mình, cũng như các đời trước đó, và kể cả các đời sau. Từ cách đặt pháp danh đã hiện hữu trong Phật giáo, vua Minh Mạng đã vận dụng và phát triển thêm một bước, quy định rạch ròi tên đệm của con cháu trực hệ của  mình (Đế hệ: đến 20 đời sau); đến từng hệ phái nhỏ của anh em mình (Phiên hệ: cũng đến 20 đời sau); rồi con cháu của các chú bác mình trong tộc đang ở Đàng Trong, rồi số đang còn ở quê gốc Gia Miêu-Ngoại Trang, Tống Sơn… Bên cạnh đó, tên của phái nữ trong tộc Nguyễn cũng được đặt theo những quy định hết sức độc đáo đa dạng; rồi kể cả tên của các vị vua sẽ lên ngôi trong tương lai (Đế danh) cũng được quy định sẵn cho 20 đời; cả Thụy hiệu, Miếu hiệu của các vị vua sau khi đã mất đi… Rồi cả cách dâng lên những Miếu hiệu, Thụy hiệu độc đáo cho các vị chúa Nguyễn đời trước… Có lẽ trong cả lịch sử Việt Namthế giới không có vị vua nào có quy định sẵn những phép đặt tên rạch ròi, đa dạng, với đến từng chi từng nhánh… độc đáo và trí tuệ như vị vua này!

1. Đặt tên cho con cháu trực hệ của vua Minh Mạng và của anh em ruột của nhà vua (Đế hệ và Phiên hệ)

Vua Gia Long có 13 người con, có 2 người mất sớm, nên vua Minh Mạng đặt tên chỉ cho Đế hệ của mình và 10 Phiên hệ là anh em ruột của mình. Nếu đọc kỹ phần kệ truyền thừa của Phật giáo, chúng ta có thể tưởng tượng như vua Minh Mạng và 10 người anh em của mình cùng lúc xuất 11 bài kệ truyền thừa (thay vì cho đệ tử thì ở đây là con ruột) để đặt tên cho đời sau (khác nữa là tất cả đều do một mình vua Minh Mạng quyết định). Tương tự như trong Phật giáo, chỉ nghe tên gọi (thực ra là tên đệm), người ta phải hiểu ngay là đời thứ mấy, và dòng nào trong 11 dòng kia.

Thực ra vấn đề này đã nhiều người nghiên cứu, chúng tôi chỉ nói thêm sự tương quan, và đặc biệttìm hiểu rõ thêm lịch sử hình thành các bài Đế hệ và Phiên hệ, cũng như tác giả, người kiểm tra, chỉnh sửa, hiệu đính… qua tài liệu Châu bản triều nguyễn. Trong những cuộc triển lãm Châu bản triều Nguyễn do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Cục Lưu trữ Quốc gia I phối hợp tại Hoàng Thành Huế, có tờ Châu bản giúp chúng tôi hiểu thêm về xuất xứ của cách đặt tên cho Đế hệ và Phiên hệ trong Hoàng tộc nhà Nguyễn. Xin giới thiệu ở đây:

Tờ Châu bản do đại thần Đinh Nguyễn Phiên trình vua Minh Mạng về 11 bài Đế hệ và Phiên hệ và Châu phê của vua Minh Mạng

 

Dịch nghĩa: Thần là Đông các Đại học sĩ Đinh Nguyễn Phiên xin cúi đầu rập đầu trăm lạy, kính cẩn tâu rằng:

Nay kính được Chỉ dụ:“Kiểm tra, suy nghĩ các chữ trong Ngọc phả. Khâm thử!”. Thần kính cẩn tuần tự làm 11 bài, mỗi bài 4 câu là 20 chữ, hợp lại là 220 chữ. Cung kính trình bày như sau, cúi đợi Thánh ý coi xét.

