Phần Thứ Hai - Hôn Phối

19/12/201012:00 SA(Xem: 7344)
Phần Thứ Hai - Hôn Phối

ÁNH SÁNG Á CHÂU - THE LIGHT OF ASIA
Tác giả: Sir Edwin Arnold - Pháp dịch: L. Sorg - Việt dịch: Đoàn Trung Còn
Phật học Tùng thơ 24, Sài Gòn 1965, In lần nhứt
Bản vi tính, sưu tầm và hiệu đính: Nguyên Định , Mùa Vu-Lan 2006, PL 2550

Phần thứ hai - HÔN PHỐI Book the Second - The Wedding
THẾ-TÔN mười tám tuổi đầu,
Đức Vua truyền cất ba lầu an cư ;
Cái bằng đà tốt cưa tư,
Cây hương lợp chắc, ấm trừ tiết đông ;
Cái nhì cẩm thạch gân trong,
Mùa hè ẩn mát khỏi nồng nực chi ;
Cái sau lợp ngói xanh rì,
Mùa thu chiêm-bặc [1] nở đầy thơm tho.
Theo nhà, vườn suối quanh co,
Chòm hoa, bồn cỏ, chỗ chờ nghỉ chơn.
Dạo chơi thong thả chi sờn,
Càng lâu, càng thấy lắm cơn sướng kỳ!
Đạt-Đa đương tuổi dậy thì,
Máu hồng mãnh liệt chảy đầy trong thân;
Nhưng Ngài có lúc định thần,
Có hồi suy xét truy lần viễn vông;
Cảnh như mặt nước gương trong,
Kế cơn sóng dợn chẳng trông thấy hình.

***

Đức Vua dòm thấu nỗi tình,
Triệu chư quan chức phán rành mấy câu:
"Các khanh hãy xét buổi đầu,
Lời ông đạo sĩ vào chầu nơi đây,
Lại thêm tướng số mấy thầy,
Đã nghe mộng triệu lời bày cũng thông.
Trẻ nầy ta mến vô song,
Sau nầy ra mặt anh hùng Đại vương.
Một tay chinh phục phi thường,
Các vua khiếp sợ đều nhường bực trên;
Ý ta muốn vậy cũng nên,
Song còn e nỗi xuống lên bất kỳ:
Con ta sẽ chán cõi nầy,
Bước vào nẻo Đạo, đường đầy khổ thô;
Công trình chẳng hiểu ra mô,
Mà đành bỏ cả cơ đồ nước non!
Lúc nầy Hoàng tử lo toan,
Trong đều đi lại tính lòn thoát thân.
Các quan mưu trí như thần,
Xét coi cách thế nào hơn tỏ bày.
Làm sao Hoàng tử đổi thay,
Đặng chàng bước tới đường đầy oai vinh?
Làm sao điềm trước hiển linh,
Đặng cho Thái tử trị quanh hoàn cầu?"

***

Một ông quan lão quỳ tâu :
"Bạch Ngài, tình ái thuốc mầu đó chi.
Nếu mà có gái phương phi,
Tơ tình bủa khéo bắt ghì như chơi.
Tấm lòng Hoàng tử còn tươi,
Chưa từng biết sắc, biết cười cợt duyên;
Môi thơm chưa được kề bên,
Với con mắt đẹp khiến quên cõi trời!
Hãy tầm gái lịch, bạn trai,
Giúp chàng vui hưởng cuộc đời thì xong.
Những ai quyết chí dốc lòng,
Dây đồng, tói sắt chẳng trông giam cầm;
Nhưng mà sợi tóc mỹ nhân,
Buộc vào dính cứng chẳng cần sức chi."

***

Các quan chịu kế tinh vi,
Nhưng vua còn hãy hồ nghi, ngỡ ngàng :
"Mỹ nhân kén chọn cho chàng,
Sau nầy có biết bước đàng thế nao ?
Ái tình há một giống sao ?
Cung phi dầu lắm, lảng xao không chừng!"
Một ông quan khác tỏ phân :
"Cảnh nầy như lộc trên rừng mê chơi,
Đến chừng tên bắn tới nơi,
Thôi đành nạp mạng há nài thác oan!
Chẳng phân kẻ thế, ông hoàng,
Mùi tình nếm phải, tránh đàng sao xong!
Có tuồng mặt, có hình dung,
Làm cho mình thích như trong cõi Trời;
Lại như thấy một ít người,
Có chìu đẹp đẽ hơn hồi rạng đông.
Thế nầy nghĩ lại cũng xong,
Xin Vua mở cuộc mời ròng mỹ nhơn.
Tranh nhau sắc lịch thua hơn,
Ngồi trên, Hoàng tử ban phần thưởng xuê.
Cô nào bước tới hầu kề,
Mặt mày hoan lạc, phải lề lối sang,
Làm cho Thái tử nhìn tường,
Thích tình chàng mới tìm đường ái ân.
Như vầy chọn lựa cân phân,
Tự do luyến ái phước phần cũng nên."

***

Lời nầy chấp thuận dưới trên,
Hôm sau có kẻ rao rền khắp nơi:
Các cô mỹ nữ được mời ,
Vào đền Thái tử ban thời của xinh.
Mỗi cô được tặng đã đành,
Cô nào đẹp nhứt phần mình trổi hơn.
Các cô thiếu nữ ân cần,
Cùng nhau tề tựu ở gần cửa vô.
Ai ai đều cũng điểm tô,
Rửa mình, chải tóc, ướp đồ thơm tho;
Long nheo đánh phấn láng o [2],
Áo quần, khăn khíu như hoa tốt màu.
Tay chơn son phết làu làu,
Ngôi sao giữa trán đỏ au chói ngời [3].
Cảnh tình xem thật tốt tươi,
Bao nhiêu thiếu nữ trước ngôi bước lần; 
Thảy đều mắt ngó xuống chân,
Lấy làm bối rối, tỏ phần khiếp thay!
Thấy Ngài cao thượng sợ ngay,
Tuy Ngài trầm tỉnh, mặt mày hòa vui.
Mỗi cô bước tới trước ngôi,
Rước nâng lễ vật, lui cui rút hình ;
Cô nào công chúng hoan nghinh,
Được Ngài cười mỉm với mình chút chi,
Tức thời hốt hoảng chạy đi,
E mình thấp thỏi, người thì cao sang.
Cả đoàn mỹ nữ đi ngang,
Của đà ban hết, bạn loan chưa nhìn.
Cuối cùng một ả bước lên,
Da-Du [4] trinh nữ rất nên mặn mà ;
Các quan chừ mới thấy qua,
Đông cung nhổm dậy người đà khác đi.
Hình nàng, Tiên nữ cung mây,
Tướng đi như thể hoa ti [5] trên Trời;
Mắt nàng như mắt con nai,
Đương mùa thích cuộc duyên hài tóc tơ;
Mặt nàng đẹp đẽ khó ngờ,
Dẫu bao nhiêu tiếng cũng chưa tả rành,
Nàng nhìn thẳng, mắt sáng anh,
Hai tay chắp lại trên mình nở nang,
Đưa ra cổ ngực đoan trang,
Hỏi rằng: "Điện hạ tặng sang món nào?
Ngài rằng : "Phát hết chớ sao,
Song ta còn có món trao đỡ đàng,
Ở người đẹp đẽ muôn vàng,
Xứ nầy rỡ tiếng nhờ nàng đó nghe ! "
Sợi dây ngọc bích mang theo,
Cởi ra khỏi ngực mà đeo cho nàng.
Hai người nhìn đã chán chường,
Ái tình lúc ấy hào quang nháng liền.

