Lịch SửXu Hướng Nghiên Cứu Tư Tưởng Sinh Thái Phật Giáo

03/01/20224:05 CH(Xem: 480)
Lịch Sử Và Xu Hướng Nghiên Cứu Tư Tưởng Sinh Thái Phật Giáo
LỊCH SỬXU HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TƯ TƯỞNG SINH THÁI PHẬT GIÁO 

Phạm Hoài Phong

PHẦN I


daophatvoimoitruongTóm tắt: Ở phương Tây, nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ XX. Đến thập niên 80, thành quả nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này đã tăng lên đáng kể. Giữa thập niên 90, với động thái phản tư, phê phán của Harris và những người khác về các nghiên cứu trước đây liên quan đến tư tưởng sinh thái Phật giáo, các nghiên cứu trong lĩnh vực này tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu, hình thành nên nhiều cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sinh thái Phật giáo, chẳng hạn như thuyết hộ giáo, thuyết phê bình, thuyết kiến tạo, thuyết đức tính, cách tiếp cận nhân học văn hóa, xã hội học… Ở Đài Loan, các nghiên cứu liên quan lĩnh vực này đã được tiến hành từ khá sớm và trở nên khá sâu sắc vào thập niên 90. Ở Trung Quốc đại lục, những nghiên cứu liên quan chỉ bắt đầu vào cuối thập niên 90. Khoảng năm 2007, một số học giả Trung Quốc bắt đầu tiến hành phê phán, phản biện một cách nghiêm túc về các nghiên cứu liên quan trước đó, từ đó các nghiên cứu này mới dần dần đi vào chiều sâu. Dựa vào thành quả nghiên cứu liên quan ở phương Tây, đồng thời kết hợp với nhu cầu xây dựng một nền văn minh sinh thái toàn cầu, nghiên cứu này tìm hiểu một cách hệ thống và chuyên sâu về tư tưởng sinh thái Phật giáo.

Cùng với sự xuất hiện của vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái diễn ra trên phạm vi thế giới, giới học thuật Âu – Mỹ đã bắt đầu nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo từ những năm 1960 và đạt đến cao trào từ khoảng cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990. Việc nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo trong giới học thuật ở Trung Quốc chỉ bắt đầu vào cuối những năm 1990.

Có thể thấy, việc nghiên cứu sinh thái Phật giáoTrung Quốc và các quốc gia Âu – Mỹ đã trải qua một quá trình, từ việc trình bày, mô tả tư tưởng, triết học sinh thái Phật giáo thông qua việc so sánh tư tưởng liên quan của Phật giáo với các phong trào văn hóa sinh thái, đến hướng nghiên cứu mang tính phản biện, lý tính khách quan về lĩnh vực này. Tìm hiểu lịch sử và kết quả nghiên cứu văn hóa tư tưởng sinh thái Phật giáo trong và ngoài nước, do đó, có ý nghĩa to lớn đối với việc nắm bắt xu hướng nghiên cứuđào sâu nghiên cứu tư tưởng, văn hóa Phật giáo.

1. NGHIÊN CỨU TU TƯỞNG SINH THÁI PHẬT GIÁO Ở CÁC QUỐC GIA ÂU – MỸ 

Việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo ở Âu – Mỹ bắt đầu từ việc nhận thức và phản ánh cuộc khủng hoảng môi trường sinh thái trong xã hội phương Tây vào những năm 1960. Năm 1967, Lynn White đã chỉ ra trong nghiên cứu “Nguồn gốc lịch sử của khủng hoảng sinh thái” của mình rằng Cơ đốc giáo là một tôn giáo thể hiệnnhất sắc thái chủ nghĩa nhân văn và là cội nguồn chủ yếu của cuộc khủng hoảng sinh thái hiện đại. Trái lại, Phật giáo ủng hộ quan điểm chỉnh thể, lợi tha và là một tôn giáo thân thiện với môi trường [1]. Chịu ảnh hưởng bởi quan niệm này, một số nhà lãnh đạo Phật giáo phương Đông và các tín đồ phương Tây của họ đã chứng minh tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo từ quan điểm tôn giáo này về tự nhiên, Phật tính luận và đời sống… Về đại thể, có thể chia các nghiên cứu văn hóa tư tưởng sinh thái Phật giáo ở Âu – Mỹ thành ba giai đoạn như sau:

Giai đoạn nghiên cứu khởi đầu (1964 – 1985). Thành quả nghiên cứu ở giai đoạn này tương đối ít. Trong thời gian này, Thiền tông Nhật Bản đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của xã hội Âu – Mỹ, thành quả nghiên cứu tương quan chủ yếu tập trung vào phương diện nghiên cứu tư tưởng sinh thái Thiền tông, mà ảnh hưởng tương đối lớn sau này là các nghiên cứu về Thiền tông và sinh thái học tầng sâu. Ngoài những ý tưởng ban đầu về đạo đức sinh thái Phật giáo, các nghiên cứu Phật giáo về tự nhiênđộng vật không được coi là những nghiên cứu tự giác về tư tưởng sinh thái Phật giáo.

Giai đoạn phát triển (1986 – 1993). Ở giai đoạn này, việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo ở Âu – Mỹ đã lên đến cao trào. Có hơn 150 bài nghiên cứu liên quan được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành và xuất bản ba tuyển tập các bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề sinh thái Phật giáo ở giai đoạn này, gồm: Quan điểm Phật giáo về cuộc khủng hoảng sinh thái (Buddhist Perspectives on the EcocrisisKlas, 1987) do Klas Sandell chủ biên; Dharma Gaia: Tuyển tập các nghiên cứu về Phật giáo và sinh thái (Dharma Gaia: A Harvest of Essays in Buddhism and Ecology) Allan H. Badiner chủ biên; Phật giáo và sinh thái (Buddhism and Ecology Paperback) do Batc Marine và Kerry Brown chủ biên. Ngoài ra, các tuyển tập nghiên cứu như Tự nhiên trong tư tưởng truyền thống châu Á (Nature in Asian Traditions of Thought: Essays in Environmental Philosophy) do J. Baird Callicott chủ biên cũng liên quan đến việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo. Đặc biệt, tuyển tập các nghiên cứu Nghĩ giống như núi: Hướng tới đời sống cộng đồng (Thinking Like a Mountain: Towards a Council of All Beings) do Johnna Macy và Roger T. Ames chủ biên, càng phản ánh sâu hơn nguồn gốc mối quan hệ sinh thái học tầng sâu và Phật giáo.

Ở giai đoạn này, các chủ đề nghiên cứu liên quan đến tư tưởng sinh thái Phật giáo vô cùng rộng lớn và tập trung chủ yếu ở các phương diện: Thứ nhất, nghiên cứu đạo đức sinh thái Phật giáo và cơ sở triết học của nó. Các tác giả tiêu biểu của hướng nghiên cứu này bao gồm Lambert Schmithausen hay Alan Sponberg. Các nghiên cứu nổi bật liên quan đến Duyên khởi luận, đặc biệtý nghĩa triết học sinh thái thể hiện qua ẩn dụ Mạn-đà-la trong Kinh Hoa Nghiêm, nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa đạo đức sinh thái Phật giáo với chủ nghĩa nhân văn. Thứ hai, nghiên cứu Phật giáo và sinh thái học tầng sâu. Đại diện của khuynh hướng này là Johanna Messi. Nhiều nghiên cứu của ông đã giải thích mối quan hệ bên trong giữa quan niệm “Đại ngã sinh thái” trong sinh thái học tầng sâu và tư tưởng Thiền tông. Thứ ba, nghiên cứu quan điểm động vật của Phật giáo. Chủ đề này đã thu thập được 15 bài báo liên quan, bao gồm các chủ đề liên quan đến vấn đề đạo đức không giết hại, không bạo lực, chủ nghĩa ăn chay, quan điểm về tình thương hay lòng từ bi, quan điểm thí nghiệm trên động vật… của Phật giáo. Thứ tư, nghiên cứu nhân học văn hóa sinh thái và xã hội học Phật giáo. Lĩnh vực này đã thu thập hơn 30 bài nghiên cứu liên quan, gồm các chủ đề liên quan đến các phong trào bảo vệ môi trường của Phật giáo, phong trào bảo vệ môi trường Phật giáoPhật giáo nhập thế, nữ quyền sinh thái và các nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa tư tưởng sinh thái Phật giáovăn hóa Ấn Độ, Thiền tông Nhật Bản, văn hóa Phật giáo Thái Lan,… Trong đó, nghiên cứu về phong trào bảo vệ sinh thái Phật giáo và cội nguồn văn hóa của nó ở Thái Lan chiếm số lượng nhiều nhất. Thứ năm là nghiên cứu về đạo đức sinh thái của Gary Snyder – người từng đoạt giải thưởng nhà thơ của Mỹ và từng thực hành thiền tại Nhật Bản. Đạo đức sinh thái của ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Thiền tông và có sức ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo ở Âu – Mỹ.

Giai đoạn hưng thịnh và đi vào chiều sâu (từ 1994 đến nay). Ở giai đoạn này, nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo Âu – Mỹ một mặt tiếp tục phát triển thịnh vượng, mặt khác dần dần đi vào chiều sâu. Trong thời kỳ này, có hơn 20 chuyên khảo liên quan trực tiếp đến việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo, như: Phật giáo và sinh thái học tầng sâu (Buddhism And Deep Ecology, 2002) của Daniel H. Henning; Phật giáo, đạo đức và môi trường (Buddhism, Virtue and Environment) của David E. Cooper và các cộng sự; Sinh thái học tầng sâu và kinh tế học Phật giáo (Business within Limits: Deep Ecology and Buddhist Economics) của Laszlo Zsolnai và Knut Johannessen; Đạo đức môi trường trong Phật giáo: Cách tiếp cận quan điểm giá trị (Environmental Ethics in Buddhism: A Virtues Approach) của Pragati Sahni; Triết học sinh thái và đạo đức trong Phật giáo (Environmental Philosophy and Ethics in Buddhism) của Padmasiri D. Silva,… Nghiên cứu sâu về tư tưởng sinh thái Phật giáo trong thời kỳ này chủ yếu thể hiện ở: (1) Phản biện và phê phán các phương pháp nghiên cứu trước đây về tư tưởng sinh thái Phật giáo. Có thể thấy khuynh hướng nghiên cứu này ở các nghiên cứu phê bình của Ian Harris, nghiên cứu thuyết kiến tạo của Schmithausen và Gross Rita, nghiên cứu thuyết đức tính của David E. Cooper và Simon P. James. Các nghiên cứu ở giai đoạn này chỉ ra rằng, việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo Âu – Mỹ dần dần hướng tới tính lý tính, khách quan; (2) Chủ đề nghiên cứu càng có tính chuyên sâu và tinh tế hơn, chẳng hạn như những nghiên cứu tìm hiểu, khám phá mối quan hệ giữa Thiền sư Đạo Nguyên (Nhật Bản) và hệ sinh thái tầng sâu, ý nghĩa sinh thái của quan niệm “Vô tình thành Phật” trong Phật giáo Trung QuốcNhật Bản, nghiên cứu về phóng sinh động vậtTrung Quốc thời Minh và Thanh…; (3) Việc mở rộng lĩnh vực nghiên cứu. Chẳng hạn như nghiên cứu về các đề tài liên quan đến kinh tế học sinh thái Phật giáo và chính trị học sinh thái Phật giáo; (4) Chú ý nghiên cứuhệ thống và cấu trúc tư tưởng sinh thái học Phật giáo. Điều này thể hiện rõ qua việc xuất bản nhiều chuyên khảo và công trình nghiên cứu sau năm 2000 như: Phật giáo và sinh thái tầng sâu, Triết học môi trường và đạo đức môi trường trong Phật giáo, Phật giáo, đạo đức và môi trường,… (5) Càng chú ý hơn đến giá trị sinh thái Phật giáo đối với văn hóa địa phương, chẳng hạn như các nghiên cứu về giá trị sinh thái của văn hóa Phật giáoẤn Độ, Thái Lan và Nhật Bản; (6) Chú ý đến việc vận dụng phương pháp điều tra điền dã và phân tích xã hội học để nghiên cứu văn hóa Phật giáo, nghiên cứu trường hợp xã hội học, phân tích trường hợp và các phương pháp khác để nghiên cứu giá trị sinh thái… trong đời sống văn hóa, sản xuất Phật giáo.