Bài 1

Miên hồng khai bửu tộ                 綿洪開寶祚

Bảo định ứng trình tường             保定應禎祥

Toàn tự di nhân viễn                    詒仁遠

Gia hy tích dận trường                 嘉禧錫胤長

 

Vua Minh mạng đã sửa bài thơ này lại thành:

 

Miên hồng ưng bửu vĩnh              綿洪應寶永

Bảo quý định long trường            保貴定隆長

Hiền năng kham kế thuật             賢能堪繼述

Thế thụy quốc gia xương             世瑞國嘉昌

(Lúc đầu câu cuối Châu cải(*) là: 嘉瑞國圖昌 - Gia thụy quốc đồ xương)

Bài 2

 

Tế mỹ duy phiên tráng                 濟美維藩壯

Liên huy vĩnh thế xương               聯輝永世昌

Lệnh nghi sùng tốn thuận            令儀崇巽順

Vĩ vọng biểu khiêm quang           偉望表謙光

Châu cải câu đầu là Mỹ lệ phiên cường tráng 美麗藩彊壯 và thêm hai chữ Anh Duệ 英睿 vào đầu câu.

Bài 3

Hữu đắc giai lương quý               有得皆良貴

Du hành suất nghĩa phương        攸行率義方

Dung di tương thức hảo               融怡相式好

Bỉnh diệu trác vi chương             炳耀棹為章

Châu cải câu đầu thành Lương khiêm giai hữu thức 良謙皆有識 và thêm 2 chữ Kiến An 建安 vào đầu câu

Bài 4

Nhã hoài ưng quyến ái                 雅懷膺眷愛

Kế thiện mậu thanh hoa               繼善茂清華

Nghiễm khác do chung đạt           儼恪由衷達

Trung hiên tập cát đa                  忠賢集吉多

Châu cải chữ Nhã thành Tĩnh ; cải Thiện thành Tác ; cải Trung hiền 忠賢 thành Liên trung 連忠 và thêm 2 chữ Định Viễn 定遠 vào đầu bài.

Bài 5

Hội thích phong hanh hợp           會適豐亨合

Thời phùng thái lãng nghi           時逢泰朗宜

Tuấn nguyên lưu hậu trạch          浚源留厚澤

Diễn khánh thiệu phương huy      衍慶紹芳徽

Châu cải Thời thành Nguyên ; cải câu thứ 3 là Hậu hòa lưu tú hảo 厚和留秀好; thêm 2 chữ Diên Khánh 延慶 vào đầu bài.

Bài 6

Lý tín hằng ân chính                    履信恒恩正

Tồn thành lợi khả trinh                存誠利可貞

Túc cung toàn phát nghị              肅恭全

Tôn hiển tập vinh danh                尊顯襲榮名

Châu cải Trinh thành Diên ; cải Vinh thành Hương 鄉; cải câu thứ nhất thành Lý tín cửu tư chính 履信久思正 và thêm 2 chữ Điện Bàn 奠磐 vào đầu bài.

Bài 7

Tác dụng thường tuần lý              作用常循理

Văn tri tại mẫn cầu                      聞知在敏求

Ngưng hòa tuân chí lạc                凝和洵至樂

Địch đạo cửu phu hưu                 迪道久孚休

Châu cải Tác thành Thiện ; cải câu thứ 3 thành Tài đường sinh chí lạc 才唐生至樂; thêm 2 chữ Thiệu Hóa 紹化 vào đầu bài.

Bài 8

Phụng lân trưng xiển thụy            鳳麟闡瑞

Kim ngọc trác tiêu kỳ                   金玉卓標奇

Điển học kỳ duy chí                     典學期惟志

Đôn di khắc tự trì                         敦彝克自持

Châu cải câu thứ nhất thành Phụng khải trưng trinh lộc 啟徵貞祿; cải Chí thành Ý ; thêm 2 chữ Quảng Oai 廣威 vào đầu bài.