***

Về sau thành Phật giảng truyền,
Có người hỏi lại căn duyên sự nầy:
Tại sao vừa thấy mà ngây,
Tấm lòng Thánh Chúa cũng vầy tình men?
Ngài rằng: "Ta trước có quen [6],
Những đời quá khứ từng phen vợ chồng:
Thuở xưa, ở chốn núi đồng,
Một chàng tuổi trẻ con dòng đi săn,
Một hôm giữa cảnh suối, ngàn,
Đứng ra giám thị mấy nàng tranh chơi;
Dưới rừng thông, chạy khắp nơi,
Cũng như thỏ giỡn lúc trời sẫm qua.
Một cô, chàng kết vòng hoa,
Nháng ra như thể sao loè trên không;
Một cô chàng thưởng lông công,
Kết cùng lông trĩ, gà rừng, gà lôi;
Một cô, tặng trái thông đồi,
Còn cô sau chót giựt mồi cuộc đua;
Chàng đem nai nhỏ trao cô,
Trao luôn tình ái khá tua mặn nồng.
Với nhau vui vẻ rừng tòng,
Sống thời đồng tịch, chết cùng đồng quan.
Các ngươi thấy đó khá bàn:
Giống chôn xa thẳm cũng làn mọc lên;
Những tuồng thiện ác, khổ hên,
Oán thương mến ghét có phen tái hồi.
Việc làm những kiếp xa xôi,
Thảy đều sống lại để rồi báo lâm.
Lá kia sáng láng, tối tăm,
Trái nầy ngọt dịu, dằng chằng bởi duyên.
Ta là chàng mới nói trên,
Da-Du, nàng ấy bạn hiền thuở xưa.
Bánh xe sanh tử còn đưa,
Thì còn thấy lại việc xưa báo đền."

***

Phát đồ đâu đó vừa yên,
Các quan nhìn rõ nghe liền hết trơn.
Trở vào tâu lệnh Thiên nhan,
Hoàng nam tưởng đã phàn nàn chẳng ai.
Bỗng đâu bước tới bên ngai,
Da-Du con lão Xu-rai-Phật-đà [7]
Thấy nàng, chàng ngẩn người ra,
Hai bên bốn mắt nhìn qua rõ ràng;
Ngọc đeo chàng lấy tặng nàng,
Ngó nhau cũng đủ tỏ tường tình thâm.
Vua nghe vui vẻ phán rằng:
"Mồi ngon kiếm được, hãy tầm cách xoay,
Chim ưng duỗi cánh trên mây,
Lấy mồi ta nhử xuống đây mắc hàm.
Sai quan qua đó hội đàm,
Hỏi cô gái ấy, cưới đem vào đền".

***

Nhưng trong họ Thích tục truyền:
Cưới người sang trọng phải nên tranh tài;
Con vua thì cũng như ai,
Thắng người tranh cuộc, duyên hài mới xong.
Cha cô gái đẹp bảo cùng:
Các ông hoàng tử cũng đồng mến yêu,
Quý ngài về tấu giữa triều,
Cung, thương, kỵ mã đủ điều thì vâng;
Nếu chàng sức có trổi hơn,
Thắng người đoạt cuộc, lão mầng gả ngay.
Nhưng e chàng chẳng tài hay,
Vì không từng thoát khỏi bầy cấm cung."
Vua nghe, rất đỗi sầu lòng,
Vì lo Thái tử thất trong diễn tràng.
Tài tình gẫm lại nhiều trang,
Đề-Bà bắn giỏi tiếng vang trong thành,
Ác-Xu- Na [8] cỡi ngựa lanh,
Nan-Đà [9] thí võ có danh chúng tường.
Cười thầm, tâu với Phụ vương:
"Những môn thao lược con thường học qua;
Nay xin cha kíp truyền ra,
Môn nào ai giỏi thì con đấu cùng.
Khó gì cái cuộc kiếm cung,
Con không để mất tình chung đâu mà."
Lịnh truyền bảy bữa chẳng xa,
Đông cung Tất Đạt đứng ra sánh bày.
Ai mà thắng cuộc đấu nầy,
Da-Du mỹ nữ sẽ vầy căn duyên.

***

Đến ngày nhứt định như trên,
Vương tôn công tử bốn bên tựu về;
Những người thị tứ thôn quê,
Cùng nhau hội lại vì mê cuộc nầy.
Mỹ nhơn cũng có đến đây,
Bà con cha mẹ bao vây bên mình;
Làm như đám cưới linh đình,
Trống kèn chập trổi rang rình rất xuê,
Cộ xe kết tuội treo huê,
Có thêm màn trướng, nệm kề dưới lưng.
Mấy con bò có bông chưng,
Màu vàng tô điểm trên sừng ửng ra.
Đề-Bà cũng gốc hoàng gia,
Đứng ra xin cưới con nhà trâm anh
Nan-Đà vương tử tài danh,
Ác-Xu-Na cũng ra tranh vợ hiền.
Kế là Thái tử bước lên,
Cỡi con Càn-Trắc [10] hí rền đám đông.
Cuộc nầy ngựa chửa từng trông,
Đến nay thấy lạ nên vùng hí lên.
Đông cung Ngài cũng ngạc nhiên,
Trông qua dân chúng sống bên hoàng thành.
Tuy là họ chẳng như mình,
Uống, ăn, mặc, ở, chẳng vinh sang bằng;
Nhưng mà vốn một tâm càn,
Khoái vui, sầu não cũng hằng trải qua.
Da-Du, vừa mới thấy ra,
Nụ cười ửng nở mặt hoa đức Thầy.
Tay gò cương lụa thẳng ngay,
Chân liền bước xuống, miệng rày hô lên:
"Ai người tài trí bực trên,
Mới là đáng đoạt ngọc liền quý ưa.
Ta đây có đáng hay chưa,
Hãy ra mà thử cho vừa lòng đi".
 Nan-Đà bày cuộc bắn thi,
Trống đồng đem để cách thì sáu gưa [11] ;
Ác-xu-Na sức cũng vừa,
Đề-Bà xin để tám gưa thẳng lằn.
Hoàng nam Tất Đạt bảo rằng :
Trống ta hãy để xa bằng mười gưa.
Thật là xa lắc chẳng vừa,
Trông như đồng điếu [12] hồi xưa thường dùng.
Bấy giờ ai nấy giương cung,
Nan-Đà bắn lủng trống đồng đã treo,
Ác-xu-Na bắn lủng theo,
Đề-Bà bắn tới có chiều chính hơn:
Mọi nguời ai cũng khen rân,
Da-Du thục nữ có phần ngại lo.
Ngồi che tay áo co ro,
Sợ e Thái tử để cho trật ngoài.
Cung vàng [13] Ngài nắm thảnh thơi,
Dây cung hẳn thật gân loài thú se;
Ai người sức mạnh chúng ghê,
Mới là giương nổi kéo xê nửa phần.
Đạt-Đa có ý cười thầm,
Thẳng tay kéo hết chẳng cần sức chi.
Hai đầu giáp lại tức thì,
Cây cung lúc ấy gãy đi chỗ cầm.
Phán rằng : "Đồ bỏ ai ham,
Cung nào đáng nữa, khá đem đến hầu. "
Có người hiểu việc liền tâu,
"Trong đền thờ phượng, tớ âu nhớ tường:
Cung vua Sư-Tử Hiện-Vương [14],
Đời xưa còn đó chờ trang đặc kỳ."
Ngài rằng : "Đi lấy lại đây,
Cung thần mới xứng vào tay ta cầm."
Quân khiêng cung ấy lại gần,
Sườn làm bằng thép, cẩn gân bằng vàng;
Hai đầu cuốn lại bằng ngang,
Cũng như sừng quới bò mang trên đầu.
Đạt-Đa thử sức cung sau,
Để trên đầu gối kéo đâu hai lần.
Bấy giờ bảo mấy hoàng thân:
"Các em kéo thử xem chừng ra sao? "
Mấy ông kéo chẳng được nào,
Thôi đành để xuống mà giao đức Thầy.
Ngài liền đón lấy vào tay,
Nghiêng mình giương nỏ, kéo dây mạnh vào.
Nghe ra có tiếng thanh tao,
Ngồi nhà kẻ tật hỏi: nào tiếng chi?
Người nhà đáp lại một khi:
"Tiếng cung đền Thánh kêu đi khắp cùng.
Hôm nay Hoàng tử giương cung,
Và Ngài sắp bắn trống đồng để xa."
Cây tên Thái tử rút ra,
Tra vào, kéo thẳng, tay đà buông đi,
Mũi tên nhọn lướt đường mây,
Bắn vào lủng trống để thì tót xa;
Sức còn nên lại lướt qua,
Bay trên đồng ruộng ngó ra mịt mù.

