Bài 56 - Lãnh vực vô biên và khung cảnh tạm thời.

23/02/20224:19 SA(Xem: 494)
Bài 56 - Lãnh vực vô biên và khung cảnh tạm thời.

LÝ TƯỞNG CỦA NGƯỜI BỒ-TÁT
The Bodhisattva Ideal

***
Urgyen Sangharakshita
Hoang Phong chuyển ngữ

  

Chương VIII
Đức Phật và người bồ-tát - vĩnh cửu và thời gian

 

Bài 56

Lãnh vực vô biên và khung cảnh tạm thời.

 

Nếu kết quả cuối cùng mang lại từ việc tu tập là một vị Phật, thì trước đó cũng phải có một sự thăng tiến ở thể dạng một vị bồ-tát. Do vậy chúng ta có hai nguyên tắc [tu tập] : nguyên tắc thứ nhất là Phật tính (buddhahood) mang kích thước vô tận, nguyên tắc thứ hai là "bồ-tát tính" hay "bản-thể bồ-tát" (bodhisattvahood) thuộc khung cảnh thời gian : một mang tính cách siêu nhiên (một vị Phật), một mang tính cách tự tại (nội tại / immanent) (một vị bồ-tát) ; một biểu trưng cho sự hoàn hảo tròn đầy được thực hiện một cách vô tận (một vị Phật), một biểu trưng cho sự hoàn hảo của một quá trình thực hiện kéo dài bất tận (một vị bồ-tát). Thế nhưng nguyên tắc này không đưa đến nguyên tắc kia ; giữa hai nguyên tắc đó là một sự đứt đoạn.

 

            Vậy có phải điều đó là một sự bế tắc hay không ? (một vị Phật biểu trưng cho sự vĩnh cửu vượt lên trên các kích thước thời gian, trong khi đó người bồ-tát vẫn tiếp tục là một ngưòi bồ-tát cho đến vô tận, vì thế phải chăng người bồ-tát sẽ chẳng bao giờ trở thành một vị Phật ?) Đối với Đại thừa và nhất là Tantra thừa thì nhất định điều đó không thể xảy ra (đối với các tông pháihọc phái này thì tu tập là nhằm vào mục đích trở thành Phật, không phải là để mãi mãi làm người bồ-tát). Thế nhưng không có một giải pháp nào là dễ dàng cả (hầu giúp mình biến thời gian tự tại của người bồ-tát trở thành thời gian vô tận của một vị Phật). Không phải chỉ cần nghĩ rằng "thời gian là hư ảo để hòa tan nó vào bên trong vô tận", hoặc "vô tận là hư ảo để hoà tan nó vào bên trong thời gian". Thứ này hoặc là thứ kia, không thể nào rút ngắn hay đơn giản hóa chúng [để biến chúng trở thành một thứ]. Theo Tantra thừa thì phải thực thi cả hai cùng một lúc. Chúng ta phải nhìn vào tất cả mọi sự như đã được thực hiện vĩnh cửu, nhưng đồng thời cũng [là một quá trình] đang được thực hiện một cách bất tận. Đức Phật ngồi vô tận dưới cội bồ đề ; Ngài từng ngồi xuống nơi ấy và Ngài vẫn còn ngồi nguyên tại nơi ấy. Trong khi đó người bồ-tát không ngừng luyện tập Sự hoàn hảo (Paramita / Ba-la-mật), hết kiếp sống này sang kiếp sống khác, cho đến vô tận, nếu có thể nói như vậy. Đức Phật và người bồ-tát biểu trưng cho hai thể dạng của một hiện thực duy nhất. Chính sự nhận thức đó sẽ góp phần đưa đến sự hiển lộ của Tâm thức giác ngộ (Bodhicitta / Bồ-đề tâm) tuyệt đối, cho đến khi nào chưa khám phá ra một giải pháp khác hơn.