Bài 9

Khải hữu tuân minh huấn            佑遵明訓

Lâm trang túy thạnh dung            臨莊粹盛容

Thận tu tư tiến đức                      慎修滋進德

Tăng ích mậu tân công                增益懋新功

Châu cải chữ Khải 啟 thành chữ Lân ; cải Minh thành Gia ; cải Tăng thành Cường ; thêm 2 chữ Thường Tín 常信 vào đầu bài.

Bài 10

Tĩnh ôn khâm ý phạm                  靖温欽懿範

An chỉ thuật hoằng quy                安止述弘規

Nguyên khải đằng tài dự              元愷騰才譽

Diên ninh hanh thọ kỳ                  延寧亨壽祺

Châu cải Tĩnh thành Nhã ; thêm chữ Quang(1) vào đầu bài; Châu mạt các chữ Thuật , Nguyên , Kỳ , nhưng không thấy cải lại thành chữ gì.

Bài 11

       

Dục tú dương quỳnh cẩm             毓秀揚瓊錦

Chiêu văn hoán bích khuê            昭文煥璧奎

Tuy tương thùy bá dực                 綏將垂叭翼

Du cửu thực di tề                         悠久實彌齊

Châu cải thêm chữ Ngang(2) vào đầu bài; Châu mạt các chữ , Chiêu , Hoán , Bích , Khuê , Tuy , Cửu , song không thấy cải thành chữ gì.

明命元年十一月二十玖日

Năm Minh Mạng thứ nhất, ngày 29 tháng 11.

Các bài Đế hệ thi và Phiên hệ thi về sau còn được chỉnh sửa rất nhiều. Chúng ta cũng có thể thấy trong bản Châu bản đã dẫn, bản thân vua Minh Mạng không vừa ý nhiều chữ (Châu mạt), song cũng chưa thể đưa ra chữ khác để thay thế. Cũng dễ hiểu, với một công việc quá khó như vậy, nhất thời làm sao hoàn tất ngay để lưu truyền cho hậu thế. Từ các bài trên, sau khi vua Minh Mạng sửa chữa, cho đến bản chính thức đang sử dụng trong các hệ của Hoàng tộc nhà Nguyễn, trừ bài Đế hệ thi, còn lại thật sai khác quá nhiều. Dù đến năm Minh Mạng thứ 4 (1823) toàn văn các bài đã được san khắc đưa vào kim quỹ, song các đời sau vẫn tiếp tục điều chỉnh sửa chữa, vì cứ mỗi đời vua kế nghiệp lại kiêng kỵ bao nhiêu chữ húy… Qua tư liệu Châu bản trên, chúng ta cũng có thể thấy được, Đinh Nguyễn Phiên tuy là bậc đại thần danh chấn văn đàn,(3) song chỉ nhận được lệnh “kiểm” và “nghĩ” các chữ trong Ngọc phả, nên tuy vị trọng thần có viết là kính cẩn tuần tự làm 11 bài 220 chữ, song chúng ta vẫn có thể hiểu trước đó hẳn đã có nhiều người đổ nhiều công sức để làm rồi; và vua Minh Mạng tuy có gia công chỉnh sửa một số song vẫn chưa đi đến kết quả cuối cùng. Sau này, để soạn sách Nguyễn Phúc Tộc thế phả, các học giả trong Hoàng tộc nhà Nguyễn đã dùng cuốn tư liệu Thiên gia bửu sách tư biên được biên soạn cuối thời Đồng Khánh khi vua Thành Thái mới kế nghiệp, song đó cũng chưa phải là văn bản cuối cùng được thực hiện, vì sau này còn phát hiện thêm văn bản Miếu húy tôn tự bản chép tay được soạn dưới thời Đồng Khánh… Nhìn chung, từ lúc đại thần Đinh Nguyễn Phiên trình các bài thơ cho vua Minh Mạng cho đến các văn bản thực tế hiện nay Hoàng tộc nhà Nguyễn đang sử dụng để đặt tên cho con cháu mình đã trải qua một quá trình chỉnh sửa quá nhiều, có những bài gần như thay đổi hoàn toàn. Để nghiên cứu vấn đề này, chắc hẳn còn nhiều điều thú vị, chúng tôi chỉ giới thiệu thêm ở đây, vì không nằm trong phạm vi khảo sát.