***

Đề-Bà bày cuộc gươm đua,
Cội cây sáu ngón chém đùa đứt trơn.
Ác-xu-Na sức trổi hơn,
Lựa cây bảy ngón, gươm trân chặt liền.
Nan-Đà kiếm thuật chúng kiêng,
Cây dày chín ngón, người bèn chém ngay.
Đến phiên Thái tử ra tay,
Có hai cây lớn mọc bày theo nhau,
Lưỡi gươm nương sức nhiệm mầu,
Phụp vào một cái, lìa đầu hai cây;
Gươm Ngài chém thật rất ngay,
Hai cây đều đứt, đứng y như thường.
Nan-Đà vội vã lời buông:
Lưỡi gươm chẳng phủn, tìm đường trở lui.
Mỹ nhơn lo sợ bồi hồi,
Xem hai cây nọ nhánh chồi còn nguyên.
Thần phong làm gió nổi lên,
Hai tàn cây mịch ngã trên mặt đồi.

***

Quân đem ngựa giỏi tới rồi,
Chạy quanh đồng cỏ ba hồi thật mau;
Nhưng con Càn-Trắc dẫn đầu,
Lướt ăn hạng nhứt, bỏ sau xa vời.
Ngựa Ngài sức chạy rất tài,
Trong mồm nước dãi chảy nhoài đường đi,
Nước vừa thấm đất một khi,
Hai mươi lằn giáo nó thì chạy xong.
Nan-Đà nói giữa đám đông:
"Cỡi con Càn Trắc ta không thua mà,
Bây giờ ngựa chứng đem ra,
Xem ai cỡi giỏi mới là đáng hơn."
Mã phu được lệnh đem dâng,
Ngựa ô đen hắc như cơn tối trời;
Ba dây lòi tói cột ngoai,
Mắt xem dữ tợn, mũi ngời nở bung;
 Bộ đồ bắt kế đã không,
Móng chơn bằng sắt chưa dùng đóng mang;
Là vì ngựa hãy còn hoang,
Chưa ai lên cỡi tập đường bước thông.
Ba vì thế tử lên xong,
Bị con ngựa chứng vẫy vùng té ngay;
Áo quần bụi bặm dính đầy,
Lại thêm hổ thẹn tài nầy thô sơ.
Ác-xu-Na sức có thừa,
Được ngồi trên ngựa, tay quơ mở xiềng;
Hai chơn thúc lấy hai bên,
Cái hàm thiết ngựa, người bèn siết vô.
Một phen sợ sệt, điên rồ,
Cánh đồng ngựa hoảng chạy phô một vòng.
Thình lình trở mặt sau hông,
Miệng nhăn răng dữ, chơn vùng đá lên;
Làm cho chàng té một bên,
Và toan lướt tới đạp trên thân hình.
Nhờ đoàn giữ ngựa mắt lanh,
 Mau chân chạy tới tách rành ra cho.
Mọi người khi ấy nói to :
"Ngựa yêu, Hoàng tử hãy lo chớ gần,
Ruột gan tợ bão tưng bừng,
Máu me như thể lửa phừng đỏ au."
Đạt-Đa Thái tử yêu cầu:
" Dây xiềng bỏ hết, mặc dầu ta đương."
Nắm nơi gáy ngựa nhẹ nhàng,
Buông lời nhỏ nhắn dịu dàng dễ nghe;
Bàn tay bên mặt lấy che,
Đắp trên mắt ngựa, vuốt ve mặt dài;
Kéo lần từ cổ tới vai,
Lòn qua hông ngựa, tay Ngài măn mo.
Lạ lùng ai cũng nhận cho,
Thấy con ngựa dữ co ro hiền lành.
Chẳng còn cứng cổ tinh ranh,
Đứng êm dường thể biết rành kỉnh vâng.
Để cho Thái-tử lên lưng,
Chơn lần bước tới, ý tuân theo Ngài.
Xem ra, công chúng ghê ai?
Hô rằng: "Tất-Đạt cao tài hết trơn,
Thôi đừng tranh nữa còn hơn.
Có ai qua nổi người Nhơn trong Đền."
Mấy vì tranh đấu hô lên:
" Thật Ngài đệ nhứt, đứng trên bọn nầy."
Cha cô mỹ nữ nói ngay:
" Lòng ta cũng muốn chàng nay thắng người;
Chúng ta đã mến chàng rồi,
Bây giờ thêm phục, hết hồi nghi nan.
Lạ cho kẻ ở điện đàn,
Miệt mài trong cuộc truy hoan đã nhiều;
Thế mà cung kiếm cao siêu,
Hơn người vượt bể, lên đèo, xuống hang.
Nay chàng thắng cuộc vẻ vang,
Hãy đem bạn ngọc mỹ nương về đền."
Dứt lời, Công chúa đứng lên,
Vòng hoa lài tốt cầm bên tay mình,
Lướt qua khỏi đám chung quanh,
Khăn vàng sọc sặm phủ xinh trán đầu [15].
Tướng nàng trân trọng làu làu,
Đi qua trước mặt vương hầu chư công.
Đến nơi giáp mặt Đông cung,
Xem Ngài rất đẹp, đứng cùng ngựa ô,
Ngựa thần đưa thẳng cổ to,
Để cho Ngài vịn đặng chờ mỹ nương.
Cúi chào Hoàng tử thiện lương,
Mặt nàng sáng rỡ có đường khoái vui,
Vòng hoa nàng tặng Ngài đeo,
Nghiêng đầu ngực bạn, bùi ngùi yêu thương.
Hai chơn quì xuống gọn gàng,
Thưa rằng : " Tiện-thiếp vì chàng xin theo."
Mọi người ai nấy mừng reo,
Trông ra đôi bạn mỹ miều xứng thay!
Cùng nhau tay lại cầm tay,
Càng thuần vẻ ngọc càng say tấm tình.
Bước đi nàng vấn khăn xinh,
Khăn vàng sọc sặm bên mình thường mang.