 

            Bản thể của Tâm thức giác ngộ (Bồ-đề tâm) tuyệt đối được diễn tả qua các vần thơ tuyệt đẹp nêu lên trong một phép tu tập của Phật giáo Tây Tạng gọi là "Người đánh lừa địa ngục" hay "Kẻ chiến thắng địa ngục". Cách gọi "Kẻ thách đố địa ngục" cũng là một trong các danh hiệu của người Vajrasattva (có nghĩa là "người tu tập theo Kim cương thừa", chữ này tương đương với chữ bodhisattva / bồ-tát, là danh hiệu của những người tu tập theo Đại thừa nói chung. Tiền ngữ vajra trong chữ vajrasattva có nghĩa là Kim cương, hậu ngữ sattva có nghĩa là chúng sinh). Các câu thơ này nói lên một sáng kiến (một phát minh, một phương tiện) rất hữu hiệu trong việc tu tập, tất nhiên là cho đến khi nào chưa có một sáng kiến nào khác hơn. 

 

            "E MA HO" là một mantra (một câu tụng hay câu niệm, tiền ngữ "mana" của chữ mantra trong tiếng Phạn có nghĩa là tâm thần, chữ "tra" có nghĩa là che chở, mantra là một câu tụng che chở tâm thức mình), đôi khi cũng có thể xướng lên thật nhanh gần như là một tiếng thốt (exclamation) duy nhất nói lên một sự kinh ngạc. Câu mantra này thường được đặt trước các câu thơ theo truyền thống thi phú Tây Tạng (các chữ O MA HO có thể tạm dịch sang tiếng Việt là : "Ồ ! Trông kìa !" hay "Ồ ! Tuyệt vời thay !", nhằm biểu lộ sự kinh ngạcthán phục của mình trước một sự kiện, một sự khám phá hay một sự hiểu biết phi thườnghuyền diệu nào đó). Platon (triết gia Hy Lạp, thế kỷ thứ IV và thứ III trước Tây lịch) từng cho biết ý nghĩa đầu tiên nhất của triết học là sự kinh ngạc, nói lên một sự thán phục to lớn (một sự khám phá mới lạ và kinh ngạc trên phương diện hiểu biết). Khi tiếp cận được một cái gì đó siêu nhiên vượt lên trên chính mình, khiến mình phải thán phục, thì tất mình sẽ khó tránh khỏi thốt lên sự kinh ngạcsửng sốt. Mỗi câu thơ đều bắt đầu bằng lời thốt lên đó như là một cách nói lên sự thán phục trước một sự hiển hiện mang tính cách quán thấy nào đó, chẳng hạn như quán thấy Tâm thức giác ngộ (Bồ-đề tâm) tuyệt đối đang hiện lên với mình.  Dưới đây là các tiết thơ đó :  

 

E MA HO  - Ồ ! Trông kìa !

Lạ lùng và tuyệt vời thay, Dharma !

Một cái gì đó huyền bí và sâu xa nhất nơi những vị Giác ngộ vẹn toàn.

Bên trong cõi vô-sinh tất cả mọi thứ đều sinh ra,

Thế nhưng những gì sinh ra không hề biết đến sự sinh là gì.

 

E  MA HO - Ồ ! Trông kìa !

Lạ lùng và tuyệt vời thay, Dharma !

Một cái gì đó huyền bí và sâu xa nhất nơi những vị Giác ngộ vẹn toàn.

Trong sự không-chấm-dứt, tất cả đều chấm dứt,

Thế nhưng sự chấm dứt đó không hề biết đến sự chấm dứt là gì.

 

E MA HO  - Ồ ! Trông kìa !

Lạ lùng và tuyệt vời thay, Dharma !

Một cái gì đó huyền bí và sâu xa nhất nơi những vị Giác ngộ vẹn toàn.

Trong sự phi-an-trú tất cả đều an-trú,

Thế nhưng trong sự an-trú đó chỉ là phi-an-trú.

 

E MA HO  - Ồ ! Trông kìa !

Lạ lùng và tuyệt vời thay, Dharma !

Một cái gì đó huyền bí và sâu xa nhất nơi những vị Giác ngộ vẹn toàn.

Trong sự phi-cảm-nhận tất cả mọi thứ đều được cảm-nhận,

Thế nhưng trong sự cảm-nhận đó, gần như tất cả chỉ là phi-cảm-nhận.