Qua tư liệu Châu bản và những điều đã trình bày, chúng ta có thể thấy, cách đặt tên của vua Minh Mạng qua 11 bài thơ có tác dụng rất giống với cách đặt pháp danh trong Phật giáo Đàng Trong qua các bài kệ của các vị Tổ sư; để đời sau chỉ nghe tên là có thể nhận biết ngay thế thứ, vai vế… Song cũng có một số khác biệt:

- Tất cả các bài thơ quy định tất cả tên gọi của cả 11 “dòng kệ” chỉ do một mình vua Minh Mạng quyết định (không phải chỉ xuất riêng cho mình mà cho cả 10 huynh đệ của mình nữa).

- Chữ đầu tiên của bài “kệ” là quy định tiếng tên đệm cho đời kế tiếp chứ không phải chính bản thân người xuất kệ (cũng như 10 huynh đệ của mình) như ở các dòng truyền thừa Phật giáo.

- 11 bài “kệ” trên đời sau phải nhất nhất tuân hành, dù mỗi bài quy định “pháp danh” đến 20 đời song không ai được phép “xuất kệ” mới. Do vậy, dù đến đời nào thì mỗi người chỉ có thể có một “pháp danh” chứ không thể nhiều “pháp danh” như trong Phật giáo. Tất nhiên càng không thể có chuyện xin đắc pháp ở một vị “sư phụ” dòng thiền khác, mà không tuân thủ thứ tự thế thứ. Chỉ có một việc gần giống, là một vị ở dòng này có thể đi sang dòng khác (có tên họ mới) để thừa tự cho những phòng hiếm muộn (kế thừa hương hỏa), nhưng luôn luôn đồng hàng ở dòng gốc.

2. Quy định sẵn Đế danh cho các vị vua đời sau

Thời vua Minh Mạng đã quy định hẳn hoi Đế danh cho 20 đời Hoàng đế tính từ vị vua kế ngôi của mình. Đó là 20 mỹ tự thuộc bộ nhật () khắc sẵn trong kim sách mang những ý nghĩa hết sức cao đẹp và hầu như đều hàm nghĩa mang lại ánh sáng cho muôn dân. Chính những chữ thành Đế danh này sẽ trở thành chữ trọng húy mà người đời sau phải kiêng kỵ. 20 mỹ tự này khác với những bài Đế hệ và Phiên hệ ở chỗ chúng đứng rời rạc, chỉ có ý nghĩa hay cho từng chữ, chứ không lắp lại thành một bài thơ chuẩn mực về niêm luật và ngữ nghĩa:

Tuyền Thì Thăng Hạo Minh                   時昇昊明

Biện Chiêu Hoảng Tuấn Điển                昪昭晃晙晪

Trí Tuyên Giáng Huyên Lịch                  智暄

Chất Chiết Yến Hy Duyên                      晊晢(4)

Liên hệ với các dòng thiền, có thể xem đây như một bài kệ chỉ dành riêng cho các vị Tổ sư được chân truyền y bát. Tất nhiên cũng hơi khiên cưỡng vì chưa hề thấy loại hình này, và nếu tương đương thể thức của nhà vua thì các vị tổ sư khi chân truyền y bát mới đổi pháp danh theo đúng bài kệ, điều này chỉ là liên hệ kiểu logic hình thức mà thôi.