***

Chừng Ngài thành Phật mở đàng,
Trong khi truyền Giáo, chúng thường hỏi thưa,
Hỏi qua nghĩa cũ tình xưa,
Tại sao nàng vấng khăn tua đen vàng,
Và đi dáng điệu oai cường,
Xem trong công chúng như dường chẳng ai?
Thế Tôn phán dạy mấy lời:
"Việc này ta rõ, người đời khó thông;
Tử sanh còn mắc trong vòng,
Việc xưa tình cũ thảy đồng tái sanh.
Những đời từ trước khó rành,
Vẫn còn hiện lại cho mình cũng y.
Ta đây nhớ việc thuở kia,
Hằng sa năm trước, có khi bao đời !
Bây giờ ngôi Phật viễn khơi,
Ngày xưa làm cọp ở nơi rừng già,
Ngày ngày ẩn dưới hố xa,
Nằm trong bụi cỏ đợi mà hươu nai;
Chúng đi ăn cỏ hôm mai,
Đến gần sẽ nạp mạng đời chớ lo !
Có khi dưới ánh sao mờ,
Ta đi kiếm thịt ăn cho đỡ lòng,
Lơ thơ đường suối nẻo cong,
Người không chừa bỏ, thú hòng ngại đâu!
Trong khi ta ở rừng sâu,
Hoặc nơi lầy rậm, đế lau mọc đầy,
Ta cùng chúng bạn họp bầy,
Bỗng con cọp cái làm gây mối thù.
Cọp nầy tốt đẹp đứng đầu,
Vàng đen xen lẫn hai màu nơi thân;
Cũng như khăn của mỹ nhân,
Vì ta nàng đội trong sân võ đài.
Trong rừng lũ cọp tranh tài,
Nanh qua vuốt lại chẳng ai nhịn nhường.
Dưới hoa, cọp cái nhìn tường,
Trông ta cùng bạn máu hường tuông trôi.
Sau cùng, ta thắng được rồi,
Nàng bèn đi đến, tỏ hồi vui ưng ;
Bước ngang mấy vị vua rừng,
Nàng không đoái chúng vừa chừng thua ta.
Hông ta đương lúc thở ra,
Lưỡi nàng liếm lấy chừng là vuốt ve.
Tướng nàng lúc ấy oai ghê,
Song song đôi lứa đề huề rừng sâu.
Bánh xe Sanh tử lần lâu,
Thấp cao đều chuyển, đâu đâu cũng vần."

***

Bên người chịu gả mỹ-nhân,
Chọn ngày tháng tốt châu-trần kết duyên.
Gối bằng vàng thiệt kê lên,
Trải ra khảm quí lót trên mà ngồi:
Dây bông giăng sẵn đó rồi,
Tơ hồng nối lấy hai người bên tay;
Bánh ngon cắt bẻ ra ngay,
Cơm ăn dầu xức cũng bầy hết ra.
Sữa tươi son đỏ trộn pha,
Thả rơm hai cọng là đà trôi xê:
Song song hai cọng giao kề,
Ấy là điềm tốt tình kia tới già.
Có người đem bếp lửa ra,
Vợ chồng bảy bước lướt qua ba vòng [16];
Kế là bố thí bần cùng,
Sư tăng, chùa miễu cũng đồng cúng dâng.
Các sư cầu phước cầu phần,
Kệ kinh, thần chú đọc rân trong ngoài.
Áo xiêm đôi bạn hòa hai,
Buộc ràng nhau lại, sống đời có nhau.
Cha cô mỹ nữ liền tâu:
"Con tôi rày đã về hầu Ngài đây;
Sắn bìm nương tựa bóng cây,
Xin người quân tử khá hay rộng tình! "
Trống kèn chập trổi liên thinh,
Họ hàng đưa gái về dinh nhà chồng,
Từ đây phu phụ họp đồng,
Càng lâu càng thắm càng nồng tấm yêu.

***

Ái tình thắt buộc vẫn nhiều,
Nhưng vua chưa chắc, còn điều hồ nghi.
Cất nên ngục thất tinh vi,
Kiểu nhà khéo lạ cảnh chi chẳng bằng,
Để cho Thái tử ở ăn,
Hưởng đời thư thả vui hằng hơn ai.
Giữa nơi cảnh đất cất đài,
Có hòa núi biếc mọc ngay lên trời.
Dưới chơn núi, có dòng khơi [17],
Từ non Hy-Mã [18] là nơi phát nguồn,
Chảy lần như vậy mãi luôn,
Sau cùng đổ cả mà tuôn sông Hằng [19].
Phía Nam cây lớn chặn ngang,
Tách riêng biệt thự bởi tàng nhánh cao.
Cảnh đền êm ái thanh tao,
Chẳng nghe thấy tiếng xôn xao thị thiền.
Lâu lâu, một ngọn gió xiên,
Bạt vào nghe tiếng dưới miền chợ xa.
Trên phía Bắc, núi Hy-Ma [20],
Dốc cao chớn chở thấy mà phát ghê;
Phân ra hàng ngũ chỉnh tề,
Trên thì tuyết phủ chẳng hề rã tan,
Núi cao lên chí mây ngàn,
Xem ra to lớn, đủ giàn oai-nghi.
Đảnh thì nhiều cái khác đi,
Nhọn, tròn, bằng phẳng, trơn lì cũng nên.
Nhiều hòn xanh biếc nhô lên,
Có hòn nhọn lểu như kim đồng hồ.
Hố sâu thăm thẳm đường vô,
Có nhiều vực hiểm dốc phô ra ngoài.
Thấy vầy, trí nghĩ vượt khơi,
Tưởng điều cao thượng, xa vời đâu đâu,
Dường như bay bổng tít mù,
Ta cùng Tiên Thánh gặp nhau luận đàm.
Dưới miền tuyết phủ hằng năm,
Ấy toàn rừng rậm tối tăm mịt mờ;
Xen vào những thác nên thơ,
Nước tuôn sáng rỡ, mây lờ đờ trôi.
Phía dưới nữa, mấy cảnh đồi,
Bá, tùng, cổ thọ mọc thôi dẫy đầy,
Trĩ kêu, beo rống vang vầy,
Chiên rừng bé hé, ó bầy la rân.
Dưới thấp nữa, cảnh đồng gần,
Xem ra như khảm trải chân bàn thờ.
Đồi cao, rừng rậm, non mờ,
Xa trông như thể bàn thờ Thánh linh.
Những nhà mỹ thuật tài tình,
Chọn nơi cao ráo cất đình nguy nga;
Hai bên xây tháp mấy tòa,
Với nhiều phòng ốc cột hoa rỡ ràng.
Mấy cây đà lớn bắt ngang,
Thảy đều chạm trổ những tích nước nhà:
Tích nàng mỹ nữ Ra-Đa [21],
Cùng ông hiền thánh Rích-Na [22] yêu vì;
Lại còn mấy chuyện ly kỳ,
Si-Ta [23] trinh nữ thọ nguy giữa rừng,
Hung thần ép buộc phải ưng,
Chồng nàng đến kịp liệu chừng cứu ra.
Tích cô gái đẹp Rô-Ba [24],
Cũng là chuyện ngộ trên đà có ghi,
Giữa nhà, cửa lớn oai nghi,
Khắc hình Voi thánh [25], thần nầy rất linh:
Tục người Ấn Độ kinh thành,
Hình Voi biểu hiện thông minh, phú cường.
Lần theo mấy nẻo trong vườn,
Đi qua sân rộng đến giàn cửa trong;
Cửa bằng cẩm thạch gân hồng,
Thanh ngang, tấm ngạch cũng đồng đá xinh.
Đàn hương nhiều cửa rất tinh,
Với nhiều khuôn chạm họa hình tốt tươi,
Bước qua ngạch cửa dạo chơi,
Phía trong, phòng thất lắm nơi trang hoàng;
Thang lầu nhiều cái đẹp sang,
Hành lang mấy dãy có tường có song.
Vách thì họa khéo vô cùng
Cột nhà xây dựng dính chùm với nhau.
Có làm hồ chứa nước sâu,
Hoa sen đua nở làu làu tốt xinh;
Pha lê nhiều chậu trắng tinh,
Chứa đoàn cá lội, vàng, xanh, đỏ, hồng.
Ngoài vườn ánh sáng tươi trong,
Xem ra bầy lộc đương cùng nhau ăn.
Một đoàn chim chóc lăng xăng,
Khoe nhiều màu sắc trong lằn dừa xanh.
Dài theo mấy kẹt vách thành,
Chim câu làm ổ sống sanh mãn đời.
Ở trong sân gạch sáng ngời,
Bầy công qua lại, đuôi phơi tốt lành.
Cò ngà lông lá trắng tinh,
Với chim mèo đậu đưa mình trở vô.
Két xanh cổ tợ son tô,
Bay theo ăn trái tựa hồ chín cây;
Mấy con rắn mối nhác thay,
Cũng đeo rào sắt phơi ngay bóng trời;
Ít con sóc nhỏ quen hơi,
Vào tay mổ hột của người đưa ra;
Cảnh nhà hẳn thật an hòa,
Kìa con rắn hổ dưới hoa ngủ ngày;
Rắn nầy cho chủ điềm may,
Nằm khoanh hơ nắng chói rày ấm lưng.
Con dê chạy giỡn tưng bừng,
Đây bầy khỉ đột nháy trừng quạ kia.
Thảy đều bác ái đề huề,
Kẻ hầu người hạ sớm khuya chí bền,
Bao giờ có lệnh bề trên,
Tức thì kẻ dưới chạy lên ứng chào,
Mặt mày ai nấy thanh tao,
Nói lời dịu ngọt, việc nào cũng lanh;
Mọi người vui vẻ làm lành,
Tuân lời chỉ bảo, thích tình thi ân,
Cuộc đời phỉ chí muôn phần,
Cũng như dòng nước bên gần có hoa;
Hẳn là một cảnh trào ca,
Da-Du rày đã làm bà hoàng-phi.