 

E MA HO  - Ồ ! Trông kìa !

Lạ lùng và tuyệt vời thay, Dharma !

Một cái gì đó huyền bí và sâu xa nhất nơi những vị Giác ngộ vẹn toàn.

Trong sự phi-chuyển-động, tất cả mọi thứ đều đến và ra đi,

Thế nhưng bên trong sự chuyển-động đó chỉ là phi-chuyển-đông.

 

            (Theo dịch giả trong bản dịch tiếng Pháp thì các câu thơ trên đây là do nhà sư Sangharakshita dịch lại từ một sadhana Đại thừa của riêng ông. Sadhana là tiếng Phạn và tiếng Pali có nghĩa là gia tài, phương tiện hay phương pháp giúp đưa đến một sự thực hiện nào đó, do vậy cũng có thể hiểu như là một gia tài truyền thụ giữa thầy và đệ tử. Trong một quyển sách của Đức Đạt-lai Lạt-ma mang tựa "Tâm điểm của thiền định"  /  Le Coeur de la Méditation - cũng có nêu lên tiếng thốt giác ngộ trên đây trong một bài thơ của nhà sư Dza Patrul Jigme Chokyi Wangpo. Đọc giả có thể xem cách giải thích của Đức Đạt-lai Lạt-ma về bài thơ này trong Phần IV của quyển sách trên đây, hoặc cũng có thể xem thẳng bài thơ này trong phần phụ lục theo địa chỉ liên kết : https://thuvienhoasen.org/p30a29195/phu-luc )

 

            Các câu thơ trên đây nói lên bản thể của Tâm thức giác ngộ (Bồ-đề tâm) tuyệt đối, tất nhiên là cho đến khi nào chưa có một cách diễn đạt nào khác hơn. Đấy là cách gộp chung qua một tầm nhìn duy nhất - một hình thức hòa lẫn nào đó nhưng không hề xảy ra sự lẫn lộn - giữa hiện thực hiện hữu "bên ngoài thời gian" thuộc lãnh vực "vô tận" và hiện thực dưới hình thức một sự "thăng tiến" tuần tự "trong khung cảnh thời gian".

 

            Thật hết sức khó vượt xa hơn điểm đó (điều đó, cấp bậc đó, cách mô tả đó) hay đạt được(thực hiện được nó), kể cả bằng cách tưởng tượng (sự Giác ngộ rất khó mô tả hay hình dung). Thế nhưng điều đó không có nghĩa là Tâm thức giác ngộ (Bồ-đề tâm) khó xảy ra và quá đỗi xa lạ, khiến chúng ta không làm hiển hiện được nó, ít nhất ở một cấp bậc nào đó, trong việc tu tập của mình. Trước hết phải ý thức được là dù cho thời gianmênh mông và kéo dài đến đâu đi nữa, thì nó cũng sẽ chẳng bao giờ đạt được vô tận. Thời gian không thể đi xa hơn thời gian được, nó chỉ có thể kéo dài và tiếp tục kéo dài thế thôi (thời gian luôn là thời gian không thể trở thành vô tận được). Vì vậy vấn đề tiếp cận với sự tuyệt đối hay Bồ-đề tâm không hề đặt ra [trong khung cảnh thời gian], chẳng qua là vì Bồ-đề tâm thuộc lãnh vực vĩnh cửu. Trong một triệu năm nữa, chúng ta cũng sẽ không thể tiến đến gần hơn với vô tận hay sự Giác ngộ bằng chính lúc này trong thời điểm hiện tại này của chúng ta.  