3. Đặt sẵn Thụy hiệu cho các vua đời sau

Mỗi gian trong 9 gian giữa ở Thế Tổ Miếu ứng với mỗi chiếc đỉnh trong bộ Cửu đỉnh đứng ở phía trước có khắc sẵn mỹ tự quan yếu nhất trong Thụy hiệu của các vị vua theo thứ tự được thờ trong Thế Tổ Miếu. Từ chữ Cao () vốn là Thụy hiệu của vua Gia Long, vua Minh Mạng đặt tiếp chữ Nhân () sẽ là Thụy hiệu của mình, rồi tiếp là chữ Chương (), chữ Anh (), chữ  Nghị (), chữ Thuần (), chữ Tuyên (), chữ Dụ (), chữ Huyền () sẽ là Thụy hiệu cho các vị vua kế tiếp. Tất nhiên, không phải nhà Nguyễn chỉ mưu cầu chừng đó vị Hoàng đế, vì rằng nếu các vị Hoàng đế đời sau nữa (sau khi đã đầy đủ tên trong Cửu đỉnh) qua đời, hẳn là phải xây thêm miếu thờ cho họ. Điều này cũng dễ suy luận, vì bản thân Thế Tổ Miếu vốn có nghĩa là “miếu thờ Thế Tổ (tức vua Gia Long)”… Cách thờ cúng theo kiểu đang hiện hữu cũng đã là một cách quyền biến của vua Minh Mạng, vì diện tích Hoàng Thành, vì tài chánh, rồi vì cả sự đăng đối với Thái Miếu thờ  9 vị chúa Nguyễn… Nên chúng ta có thể suy luận: nếu số Hoàng đế băng hà lớn hơn 9 thì chắc hẳn triều đình sẽ xây thêm miếu thờ. Trong trường hợp này, chúng tôi chỉ nêu lên cách gọi tên những vì vua sau khi mất mà vua Minh Mạng cũng đã tính đến xem như về mặt đại thể cũng có nét tương đồng với tư duy hoạch định pháp danh theo những bài kệ truyền thừa, song nhà vua hoạch định quá khoa học và quá chi tiết.

Qua những điều vừa nêu, cũng thấy được tư duy hoạch định hết sức khoa học của vua Minh Mạng về mọi lãnh vực, vì đến như những tên gọi cho từng hệ, từng phòng… nhà vua cũng lưu tâm đến từng chi tiết. Tiền hệ (con cháu các chúa từ chúa Nguyễn Hoàng đến chúa Nguyễn Phúc Thuần) đã theo các chúa vào Đàng Trong thì lại đổi sang họ Tông (Tôn) Thất, nếu còn ở lại Tống Sơn-Thanh Hóa lại đổi sang Nguyễn Hựu…; Chánh hệ (con cháu của vua Gia Long trở về sau) thì lại phân ra Đế hệ và Phiên hệ để đặt tên độc đáo như đã trình bày; rồi cách đặt tên cho phái nữ cũng là một nét đặc thù không thể tìm thấy ở đâu, hay ở bất cứ triều đại nào, tạo nên một sự sang trọng, riêng có, và đặc biệt cũng thể hiện được đương sự là cháu mấy đời của vua, chỉ cần hỏi thêm dòng vua nào thì sẽ biết ngay thế thứ trong họ tộc;(5) rồi cách đặt trước Đế danh cho mỗi vị vua đời sau; đến cả Thụy hiệu để thờ tại miếu cũng được hoạch định trước cả vài trăm năm…; rồi dâng Miếu hiệu, Thụy hiệu cho các đời chúa khi truy tôn họ là Hoàng đế… Tất cả tuy chỉ là hình thức song qua đó cũng thấy được tư duy độc đáo và tính cách cầu toàncẩn trọng chu đáo của một vị vua tài năng kinh bang tế thế, một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà hoạch định sách lược đáng để người đời sau tôn vinh.