Trong một nghiên cứu của Donald K. Swearer (2006), ông chia nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo Âu – Mỹ thành năm loại nghiên cứu: Thuyết hộ giáo, thuyết phản biện, thuyết kiến tạo, thuyết đức tính và thuyết ngữ cảnh. Dưới đây, xuất phát từ quan điểm này, chúng tôi thử cố gắng trình bày những thành quảquan điểm mang tính tiêu biểu trong nghiên cứu này ở nước ngoài:

1.1. Nghiên cứu thuyết bảo vệ mạng sống (Hộ giáo luận)

Thành quả tiêu biểu của hướng nghiên cứu này có các tuyển tập các công trình, bài báo nghiên cứu như: Dharma Gaia: Tuyển tập các bài luận về Phật giáo và sinh thái (Dharma Gaia: A Harvest of Essays in Buddhism and Ecology) do Allan H. Badiner chủ biên [2], Phật giáo và sinh thái (Buddhism and Ecology Paperback) do Batc Marine and Kerry Brown chủ biên, Mưa pháp: Nguồn tài nguyên của tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo (Dharma Rain: Sources of Buddhist Environmentalism) do Stephanie Kaza and Kenneth Kraft chủ biên… [3] Ở đây, lấy công trình Mưa pháp: Nguồn tài nguyên của tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo làm ví dụ. Nội dung của tác phẩm này chia thành bảy phần, phần lớn nội dung của nó thảo luận trực tiếp về cội nguồn tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo. Chẳng hạn, phần đầu tiên của công trình, tác giả thảo luận về nguồn tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái trong giáo lý Phật giáo truyền thống. Nội dung của nó liên quan đến mối quan hệ giữa đời sống ẩn cư của các nhà sư Phật giáo Nguyên thủy Ấn Độ với môi trường tự nhiên, tinh thần cống hiến mang tính vô ngã trong câu chuyện về cuộc đời của Đức Phật, tâm nguyện cứu độ tất cả chúng sinh của Bồ-tát Tịch Thiên, mối liên hệ nội tại giữa cuộc sống và thiên nhiên được thể hiện trong bài thơ Hàn Sơn tự của nhà thơ Trung Quốc, quan điểm của Phật giáo về tự nhiên trong thuyết Duyên khởi… Ở phần thứ hai là sự giải thích sinh thái theo giáo lý Phật giáo của các nhà tư tưởng trong thế kỷ XX bắt đầu từ mối quan tâm của họ về khủng hoảng sinh thái. Chẳng hạn như nội dung liên quan đến quan điểm sinh thái Thiền tông của Snyder, sự nhấn mạnh của Thích Nhất Hạnh về khái niệm cộng sinh giữa con ngườithiên nhiên, chủ trương Phật giáo nên mở rộng sự quan tâm đến thiên nhiên và cuộc sống đồng thời đặt nó lên trên sự giải thoát mang tính cá nhân của Joanna Messi… Ở phần thứ tư, đó là sự kết hợp theo dõi việc đóng gói và vận chuyển chất thải hạt nhân, hành vi ngồi trên cây của các nhà sư nhằm mục đích cứu lấy các cây quý lâu năm ở Thái Lan, gây chú ý và thúc đẩy phong trào bảo vệ môi trường sinh thái, thảo luận về cách Phật giáo kết hợp ý thức sinh thái, sự tu tập nội tại với sự thúc đẩy phong trào bảo vệ môi trường trong xã hội đương đại [4]. Phần thứ năm chủ yếu bàn về sự gợi ý của Phật giáo đối với cuộc sống hàng ngày và các hoạt động dã ngoại. Chẳng hạn như việc nỗ lực thực hiện thực tiễn vườn hữu cơ theo quan điểm bảo vệ môi trường Phật giáo của Wendy Johnson; Dựa vào cuộc khủng hoảng lương thực và nguồn nước hiện nay, Snyder và các cộng sự đã thảo luận về tính phức tạp của các vấn đề lựa chọn thực phẩm từ quan điểm giới luật Phật giáo về vấn đề không sát sinh [5].

Phương pháp nghiên cứu bảo vệ sinh mạng (Hộ giáo luận) có xu hướng tập trung vào thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái của tự nhiên quan, quan niệm về sinh mạng, thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái hiện tại, tìm kiếm nguồn gốc tư tưởng và sự ủng hộ tư tưởng từ giáo nghĩa Phật giáo. Việc so sánh các khái niệm sinh thái phương Tây và tìm kiếm tài nguyên tương ứng từ Phật giáo của hướng nghiên cứu này vẫn chưa xây dựng được một hệ thống tư tưởng sinh thái với những đặc điểm đặc thù đến từ tự thân hệ thống tư tưởng Phật giáo.

1.2. Nghiên cứu thuyết phê phán

Đại diện cho khuynh hướng nghiên cứu phê bình có Ian Harris, thuộc Đại học Saint Martin và học giả Nhật Bản Hakamatani Kenaki. Học giả Ian Harris đã xuất bản bảy bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề sinh thái Phật giáo, chẳng hạn: “Làm thế nào để ứng xử với thuyết bảo vệ môi trường của Phật giáo” (How Environmentalist is Buddhism?), “Duyên khởi và giải thoát: Vấn đề đạo đức bảo vệ môi trường của Phật giáo” (Buddhist Causation, Dysteology and Environmental Ethics), “Đạo đức sinh thái Phật giáo và phi truyền thống hóa: Trường hợp của Phật giáo sinh thái” (Buddhist Environmental Ethics and Detraditionalization: The Case of EcoBuddhism), “Phật giáo và mối quan tâm đến bảo vệ sinh thái: Một số suy nghĩ về vấn đề phương pháp luận” (Getting to Grips with Buddhist Environmentalism: A Provisional Typology)… Harris tin rằng mặc dù một số dữ liệu trong kinh Phật có thể được xem là phù hợp với đạo đức sinh thái, nhưng nói một cách khách quan, dữ liệu đó không bàn luận một cách cụ thể, rõ ràng về đạo đức sinh thái. Cho dù có một số dấu vết thân thiện với môi trường trong lối sinh hoạt Phật giáo ở nông thôn, nhưng những dấu vết này không đại diện cho các truyền thống Phật giáo vì chúng chỉ là một dạng tín ngưỡng dân gian. Harris cho rằng, bản thân sinh thái là một vấn đề mang tính hiện đạiPhật giáo cổ xưa hoàn toàn không chú ý đến vấn đề này. Điều Phật giáo cổ xưa quan tâmsự giải thoát những phiền não, khổ đau trong đời sống của con người. Phật giáo nhấn mạnh tự nhiênđời sống con người đều không ngừng vận động, biến đổi, vô thườngcon người cần nỗ lực tu tập, giải thoát khỏi kiếp sống luân hồi đau khổ [6].

Các bài báo tiêu biểu của học giả Nhật Bản Khố Cốc Hiến Chiêu (Hakamatani Kenaki) có: “Phật giáo như là sự phê bình “tự nhiên” và “Người Nhật và thuyết vạn vật hữu linh”. Là học giả tiêu biểu của trường phái Phật giáo phê phán, ông cho rằng tư tưởng Phật giáo về hệ thống Như Lai tạng được Trung QuốcNhật Bản kế thừa về cơ bản đã lệch khỏi tinh thần duyên khởi của Phật giáo nguyên thủyẤn Độ. Vì thế, một số diễn ngôn sinh thái được phát triển trên cơ sở của nó không thể được coi là diễn ngôn chân chính về sinh thái Phật giáo [7]. Nghiên cứu thuyết phê bình tư tưởng sinh thái Phật giáonghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng sinh thái Phật giáo. Giới hạn của nó là không thể kết hợp nguồn tư tưởng Phật giáo truyền thống với thực tiễn môi trường sinh thái thực tế để khám phá mối quan hệ mang tính tương tác giữa hai yếu tố này.

1.3. Nghiên cứu thuyết kiến tạo

Các đại diện của hướng nghiên cứu này có Lambert Schmithausen, David Eckel, Quy Điền Thuần Sinh… Các tác phẩm tiêu biểu của Schmithausen gồm “Phật giáo và tự nhiên” (Buddhism and Nature) và “Truyền thống Phật giáo Nguyên thủyđạo đức sinh thái” (The Early Buddhist Tradition and Ecological Ethics). Trong “Phật giáo và tự nhiên”, Schmithausen cho rằng, Phật giáo Ấn Độ thực sự không có diễn ngôn rõ ràng về tự nhiên, thái độ đối với tự nhiên của Phật giáo này về cơ bản là một dạng lập trường xa lánh tự nhiên và gần gũi văn hóa. Nhưng ông lại cho rằng các quốc gia Phật giáo Châu Á đã phát triển một diễn ngôn chân chính về đạo đức môi trường Phật giáo dựa trên nền tảng Phật giáo truyền thống. Nghiên cứu “Truyền thống Phật giáo Nguyên thủyđạo đức sinh thái” của ông nhằm mục đích khám phá cách ứng phó với các cuộc khủng hoảng sinh thái đương đại theo quan điểm Phật giáo Nguyên thủy và làm thế nào để đưa sự quan tâm đến sinh thái vào triết lý Phật giáo truyền thống. Nghiên cứu nhắm vào thuyết phê phán của hai nhà nghiên cứu Harris và Khố Cốc Hiến Chiêu. Tại đây, ông cho rằng sự biểu hiện của tự nhiên trong Phật giáo Nguyên thủy mang màu sắc ảm đạm, nhưng truyền thống này không chủ trương cải tạo tự nhiên, cũng không phục tùng nó, mà chỉ theo đuổi giá trị, lý tưởng giải thoát, vượt lên tự nhiên về mặt tinh thần. Mặc dù quan niệm về tự nhiên này hoàn toàn khác với sự mô tả lãng mạn của chủ nghĩa sinh thái đương thời, nhưng nó hoàn toàn không ngăn cản việc thiết lập đạo đức sinh thái Phật giáo trên cơ sở quan niệm này [8].