 

            Dầu sao thì điều đó cũng không hẳn là một sự tuyệt vọng. Chúng ta có thể nhìn vào nó theo một hướng ngược lại bằng cách tự nhủ là chưa bao giờ mình lại tiến đến gần hơn với sự Giác ngộ như trong thời điểm này của chính mình. Kể cả một vị bồ-tát đang đứng trước ngưỡng cửa Giác ngộ cũng không thể gần hơn so với mình đang trong lúc này. Mỗi giây phút đều là giây phút cuối cùng, dù đó là giây phút trong hiện tại này, hay giây phút tiếp theo sau đó, kể cả giây phút sẽ xảy ra qua hàng triệu năm sau đó. Sau giây phút cuối cùng đó, duy nhất chỉ còn lại Buddhatva (Buddhabhava / Buddhahood / Phật tính). Vì vậy, trong từng giây phút một, dù không nghĩ đến nó hoặc nhận biết được nó một cách rõ rệt, thì điều đó đều tạo ra cho mình một sự kinh ngạc thật kinh hoàng ! Chúng ta vụt nhận thấy mình đang ở tột đỉnh của chiếc cột treo giải thưởng, và tất cả những gì mà mình còn phải làm là... Vậy việc đó là gì ? (không nhảy xuống được, cũng không tìm được một chỗ bằng phẳng nào để bám vào đó, những gì cần phải làm trong giây phút đó là một sự buông bỏ, một sự dừng lại hoàn toàn, một sự chấm dứt cuối cùng. Độc giả có thể xem lại bài 50 mang tựa "Đức Phật và người bồ-tát - vĩnh cửu và thời gian". Trong bài này có mô tả tình trạng người bồ-tát trèo lên đến đỉnh chiếc cột treo giải thưởng) 

 

            Chúng ta đã đi trọn con đường. Chúng ta đạt được mức đến trên con đường của người bồ-tát, ít nhất cũng bằng cách tưởng tượng. Thế nhưng đồng thời chúng ta cũng cảm thấy là mình chưa hề cất bước. Mục đích của cuộc hành trình đã đạt được từ vô tận, thế nhưng đồng thời cũng đang được thực hiện một cách vô tận. Đức Phật hay Tâm thức giác ngộ, vô tậnthời gian, cả hai chỉ là một, không hề là hai thứ. Sự quán thấy đó chính là điểm chấm dứt, và cũng có thể là điểm khởi hành trên con đường khám phá ra lý tưởng của người bồ-tát.

 

 

                                                                                                Bures-Sur-Yvette, 14.03.22

                                                                                                  Hoang Phong chuyẻn ngữ

 

 

VÀI LỜI GHI CHÚ CUỐI SÁCH

của người chuyển ngữ

 

            Điểm độc đáo và nổi bật nhất trong quyển sách Lý tưởng của người bồ-tát của nhà sư Sangharakshita là sự kết hợp giữa lý thuyếtthực hành cũng như sự dung hòa giữa các xu hướng đa dạng và dị biệt của tất cả các tông pháihọc phái. Lý tưởng của người bồ-tát được nêu cao như là một biểu tượng đại diện cho toàn thể Phật giáo.

 

            Theo nhà sư Sangharakshita thì Ananda, người đệ tử thân cận bên cạnh Đức Phật, luôn chăm lo cho Đức Phật, là vị "bồ-tát" đầu tiên biểu trưng cho lý tưởng đó. Thật vậy Ananda không hề nghĩ đến sự giác ngộ cho cá nhân mình, mà chỉ một lòng xả thân vì Dharma và Đức Phật. Sau khi Đức Phật tịch diệt thì khi đó Ananda mới thật sự rút lui, dồn tất cả nghị lực để tu tập để đạt được thể dạng A-la-hán hầu hội đủ điều kiện tham dự kỳ kết tập Đạo Pháp lần thứ nhất. Nhà sư Sangharakshita cho rằng con đường của người tỳ-kheo Theravada khi "bước vào dòng chảy" đưa mình đến thể dạng A-la-hán cũng tương tự như con đường của người bồ-tát Đại thừa mở rộng lòng vị tha giúp mình thực hiện "Tâm thức giác ngộ" (Bodhicitta / Bồ-đề tâm). Dù tên gọi khác nhau, thế nhưng hai con đường đó thật ra chỉ là một. 