*

*          *

Trong thời gian dài tiếp xúc với nhiều thành viên trong Hoàng tộc nhà Nguyễn, chúng tôi đã để tâm về những cách đặt tên quá đặc biệt từ thời vua Minh Mạng. Khi khảo sát về pháp danh trong Phật giáo lại thấy một nét tương đồng, trên phương diện hoàn toàn chủ quan, đôi phần võ đoán, bài viết này mong mỏi liên kết được một mạch nối về các cách định danh từ pháp danh trong Phật giáo đến các cách đặt tên trong Hoàng tộc của vua Minh Mạng mà chưa có triều đại nào trong lịch sử có được, để nêu lên một dòng chảy văn hóa hết sức đặc biệt trong giai đoạn, và trong một triều đại vừa kết thúc cách chúng ta chưa lâu. Bên cạnh đó, phụ thêm việc giải quyết một số nghi vấn khác, như pháp danh của Tổ sư Nguyên Thiềuđến nay nhiều chuyên luận còn bỏ ngỏ; hệ thống pháp danh trong các bài kệ truyền thừa thuộc dòng Lâm Tế của Phật giáo Nam Hà từ xưa đến nay mà trước đây bản thân và nhiều bạn hữu rất mơ hồ; đồng thời giới thiệu một tờ Châu bản có thể xem như khởi thủy của việc đặt tên trong Hoàng tộc nhà Nguyễn cũng như văn tài của một vị đại thần thuộc một dòng tộc khoa bảng rực rỡ nhất trong triều đại nhà Nguyễn, ngõ hầu đóng góp chút gì cho công việc nghiên cứu những mảng di sản văn hóa của triều đình Nguyễn và Phật giáo Đàng Trong một thời hưng thịnh.

 

                                                                                  P Đ T D

CHÚ THÍCH

(1)     Chữ Quang ở đây được viết rất đặc biệt, bên trên chữ nhật , bên dưới chữ ngột , cũng là một cách viết của chữ quang . Quang là tên của An Khánh công, song thời điểm Đinh Nguyễn Phiên trình Đế hệ thi và Phiên hệ thi, hoàng tử này chưa được phong tước công, nên vua Minh Mạng viết thêm chữ Quang này vào vị trí đề tước của các hoàng tử trước đó.

(2)     Ngang là tên của Từ Sơn công, do thời điểm dâng Đế hệ và Phiên hệ thi, hoàng tử này chưa được phong tước công nên vua thêm chữ Ngang như trường hợp của hoàng tử Quang đã chú ở trên.

(3)     Đinh Nguyễn Phiên người gốc ở Nghi Lộc, Nghệ An, vốn là bạn đồng khoa với cụ Nguyễn Du; thi đỗ Hương cống dưới thời vua Lê Hiển Tông (năm Cảnh Hưng thứ 44, 1783). Thời Nguyễn, ông được vua Gia Long mời ra làm quan, từng làm Đốc học Quảng Nam; đến 1819, được bổ Đông Các Đại học sĩ. Gia tộc của Đinh Nguyễn Phiên có thể nói là gia tộc rực rỡ nhất trong lịch sử khoa cử của nhà Nguyễn. Con trai ông là Đinh Văn Phác đỗ Tiến sĩ năm Minh Mạng thứ 3 (1822), cháu nội là Đinh Văn Chất, chắt nội là Đinh Văn Chấp cũng đều đỗ Tiến sĩ dưới triều Nguyễn. Một người nữa ở đời thứ năm là huyền tôn của ông Đinh Nguyễn Phiên là Hòa thượng Thích Minh Châu nổi danh về đạo hạnhkiến thức uyên thâm (Thế danh là Đinh Văn Nam) ở chùa Tường Vân Huế, phụ trách Thiền viện Vạn Hạnh ở thành phố Hồ Chí Minh.

(4)     Chữ Tuyền bên trái bộ nhật 日 bên phải chữ toàn 旋, chữ Biện bên trên là bộ nhật 日 bên dưới chữ biện弁 (暶,昪,chúng tôi tìm được ở phần symbol của trình chữ Hán Hanosoft 3.0); còn các chữ Lịch bên trái chữ nhật 日 bên phải chữ cách 鬲, chữ Duyên bên trái chữ nhật 日 bên phải bộ thù 殳 , chúng tôi không tìm ra trong trình vi tính Hán Việt đang sử dụng.

