Chương Thứ Ba - Chỉ Rõ Tánh Thấy

23/03/201112:00 SA(Xem: 13801)
Chương Thứ Ba - Chỉ Rõ Tánh Thấy

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM GIẢNG GIẢI
SURAMGAMA SUTRA
Lê Sỹ Minh Tùng
Cuốn Một

Chương Thứ Ba - Chỉ Rõ Tánh Thấy [Audio]

Lúc bấy giờ A Nan ở trong đại chúng, liền đứng dậy từ chỗ ngồi bày vai áo bên phải, gối bên phải qùy sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật :


- Con là em nhỏ nhất của Phật, nhờ Thế Tôn thương yêu, nay tuy con đã xuất gia, nhưng vẫn còn ỷ nại lòng thương yêu của Thế Tôn, do đó chỉ được đa văn chưa được quả vô lậu. Nên con bị chú thuật Satìcala lôi kéo và sa vào nhà dâm, tất cả chỉ vì không biết chỗ quy hướng của chơn tâm. Cúi mong đức Thế Tôn mở rộng lòng từ, thương xót chỉ dạy cho chúng con pháp tu thiền định Xa-ma-tha, khiến cho hàng nhất-xiển-đề và miệt-lệ-xa thoát khỏi tà kiến. Thỉnh cầu như vậy xong, rồi gieo năm vóc sát đất cùng toàn thể đại chúng kính cẩn lắng nghe lời Phật chỉ dạy.


Trong phần đầu của kinh, ông A Nan nêu lý do xuất gia là vì kính yêu sắc tướng trang nghiêm thanh tịnh của Phật chớ không phải là vì cứu cánh giải thoát giác ngộ cứu độ chúng sinh. Như thế rõ ràng ông A Nan xuất gia với tâm không chân chính nghĩa là thân tuy xuất gia mà tâm chưa vào đạo nên khi vào tăng đoàn, thay vì lo tu tập như các vị thánh tăng khác, ông chỉ lo học rộng nghe nhiều để thỏa mản nhu cầu trí thức và có tâm ỷ nại nơi Phật. Vì ông là em chú bác và cũng là thị giả của Phật nên theo ông nghĩ, Phật không bao giờ bỏ rơi ông. Ông tin chắc rằng trước khi Phật nhập Niết bàn thì thế nào Phật cũng ban cho ông quả vị Bồ-đề và khi Phật nhập vào Niết bàn thì cũng đem ông theo cũng như vai trò thị giả của ông bây giờ vậy. Đối với ông, Đức Phật là một bóng mát luôn che chở cho ông và cho cả tâm hồn của ông vì bất cứ nơi nào có bước chân của Phật là có bóng dáng của ông. Vì tin chắc như vậy nên tuy theo chân Phật suốt hai mươi bảy năm mà ông không chịu tu chứng đến lúc gặp nạn dâm nữ Ma đăng già mới làm ông thức tỉnhthỉnh cầu Phật chỉ cho pháp môn Xa-ma-tha để tu. Một trường hợp ỹ lại khác trong tăng đoàntôn giả La hầu La. Vì là con của Phật và cháu của vua nên khi mới vào tăng đoàn làm Sa di, La hầu La không chịu tu hành, ương ngạnh, nói dối, đến khi Ngài thức tỉnh, phá được bản ngã, tinh tấn tu hành mới chứng được Thánh quả.


Vậy tại sao ông A Nan lại thỉnh cầu Đức Phật chỉ dạy pháp môn Xa-ma-tha? Đây là một phương pháp tu Chỉ cũng được gọi là tu Định tức là tâm của người tu lúc nào cũng tỉnh giác, không bị các vọng tưởng chi phối làm tiêu trừ tất cả mọi phiền não khổ đau. Vì tâm có định nên người tu có thể tiến thẳng đến Niết bàn tịch tịnh.


Khi ấy từ chặng giữa chân mày của Thế Tôn phóng ra các đạo hào quang. Các hào quang ấy sáng chói như trăm ngàn mặt trời, trỗi lên sáu điệu làm chấn động khắp cõi nước Phật. Mười phương cõi nước như số vi trần đồng thời hiện ra. Nhờ oai thần của Phật khiến các thế giới vi trần ấy hợp thành một cõi. Trong các cõi nước ấy, các vị đại Bồ-tát ở nơi quốc độ của mình đều chắp tay lắng nghe lời Phật dạy.