 

            Ngoài ra các ý niệm song đôi hoặc tương phản cũng như các phương pháp tu tập đa dạng, tất cả đều được nhà sư Sangharakshita nêu lên và giải thích thật minh bạch. Chẳng hạn như Trí tuệ (Prajna) và lòng Từ bi (Karuna) là hai đường hướng tu tập tương phản nhau, thế nhưng thật ra chỉ là một "cặp bài trùng" không thể tách rời nhau. Trí tuệ là cách nhìn vào bên trong chính mình để trau dồi và phát huy sự hiểu biết, từ bi trái lại là cách nhìn vào kẻ khác, hy sinh vì kẻ khác. Thế nhưng hai phép tu tập đó không mang tính cách đối cực mà là một sự bổ khuyết : không có trí tuệ thì không thể phát động được lòng từ bi, thiếu từ bi thì không sao phát huy được trí tuệ. Sự tương kết giữa trí tuệtừ bi là động cơ chủ yếu giúp người tu tập phát huy Tâm thức giác ngộ (Bodhicitta / Bồ-đề tâm), và đồng thời Tâm thức giác ngộ, ở thể dạng hoàn hảo và tròn đầy của nó, lại là một sự cảm nhận phi-cá-nhân, có nghĩa là vượt lên trên trí tuệ và cả lòng từ bi.

 

            Ngoài ra cũng có các phẩm tính song đôi khác, chẳng hạn như Đạo đức (Sila) và Bố thí (Dana) : đạo đức là để biến cải chính mình, bố thí là để hướng vào kẻ khác ; Nhẫn nhục (Kshanti) và Nghị lực (Virya) : nhẫn nhụcsức mạnh nội tâm, nghị lựcsức mạnh đương đầu với các cảnh huống bên ngoài ; Thiền định (Dhyana) và Trí tuệ (Prajna) : thiền định là cách trở về với con người của mình, trí tuệ là cách giúp mình nhìn vào hiện thực. Các phẩm tính "song đôi" vừa đối cực vừa bổ khuyết là các phẩm tính căn bản trong phép tu tập của Phật giáo Theravada, thế nhưng đồng thời cũng được gộp chung trong sáu phép tu tập của Đại thừa gọi là Paramita (Ba-la-mật / sự Hoàn hảo).   

 

            Sự kết hợp hài hòa giữa các ý niệm và các phép tu tập đa dạng trên đây còn được mở rộng hơn nữa, bao trùm toàn thể các "xu hướng" và "giáo lý" dị biệt giữa các học phái, tông phái Phật giáo, và cả các luồng tư tưởngvăn hóa từ Đông sang Tây. Sự kết nạp hài hòa và rộng lớn đó là "kim chỉ nam" hay "tiền đề" của toàn bộ quyển sách, và đồng thời cũng cho thấy sự uyên bác và khả năng tổng hợp của nhà sư Sangharakshita về toàn bộ nền tư tưởng phong phú và sâu sắc của Phật giáo. Nói chung nhà sư này đã kết hợp được cả hai khía cạnh của Dharma : trí tuệ và sự sùng kính. Trí tuệ là sự hiểu biết, sự sùng kính là lòng nhiệt tâm. Thật vậy đôi khi chúng ta thấy có những người rất uyên bác, thao thao bất tuyệt, nhưng không hề nghĩ đến việc tu tập để biến cải chính mình, trái lại có những người chỉ loanh quanh với các việc thực nghi lễ, nhưng không hề nghĩ đến là phải phát huy trí tuệ hầu mang lại cho mình sự giải thoát. Phối hợp được cả hai khía cạnh đó thật hết sức cần thiết đối với một người bước theo con đường Phật giáo.   

           

            Ngoài sự tổng hợp thật tài tình trên đây thì dường như không thấy nhà sư Sangharakshita giải thíchtriển khai rộng rãi về hai khái niệm vô cùng quan trọng và căn bản của Dharma là Nguyên lý tương liên, tương tác và tương tạo giữa mọi hiện tượng (Paṭiccasamuppāda / pratītyasamutpāda) và khái niệm về sự Trống không (suññatā / śūnyatā) về cái tôi và cả hiện thực. Thấu triệt được hai khái niệm này trong Dharma thật căn bản và chủ yếu, có thể giúp người tu tập bước những bước vững chắc hơn trong cuộc sống tâm linh của mình.      