***

Có trăm phòng thất tinh vi,
Lại còn một chỗ ẩn đi xa vòng;
Chốn nầy khéo léo vô song,
Những điều bày trí thích lòng hưởng qua.
Một sân rộng rãi tách ra,
Bốn bề vách phủ, cách xa cõi ngoài,
Giữa là hồ nước trong ngời,
Làm bằng cẩm thạch trắng tươi sáng lòa.
Dựa bờ, thang bực, miệng hồ,
Thảy đều cẩn đá bông hoa tốt màu,
Chốn nầy mát mẻ hơn đâu,
Ở chơi cũng sướng, giải sầu cũng xuê.
Tỷ như trong buổi mùa hè,
Mà đi trên tuyết có bề thích ưa,
Ánh trời chiếu xuống buổi trưa,
Lòn qua cánh cửa, thấu vừa tới trong,
Chẳng còn nóng nảy, nực nồng,
Dịu dàng, mát mịn như lồng ánh mai,
Êm đềm tình ái thanh mai,
Ban trưa lại giống sớm mai và chiều.
Phía trong cửa, chốn mỹ miều,
Phòng loan lộng lẫy, khác chiều thế gian;
Ánh đèn dịu chiếu trướng màn,
Thắp bằng dầu tốt, thơm tràn chỗ dư.
Cửa hông bằng ốc xà cừ,
Màn treo có kết sao như giăng hàng;
Mùng tơ, trướng phủ bằng vàng,
Để cho ngọc nữ riêng nàng bước qua.
Trong phòng khó nhận cho ra,
Ban ngày hay tối cũng là như nhau,
Mịn màng ánh sáng một màu,
Trưa, chiều cũng thấy như đầu buổi nay.
Gió lòn mát mẻ đêm ngày,
Lúc nào cũng có tiếng hay địch đờn.
Kẻ hầu dâng các món hơn,
Bánh làm có tuyết trên sườn Hy-ma;
Trái cây còn đọng sương sa,
Mứt thì đủ thứ ăn qua ngọt ngào;
Nước dừa mới bẻ đưa vào,
Chén ngà đựng lấy dồi dào vẻ tươi;
Một đoàn vũ nữ vui cười,
Múa men, hầu rượu, vóc người như mai.
Lại thêm bọn nhạc trổ tài
Chực hầu dưới trướng ngày dài lẫn đêm.
Chờ Ngài tỉnh giấc mộng êm,
Tức thì xướng họa cho thêm vui lòng;
Dưới hoa, nhạc trổi lung tung,
Hòa cùng tiếng hát mặn nồng tình yêu.
Mấy cô vũ nữ mỹ miều,
Ôm nhau nhảy múa có chiều gợi duyên,
Dưới chân lục lạc khua lên,
Hai tay dịu nhiễu rập bên tiếng cầm.
Trong phòng nồng nực hương trầm,
Với mùi chiêm-bặc [26] âm thầm xông ra.
Dường như Thái tử ngà ngà,
Tựa đầu tay bạn [27] ngủ qua một thời;
Đạt-Đa hưởng đủ sự đời, 
Ở trong đền ấy quên ngoài chúng sanh!

***

Đức vua truyền dạy rành rành:
Trong cung Thái tử khéo trình lời phân;
Chẳng ai được phép than thân,
Chết, già, đau ốm chẳng cần nói ra.
Cô nào hình sắc phôi pha,
Hai chân mệt mỏi nhảy ca chẳng đồng, 
Tức thì xa lánh cấm cung,
Để cho Thái tử khỏi trông mà buồn.
Có quan hầu cận coi luôn,
Chẳng cho ai nói đến tuồng thế gian:
Choán đầy sầu, khổ, khóc, than,
Sợ, lo, đau đớn, với giàn hỏa thiêu.
Ca nhi vũ nữ kém chiều,
Tóc xen màu bạc, phạm điều lịch thanh.
Hoa khô, lá rụng xa cành,
Có người hái quét, chẳng đành để lâu.
Bao nhiêu những cảnh u sầu,
Các quan phải liệu mà hầu tránh ra.
Vua rằng: "Thái tử Đạt Đa,
Trong khi niên thiếu cách xa khổ đời,
Khỏi điều trước mắt bên tai,
Khỏi điều suy nghĩ, trí thời được êm;
Rồi ra cõi Đạo chẳng tìm,
Lên ngôi trị nước càng thêm vững lòng;
Một mình oai thế anh hùng,
Các nơi xếp giáp phục tùng sức cao."

***

Đông cung ngự cảnh thanh tao,
Nhưng mà đâu có khác nào ngục trung,
Ái tình buộc giữ chim lồng,
Mấy điều thỏa dục như song nhốt Ngài.
Đức vua xây vách thành dài,
Ngoài thì cửa sắt phải gài hai bên;
Cả trăm người mới dở lên,
Trong khi mở đóng tiếng rền thấu xa.
Vua còn làm cửa thêm ra,
Có hai cái nữa mới là chắc tay.
Vậy nên muốn thoát đền nầy,
Phải qua ba bận cửa dày, song to,
Cắt người đứng giữ siêng lo,
Vua truyền: "Chẳng được mở cho kẻ nào,
Dầu là Thái tử trong trào,
Nếu người trái lịnh thì ta chém đầu."

[1] Chiêm-bạc hoa (champaks): thứ hoa Sứ ở Ấn Độ rất thơm.
[2] Có một thứ phấn làm bằng kim khí để thoa long nheo. 
[3] Người đàn bà Ấn độ có tục để nơi trán kẽ giữa lông mày một món đồ trang điểm bằng ngọc. 
[4] Da-du-đà-la (Ysôdhara) .
[5] Parvati : Tiên trên trời, vợ của đức Shiva. 
[6] Chúng ta có quen từ những đời trước. 
[7] Soubra-Bouddha. 
[8] Arjouna .
[9] Nanda .
[10] Ngựa Càn (Kiền)-Trắc (Kantaka) .
[11] Phía trước đã có nói rằng một người chạy đặng bốn chục hơi thở thì bằng một gưa, hay là nói cho rõ hơn, một gưa là 1.300 thước chơn ăng lê (1.300 pieds anglais). 