Quan niệm sinh thái Phật giáo được trình bày trong các nghiên cứu “Quan điểm tự nhiêntư tưởng bảo vệ sinh thái trong truyền thống Nhật Bản” và “Khả năng đóng góp vào sự hiểu biết về tự nhiên của tư tưởng phương Đông: Trường hợp tư tưởng Phật giáo”…, của học giả người Nhật Quy Điền Thuần Sinh cũng có thể xem là những nghiên cứu theo khuynh hướng kiến tạo luận. Trong các nghiên cứu của mình, ông chỉ trích những người theo thuyết hộ giáo đơn giản xem tư tưởng phương Tây là sự đối lập giữa con ngườitự nhiên hoặc con người thống trị tự nhiên, đồng thời xem tư tưởng phương Đông là tư tưởng cộng sinh hài hòa giữa con người với tự nhiên và luôn xem nó là mô thức tư tưởng ưu việt. Ông cho rằng ý nghĩa sinh thái của phương Đông như Phật giáo… nên được khảo sát trong lịch sử. Hiện nay, để nghiên cứu ý nghĩa sinh thái trong tư tưởng Phật giáo cần xem xét tư tưởng của tôn giáo này trong thực tế xã hội, trên cơ sở khẳng định tính tất yếu lịch sửhiện thực của nền văn minh khoa học và công nghệ hiện đại và nền kinh tế thị trường, tìm hiểu vấn đề cộng sinh của con ngườitự nhiên trong môi trường xã hội hiện đại, suy nghĩ về ý nghĩa thực tiễn và những hạn chế của tư duy truyền thống phương Đông. Theo quan điểm của ông, tư tưởng Phật giáo không có tác dụng tích cực trong việc bảo vệ sinh thái như quan niệm của những người theo thuyết hộ giáo chỉ ra [9].

Trên cơ sở phản biện mang tính khách quan, các nghiên cứu theo khuynh hướng kiến tạo luận khám phá sâu hơn khả năng ứng phó của Phật giáo đối với cuộc khủng hoảng môi trường hiện đại và việc xây dựng các tư tưởng sinh thái của chính mình. Mục đích khám phá nội hàm tự nhiên từ giá trị tâm linh tự thân Phật giáo của David Eckel và việc tìm hiểu ý nghĩagiới hạn của việc bảo vệ môi trường của Phật giáo trong môi trường xã hội hiện đại của Quy Điền Thuần Sinh có nhiều ý nghĩa gợi mở hữu ích cho chúng ta khi nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo cũng như vai trò của nó trong việc xây dựng nền văn minh sinh thái hiện đại. Thiếu sót và đáng tiếc của các nghiên cứu này là vẫn còn giới hạn trong quan điểm của Phật giáo về môi trường tự nhiên hoặc nhu cầu thực tế của việc xây dựng môi trường sinh thái, mà chưa thể xem là những nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống về tư tưởngvăn hóa sinh thái Phật giáo từ giá trị căn bản, cốt lõi nhất của tự thân Phật giáo.

1.4. Nghiên cứu thuyết đức hạnh

Các nhà nghiên cứu tiêu biểu của hướng nghiên cứu này có Cooper, James, Alan Spinberg, Trì Điền Đại Tác,… Các nghiên cứu tiêu biểuPhật giáo, đức hạnh và môi trường (Buddhism, Virtue and Environment) của David E.Cooper và Simon P. James. Trong nghiên cứu này, Cooper và James không đồng ý việc thiết lập đạo đức sinh thái Phật giáo dựa trên lý thuyết Duyên khởi. Họ cho rằng lý thuyết Duyên khởi của Phật giáo không đề xuất một sự hiểu biết thống nhất về vạn vật trong tự nhiên. Do đó xây dựng sinh thái học Phật giáo trên nền tảng lý thuyết này là không đáng tin cậy, mà nó cần được xây dựng trên nền tảng tu tập, nuôi dưỡng phẩm chất đức hạnh. Nghiên cứu Phật giáo, đức hạnh và môi trường của họ tập trung vào nội hàm của các đức tính sinh thái Phật giáo. Ở đó, các tác giả chia đức hạnh sinh thái Phật giáo thành ba loại: Đức hạnh sinh thái thông thường, đức hạnh tự lợiđức hạnh vị tha. Đặc biệt, các tác giả đã tiến hành thảo luận về vai trò của các đức tính cụ thể trong việc bảo vệ sinh thái như “khiêm tốn”, “tự chủ”, “điềm tĩnh”, “quan tâm”, “bất bạo động”, “có trách nhiệm”, “chánh niệm”… [10].

Trong những ghi chép có nhan đề “Hướng tới thế kỷ 21” và “Hồi chuông cảnh tỉnh của thế kỷ 21” của mình, học giả Nhật Bản Trì Điền Đại Tác đã xem quan điểm về tự nhiên mà ở đó con ngườitự nhiên đối lập với nhau và những động cơ tư tưởng muốn chinh phụcsử dụng thiên nhiên vì lợi ích của con người, cũng như việc lạm dụng khoa học và công nghệ chứa đựng trong nền văn minh khoa học hiện đại là nguồn gốc của khủng hoảng sinh thái. Ông cho rằng, để giải quyết cuộc khủng hoảng sinh thái, chúng ta nên bắt đầu từ quan điểm của Phật giáo và cuộc cách mạng của con người. Cái gọi là cuộc cách mạng của con người ở đây, theo ông, chính là sự vượt thoát bản ngã (tiểu ngã) liên hệ với dục vọng thông qua nhận thức về đại ngã (bản ngã phổ biến của vũ trụ). Việc thực hiện cuộc cách mạng của con người, một mặt, phải được thực hiện từ tầng sâu của cuộc sống thông qua thực hành Phật giáo, mặt khác, phải được thực hiện trong sự tương tác với thực tiễn đời sống. Trì Điền Đại Tác đặt việc tu dưỡng đạo đức con người lên trên tầm quan trọng của việc cứu vãn tình trạng khủng hoảng sinh thái và đó cũng là một phương pháp nghiên cứu lý thuyết về đức hạnh [11].

Phương pháp nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo của thuyết đức hạnh là một khía cạnh quan trọng của các nghiên cứu lý thuyết kiến tạo, nhưng nó đặt việc tu dưỡng đạo đứcvị trí trung tâm, nắm vững căn bản triết học Phật giáo và là đại diện cho xu hướng nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo. Tuy nhiên, việc nghiên cứu thuyết đức hạnh của tư tưởng sinh thái Phật giáo ở nước ngoài cũng có những giới hạn riêng của nó. Thứ nhất, chúng thường bắt đầu từ mô hình đạo đức học của phương Tây, một mặt, so sánh những điểm dị đồng giữa Phật giáođạo đức học phương Tây, đồng thời đi sâu nghiên cứu về các đức tính sinh thái của Phật giáo, nhưng mặt khác, các công trình nghiên cứu theo hướng tiếp cận này cũng gây trở ngại cho sự hiểu biết đúng đắn về tư tưởng sinh thái Phật giáo. Thứ hai, các nghiên cứu này luôn có xu hướng tập trung vào ý nghĩa bảo vệ sinh thái của các đức tính cụ thể, nhưng thiếu một cuộc thảo luậnhệ thống và chuyên sâu về phương thức và con đường thực tiễn sinh thái trên nền tảng nhân tính luận của lý thuyết đức hạnh sinh thái Phật giáo.

1.5. Nghiên cứu nhân học văn hóaxã hội học

Nghiên cứu nhân học văn hóaxã hội học là một khía cạnh quan trọng của nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo và cũng là một khía cạnh quan trọng của việc nghiên cứu cách thức và con đường tham gia của Phật giáo vào các thực hành bảo vệ môi trường sinh thái đương đại. Ở các nước Âu – Mỹ đã có nhiều thành tựu nghiên cứu về khía cạnh này. Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:

Nghiên cứu “Nguyên tắc và thơ ca, vùng đất và những câu chuyện: Nguồn lực của hệ sinh thái Phật giáo” (Principles and Poetry, Places and Stories: The Resources of Buddhist Ecology) của Donald K. Swearer mô tả sách lược bảo vệ sinh thái của người dân miền Bắc Thái Lan mà chính ông đã trải nghiệm nhằm bảo vệ núi Suthep thánh địa của Phật giáo khỏi sự phát triển thương mại. Tác giả cho rằng, ký ức văn hóa và tưởng tượng văn hóa liên quan đến núi Suthep là yếu tố quyết định trong việc kích thích phong trào bảo vệ sinh thái ở quốc gia này [12].

Nghiên cứu “Hồi ứng của những Phật tử Mỹ đối với đất đai: Thực tiễn sinh thái học ở hai trung tâm thực tập Thiền ở bờ biển phía Tây” của Stephanie Kaza [13] đánh giá môi trường được thực hiện trên các khía cạnh phát triển, sử dụng, quản lýlối sống trên đất đai của hai khóa tu Thiền Phật giáo tại Green Canyon Farm và Lingyan Mountain ở Hoa Kỳ. Nghiên cứu cũng thảo luận về thực tiễn sinh thái Phật giáo được thúc đẩy bởi truyền thống Phật giáo hay chủ nghĩa bảo vệ môi trường của Mỹ, đồng thời cũng chỉ ra các trung tâm thực tập Thiền Phật giáo cần phải quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, cần phải nỗ lực hơn nữa trong các phương diện hướng dẫn thiền tập, nhấn mạnh công việc mang tính sáng tạo của nhân viên làm việc ở các vị trí chủ chốt và vai trò của giáo nghĩa Phật giáo đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái [14].

Trong nghiên cứu “Phóng sinh, cái chết và quốc gia: Nghi thức phóng sinh ở thời Trung cổ Nhật Bản”, Duncan R. Williams đã thảo luận về lễ phóng sinh của Phật giáo Nhật Bản thời Trung cổ và sự phổ biến của nó ở Đông Á và Đông Nam Á. Nghiên cứu cũng cho thấy hậu quả tiêu cực đưa đến cái chết của một số động vật do quá trình phóng sinh hiện đại mang lại [15].

Nghiên cứu “Chương trình nghị sự thế kỷ 21 về vấn đề bảo vệ môi trường Phật giáo Hàn Quốc” của Hoằng Ba giới thiệu ngắn gọn về các phương diện hoạt động trong phong trào bảo vệ môi trường sinh thái của giới Phật giáo Hàn Quốc vào thập niên 60 của thế kỷ XX. Chẳng hạn sự phản đối việc phát triển sân golf và phản đối xây dựng đường đèo núi Gaya, phản đối việc tổ các buổi tiệc trên đất sạch và thành lập các nhóm bảo vệ môi trường Phật giáo; từ việc hiện đại hóa tư tưởng đời sống sinh thái của Phật giáo, xây dựngthực hiện các chương trình Phật giáo đối mặt với các vấn đề của thời đại, phát triển và phổ biến các khóa học giáo dục môi trường cho giới xuất giatại gia của Phật giáo, bảo tồn đúng mức các di sản văn hóa của các ngôi chùa, làm tốt công tác quản lýhệ thống, thiết lậpkiểm soát cơ sở chuyên môn bảo vệ môi trường, hiện thực hóa kế hoạch bảo vệ môi trường, thúc đẩy các Phật sự bảo vệ môi trường và lối sống hài hòa sinh thái, thường xuyên tổ chức các hội nghị về công tác môi trường Phật giáo, và đưa ra các thiết kế và quy hoạch cụ thể về phương diện giáo dục, bồi dưỡng các chuyên gia bảo vệ môi trường và các đoàn thể bảo vệ môi trường trong cộng đồng Phật giáo [16].