 

            Điều đáng lưu ý sau hết và cũng quan trọng hơn hết đối với Đại thừatính cách đối cực hay nghịch lý giữa người bồ-tát và một vị Phật, được nêu lên trong bài giảng 56, và cũng là phần kết luận của toàn bộ quyển sách. Việc tu tập của người bồ-tát kéo dài bất tận trong khung cảnh thời gian, thế nhưng sự Giác ngộ của một vị Phật thì lại mang tính cách vô tận, vượt ra ngoài khung cảnh thời gian. "Con đường" hun hút không bao giờ chấm dứt là của người bồ -tát, sự "vô tận" là của một vị Phật. Giữa hai thể dạng đó là một sự bất liên tục, một sự "đứt đoạn".  Đó là sự đối cực và tương phản to lớn nhất đối với những người bước theo con đường Đại thừa. Người bồ-tát tiếp tục mãi mãi là người bồ-tát, thời gian tiếp tụcthời gian, vì vậy làm thế nào mà người bồ-tát có thể trở thành một vị Phật, bởi vì thời gian không thể thoát ra khỏi thời gian để trở thành vô tận ?

 

            Nhà sư Sangharakshita hóa giải sự nghịch lý đó bằng cách đồng hoá "Tâm thức giác ngộ" (Bodhicitta / Bồ-đề tâm) với một "vị Phật", cả hai thứ chỉ là một ; đối với người bồ-tát cũng vậy "con đường" và "mức đến" chỉ là một. Bên trong "Tâm thức giác ngộ" (Bodhicitta / Bồ-đề tâm) của người bồ-tát thời gian trở thành vô tận, thời gianvô tận chỉ là một thứ, giữa hai thứ đó không có một sự tách biệt hay tương phản nào cả. 

 

            Vậy chúng ta hãy thử tìm hiểu sự Giác ngộ "vô tận" và con đường mang kích thước "không gian" qua một góc nhìn khác hơn. Thánh Thomas Aquinas (Thomas d'Aquin), tu sĩtriết gia người Ý thế kỷ XIII, có nói một câu nổi tiếng như sau : "Vậy thời gian là gì? Nếu không có ai nêu lên với tôi câu hỏi đó thì tôi hiểu được thời gian ; thế nhưng nếu có ai yêu cầu tôi giải thích thời gian là gì, thì tôi sẽ không còn hiểu được nó nữa ?". (cf. "Confessions", XI, xx, 26). Kể cả vào thời đại khoa học và tân tiến ngày nay cũng vậy, mọi người đều hiểu thời giankhông gian là gì, thế nhưng không ai biết được bản chất của các thứ ấy thật sự là gì cả. Các khoa học gia, các nhà thiên văn, các nhà toán học có thể đo đạt được không gianthời gian, thế nhưng họ không biết được các kích thước mà họ đo đạt hay ước tính đó thật sự là gì, bản chất của chúng là gì. Đối với chúng ta cũng vậy, chúng ta sống với tư duy và xúc cảm của mình qua từng giây phút một, chúng ta sống với không gian qua từng cử động trên thân thể mình, thế nhưng không mấy khi chúng ta lưu ý đến sự liên hệ mật thiết và chặt chẽ đó với sự hiện hữu của chính mình.

 

            Thế giới hiện tượng gồm có hai lãnh vực : tâm linhvật chất. Đối tượng khảo cứu của Khoa học là thế giới vật chất, hoặc ít nhất cũng phải trực tiếp liên hệ đến vật chất, có nghĩa là những gì có thể cân đo được, mô tả được và lập lại được, vì vậy bất cứ một "sự kiện" hay một "sự hiểu biết" nào không mang các đặc tính đó đều không phải là khoa học. Tâm linhthế giới của tư duy sâu kín, của các sự cảm nhận trực giác, nằm bên ngoài lãnh vực khoa học. Các khoa học gia có thể nhận biết được sự sinh hoạt của não bộ dựa vào các làn sóng phát ra từ các tế bào não nhờ vào một số máy móc, thế nhưng không nhận biết được "nội dung" hay "ý nghĩa" của các làn sóng ấy là gì. Trái lại một người hành thiền có thể thực hiện được các cảm nhận phi-vật-chất thuộc lãnh vực tâm linh, ý thức được ý nghĩa của các sự cảm nhận ấy, có nghĩa là những gì nằm bên ngoài lãnh vực khoa học. Thế nhưng các cảm nhận của người hành thiền cũng như các kết quả ghi nhận và cân đo được của các khoa học gia tất cả đều mật thiết liên hệ với không gian và cả thời gian.