[12] Hồi xưa dùng đồng điếu bằng miểng sò, miểng ốc. 
[13] Cung sơn vàng và đỏ. 
[14] Sư Tử Hiện Vương ( Sinhahânou). 
[15] Cái khăn choàng màu vàng xen lẫn màu đen sạm. 
[16] Phong tục Ấn Độ của phái Bà La Môn thì làm lễ đi vòng theo ngọn lửa ba lần. 
[17] Sông Rohini. 
[18] Himalaya. 
[19] Sông Hằng-Hà (Gange). 
[20] Himalaya. 
[21] Ra-Đa (Radha). 
[22] Rích-Na (Krishna). Ra-Đa là tình nhơn của Rích-Na. Ông nầy là một vị Thánh sống rất có danh tiếngẤn Độ. Người ta có làm nhiều thi ca về tình sử của ông. 
[23] Si-Ta (Sita): vợ của Ra-Ma, nàng là cốt chuyện thần tiên Ra-ma-da-na ( Ramayana ). 
[24] Rô-Ba (Draupadi): Mỹ nữ, cốt chuyện Ma-ha-ba-ra-ta (Ma-ha Bharata). 
[25] Voi Thánh, tiếng Phạn : Ga-nết-ha ( Ganesha ) là một vị Thiên-thần, mình người đầu voi, hình vẽ ngồi thòng vòi xuống nghiêng nghiêng. 
[26] Chiêm-bặc (Champak): một thứ hoa Sứ hương thơm rất quý. 
[27] Ngủ trên tay vợ.

Now, when our Lord was come to eighteen years,
The King commanded that there should be built
Three stately houses, one of hewn square beams
With cedar lining, warm for winter days;
One of veined marbles, cool for summer heat;
And one of burned bricks, with blue tiles bedecked,
Pleasant at seed-time, when the champaks bud --
Subha, Suramma, Ramma, were their names.
Delicious gardens round about them bloomed,
Streams wandered wild and musky thickets stretched,
With many a bright pavilion and fair lawn
In midst of which Siddârtha strayed at will,
Some new delight provided every hour;
And happy hours he knew, for life was rich,
With youthful blood at quickest; yet still came
The shadows of his meditation back,
As the lake's silver dulls with driving clouds.

Which the King marking, called his Ministers:
Bethink ye, sirs! how the old Rishi spake,"
He said, "and what my dream-readers foretold.
This boy, more dear to me than mine heart's blood,
Shall be of universal dominance,
Trampling the neck of all his enemies,
A King of kings -- and this is in my heart; --
Or he shall tread the sad and lowly path
Of self-denial and of pious pains,
Gaining who knows what good, when all is lost
Worth keeping; and to this his wistful eyes
Do still incline amid my palaces.
But ye are sage, and ye will counsel me;
How may his feet be turned to that proud road
Where they should walk, and all fair signs come true
Which gave him Earth to rule, if he would rule?"

The eldest answered, "Maharaja! love
Will cure these thin distempers; weave the spell 
Of woman's wiles about his idle heart.
What knows this noble boy of beauty yet, 
Eyes that make heaven forgot, and lips of balm? 
Find him soft wives and pretty playfellows;
The thoughts ye cannot stay with brazen chains
A girl's hair lightly binds."

And all thought good,
But the King answered, "If we seek him wives,
Love chooseth ofttimes with another eye; 
And if we bid range Beauty's garden round, 
To pluck what blossom pleases, he will smile 
And sweetly shun the joy he knows not of." 
Then said another, "Roams the barasingh 
Until the fated arrow flies; for him,
As for less lordly spirits, some one charms,
Some face will seem a Paradise, some form
Fairer than pale Dawn when she wakes the world,
This do, my King! Command a festival
Where the realm's maids shall be competitors
In youth and grace, and sports that Sâkyas use.
Let the Prince give the prizes to the fair,
And, when the lovely victors pass his seat,
There shall be those who mark if one or two
Change the fixed sadness of his tender cheek;
So we may choose for Love with Love's own eyes,
And cheat his Highness into happiness."

This thing seemed good; wherefore upon a day
The criers bade the young and beautiful
Pass to the palace, for 'twas in command
To hold a court of pleasure, and the Prince
Would give the prizes, something rich for all,
The richest for the fairest judged. So flocked
Kapilavastu's maidens to the gate,
Each with her dark hair newly smoothed and bound,
Eyelashes lustred with the soorma-stick,
Fresh-bathed and scented; all in shawls and cloths
Of gayest; slender hands and feet new-stained
With crimson, and the tilka-spots stamped bright.

***

Fair show it was of all those Indian girls
Slow-pacing past the throne with large black eyes
Fixed on the ground, for when they saw the Prince
More than the awe of Majesty made beat
Their fluttering hearts, he sate so passionless,
Gentle, but so beyond them. Each maid took
With down-dropped lids her gift, afraid to gaze;
And if the people hailed some lovelier one
Beyond her rivals worthy royal smiles,
She stood like a scared antelope to touch
The gracious hand, then fled to join her mates
Trembling at favor, so divine he seemed,
So high and saint-like and above her world.

Thus filed they, one bright maid after another,
The city's flowers, and all this beauteous march
Was ending and the prizes spent, when last
Came young Yasôdhara, and they that stood
Nearest Siddârtha saw the princely boy
Start, as the radiant girl approached. A form
Of heavenly mould; a gait like Parvati's;
Eyes like a hind's in love-time, face so fair
Words cannot paint its spell; and she alone
Gazed full -- folding her palms across her breasts --
On the boy's gaze, her stately neck unbent.
"Is there a gift for me?" she asked, and smiled.
"The gifts are gone," the Prince replied, "yet take
This for amends, dear sister, of whose grace
Our happy city boasts;" therewith he loosed
The emerald necklet from his throat, and clasped
Its green beads round her dark and silk-soft waist;
And their eyes mixed, and from the look sprang love. 

Long after -- when enlightenment was full --
Lord Buddha -- being prayed why thus his heart 
Took fire at first glance of the Sâkya girl, 
Answered, "We were not strangers, as to us 
And all it seemed; in ages long gone by 
A hunter's son, playing with forest girls 
By Yamun's springs, where Nandadevi stands, 
Sate umpire while they raced beneath the firs
Like hares at eve that run their playful rings;
One with flower-stars crowned he, one with long plume
Plucked from eyed pheasant and the jungle-cock,
One with fir-apples; but who ran the last
Came first for him, and unto her the boy
Gave a tame fawn and his heart's love beside.
And in the wood they lived many glad years,
And in the wood they undivided died.
Lo! as hid seed shoots after rainless years,
So good and evil, pains and pleasures, hates
And loves, and all dead deeds, come forth again
Bearing bright leaves or dark, sweet fruit or sour.
Thus I was he and she Yasôdhara;
And while the wheel of birth and death turns round, 
That which hath been must be between us two." 

But they who watched the Prince at prize-giving 
Saw and heard all, and told the careful King 
How sate Siddârtha 
heedless, till there passed 
Great Suprabuddha's child, Yasôdhara;
And how -- at sudden sight of her -- he changed,
And how she gazed on him and he on her,
And of the jewel-gift, and what beside
Passed in their speaking glance.

The fond King smiled: 
Look! we have found a lure; take counsel now 
To fetch therewith our falcon from the clouds. 
Let messengers be sent to ask the maid
In marriage for my son." But it was law
With Sâkyas, when any asked a maid
Of noble house, fair and desirable,
He must make good his skill in martial arts
Against all suitors who should challenge it;
Nor might this custom break itself for kings.
Therefore her father spake: "Say to the King,
The child is sought by princes far and near;
If thy most gentle son can bend the bow,
Sway sword, and back a horse better than they,
Best would he be in all and best to us:
But how shall this be, with his cloistered ways?"

Then the King's heart was sore, for now the Prince
Begged sweet Yasôdhara for wife -- in vain,
With Devadatta foremost at the bow,
Ardjuna master of all fiery steeds,
And Nanda chief in sword-play; but the Prince
Laughed low and said, "These things, too, I have learned; 
Make proclamation that thy son will meet
All comers at their chosen games. I think
I shall not lose my love for such as these."
So 'twas given forth that on the seventh day
The Prince Siddârtha summoned whoso would
To match with him in feats of manliness,
The victor's crown to be Yasôdhara. 