Mục đích của việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáothúc đẩy thực tiễn xây dựng bảo vệ sinh thái trong thực tế, nghiên cứu nhân học văn hóaxã hội học của sinh thái học Phật giáo chắc chắný nghĩa to lớn đối với việc tìm hiểu thực tiễn bảo vệxây dựng môi trường sinh thái thực tế hiện nay.

 

Chú thích:

* Phạm Hoài Phong: NCS Tiến sĩ khoa Triết học, Học viện Nhân văn, Đại học Hạ Môn (Xiamen University), Trung Quốc.

** Nguyên tác tiếng Hoa: 陈红兵:〈佛教生态思想研究历程及趋势〉,《孔学堂》,2017年,第02期。

[1] Lynn White, “The Historical Roots of Our Ecologic Crisis,” in Western Man and Environmental Ethics: Attitudes toward Nature and Technology, ed. Ian G. Barbour (Reading: Addison-Wesley Publishing Company, 1973): 28.

[2], [3], [4] Allan H. Badiner, ed., Dharma Gaia: A Harvest of Essays in Buddhism and Ecology (Berkeley: Parallax Press, 1990); Marine Batchelor and Kerry Brown, eds., Buddhism and Ecology (London: Motilal Banarsidass Publishers, 1994); Stephanie Kaza and Kenneth Kraft, eds., Dharma Rain: Sources of Buddhist Environmentalism (Boston: Shambhala Publications, 2000).

[5] Stephanie Kaza and Kenneth Kraft, Dharma Rain: Sources of Buddhist Environmentalism (Boston: Shambhala Publications, 2000).

[6] Ian Harris, “Causation and ‘Telos’: The Problem of Buddhist Environment Ethics,” Journal of Buddhist Ethics 1, (1994): 46-59; Ian Harris,”Buddhist Environmental Ethics and Detraditionalization: The Case of EcoBuddhism,” Religion 25, no.3 (1995): 199-211; Ian Harris, “Getting to Grips with Buddhist Environmentalism: A Provisional Typology,” Journal of Buddhist Ethics 2, (1995): 173-190; Ian Harris,”How Environmentalist is Buddhism?” Religion 21, no.2 (1991): 101-114; Ian Harris, “Buddhism and Ecology,” in Contemporary Buddhist Ethics, ed. Damien Keown (London: Curzon Press, 2000), 113-136; Ian Harris, “Buddhist Causation, Dysteology and Environmental Ethics,” in Purifying the Earthly Body of God: Religion and Ecology in Hindu India, ed. Lance E. Nelson (Albany: State University of New York Press, 2000).

[7] Tuyên Phương: “Tổng quan nghiên cứu của giới học thuật Âu – Mỹ liên quan đến Phật giáo và sinh thái”, Tái Giác Tỉnh (chủ biên): Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh: NXB Văn hóa Tôn giáo, 2009, trang 286-299.

[8] Lambert Schmithausen, “Buddhism and Nature,” in Buddhism and Nature—Proceedings of an International Symposium on the Occasion of EXPO 1990 (Tokyo: The International Institute for Buddhist Studies, 1991), 22-34; Lambert Schmithausen, “The Early Buddhist Tradition and Ecological Ethics,” Journal of Buddhist Ethics 4, no.1 (1997): 74.

[9] Tham khảo Phùng Lôi: “Giá trị và giới hạn của tư tưởng truyền thống phương Đông trong phong trào sinh thái hiện đại”, Tạp chí Khoa học xã hội nước ngoài, kỳ 3, 2008; Quy Điền Thuần Sinh: “Quan điểm tự nhiêntư tưởng bảo vệ sinh thái trong truyền thống Nhật Bản”, Tái Ngọc Thủ Hoa, Thích Ấn Bình (chủ biên): Môi trường và văn minh Đông Á – Ý nghĩa hiện đại của tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái truyền thống phương Đông, Thái Nguyên: Nxb. Sơn Tây Cổ Tịch, 1999.

[10] David E. Cooper and Simon P. James, Buddhism, Virtue and Environment (Aldershot: Ashgate, 2005).

[11] Thang Nhân Tỉ, Trì Điền Đại Tác: Thế kỷ 21 triển vọng – Ghi chép về cuộc đối thoại của Thang Nhân Tỉ, Trì Điền Đại Tác, Tuần Xuân Sinh và những người khác (dịch), Bắc Kinh: Công ty xuất bản Văn hóa Quốc tế, 1997; Trì Điền Đại Tác, Bối Kháp: Tiếng chuông cảnh tỉnh của thế kỷ 21, Biện Lập Cường (dịch), Bắc Kinh: Công ty xuất bản Văn hóa Quốc tế, 1998.

[12] Donald K. Swearer, “Principles and Poetry, Places and Stories: The Resources of Buddhist Ecology,” Daedalus 130, no.4 (2001): 225-241.

[13], [14] Stephanie Kaz: “Hồi ứng của những Phật tử Mỹ đối với đất đai: Thực tiễn sinh thái học ở hai trung tâm thực tập Thiền ở bờ biển phía Tây”, Tái An Lạc Triết (chủ biên): Phật giáo và sinh thái, Hà Tắc Dương, Diêm Diễm (dịch), Nam Kinh: Nxb. Giáo dục Giang Tô, 212-240.

[15] Duncan R. Williams: “Phóng sinh, cái chết và quốc gia: Nghi thức phóng sinh ở thời Trung cổ Nhật Bản”, Tái An Lạc Triết (chủ biên): Phật giáo và sinh thái, Hà Tắc Dương, Diêm Diễm (dịch), Nam Kinh: Nxb. Giáo dục Giang Tô, 144-154.

[16] Hoằng Ba: “Chương trình nghị sự thế kỷ 21 về vấn đề bảo vệ môi trường Phật giáo Hàn Quốc”, Tạp chí Pháp Âm, kỳ 11, 2008.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Lynn White, “The Historical Roots of Our Ecologic Crisis,” in Western Man and Environmental Ethics: Attitudes toward Nature and Technology, ed. Ian G. Barbour (Reading: Addison-Wesley Publishing Company, 1973).

2. Allan H. Badiner, ed., Dharma Gaia: A Harvest of Essays in Buddhism and Ecology (Berkeley: Parallax Press, 1990)

3. Marine Batchelor and Kerry Brown, eds., Buddhism and Ecology (London: Motilal Banarsidass Publishers, 1994)

4. Stephanie Kaza and Kenneth Kraft, eds., Dharma Rain: Sources of Buddhist Environmentalism (Boston: Shambhala Publications, 2000).

5. Ian Harris, “Causation and ‘Telos’: The Problem of Buddhist Environment Ethics,” Journal of Buddhist Ethics 1, (1994): 46-59.

6. Ian Harris, “Buddhist Environmental Ethics and Detraditionalization: The Case of EcoBuddhism,” Religion 25, no.3 (1995): 199-211.

7. Ian Harris, “Getting to Grips with Buddhist Environmentalism: A Provisional Typology,” Journal of Buddhist Ethics 2, (1995): 173-190.

8. Ian Harris, “How Environmentalist is Buddhism?” Religion 21, no.2 (1991): 101-114.

9. Ian Harris, “Buddhism and Ecology,” in Contemporary Buddhist Ethics, ed. Damien Keown (London: Curzon Press, 2000), 113-136.

10. Ian Harris, “Buddhist Causation, Dysteology and Environmental Ethics,” in Purifying the Earthly Body of God: Religion and Ecology in Hindu India, ed. Lance E. Nelson (Albany: State University of New York Press, 2000).

11. 宣方:〈那你发起来嘛人。欧美学界关于佛教与生态的研究述评〉,载觉醒主编:《佛教与生态文明》,北京:宗教文化出版社,2009年。(Tuyên Phương: “Tổng quan nghiên cứu của giới học thuật Âu – Mỹ liên quan đến Phật giáo và sinh thái”, Tài Giác Tỉnh (chủ biên): Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh: Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009. )

12. Lambert Schmithausen,”Buddhism and Nature,” in Buddhism and Nature—Proceedings of an International Symposium on the Occasion of EXPO 1990 (Tokyo: The International Institute for Buddhist Studies, 1991).

13. Lambert Schmithausen, “The Early Buddhist Tradition and Ecological Ethics,” Journal of Buddhist Ethics 4, no.1 (1997).

14. 冯雷:〈现代生态运动中东方传统思想的价值与局限——龟山纯生论日本佛教生态思想的现代意义〉,《国外社会科学》2008年,第3期。(Phùng Lôi: “Giá trị và giới hạn của tư tưởng truyền thống phương Đông trong phong trào sinh thái hiện đại”, Tạp chí Khoa học xã hội nước ngoài, kỳ 3, 2008.)

15. 龟山纯生:〈日本传统的自然观与环境思想〉,载王守华、戚印平编:《环境与东亚文明——东方传统环境思想的现代意义》,太原:山西古籍出版社,1999年。(Quy Điền Thuần Sinh: “Quan điểm tự nhiêntư tưởng bảo vệ sinh thái trong truyền thống Nhật Bản”, Tái Ngọc Thủ Hoa, Thích Ấn Bình (chủ biên): Môi trường và văn minh Đông Á – Ý nghĩa hiện đại của tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái truyền thống phương Đông, Thái Nguyên: Nxb. Sơn Tây Cổ Tịch , 1999.)

16. David E. Cooper and Simon P. James, Buddhism, Virtue and Environment, (Aldershot: Ashgate, 2005).

17. David E. Cooper and Simon P. James, Buddhism, Virtue and Environment (Aldershot: Ashgate, 2005).

18. 汤因比,池田大作:《展望21世纪——汤因比与池田大作对话录》,荀春生等译,北京:国际文化出版公司,1997年。(Thang Nhân Tỉ, Trì Điền Đại Tác: Thế kỷ 21 triển vọng – Ghi chép về cuộc đối thoại của Thang Nhân Tỉ, Trì Điền Đại Tác, Tuần Xuân Sinh và những người khác (dịch), Bắc Kinh: Công ty xuất bản Văn hóa Quốc tế, 1997.)

19. 池田大作、贝恰:《二十一世纪的警钟》,卞立强译,北京:中国国际广播出版社,1998年。(Trì Điền Đại Tác, Bối Kháp: Tiếng chuông cảnh tỉnh của thế kỷ 21, Biện Lập Cường (dịch), Bắc Kinh: Công ty xuất bản Văn hóa Quốc tế, 1998.)

20. Donald K. Swearer, “Principles and Poetry, Places and Stories: The Resources of Buddhist Ecology,” Daedalus 130, no.4 (2001): 225-241.

21. Stephanie Kaz:〈美国佛教徒对土地的回应:西海岸两所静修中心的生态学实践〉,载安乐哲主编:《佛教与生态》,何则阴、闫艳译,南京:江苏教育出版社。(Stephanie Kaz: “Hồi ứng của những Phật tử Mỹ đối với đất đai: Thực tiễn sinh thái học ở hai trung tâm thực tập Thiền ở bờ biển phía Tây”, Tái An Lạc Triết (chủ biên): Phật giáo và sinh thái, Hà Tắc Dương, Diêm Diễm (dịch), Nam Kinh: Nxb. Giáo dục Giang Tô, 2000, trang 212-240. )

22. 邓肯·威廉斯:〈放生、死亡与国家:日本中古时期的放生仪式〉,载安乐哲主编《佛教与生态》,何则阴、闫艳译,南京:江苏教育出版社。(Duncan R. Williams: “Phóng sinh, cái chết và quốc gia: Nghi thức phóng sinh ở thời Trung cổ Nhật Bản”, Tái An Lạc Triết (chủ biên): Phật giáo và sinh thái, Hà Tắc Dương, Diêm Diễm (dịch), Nam Kinh: Nxb. Giáo dục Giang Tô, 144-154.)