 

            Vậy thời giankhông gian thuộc vào lãnh vực nào : vật-chất hay tâm linh ? Khoa học biết được, ý thức được sự chi phối toàn cầu của thời giankhông gian đối với thế giới vật chất, chủ động được các đặc tính vật lý của chúng, mô tả, đo đạt được chúng, nhưng không hiểu được chúng là gì. Trái lại trong lãnh vực tâm linh, người ta có thể cảm nhận được chúng bằng trực giác, nhận biết được sự hiện hữu siêu thực của chúng, nhưng không năm bắt được chúng một cách cụ thể như là các thành phần vật lý.  

 

             Điều đó có thể cho phép chúng ta nghĩ rằng thời giankhông gian là các thành phần hay yếu tố liên kết giữa hai thế giới vật chấttâm linh, có nghĩa là thời giankhông gian vừa là vật chất nhưng cũng vừa là phi-vật-chất. Chẳng hạn chúng ta cảm nhận được tuổi thơ của mình, nhớ lại được cha mẹ mình, và cả thời giankhông gian quá khứ liên quan đến các sự cảm nhận đó của mình. Dù là phi-vật-chất, thế nhưng các cảm nhận đó trực tiếp liên hệ đến sự vận hành của não bộ ở thể dạng vật chất của chúng ta trong hiện tại. Chúng ta hãy nêu lên một thí dụ khác, chẳng hạn chúng ta đang đứng im và sau đó thì bước tới một bước, động tác đó cho thấy chúng ta vừa để lại sau lưng một phần không gian mà mình vừa chiếm hữu trước đó, và đồng thời chúng ta cũng chiếm hữu một phần không gian mới. Hai phần không gian đó liên hệ với hai điểm mốc của thời gian. Vậy chúng ta hãy nêu lên thêm một thí dụ khác nữa, chẳng hạn khi còn bé chúng ta chiếm giữ một không liên quan với thân xác nhỏ bé của mình, ngày nay chúng ta chiếm giữ một không gian mang kính thước lớn hơn. Thật hiển nhiên không gian ngày bé liên hệ với một mốc thời gian quá khứ khác với mốc thời gian hiện tại mà mình đang hiện hữu. Thế nhưng thời giankhông gian vẫn là không gianthời gian, dù là ở thời điểm nào cũng vậy. 

 

            Thomas Aquinas sau khi cho biết là mình không hiểu được thời gian là gì cả, thì ngay sau đó còn cho biết thêm : "Nếu cho rằng có ba thứ thời gian : quá khứ, hiện tại, và tương lai, thì đấy là một sự sai lầm. Đúng hơn phải xem là có ba thứ thời gian : hiện tại của quá khứ, hiện tại của hiện tại, và hiện tại của tương lai [...].  Hiện tại của quá khứtrí nhớ ; hiện tại của hiện tạitrực giác; hiện tại của tương lại là sự chờ đợi" (cf. "Confessions", id). Tóm lại hiện tại của hiện tại chính là cột mốc hay điểm chuẩn giúp mình nhìn vào thời gian và cả không gian, dù là các thứ ấy thuộc "quá khứ" hay "tương lai".