Trước khi Đức Thế Tôn thuyết một bài kinh nào tối quan trọng, Ngài thường phóng hào quang sáng ngời làm chấn động mười phương thế giới. Lời thuyết pháp phát xuất từ những tuệ giác sâu xa của Đức Phật và cũng để chứng minh đây là chân ngữ từ trong tuệ giác của Ngài. Mặc dù ánh hào quang sáng chói như trăm ngàn ánh mặt trời, nhưng hào quang của Đức Phật phát xuất từ đại từ, đại bi tâm nên rất thanh tịnh và mát dịu không làm chói mắt chúng sinh. Trong thế gian có khi các loài ma cũng biến hóa thân Phật và phóng hào quang, nhưng thay vì ánh sáng hòa dịu, tươi mát như hào quang của chư Phật làm cho thân tâm thanh tịnh thì hào quang của loài ma chiếu vào làm cho thân tâm bực bội, nóng rát, khó chịu. Vì thế người tu thiền khi đi sâu vào thiền định có thể thấy biết hào quang nào là của chư Phật và hào quang nào là của loài ma đạo. Mặc dù thế giới nhiều như vi trần, nhưng tất cả các vị đại Bồ-tát trong các cõi cùng chắp tay lắng nghe lời Phật dạy. Như thế đủ biết giá trị và tầm quan trọng của kinh Thủ Lăng Nghiêm chẳng những mang lợi ích sâu xa cho chúng sinh trong thế giới Ta bà, mà còn cho tất cả chúng sinh trong muôn vàn thế giới nữa.


Đức Phật hỏi A Nan :


- Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay, đủ các thứ điên đảo, mầm giống nghiệp tự nhóm lại như chùm quả ác xoa. Những người tu hành không thành được đạo vô thượng Bồ-đề, mà chỉ thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành ngoại đạo, chư thiên, ma vươngquyến thuộc của ma. Tất cả đều do không biết hai loại căn bản, tu tập lầm lộn, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù trải qua số kiếp nhiều như cát bụi, rốt cùng chẳng được. Thế nào là hai món căn bản? Này A Nan! Một là căn bản sanh tử từ vô thỉ chính là tâm phan duyên mà hiện nay ông cũng như toàn thể chúng sinh nhận làm tự tánh. Hai là nguyên thể thanh tịnh Bồ-đề Niết bàn từ vô thỉ. Đó là cái chân tâm vốn sáng suốt hiện giờ của ông, hiện nay sinh khởi các duyên bị ông lãng quên. Do các chúng sinh bỏ quên tánh bản minh này tuy trọn ngày sử dụng nó mà chẳng tự biết nên bị trôi lăn oan uổng trong các cõi.


Con người từ muôn kiếp luôn lặn hụp, trôi nổi trong sinh tử luân hồi cũng vì nghiệp. Có gây nghiệp thì phải chịu thọ báo tái sinh trầm luân sinh tử, đời này tan đời khác đến vô cùng vô tận. Chúng sinh vì sống trong màn vô minh đen tối nên quên mất trong họ đã có sẵn tự tánh Bồ-đề, tự tánh thanh tịnh Niết bànchạy theo ngoại trần làm tâm điên đảo. Càng chạy theo lục dục thất tình, con người càng tạo nghiệp và nghiệp thì chồng chất, kết nhóm chẳng khác nào như chùm cây độc “ác xoa” vì giống cây độc này mỗi khi mọc cây con thì kết ba cây làm một bụi, tăng trưởng rất nhanh và liên kết với nhau nên rất khó tiêu trừ. Chúng sinh bị nghiệp sai sử cũng vì không biết phân biệt hai món căn bản vọng, chân nên ngay cả những người tu hành cũng không thể đắc quả vị vô thượng Bồ-đề tức là quả vị Phật mà tối đa là chứng đắc những Thánh quả trong hàng Thanh Văn, Duyên giác. Hoặc họ có thể thành chư thiên, ngoại đạo mà tệ hại nhất là thành ma vương. Hai món căn bản đó là :


1) Chúng sinh vì lầm tưởng tâm phan duyêntự tánh của chính mình, nhưng tâm phan duyên là cái tâm luôn duyên với trần cảnh bên ngoài mà phát sinh ra vọng thức. Con người có vui, có buồn, có hờn, có giận, có tham, có muốn nghĩa là tâm luôn thay đổi theo duyên cảnh bên ngoài. Ý niệm trước vừa phát sinh thì ý niệm sau liền sinh khởi làm cho con người vui đó, buồn đó…tâm chất đầy vọng tưởng, bất tịnh.