23.泓坡:〈韩国佛教环境21世纪议程〉,《法音》2008年,第11期。(Hoằng Ba: “Chương trình nghị sự thế kỷ 21 về vấn đề bảo vệ môi trường Phật giáo Hàn Quốc”, Tạp chí Pháp Âm, kỳ 11, 2008.)

24.惟善:〈中国佛教环保理念与实践研s究概述〉,《法音》2011年第3期。(Duy Thiện: “Khái lược về nghiên cứu quan điểmthực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái Phật giáo”, Tạp chí Pháp Âm, kỳ 3, 2011.)

25. Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm: “Bảo vệ môi trường tâm linh”, Tạp chí Nhân sinh, kỳ 194, 1999.

26.参见杨惠南:〈信仰与土地——建立缘起性空的佛教深层生态学〉,《人间佛教与当代对话——第三届印顺导师思想之理论与实践学术研讨会论文集》,财团法人弘誓文教基金会印行,2002年。(Dương Huệ Nam: “Tín ngưỡng và đất đai: Xây dựng sinh thái học tầng sâu từ duyên khởi tính không”, Nhân gian Phật giáo và đối thoại đương đại – Kỷ yếu Hội thảo lần 3 Nghiên cứu thực tiễnlý luận tư tưởng Đại sư Ấn Thuận, Tài đoàn pháp nhân Hoằng Triết Văn Giáo Cơ Kim Hội ấn hành, 2002.)

27.杨惠南:〈当代台湾佛教环保理念的省思——以“预约人间净土”和“心灵环保”为例〉,《当代》第104期,1994年。(Dương Huệ Nam: “Xem xét lại quan niệm bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo Đài Loan đương đại – trường hợp uớc hẹn Tịnh độ nhân gian và và bảo vệ môi trường tâm linh”, Tạp chí Đương Đại, kỳ 104, 1994.)

28.杨惠南:〈从境解脱到心解脱——建立心境平等的佛教生态学〉,《佛教与社会关怀学术研讨会论文集》,台湾中华佛教百科文献基金会印行,1993年。Dương Huệ Nam: “Từ cảnh giải thoát đến tâm giải thoátXây dựng sinh thái học Phật giáo bình đẳng tâm và cảnh”, Kỷ yếu Hội thảo mối quan tâm của Phật giáoxã hội, Đài Loan Trung Hoa Phật giáo Bách khoa văn hiến ấn hành, 1993.)

29.刘元春:〈天光云影共徘徊——关于佛教与维护生态平衡的思考〉,《法音》1991年第1期。(Lưu Nguyên Xuân: “Sự cộng sinh của ánh sáng và bóng mây: Một khảo sát liên quan đến Phật giáobảo vệ sự cân bằng sinh thái” Tạp chí Pháp Âm, kỳ 1, 1991.)

30.魏德东:〈佛教的生态观〉,《中国社会科学》1999年,第5期。(Ngụy Đức Đông: “Quan điểm sinh thái của Phật giáo”, Tạp chí Trung Quốc xã hội khoa học, kỳ 5, 1999.)

31.觉醒主编:《佛教与生态文明》,北京:宗教文化出版社,2009年。(Giác Tỉnh (chủ biên): Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh: Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009. )

32.唐忠毛:〈佛教生态伦理的理论核心及其现代诠释的误区〉,载觉醒主编:《佛教与生态文明》,北京:宗教文化出版社,2009年。(Đường Trung Mao: “Cốt lõi lý luận của đạo đức sinh thái Phật giáo và chỗ sai lầm trong lý giải hiện đại của nó”, Tái Giác Tỉnh (chủ biên), Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh: Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009.)

33.宋立道:〈西方生态伦理观与佛教生态伦理〉,载觉醒主编:《佛教与生态文明》,北京:宗教文化出版社,2009年。(Tống Lập Đạo: “Thuyết đạo đức sinh thái phương Tây và đạo đức sinh thái Phật giáo”, Tái Giác Tỉnh (chủ biên), Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh: Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009.)

34.王雷泉:〈佛教能为环境保护提供什么样的思想资源〉,载觉醒主编:《佛教与生态文明》,北京:宗教文化出版社,2009年。(Vương Tuyết Tuyền: “Phật giáo có thể cung cấp những nguồn tư tưởng nào để bảo vệ môi trường”, Tái Giác Tỉnh (chủ biên): Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh: Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009.)

35.陈红兵:《佛教生态哲学研究》,北京:宗教文化出版社,2011年。(Trần Hồng Binh: Nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo, Bắc Kinh: Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2011.)

36.南文渊:《藏族生态伦理》,北京:民族出版社,2006年。(Nam Văn Tuyền: Đạo đức sinh thái của người Tây Tạng, Bắc Kinh: Nxb. Dân tộc, 2006.)

37.洲塔:〈崇山祭神——论藏族神山观念对生态保护的客观作用〉,《甘肃社会科学》2010年,第3期。(Châp Tháp: “Sùng Núi tế Thần: Bàn về tác động khách quan của quan niệm về núi Thần của dân tộc Tây Tạng đối với việc bảo vệ sinh thái”, Tạp chí Khoa học Xã hội Cam Túc, kỳ 3, 2010.)

38.阎莉、史永义:〈傣族圣境及其生物多样性意蕴〉,《贵州民族研究》2012年第2期。(Diêm Lệ, Sử Vĩnh Nghĩa: “Thánh cảnh của người Thái và hàm nghĩa đa dạng sinh vật của nó”, Quý Châu dân tộc nghiên cứu, kỳ 2, 2012.)

39.段玉明:〈佛教环保技术试析——以峨眉山为例〉,《云南社会科学》2009年第1期。(Đoàn Ngọc Minh: “Phân tích kỹ thuật bảo vệ môi trường Phật giáoTrường hợp núi Nga Mi”, Tạp chí Khoa học xã hội Vân Nam, kỳ 1, 2009.)

 
LỊCH SỬXU HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TƯ TƯỞNG SINH THÁI PHẬT GIÁO 
Phạm Hoài Phong *

PHẦN II

2. NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG SINH THÁI PHẬT GIÁOTRUNG QUỐC 

So với Trung Quốc đại lục, việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáoĐài Loan bắt đầu sớm hơn và những khám phá liên quan đã đi vào chiều sâu từ giữa những năm 1990, trong đó có những nghiên cứu tiêu biểu và có sức ảnh hưởng lớn. Chẳng hạn như chủ trương “Bảo vệ môi trường tâm linh” của Hòa thượng Thánh Nghiêm và chủ trương xây dựng sinh thái học tầng sâu của Phật giáo nhân gian của Dương Huệ Nam.

Các nghiên cứu liên quan trong giới học thuật Trung Quốc đại lục bắt đầu vào cuối những năm 1990. Ba hội thảo Hội nghị giao lưu hữu nghị Phật giáo Trung – Nhật – Hàn được tổ chức tại Bắc Kinh vào năm 1998, Hội diễn giảng “Phật giáo và bảo vệ môi trường” do Hội Phật giáo Trung Quốc tổ chức tại Phổ Đà Sơn năm 2001, Hội thảo khoa học “Phật giáo và văn minh sinh thái” do chùa Phật Ngọc ở Thượng Hải tổ chức năm 2008, đã trực tiếp thúc đẩy việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáoTrung Quốc đại lục [1]. Bắt đầu từ năm 2007, với sự phản biện của các học giảliên quan trong lĩnh vực này, việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo trong nước đã dần đi vào chiều sâu. Liên quan đến vấn đề này, chúng tathể đại khái chia nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáoTrung Quốc đại lục thành hai giai đoạn trước và sau năm 2007. Giai đoạn đầu chủ yếu bắt đầu từ các chủ đề tư tưởng liên quan đến văn hóa sinh thái nhằm khám phá nguồn tư tưởngPhật giáo có thể cung cấp cho tư tưởng sinh thái. Các chủ đề quan tâm của nó là thế giới quan liên hệ đến tư tưởng Duyên khởi, Bất nhị của Phật giáogiá trị quan, sinh mệnh quan liên hệ đến tư tưởng “tất cả chúng sinh đều có Phật tính”, “vô tình hữu tính” và quan điểm sinh thái lý tưởng có mặt trong quan điểm Tịnh độ của Phật giáo. Mặc dù vậy, có thể thấy ở giai đoạn này, các nghiên cứu vẫn chưa hình thành nên ý thức lý luận trong việc xây dựng tư tưởng sinh thái mang đặc điểm riêng của Phật giáo. Ở giai đoạn sau, từ năm 2007 trở đi, một số học giả mới bắt đầu phản biện một cách nghiêm khắc các phương pháp nghiên cứu trước đó, đồng thời cố gắng xây dựng một hệ thống tư tưởng sinh thái Phật giáo dựa trên nền tảng theo đuổi các giá trịquan điểm riêng của Phật giáo.

Nhìn chung, so với các nghiên cứu về tư tưởng sinh thái Phật giáo ở Âu – Mỹ, nghiên cứu liên quanTrung Quốc khởi đầu khá muộn và chủ yếu chỉ tập trung vào việc khẳng định giá trị tích cực của nó, trong khi đó những nghiên cứu mang tính phản biện, chất vấn còn ít ỏi. Trong quá trình phát triển, nhìn chung các nghiên cứu đã trải qua hai giai đoạn tương tự như phương Tây, từ chỗ đơn thuần tìm kiếm nguồn tư tưởng sinh thái trong Phật giáo đến ý thức xây dựng hệ thống tư tưởng sinh thái đặc thù của Phật giáo. Về chủ đề và nội dung nghiên cứu, các nghiên cứu liên quan cũng tương đối toàn diện.

2.1. THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU CHỦ YẾU Ở ĐÀI LOAN 

Chủ trương “bảo vệ môi trường tâm linh” của Hòa thượng Thánh Nghiêm là việc giải thích sinh thái từ quan niệm “Tùy vào sự thanh tịnh của tâm mà thế giới của chư Phật thanh tịnh” phản ánh trong kinh Duy Ma Cật. Về cách thức thực hiện việc bảo vệ môi trường sinh thái, Hòa thượng Thánh Nghiêm cho rằng chúng ta nên bắt đầu từ hai khía cạnh: Một là bảo vệ môi trường vật chất và hai là thanh lọc, tịnh hóa tâm thức. Trong đó, Hòa thượng Thánh Nghiêm nhấn mạnh vị trí cốt lõi của việc “bảo vệ môi trường tâm linh” và cho rằng việc bảo vệ môi trường vật chất là phương pháp chữa bệnh tạm thời, trong khi việc thanh lọc tâm hồn mới là cách chữa trị tận gốc bệnh tật. Xoay quanh việc bảo vệ môi trường sinh thái, Hòa thượng Thánh Nghiêm cũng đề xuất chủ trương “bốn loại bảo vệ môi trường” sinh thái tự nhiên thông qua việc điều chỉnh các quan điểm về giá trịhành vi lệch lạc của chúng ta bằng cách bảo vệ môi trường tâm linh; đảm bảo cuộc sống trong sạch, thanh đạmtiết chế bằng việc bảo vệ môi trường sống; nâng cao phẩm giá nhân cách bằng việc bảo vệ môi trường lễ nghi hoặc phép tắc; bảo vệ môi trường tự nhiên nhằm bảo vệ môi trường sinh thái bền vững [2]. Cần khẳng định rằng tư tưởng “bảo vệ môi trường tâm linh” của Hòa thượng Thánh Nghiêmnỗ lực xây dựng lý luận tư tưởng sinh thái Phật giáo trên nền tảng tư tưởng Phật giáo truyền thống, trong đó cũng bao gồm nội hàm triết học sinh thái. Chỉ có điều, nói một cách tương đối, chủ trương “bảo vệ môi trường tâm linh” của Ngài đã chú ý hơn đến thực tiễn hành vi bảo vệ môi trường trong thực tế, và không đưa ra những luận chứng mang tính lý luận sâu sắc và hệ thống đối với tư tưởng bảo vệ môi trường này.