 

            Thời giankhông gian quá khứ chỉ là những sự cảm nhận của tâm thức mình trong hiện tại, thời giankhông gian trong tương lai chỉ là những sự phóng tưởng của tâm thức mình từ hiện tại. Khi hồi tưởng lại thời gian và khung cảnh ngày bé của mình chẳng hạn, thì đấy chỉ vỏn vẹn là trí nhớ. Tưởng tượng rồi đây mình sẽ trở thành một cụ già gầy nhom và lom khọm thì đấy chỉ đơn giản là một sự phóng tưởng. Cảm nhận hiện tại bên trong hiện tại là sự trực nhận về sự hiện hữu của chính mình trước hiện thực và bên trong hiện thực, đó là cách giải thoát mình khỏi các kích thước không gianthời gian. Cảm nhận được sự hiện hữu của mình trong "hiện tại của hiện tại" là sự "Giải thoát". Và đó cũng là cách hiểu về những lời kết luận trong quyển sách Lý tưởng của người bồ-tát của nhà sư Sangharakshita : "Vô tận và thời gian chỉ là một thứ, không phải là hai thứ khác nhau ; con đường và mức đến chỉ là một, mức đến cũng chính là điểm khởi hành".

 

            Những gì trên trên không hẳn là một sự tự biện, bởi vì khoa học tân tiến ngày nay qua các ngành vật lý lượng tử có thể giúp chúng ta tiếp cận gần hơn với thế giới tâm linh, nếu có thể nói như vậy. Điều đó có nghĩa là khoa học dù không chạm vào hay thâm nhập được vào thế giới tâm linh, thế nhưng có thể giúp chúng ta nhận biết được rõ ràng hơn sự liên hệ và tương kết giữa hai thế giới vật chất và phi-vật-chất. Vật lý lượng tử là ngành khoa học khảo cứu các thể dạng cực vi của vật chất gọi là lượng tử (quantum).  Vật chất ở thể dạng lượng tử có thể là các hạt "cụ thể", nhưng cũng có thể là các "làn sóng" hay "năng lượng", chẳng hạn như ánh sáng có thể là các làn sóng nhưng cũng có thể là các hạt photon (quang tử). Dù ở thể dạng nào các lượng tử đó đều mật thiết liên hệ với không gianthời gian. Giác ngộ hay Giai thoát là cách vượt lên trên thời gian và cả không gian, hoặc nói một cách khác là hòa nhập vào cả hai yếu tố đó của hiện thực để trở thành Hiện thực ở thể dạng tuyệt đối của nó.   

 

H.1-Nhà sư Sagharakshita1     H.2-Nhà sư Sagharakshita2

 

H.1-Nhà sư Sagharakshita

H.2- Nhà sư Sangharakshita và Đức Đạt-lai Lạt-Ma (Ảnh chụp tháng 5, 1957 tại Kalimpong (Sikkim-Darjiling) trên đất Ấn, dưới chân núi Hy-mã Lạp-sơn, sát biên giới Tây Tạng. Tấm ảnh này trước đây cũng đã được đưa vào một quyển sách trên mạng mang tựa Thiền định - Một phương pháp biến cải tâm linh (https://thuvienhoasen.org/a33046/thien-đinh-mot-phuong-phap-bien-cai-tam-linh ) nhưng lại được ghi là chụp tại Tây Tạng, điều này không đúng, vậy xin đính chánh.

 

 

                                                                                    Bures-Sur-Yvette, 14.03.22

                                                                                     Hoang Phong chuyển ngữ

Tạo bài viết
Kharkov là một trong những nơi bị oanh tạc khốc liệt trong cuộc chiến xâm lăng Ukraine những ngày qua. Tuy nhiên Nga đã bác đề xuất thiết lập hành lang nhân đạo tại Kharkov (và cả Sumy).
Nói đến giới luật là nói đến hệ thống các quy định về chuẩn mực trong đời sống phạm hạnh, quy tắc ứng xử, cũng như các hoạt động mang tính nội bộ, đặc thù của Tăng sĩ Phật giáo nói riêng và Tăng đoàn nói chung. Giới luật ấy chia làm hai phần, gồm giới và luật. Hai phần này có quan hệ khắng khít, mật thiết với nhau trong quá trình hành và trì giới luật của các vị thọ Đại giới: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni.
Sáng 21-4 (21-3-Nhâm Dần), tại chùa Thiên Mụ - TP.Huế, môn đồ đệ tử Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu đã trang nghiêm tổ chức tưởng niệm 30 năm (1992-2022) ngày ngài viên tịch.