(5)     Cách đặt tên bên phái nữ trong Hoàng tộc triều Nguyễn rất độc đáo và đa dạng. Ngoài cách gọi Nguyễn Phước, Tôn nữ… nhiều phòng trong Hoàng tộc, xuất phát từ các danh từ chung như cụm từ Công nữ lúc đầu chỉ có nghĩa là con của các Hoàng tử (Hoàng tử triều Nguyễn thường được ban tước Công), Công tôn nữ nghĩa là cháu nội của Hoàng tử, Công tằng tôn nữ là cháu đời thứ tư, Công huyền tôn nữ là cháu đời thứ năm…, đã dùng luôn các cụm từ này để làm họ cho phái nữ, cho nên chỉ nghe tên là có thể hiểu ngay đương sự là cháu đời thứ mấy của một Hoàng đế. Cho nên, cùng là Công tôn nữ (hoặc Công tằng tôn nữ, Công huyền tôn nữ…) nhưng là trực hệ của vua Minh Mạng thì ngang với của nhánh trực hệ của vua Thiệu Trị, hoặc ngang với bà cô của nhánh trực hệ của vua Tự Đức (tất nhiên chỉ là giả dụ vua Tự Đức có hậu)… Thực ra, bên phái nam cũng được gọi tương đương, Công tôn, Công tằng tôn, Công huyền tôn… là cháu nội, chắt, chít… của Hoàng tử, song vì cách đặt tên bên nam đã quá rạch ròi nên không ai lấy đó làm họ, thông thường chỉ dùng trong sách vở, gia phổ, hoặc xưng vai vế trong các lễ kỵ giỗ, chạp…

 

TÓM TẮT

 

Từ việc nghiên cứu pháp danh theo các bài kệ truyền thừa của dòng thiền Lâm Tế của Phật giáo Đàng Trong, liên hệ với cách đặt tên của Hoàng tộc nhà Nguyễn do vua Minh Mạng định ra, tác giả cho rằng giữa hai bên có tính kế thừa thông qua những nét tương đồng. Phương pháp đặt tên trong Hoàng tộc của vua Minh Mạng tuy có kế thừa cách đặt pháp danh song được mở rộng hơn, chi tiết hơn, khoa học hơn… mà không hề trùng lắp với bất cứ một triều đại nào ở Việt Nam hay các nước đồng văn khác.

Bên cạnh đó, bài viết cũng góp phần giải quyết một số nghi vấn khác về:

- Pháp danh của Tổ sư Nguyên Thiềuđến nay nhiều chuyên luận còn bỏ ngỏ.

- Hệ thống pháp danh qua các bài kệ truyền thừa thuộc dòng Lâm Tế của Phật giáo Nam Hà mà đến nay nhiều người còn mơ hồ.

- Đồng thời giới thiệu và dịch thuật một tờ Châu bản triều Nguyễn có thể xem như khởi thủy của việc đặt tên trong Hoàng tộc nhà Nguyễn cũng như chữ nghĩa của một vị đại thần nổi tiếng về văn học thuộc một dòng tộc khoa bảng rực rỡ nhất trong triều đại nhà Nguyễn.

 



* Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

* Ngự phê trên Châu bản có nhiều hình thức: Châu phê là vua cho ý kiến vào văn bản. Châu điểm là một nét son chấm lên đầu văn bản thể hiện sự đồng ý. Châu khuyên là vòng son khuyên lên tên người hoặc điều khoản được chấp thuận. Châu mạt là những nét chấm bên cạnh những chỗ không chấp thuận. Châu sổ, châu cải là nét son gạch sổ lên những chỗ cần sửa chữa và viết chữa lại bên cạnh. BBT.





.

Tạo bài viết
18/10/2010(Xem: 41857)
18/01/2012(Xem: 25260)
01/07/2014(Xem: 8995)
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”