***

Therefore, upon the seventh day, there went: 
The Sâkya lords and town and country round 
Unto the maidân; and the maid went too 
Amid her kinsfolk, carried as a bride, 
With music, and with litters gayly dight, 
And gold-horned oxen, flower-caparisoned.
Whom Devadatta claimed, of royal line,
And Nanda and Ardjuna, noble both,
The flower of all youths there, till the Prince came
Riding his white horse Kantaka, which neighed,
Astonished at this great strange world without:
Also Siddârtha gazed with wondering eyes
On all those people born beneath the throne,
Otherwise housed than kings, otherwise fed,
And yet so like -- perchance -- in joys and griefs.

But when the Prince saw sweet Yasôdhara,
Brightly he smiled, and drew his silken rein,
Leaped to the earth from Kantaka's broad back,
And cried, "He is not worthy of this pearl
Who is not worthiest; let my rivals prove
If I have dared too much in seeking her."
Then Nanda challenged for the arrow-test
And set a brazen drum six gows away,
Ardjuna six and Devadatta eight;
But Prince Siddârtha bade them set his drum
Ten gows from off the line, until it seemed
A cowry-shell for target. Then they loosed,
And Nanda pierced his drum, Ardjuna his,
And Devadatta drove a well-aimed shaft
Through both sides of his mark, so that the crowd
Marvelled and cried; and sweet Yasôdhara
Dropped the gold sari o'er her fearful eyes,
Lest she should see her Prince's arrow fail.
But he, taking their bow of lacquered cane,
With sinews bound, and strung with silver wire,
Which none but stalwart arms could draw a span,
Thrummed it -- low laughing -- drew the twisted string
Till the horns kissed, and the thick belly snapped:
"That is for play, not love," he said; "hath none 
A bow more fit for Sâkya lords to use?"

And one said, "There is Sinhahânu's bow,
Kept in the temple since we know not when,
Which none can string, nor draw if it be strung."
"Fetch me," he cried, "that weapon of a man!" 
They brought the ancient bow, wrought of black steel
Laid with gold tendrils on its branching curves
Like bison-horns; and twice Siddârtha tried
Its strength across his knee, then spake -- "Shoot now
With this, my cousins!" but they could not bring
The stubborn arms a hand's-breadth nigher use;
Then the Prince, lightly leaning, bent the bow,
Slipped home the eye upon the notch, and twanged
Sharply the cord, which, like an eagle's wing
Thrilling the air, sang forth so clear and loud
That feeble folk at home that day inquired
"What is this sound?" and people answered them,
"It is the sound of Sinhahânu's bow,
Which the King's son has strung and goes to shoot;"
Then fitting fair a shaft, he drew and loosed,
And the keen arrow clove the sky, and drave
Right through that farthest drum, nor stayed its flight,
But skimmed the plain beyond, past reach of eye. 

Then Devadatta challenged with the sword,
And clove a Talas-tree six fingers thick;
Ardjuna seven; and Nanda cut through nine;
But two such stems together grew, and both
Siddârtha's blade shred at one flashing stroke,
Keen, but so smooth that the straight trunks upstood,
And Nanda cried, "His edge turned!" and the maid
Trembled anew seeing the trees erect,
Until the Devas of the air, who watched,
Blew light breaths from the south, and both green crowns
Crashed in the sand, clean-felled.

Then brought they steeds,
High-mettled, nobly-bred, and three times scoured
Around the maidân, but white Kantaka
Left even the fleetest far behind -- so swift,
That ere the foam fell from his mouth to earth
Twenty spear-lengths he flew; but Nanda said,
"We too might win with such as Kantaka
Bring an unbroken horse, and let men see
Who best can back him!" So the syces brought
A stallion dark as night, led by three chains,
Fierce-eyed, with nostrils wide and tossing mane,
Unshod, unsaddled, for no rider yet
Had crossed him. Three times each young Sâkya
Sprang to his mighty back, but the hot steed
Furiously reared, and flung them to the plain
In dust and shame; only Ardjuna held
His seat awhile, and, bidding loose the chains,
Lashed the black flank, and shook the bit, and held
The proud jaws fast with grasp of master-hand,
So that in storms of wrath and rage and fear
The savage stallion circled once the plain
Half-tamed; but sudden turned with naked teeth,
Gripped by the foot Ardjuna, tore him down,
And would have slain him, but the grooms ran in
Fettering the maddened beast. Then all men cried,
"Let not Siddârtha meddle with this Bhût,
Whose liver is a tempest, and his blood
Red flame;" but the Prince said, "Let go the chains, 
Give me his forelock only," which he held
With quiet grasp, and, speaking some low word,
Laid his right palm across the stallion's eyes,
And drew it gently down the angry face,
And all along the neck and panting flanks,
Till men astonished saw the night-black horse
Sink his fierce crest and stand subdued and meek,
As though he knew our Lord and worshipped him.
Nor stirred he while Siddârtha mounted, then
Went soberly to touch of knee and rein
Before all eyes, so that the people said,
"Strive no more, for Siddârtha is the best." 

And all the suitors answered "He is best!"
And Suprabuddha, father of the maid,
Said, "It was in our hearts to find thee best,
Being dearest, yet what magic taught thee more
Of manhood 'mid thy rose-bowers and thy dreams
Than war and chase and world's work bring to these.
But wear, fair Prince, the treasure thou hast won."
Then at a word the lovely Indian girl
Rose from her place above the throng, and took
A crown of môgra-flowers and lightly drew
The veil of black and gold across her brow,
Proud pacing past the youths, until she came
To where Siddârtha stood in grace divine,
New lighted from the night-dark steed, which bent
Its strong neck meekly underneath his arm.
Before the Prince lowly she bowed, and bared
Her face celestial beaming with glad love;
Then on his neck she hung the fragrant wreath,
And on his breast she laid her perfect head,
And stooped to touch his feet with proud glad eyes,
Saying, "Dear Prince, behold me, who am thine!"
And all the throng rejoiced, seeing them pass
Hand fast in hand, and heart beating with heart,
The veil of black and gold drawn close again.

Long after -- when enlightenment was come --
They prayed Lord Buddha touching all, and why 
She wore this black and gold, and stepped so proud, 
And the World-honored answered, "Unto me 
This was unknown, albeit it seemed half known;
For while the wheel of birth and death turns round,
Past things and thoughts, and buried lives come back.
I now remember, myriad rains ago,
What time I roamed Himâla's hanging woods,
A tiger, with my striped and hungry kind;
I, who am Buddh, couched in the kusa grass
Gazing with green blinked eyes upon the herds
Which pastured near and nearer to their death
Round my day-lair; or underneath the stars
I roamed for prey, savage, insatiable,
Sniffing the paths for track of man and deer.

Amid the beasts that were my fellows then,
Met in deep jungle or by reedy jheel,
A tigress, comeliest of the forest, set
The males at war; her hide was lit with gold,
Black-broidered like the veil Yasôdhara
Wore for me; hot the strife waxed in that wood
With tooth and claw, while underneath a neem
The fair beast watched us bleed, thus fiercely wooed.
And I remember, at the end she came
Snarling past this and that torn forest-lord.
Which I had conquered, and with fawning jaws
Licked my quick-heaving flank, and with me went
Into the wild with proud steps, amorously.
The wheel of birth and death turns low and high."

***

Therefore the maid was given unto the Prince
A willing spoil; and when the stars were good --
Mesha, the Red Ram, being Lord of heaven --
The marriage feast was kept, as Sâkyas use,
The golden gadi set, the carpet spread,
The wedding garlands hung, the arm-threads tied,
The sweet cake broke, the rice and attar thrown,
The two straws floated on the reddened milk,
Which, coming close, betokened "love till death;"
The seven steps taken thrice around the fire,
The gifts bestowed on holy men, the alms
And temple offerings made, the mantras sung,
The garments of the bride and bridegroom tied.
Then the grey father spake : "Worshipful Prince,
She that was ours henceforth is only thine;
Be good to her, who hath her life in thee."
Wherewith they brought home sweet Yasôdhara,
With songs and trumpets, to the Prince's arms,
And love was all in all.