Giáo sư Dương Huệ Nam của Đại học Quốc gia Đài Loan đã chỉ trích tuyên bố của Arne Naess về việc thiết lập hệ sinh thái tầng sâu của Phật giáo từ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chân thường và phê phán chủ trương “bảo vệ môi trường tâm linh” của Hòa thượng Thánh Nghiêm xem trọng khuynh hướng bảo vệ môi trường tâm linhđánh giá thấp việc bảo vệ môi trường vật chất, chủ trương xây dựng sinh thái học tầng sâu trên nền tảng lý luận của Duyên khởi tính không, nhấn mạnh đến mối quan hệ chặt chẽ giữa con ngườivạn vật trong môi trường. Giáo sư Dương Huệ Nam nhấn mạnh đến tính nhân gian của sinh thái học tầng sâu Phật giáo, đồng thời nhấn mạnh sự quan tâm đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái thực tế, đặc biệt là môi trường sinh thái địa phương. Về mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường tâm linhbảo vệ môi trường vật chất, giáo sư Dương Huệ Nam cho rằng tâm giải thoát và cảnh giải thoát có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần chú ý đến thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái thực tế. Ông cũng chủ trương thực tiễn bảo vệ môi trường của Phật giáo nên phá bỏ các hình thức nhặt giấy vụn, rác thải, hoặc thả chim hoang dã trong rừng núi và chú ý đến các khía cạnh chính trị – xã hội – kinh tế của thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái [3]. Nghiên cứu liên quan của Dương Huệ Namý nghĩa tích cực trong việc khắc phục sự chú trọng của Phật giáo truyền thống về giải thoát tâm linh cá nhânthúc đẩy Phật giáo quân tâm đến thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo. Tuy nhiên, về mối quan hệ của bảo vệ môi trường tâm linhbảo vệ môi trường vật chất, giáo sư Dương Huệ Nam chú trọng nhiều hơn đến việc bảo vệ môi trường vật chất mang tính thực tế, không nắm bắt được đặc điểm tư tưởng văn hóa Phật giáo coi trọng siêu việt tâm linh. Tác giả cho rằng, triết học sinh thái Phật giáogiá trị thực tiễn của nó nên xoay quanh việc triển khai tìm kiếm giá trị của tự thân Phật giáo.

2.2. THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU CHỦ YẾU Ở GIAI ĐOẠN THỨ NHẤT Ở TRUNG QUỐC  

Nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo ở giai đoạn đầu (trước năm 2007) ở Trung Quốc đại lục được thực hiện cùng với việc phiên dịchgiới thiệu tư tưởng văn hóa sinh thái phương Tây. So với các chủ đề được thảo luận trong các tư tưởng văn hóa sinh thái phương Tây, giới học thuật và Phật giáoTrung Quốc đại lục chủ yếu tìm kiếm và chỉnh lý nội hàm cơ bản của tư tưởng triết học sinh thái Phật giáo từ quan điểm toàn diện của Phật giáo, thuyết vô ngã, sinh mệnh quan, thuyết giá trị nội tại, quan điểm từ bi, quan điểm Tịnh độ, và các thực hành đạo đức sinh thái Phật giáo truyền thống… Chẳng hạn bằng cách so sánh quan niệm tổng thể về chủ nghĩa nhân văn sinh thái trong tư trào văn hóa sinh thái để lý giải ý thức tổng thể chứa đựng trong thuyết Duyên khởi của Phật giáo; so sánh sự phê phán của tư trào văn hóa sinh thái đối với chủ nghĩa nhân văn, cho thấy giá trị của “thuyết vô ngã” của Phật giáo trong việc phê phán chủ nghĩa nhân văn; so sánh thuyết giá trị vốn có của thuyết giá trị tự nhiên với thuyết Phật tính; luận chứng tư tưởng bảo vệ động vật của tư trào văn hóa sinh thái từ thuyết lục đạo luân hồiquan điểm từ bi của Phật giáo.

Trong bài nghiên cứu xuất bản vào năm 1991 có tựa đề “Sự cộng sinh của ánh sáng và bóng mây: Một khảo sát liên quan đến Phật giáobảo vệ sự cân bằng sinh thái” – vốn là bài báo Phật giáo đầu tiên về tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo được xuất bản ở Trung Quốc đại lục, tác giả Lưu Nguyên Xuân trình bày tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo từ ba phương diện: thuyết Duyên khởi, phát tâm Bồ-đề và cầu sinh Tịnh độ [4]. Bài nghiên cứu này thảo luận về những khía cạnh chính của tư tưởng sinh thái Phật giáo, nhưng nó không thu hút được sự chú ý của giới học thuật vào thời điểm đó.

Nghiên cứu “Quan điểm sinh thái Phật giáo” của Ngụy Đức Đông đăng tải trên tạp chí Khoa học xã hội Trung Quốc năm 1999 giải thích một cách có hệ thống cơ sở lý thuyết, các đặc trưng cơ bản, nội dung cụ thểthực tiễn sinh thái của tư tưởng sinh thái Phật giáo. Nghiên cứu này cho rằng, thuyết Duyên khởi là cơ sở triết học của tư tưởng sinh thái Phật giáo, và thuyết tổng thể và thuyết vô ngã là những đặc trưng cơ bản của tư tưởng sinh thái Phật giáo. Nội dung chính của nó bao gồm: Quan điểm “vô tình hữu tính”, sinh mệnh quan chúng sinh bình đẳng, bất sát sinh, quan điểm lý tưởng trong việc tìm kiếm Tịnh độ [5]. Bài viết này trình bày một cách toàn diện nội dung cơ bản của tư tưởng sinh thái Phật giáo, là công trình tiêu biểu về nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo thời kỳ này và nó có ảnh hưởng không nhỏ trong lĩnh vực nghiên cứu này. Xuất phát từ những chủ đềtư tưởng sinh thái quan tâm, phương pháp nghiên cứu của công trình này không liên kết tư tưởng sinh thái Phật giáo với việc tìm kiếm giá trị tự thân Phật giáotư tưởng cơ bản của tự thân Phật giáo, mà khảo sát nó trong hệ thống tư tưởng của tự thân Phật giáo.

2.3. THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA GIAI ĐOẠN THỨ HAI Ở TRUNG QUỐC

Sự tiến bộ của những nghiên cứu liên quan ở giai đoạn nghiên cứu thứ hai (sau năm 2007) ở Trung Quốc đại lục chủ yếu thể hiện ở việc phê phán, suy ngẫm về thành quả nghiên cứu trước đó, và dần ý thức được xu hướng nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo kết hợp với việc tìm kiếm giá trị và hệ tư tưởng riêng của Phật giáo. Thành quả nghiên cứu theo hướng kết hợp văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc thiểu số từ góc độ nhân học văn hóaxã hội học của giai đoạn này cũng tương đối nổi bật.

1. Suy ngẫm và xây dựng tư tưởng sinh thái Phật giáo

Thành quả tiêu biểu thứ nhất là các công trình được in trong kỷ yếu Phật giáovăn minh sinh thái [6] do Hội thảo nghiên cứu khoa học “Phật giáo và nền văn minh sinh thái” tổ chức năm 2008:

Tác giả Đường Trung Mao phân tích một số hiểu lầm trong các cách diễn giải hiện đại trước đây về đạo đức sinh thái Phật giáo. Ông cho rằng việc giải thích này là một quá trình truyền tải mang tính “phổ quát hóa” các giá trị quan sinh thái, vì thế, bản thân việc giải thích này không thể hoàn toàn dựa vào tín ngưỡng Phật giáocần phải căn cứ vào tư tưởng cốt lõi của đạo đức Phật giáo, đồng thời giải thích nó một cách sáng tạo trên nền tảng nỗ lực dung hợp thành quả tích cực của nền văn minh lý tính hiện đại. Tác giả của nghiên cứu cho rằng việc thảo luận hời hợt và cứng nhắc về tư tưởng sinh thái tổng thể của Phật giáo và về ý tưởng viên dung, tư tưởng bình đẳng của tất cả chúng sinh, hoàn toàn không phải là nhiệm vụ hàng đầu và quan yếu trong việc kiến tạo nền văn minh sinh thái hiện nay, mà cần suy ngẫm về mối quan hệ giữa tư tưởng văn hóa sinh thái với các lĩnh vực chính trị và kinh tế, suy ngẫm rằng trong tình huống nào tư tưởng sinh thái Phật giáo mới có thể thực sự được thực hiện một cách chân chính và phát huy hết giá trị tự thân của nó. Tác giả cho rằng, trong quá trình lý giải tư tưởng sinh thái Phật giáo, nên tránh việc tùy tiện dùng Phật pháp thay thế việc giải thích khoa học. Thay vì so sánh những điểm tương đồng giữa Phật giáo và khoa học, tốt hơn nên chủ động khám phá giá trị của Phật giáo trên bình diện nhân văn và tinh thần [7]. Bài báo này là một trong số ít các nghiên cứu mang tính phê phán trong lĩnh vực nghiên cứu này.

Tác giả Tống Lập Đạo đã so sánh sự khác biệt giữa đạo đức sinh thái phương Tây và đạo đức sinh thái Phật giáo, từ đó cho rằng nền tảng của đạo đức sinh thái phương Tây là thuyết quyền lợi tự nhiên, là sự mở rộng các quyền lợi đạo đức từ con người đến các dạng sống khác và giới tự nhiên. Nền tảng của đạo đức sinh thái Phật giáo là thuyết giải thoát mang tính tôn giáo; còn đạo đức sinh thái phương Tây sản sinh trên nền tảng khoa học tự nhiên đương đại và phương pháp luận của nó. Đạo đức sinh thái Phật giáo xuất phát từ thế giới quan và đạo đức quan của nó, tôn giáo này, trong khi đạo đức sinh thái là một hệ thống đạo đức hậu hiện đại. Việc nghiên cứu các tư tưởng sinh thái Phật giáo, không nên dừng ở cấp độ lý thuyết của đạo đức sinh thái mà cần tiến lên theo thời đạicống hiến hết mình cho các hoạt động sinh thái của toàn dân ở cấp độ thực tiễn [8]. Bài viết này nhấn mạnh những đặc trưng của đạo đức sinh thái Phật giáo, nó phản ánh ý thức tự giác trong nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo.