Yet not to love
Alone trusted the King; love's prison-house
Stately and beautiful he bade them build,
So that in all the earth no marvel was
Like Vishramvan, the Prince's pleasure-place.
Midway in those wide palace-grounds there rose
A verdant hill whose base Rohini bathed,
Murmuring adown from Himalaya's broad feet,
To bear its tribute into Gunga's waves.
Southward a growth of tamarind trees and sâl,
Thick set with pale sky-colored ganthi flowers,
Shut out the world, save if the city's hum
Came on the wind no harsher than when bees
Hum out of sight in thickets. Northwards soared
The stainless ramps of huge Himâlaya's wall,
Ranged in white ranks against the blue -- untrod,
Infinite, wonderful -- whose uplands vast,
And lifted universe of crest and crag,
Shoulder and shelf, green slope and icy horn,
Riven ravine, and splintered precipice,
Led climbing thought higher and higher, until
It seemed to stand in heaven and speak with gods.

Beneath the snows dark forests spread, sharp laced
With leaping cataracts and veiled with clouds:
Lower grew rose-oaks and the great fir groves
Where echoed pheasant's call and panther's cry,
Clatter of wild sheep on the stones, and scream
Of circling eagles: under these the plain
Gleamed like a praying-carpet at the foot
Of those divinest altars. Fronting this
The builders set the bright pavilion up,
Fair-planted on the terraced hill, with towers
On either flank and pillared cloisters round.
Its beams were carved with stories of old time --
Radha and Krishna and the sylvan girls --
Sita and Hanuman and Draupadi;
And on the middle porch God Ganesha,
With disc and hook -- to bring wisdom and wealth --
Propitious sate, wreathing his sidelong trunk.

By winding ways of garden and of court
The inner gate was reached, of marble wrought,
White with pink veins; the lintel lazuli,
The threshold alabaster, and the doors
Sandal-wood, cut in pictured panelling;
Whereby to lofty halls and shadowy bowers
Passed the delighted foot, on stately stairs,
Through latticed galleries, 'neath painted roofs
And clustering columns, where cool fountains -- fringed
With lotus and nelumbo -- danced, and fish
Gleamed through their crystal, scarlet, gold, and blue.
Great-eyed gazelles in sunny alcoves browsed
The blown red roses; birds of rainbow wing
Fluttered among the palms; doves, green and grey,
Built their safe nests on gilded cornices;
Over the shining pavements peacocks drew
The splendors of their trains, sedately watched
By milk-white herons and the small house-owls.

The plum-necked parrots swung from fruit to fruit;
The yellow sunbirds whirred from bloom to bloom,
The timid lizards on the lattice basked
Fearless, the squirrels ran to feed from hand,
For all was peace: the shy black snake, that gives
Fortune to households, sunned his sleepy coils
Under the moon-flowers, where the musk-deer played,
And brown-eyed monkeys chattered to the crows.
And all this house of love was peopled fair
With sweet attendance, so that in each part
With lovely sights were gentle faces found,
Soft speech and willing service, each one glad
To gladden, pleased at pleasure, proud to obey;
Till life glided beguiled, like a smooth stream
Banked by perpetual flow'rs, Yasôdhara
Queen of the enchanting Court. 

But innermost,
Beyond the richness of those hundred halls,
A secret chamber lurked, where skill had spent
All lovely fantasies to lull the mind.
The entrance of it was a cloistered square --
Roofed by the sky, and in the midst a tank
Of milky marble built, and laid with slabs
Of milk-white marble; bordered round the tank
And on the steps, and all along the frieze
With tender inlaid work of agate-stones.
Cool as to tread in summer-time on snows
It was to loiter there; the sunbeams dropped
Their gold, and, passing into porch and niche,
Softened to shadows, silvery, pale, and dim,
As if the very Day paused and grew Eve
In love and silence at that bower's gate
For there beyond the gate the chamber was,
Beautiful, sweet; a wonder of the world!
Soft light from perfumed lamps through windows fell
Of nakre and stained stars of lucent film
On golden cloths outspread, and silken beds,
And heavy splendor of the purdah's fringe,
Lifted to take only the loveliest in.

Here, whether it was night or day none knew,
For always streamed that softened light, more bright
Than sunrise, but as tender as the eve's;
And always breathed sweet airs, more joy-giving
Than morning's, but as cool as midnight's breath;
And night and day lutes sighed, and night and day
Delicious foods were spread, and dewy fruits,
Sherbets new chilled with snows of Himalaya,
And sweetmeats made of subtle daintiness,
With sweet tree-milk in its own ivory cup.
And night and day served there a chosen band
Of nautch girls, cup-bearers, and cymballers,
Delicate, dark-browed ministers of love,
Who fanned the sleeping eyes of the happy Prince, 
And when he waked, led back his thoughts to bliss 
With music whispering through the blooms, and charm 
Of amorous songs and dreamy dances, linked 
By chime of ankle-bells and wave of arms
Of musk and champak and the blue haze spread 
From burning spices soothed his soul again 
To drowse by sweet Yasôdhara; and thus 
Siddârtha lived forgetting. 

***

Furthermore, 
The King commanded that within those walls 
No mention should be made of death or age, 
Sorrow, or pain, or sickness. If one drooped 
In the lovely Court -- her dark glance dim, her 
Faint in the dance -- the guiltless criminal 
Passed forth an exile from that Paradise,
Lest he should see and suffer at her woe.
Bright-eyed intendants watched to execute
Sentence on such as spake of the harsh world
Without, where aches and plagues were, tears and fears,
And wail of mourners, and grim fume of pyres.
'Twas treason if a thread of silver strayed
In tress of singing-girl or nautch-dancer;
And every dawn the dying rose was plucked,
The dead leaves hid, all evil sights removed:
For said the King, "If he shall pass his youth
Far from such things as move to wistfulness,
And brooding on the empty eggs of thought,
The shadow of this fate, too vast for man,
May fade, belike, and I shall see him grow
To that great stature of fair sovereignty
When he shall rule all lands -- if he will rule --
The King of kings and glory of his time." 

Wherefore, around that pleasant prison-house --
Where love was gaoler and delights its bars, 
But far removed from sight -- the King bade build 
A massive wall, and in the wall a gate
With brazen folding-doors, which but to roll
Back on their hinges asked a hundred arms;
Also the noise of that prodigious gate
Opening, was heard full half a yôjana.
And inside this another gate he made,
And yet within another -- through the three
Must one pass if he quit that Pleasure-house.
Three mighty gates there were, bolted and barred,
And over each was set a faithful watch;
And the King's order said, "Suffer no man
To pass the gates, though he should be the Prince:
This on your lives -- even though it be my son." 

Tạo bài viết
Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Moon Jae-in nói: “Phật giáo là nguồn lực Bi-Trí-Dũng, tạo thành sức mạnh đã giúp đất nước và con người Hàn Quốc vượt qua biết bao thử thách trong hơn 1.700 năm qua. Phật giáo luôn sát cánh bên những người đang phấn đấu vì sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, dân chủ và hòa bình của đất nước chúng ta. Tôi hy vọng cộng đồng Phật giáo sẽ liên tục hợp lực để mở ra con đường hướng tới giao lưu liên Triều và thúc đẩy hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên”.
Là người quan tâm rất sớm, từ năm 2019, về việc lấy hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên Tuổi Trẻ Cười, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn xót xa chia sẻ việc đó là rất nghiêm trọng xét trên phương diện ứng xử văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều biểu hiện suy thoái đạo đức truyền thống.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.