Tác giả Vương Lôi Tuyền thì tìm kiếm cơ sở lý luậncốt lõi tư tưởng sinh thái Phật giáo từ chính tôn giáo này. Xuất phát từ những luận điểm cơ bản của thuyết Duyên khởinghiệp báo, tác giả nhận định có hai nguyên lý cơ bản phù hợp với tư tưởng bảo vệ môi trường sinh thái: (1) liên hệ phổ quát, tính không vô ngã và (2) tư tưởng bất nhị, tự tha đồng thể. Hai nguyên tắc đó cũng tức là quan điểm từ bitrí tuệ trong Phật giáo. Tác giả còn chỉ ra nguồn gốc khủng hoảng sinh thái đến từ “tâm thức” của con người, đồng thời cho rằng thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái Phật giáo cũng nên lấy “tâm thức” làm chủ chốt, mục tiêu xây dựng Tịnh độ nhân gian phải đặt trên nền tảng của tâm thanh tịnh “tâm tịnh thì quốc độ tịnh” [9]. Như vậy, việc nhấn mạnh vai trò của tâm thức trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của nghiên cứu này cho thấy, nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo xem trọng xu hướng nghiên cứu thuyết đức hạnh.

Thành quả tiêu biểu thứ hai là công trình “Nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo” của tác giả Trần Hồng Binh [10]. Thông qua thuyết đức hạnh sinh thái Phật giáo, tác giả đã thảo luận một cách có hệ thống và chuyên sâu về giá trị quan sinh thái Phật giáo, lý thuyết đức hạnh sinh thái, tồn tại luận sinh thái và thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái. Đây là chuyên khảo học thuật nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo đầu tiên xuất bản ở Trung Quốc.

Từ những kết quả tiêu biểu của nghiên cứu triết học sinh thái ở giai đoạn này, có thể thấy rằng nội dung của tư tưởng sinh thái Phật giáo khác với các tư tưởng khác và việc nêu bật những đặc điểm của thuyết đức hạnh trong triết học sinh thái Phật giáoxu hướng cơ bản của nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo này. Vấn đề còn tồn tại là, các nghiên cứu liên quan chưa tiến hành một cách hệ thống và chuyên sâu về chủ đề đức hạnh xoay quanh của triết học sinh thái Phật giáo, chưa có sự triển khai tương ứng về sự tương quan của chủ đề liên quan của triết học sinh thái Phật giáo và thuyết đức hạnh Phật giáo.

2. Nghiên cứu nhân học văn hóaxã hội học về tư tưởng sinh thái Phật giáo

Là những khía cạnh quan trọng của nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo. Thành quả nghiên cứu liên quan ở giai đoạn này đã tăng lên đáng kể, đặc biệtnghiên cứu về văn hóa sinh thái của các dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của Phật giáo.

Các nghiên cứu liên quan phần lớn dựa trên thành quả nghiên cứu của Phật giáo Tây Tạng, nổi bậtcông trình Đạo đức sinh thái Tây Tạng của tác giả Nam Văn Uyên; nghiên cứu “Tác động của văn hóađời sống của Tây Tạng đối với môi trường sinh thái” của tập thể tác giả Hướng Đoan, Triệu Khẩn Điền; công trình “Văn hóa dân gian và bảo vệ sinh thái Tây Tạng” của hai tác giả Ca Tạng Tài Đán và Châu Tháp; nghiên cứu “Sùng Núi tế Thần: Bàn về sự tác động khách quan của quan niệm về núi Thần của người Tây Tạng đối với việc bảo vệ sinh thái” của các tác giả Tần Mao Quân, Thang Minh Hoa,… Cần giải thích rằng, ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái trong văn hóa và phong tục tập quán của người Tây Tạng không hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi Phật giáo Tây Tạng. Nhưng không thể nghi ngờ Phật giáo Tây Tạng đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát huy văn hóa, phong tục tập quán dân tộc này.

Công trình Đạo đức sinh thái Tây Tạng của tác giả Nam Văn Uyên thảo luận về đạo đức sinh thái thể hiện trong tư tưởng, văn hóa, phong tục tập quán và thực tiễn sản xuất, đời sống… của người Tây Tạng, cung cấp vô số tài liệu nhân học văn hóa phục vụ cho việc nghiên cứu tư tưởng sinh thái Phật giáo [11]. Nghiên cứu “Sùng Núi tế Thần: Bàn về tác động khách quan của quan niệm về núi Thần của dân tộc Tây Tạng đối với việc bảo vệ sinh thái” của tác giả Tháp Chu thảo luận cụ thể về ý nghĩa của việc thờ núi trong văn hóa Tây Tạng đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái. Nghiên cứu này chỉ ra quan niệm núi Thần hiện nay của người dân Tây Tạng chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, sùng bái linh hồn, đạo Bon và Phật giáo Tây Tạng. Việc tôn thờ và kính sợ núi Thần biểu hiện thành nguyên tắc tôn giáo và cấm kỵ trong cuộc sống hàng ngày của người Tây Tạng. Những nguyên tắc và kiêng kỵ này ngược lại bảo vệ một cách khách quan hệ sinh thái Tây Tạng [12].

Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu liên quan về tác động tích cực của văn hóa Phật giáo của những người du mục phía Bắc và các dân tộc thiểu số ở Vân Nam đối với môi trường sinh thái, chẳng hạn bài viết “Tư tưởng đạo đức sinh thái trong tín ngưỡng tôn giáo truyền thống của tộc người du mục” của tác giả Tế Tú Hoa; “Sự hình thành và diễn biến của quan niệm sinh thái tự nhiên của người Mông Cổ trên Cao nguyên Thanh Hải – Tây Tạng” của hai tác giả Hàn Quan Khước Gia và Tân Phong; nghiên cứu “Vùng đất Thánh của tộc người Thái và ý nghĩa đa dạng sinh học của nó” của hai tác giả Diêm Lệ và Sử Vĩnh Nghĩa.

Nghiên cứu chung “Thánh cảnh của người Thái và hàm nghĩa đa dạng sinh vật của nó” của hai tác giả Diêm Lệ và Sử Vĩnh Nghĩa tập trung vào cảnh quan tự nhiên ở một địa danh gọi là “Long Lâm” của người Thái và thắng cảnh thiêng liêng mang tính nhân văn của Phật giáo, đồng thời thảo luận về ý nghĩa tích cực của việc bảo vệ sinh thái trong tín ngưỡng sùng bái thánh cảnh. Cái gọi là thánh địa ở đây nhằm chỉ một loại hình cảnh quan tự nhiên, đặc biệt nhận được sự tôn thờ, cấm kỵ và thái độ bảo vệ từ tín ngưỡng văn hóa truyền thống. “Long Lâm” là một khu rừng nằm phía sau làng, được người Thái xem là nơi ở của linh hồn tổ tiên, nơi sinh sống của các vị thần hoặc ma quỷ, từ quan niệm đó hình thành nên hàng loạt ý thức tín ngưỡng và cấm kỵ, nhờ đó động thực vật, đất đai và nguồn nước ở “Long Lâm” được giữ gìn một cách đầy đủ. Thánh địa nhân văn Phật giáo là chùa chiền thì hầu như có mặt ở khắp các làng quê, môi trường sinh thái và tài nguyên động thực vật ở những nơi này cũng rất đa dạng và nhận được sự quan tâm, bảo vệ tương đối tốt [13].

Nghiên cứu “Phân tích kỹ thuật bảo vệ môi trường Phật giáoTrường hợp núi Nga Mi” của tác giả Đoàn Ngọc Minh lấy núi Nga Mi làm ví dụ và phân tích sách lược tôn giáo của Phật giáo trong việc xây dựngduy trì môi trường sinh thái từ góc độ nhân học văn hóa. Với cách lựa chọn chủ đề mới lạ, nghiên cứu này có ảnh hưởng lớn trong giới học thuật. Nghiên cứu này chỉ ra việc bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo không chỉ cung cấp một ý tưởng hay quan điểmgiá trị mang tính phổ quát, mà các Tăng sĩ nhiều đời ở đây còn có nhiều hoạt động thực tiễn cụ thể, hình thành nên kỹ thuật bảo vệ môi trường hoàn chỉnh. Từ trường hợp bảo vệ môi trường sinh thái ở núi Nga Mi, có thể biết, cách thức vũ trụ hóa, lý giải thần thánh hóa và nghi thức hóa thao tác là ba loại kỹ thuật bảo vệ môi trường cơ bản và phổ biến nhất trong Phật giáo. Ở đó, cốt lõi của vấn đềsử dụng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau để khoác lên trên đối tượng chiếc áo choàng thiêng liêng, đồng thời tạo nên sự kính sợ và hình thành các quy tắc và cấm kỵ đối với công chúng. Có thể thấy, môi trường sinh thái của núi Nga Mi được bảo vệ một cách hiệu quả, phần lớn nhờ những kỹ thuật bảo vệ môi trường này của Phật giáo [14].

Nhìn chung, hướng nghiên cứu nhân học văn hóa có nhiều thành quả hơn so với hướng nghiên cứu xã hội học về sinh thái Phật giáo. Liên quan đến vấn đề này, hầu hết các kết quả nghiên cứu của nhân học văn hóa đều dừng lại ở việc nghiên cứu tư liệu, mà có rất ít các nghiên cứu chú ý đến việc khảo sát, điều tra xã hội tương ứng. Trong khi đó, muốn thúc đẩy sự tham gia tích cực của Phật giáo vào thực tiễn hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái thực tế, rõ ràng là không thể thiếu các nghiên cứu liên quan.

3. Sự phát triển hoặc mở rộng không gian nghiên cứu

Trên đây đã bàn về quá trình và thành quả nghiên cứu chủ yếu của các hướng nghiên cứu về tư tưởngvăn hóa sinh thái Phật giáo trong và ngoài nước. Ở đây, chúng tôi thử tìm hiểu để mở rộng hơn nữa các hướng nghiên cứu sinh thái Phật giáo.

Thứ nhất, nghiên cứu sinh thái Phật giáoTrung Quốc cần dựa vào một cách đầy đủ các kết quả nghiên cứuliên quan về lĩnh vực này ở nước ngoài. Việc nghiên cứu tư tưởngvăn hóa sinh thái Phật giáo ở Âu – Mỹ bắt đầu sớm hơn ở Trung Quốc và quá trình đó đã hình thành nên năm phương thức nghiên cứu như thuyết Hộ giáo, thuyết phê phán, thuyết kiến tạo, thuyết đức hạnhnghiên cứu văn hóa xã hội. Có khoảng 30 chuyên khảo và tập hợp các bài nghiên cứu liên quan đã được xuất bản. Không chỉ có nhiều thành quả nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng đa dạng và từng bước đạt được tính khách quan và thuần thục. Chỉ trên cơ sở hiểu biết đầy đủ, tiếp thu dung hợp thành quả nghiên cứu ở Âu – Mỹ, thì các nghiên cứu liên quan trong nước mới có thể tránh đi đường vòng và kịp thời hướng tới tính khách quan và thành thục. Tuy nhiên, thực tế khách quan là các nghiên cứu liên quan trong giới hàn lâm trong nước hiếm khi dựa trên các kết quả nghiên cứu của nước ngoài. Ngoại trừ nghiên cứu giới thiệu “Tổng quan về các nghiên cứu về Phật giáo và sinh thái trong giới học thuật Âu Mỹ” của tác giả Tuyên Phương, có phần giới thiệuhệ thống các kết quả nghiên cứu liên quan của giới học thuật Âu Mỹ, và “Nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo” của chúng tôi rút ra từ các thành quả nghiên cứu liên quan của giới học thuật Âu – Mỹ, ở Trung Quốc hầu như không có kết quả nghiên cứu nào dựa vào tư liệu nghiên cứu liên quan của giới học thuật ở Âu – Mỹ. Để học hỏi, tiếp thu và dung hợp thành quả nghiên cứu của giới học thuật Âu – Mỹ, việc biên dịchgiới thiệu các kết quả nghiên cứu sinh thái Phật giáo tiêu biểu của nước ngoài là điều rất quan trọng. Về vấn đề này, năm 2008, Nxb Giáo dục Giang Tô đã xuất bản kỷ yếu Hội thảo chuyên đề của Đại học Harvard “Phật giáo và sinh thái” do Hà Tắc Âm và cộng sự dịch; chúng tôi cũng đã hợp tác với Đỗ Học Hâm để dịch tác phẩm tiêu biểu nghiên cứu về lý thuyết đạo đức phản ánh những xu hướng nghiên cứu mới nhất trong nghiên cứu sinh thái học Phật giáo ở Âu – Mỹ; tác phẩm “Phật giáo, đạo đức và sinh thái” của Cooper và James thuộc Đại học Durham, Vương quốc Anh (cuốn sách này sẽ được xuất bản bởi Nxb Sách Cổ Thượng Hải). Đồng thời, việc giới thiệu tổng thể về lịch sửthành quả nghiên cứu chủ yếu trong nghiên cứu sinh thái học Phật giáo ở nước ngoài cũng rất quan trọng. Ở phương diện này, vẫn còn nhiều việc phải làm.

Thứ hai, tiến hành nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về văn hóa tư tưởng sinh thái Phật giáo. Giới học thuật trong nước quả thực đã có những tiến bộ đáng kể trong nghiên cứu sinh thái Phật giáo trong những năm gần đây, nhưng khoảng cách cũng rất rõ ràng, điều này chủ yếu thể hiện ở rất ít kết quả nghiên cứu sâu sắc và có hệ thống về tư tưởngvăn hóa sinh thái Phật giáo. Nói tổng quát, việc nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo vẫn chỉ nằm ở rìa của nghiên cứu tư tưởng Phật giáo. Mặc dù đã có hơn 140 bài báo, nghiên cứu đã được xuất bản trong hai thập kỷ qua, nhưng rất ít tác giả đã công bố hai bài báo, nghiên cứu liên quan trở lên. Điều này cho thấy, có rất ít tác giả thực sự xem triết học sinh thái Phật giáo là hướng nghiên cứu chính. Chuyên khảo về sinh thái Phật giáo đã xuất bản chỉ có một công trình duy nhấtNghiên cứu về triết học sinh thái Phật giáo của chúng tôi. Các học giả trong nước tỏ ra ít hiểu biết về các kết quả và xu hướng nghiên cứu liên quan của nước ngoài, thiếu các nghiên cứuhệ thống và chuyên sâu về tư tưởngvăn hóa sinh thái Phật giáo từ các góc độ khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về tư tưởngvăn hóa sinh thái Phật giáohết sức cần thiết.

Thứ ba, các tài liệu liên quan đến văn hóa tư tưởng sinh thái Phật giáo Trung Quốc cần được khai thác và chỉnh lý. Hầu hết các nghiên cứu về sinh thái của Phật giáo ở nước ngoài dựa trên Phật giáo Nam truyền ở Thái Lan, Tích Lan và tư liệu Thiền tông Nhật Bản. Việc sử dụng các tài liệu liên quan đến Phật giáo Trung Quốc để nghiên cứu sinh thái Phật giáo là rất hạn chế. Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu sinh thái Phật giáo trong nước đều tập trung vào việc giải thích ý nghĩa sinh thái của tư tưởng Phật giáo, nhiều nhất là tư liệu thông thường về nghiên cứu Phật học trước đó, mà hiếm khi khai thác và chỉnh lý lại các tài liệu Phật giáo Nguyên thủy dưới góc độ các chủ đề sinh thái. Đặc biệtcần phải khai thác và chỉnh lý các tài liệu thuộc về mảng văn hóa xã hội Phật giáothực tiễn xã hội. Có thể hình dung rằng phải có một không gian rộng lớn hơn cho các nghiên cứu liên quan.

Thứ tư, kết hợp nghiên cứu về thực tiễn xã hội trên cơ sở thực tiễn xây dựng nền văn minh sinh thái. Nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo cuối cùng đòi hỏi nó phải được thực hiện trong thực tiễn giáo dục bảo vệ môi trường sinh thái và đời sống sản xuất. Các nghiên cứu liên quan của giới học thuật cũng đã đề cập đến ý nghĩa thực tiễn của văn hóa tư tưởng sinh thái Phật giáo, nhưng hầu hết chúng đều là những diễn ngôn thiếu thực tế và hiếm khi kết hợp chủ thể với mô thức vận hành Phật giáo ở nước ta để nghiên cứu phương thức và con đường tham dự của chủ thể Phật giáothực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái. Khi nghiên cứu nội dung thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo, người ta thường giới hạnphương diện phương thức ăn chay để bảo vệ sự sống của giới sát sinh, việc tiết kiệm để tích phước, trong khi đó người ta lại rất ít chú ý đến việc tham gia vào các phương diện khác. Mở rộng khía cạnh thực tiễn xã hội của bản thân nghiên cứu sinh thái Phật giáo bao gồm nhiều khía cạnh. Chẳng hạn như, khám phá vai trò của các phong tục tập quán dân gian của Phật giáo truyền thống trong việc tuyên truyền, thực hiện đầy đủ và chắc chắn quan niệm bảo vệ môi trường sinh thái; tìm hiểu, nghiên cứu phương thức và con đường thực tiễn bảo vệ sinh thái mà từ thiện Phật giáo ủng hộ; làm thế nào để phát huy vai trò chủ thể Phật giáo khác nhau trong việc xây dựng nền văn minh sinh thái? Tiến hành các cuộc điều tra xã hội về ý thức sinh thái của các tín đồ Phật giáo Trung Quốc và các cách thức và con đường mà chủ thể này tham gia vào thực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái; làm thế nào để thúc đẩy sự tương tác và hợp tác giữa Phật giáo và chính quyền các cấp, cũng như các lĩnh vực khoa học và giáo dục, thúc đẩy việc xây dựng nền văn minh sinh thái,…

NCS. Phạm Hoài Phong

 

Chú thích:

* Phạm Hoài Phong: NCS Tiến sĩ khoa Triết học, Học viện Nhân văn, Đại học Hạ Môn (Xiamen University), Trung Quốc.

** Nguyên tác tiếng Hoa: 陈红兵:〈佛教生态思想研究历程及趋势〉,《孔学堂》,2017年,第02期。

[1] Duy Thiện, “Khái lược về nghiên cứu quan điểmthực tiễn bảo vệ môi trường sinh thái Phật giáo”, Tạp chí Pháp Âm, kỳ 3, 2011.

[2] Thích Thánh Nghiêm, “Bảo vệ môi trường tâm linh”, Tạp chí Nhân sinh, kỳ 194, 1999.

[3] Dương Huệ Nam, “Tín ngưỡng và đất đai: Xây dựng sinh thái học tầng sâu từ Duyên khởi tính không”, Nhân gian Phật giáo và đối thoại đương đại – Kỷ yếu Hội thảo lần 3 – Nghiên cứu thực tiễnlý luận tư tưởng Đại sư Ấn Thuận, Tài đoàn pháp nhân Hoằng Triết Văn Giáo Cơ Kim Hội ấn hành, 2002, trang 1-35; “Xem xét lại quan niệm bảo vệ môi trường sinh thái của Phật giáo Đài Loan đương đại – trường hợp uớc hẹn Tịnh độ nhân gian và và bảo vệ môi trường tâm linh”, Tạp chí Đương Đại, kỳ 104, 1994; “Từ cảnh giải thoát đến tâm giải thoátXây dựng sinh thái học Phật giáo bình đẳng tâm và cảnh”, Kỷ yếu Hội thảo mối quan tâm của Phật giáoxã hội, Đài Loan Trung Hoa Phật giáo Bách khoa văn hiến ấn hành, 1993, tr.195-206.

[4] Lưu Nguyên Xuân, “Sự cộng sinh của ánh sáng và bóng mây: Một khảo sát liên quan đến Phật giáobảo vệ sự cân bằng sinh thái” Tạp chí Pháp Âm, kỳ 1, 1991.

[5] Ngụy Đức Đông, “Quan điểm sinh thái của Phật giáo”, Tạp chí Trung Quốc xã hội khoa học, kỳ 5, 1999.

[6] Giác Tỉnh (chủ biên), Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh, Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009.

[7] Đường Trung Mao, “Cốt lõi lý luận của đạo đức sinh thái Phật giáo và chỗ sai lầm trong lý giải hiện đại của nó”, Tái Giác Tỉnh (chủ biên), Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh, Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009.

[8] Tống Lập Đạo, “Thuyết đạo đức sinh thái phương Tây và đạo đức sinh thái Phật giáo”, Tái Giác Tỉnh (chủ biên), Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh, Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009.

[9] Vương Tuyết Tuyền, “Phật giáo có thể cung cấp những nguồn tư tưởng nào để bảo vệ môi trường”, Tái Giác Tỉnh (chủ biên): Phật giáovăn minh sinh thái, Bắc Kinh, Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2009.

[10] Trần Hồng Binh, Nghiên cứu triết học sinh thái Phật giáo, Bắc Kinh, Nxb. Văn hóa Tôn giáo, 2011.

[11] Nam Văn Uyên, Đạo đức sinh thái của người Tây Tạng, Bắc Kinh, Nxb. Dân Tộc, 2006.

[12] Châp Tháp, “Sùng Núi tế Thần: Bàn về tác động khách quan của quan niệm về núi Thần của dân tộc Tây Tạng đối với việc bảo vệ sinh thái”, Tạp chí Khoa học Xã hội Cam Túc, kỳ 3, 2010.

[13] Diêm Lệ, Sử Vĩnh Nghĩa, “Thánh cảnh của người Thái và hàm nghĩa đa dạng sinh vật của nó”, Quý Châu dân tộc nghiên cứu, kỳ 2, 2012.

[14] Đoàn Ngọc Minh, “Phân tích kỹ thuật bảo vệ môi trường Phật giáo -Trường hợp núi Nga Mi”, Tạp chí Khoa học xã hội Vân Nam, kỳ 1, 2009.

 



Tạo bài viết

Thiền sư Thích Nhất Hạnh vừa viên tịch tại Huế, theo thông tin từ Tăng đoàn Làng Mai nói với BBC tối thứ Sáu 21/01 giờ châu Âu.
Đạo Phật chết là đạo Phật qua những hình thức tổ chức rườm rà, nghi lễ cổ điển, cúng kiến, kinh kệ bằng những ngôn ngữ xa lạ làm cho giới trẻ hoang mang. Từ đó giới trẻ nhìn về những ngôi chùa như một viện dưỡng lão của ông già bà cả, cho những người thiếu tự tin, hoặc cho những thành phần mê tín dị đoan.
Tôi đến chùa Bảo Quang tọa lạc ở thành phố Santa Ana vào một buổi sáng nắng đẹp, cái nắng hiếm hoi, ấm ấp giữa mùa đông Cali sau hai tuần mưa lạnh. Bãi đậu xe trong sân chùa vắng khiến không gian thêm rộng và trống trải.