2) Thể tánh thanh tịnh Bồ-đề Niết bàn vốn có sẵn trong tất cả mọi chúng sinh. Đó chính là chơn tâm thường trú, thể tánh tịnh minh không thay đổi, bất sinh bất diệt theo không gian, thời gian và lúc nào cũng trong sáng thanh tịnh.


Tuy con người đã có sẵn chơn tánh thanh tịnh trong họ, nhưng vì trần cảnh mê hoặc nên họ quên mất mà sống trong điên đảo khổ đau. Ví như một người có viên kim cương trong túi mà không biết, hằng ngày cứ lo buôn tảo bán tần, làm ăn cực khổ, thiếu thốn đủ điều. Bây giờ thức tỉnh thò tay vào túi lấy viên kim cương đem bán thì sẽ được giàu sang phú quý. Con người cũng thế, nếu biết thức tỉnh, biến mê thành giác, diệt hết vô minh phiền não thì Niết bàn tự bày, Bồ-đề hiển hiện.


Như thế diệt hết vọng tưởng thì chơn tâm bản giác tự hiện bày, nhưng tất cả đều nương vào năng lực của đại định mà pháp tu Chỉ Xa-ma-tha làm cho tâm người tu lúc nào cũng tỉnh giác nên không còn bị các vọng tưởng chi phốitiêu trừ tất cả mọi phiền não khổ đau.

Phật Gạn Hỏi Tâm Lần Thứ Hai

A Nan! Nay ông muốn biết con đường tu tập thiền định, ước nguyện được thoát ly sinh tử, nay ta hỏi ông :


Phật liền đưa cánh tay sắc vàng lên co lại năm ngón và hỏi A Nan rằng :


- Ông có thấy không?


A Nan thưa :


- Bạch Thế Tôn! Con thấy.


Đức Phật hỏi :


- Ông thấy cái gì?


A Nan đáp :


- Con thấy Như Lai đưa cánh tay lên và co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm và mắt của con.


Đức Phật hỏi :


- Ông lấy cái gì để thấy?


A Nan thưa :


- Cả đại chúng và con đều thấy bằng mắt.


Đức Phật bảo A Nan :


- Như ông vừa trả lời, cho rằng Như Lai co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào mắt và tâm của ông. Mắt ông có thể thấy được, nhưng ông lấy gì làm tâm để cho nắm tay sáng chói chiếu vào?

A Nan Chấp Cái “Suy Nghĩ Phân Biệt” là Tâm

A Nan thưa :


- Bạch Thế Tôn! Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào, con dùng tâm suy nghĩ để trả lời, thì rõ là cái suy nghĩ ấy là tâm của con vậy.


Phật quở :


- Này A Nan! Sai rồi. Cái suy nghĩ ấy không phải là tâm của ông.


A Nan hoảng hốt, đứng dậy thưa Phật :


- Bạch Thế Tôn! Cái suy nghĩ, phân biệt không phải là tâm con, vậy nó là cái gì?


Phật bảo :


- A Nan! Đó là sự tưởng tượng những tướng tiền trần giả dối, nó làm mê mờ chân tánh của ông. Do từ vô thỉ đến nay, ông nhận giặc này làm con, bỏ mất tâm tánh bản lai thường trú nên phải chịu luân hồi.
Chúng sinh thường hay quan niệm rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là năm căn vật chất căn bản tạo thành con người. Còn cái tác dụng của tư tưởng để có sự phân biệt suy nghĩcon người không nắm bắt được thì gọi là tâm mà nhà Phật gọi là ý thức. Sau bảy lần gạn hỏi về ý nghĩa của bản tâm và nó ở đâu, bảy lần bị Phật bác mà ông A Nan vẫn chưa ngộ nên tiếp tục cho rằng vì mắt thấy mà sinh ra sự phân biệt suy nghĩ. Và chính sự phân biệt suy nghĩ này là tâm của A Nan. Một lần nữa, ông A Nan đại diện cho chúng sinh, đóng vai trò một người có quan niệm nhận thức thông thường để cùng Phật luận bàn tìm hiểu cái tâm. Vì vẫn còn mê, ông A Nan lại chấp tâm vọng tưởng, tâm phan duyên sinh diệt biến đổichơn tâm. Sau khi bị Phật bác bảy lần mà ông A Nan không thông hiểu rằng tất cả những ý niệm phân biệt suy nghĩ luôn thay đổi mà kinh Phật thường dùng câu : ”tâm viên mã ý” đó sao; vì thế cái tâm quay cuồng, thay đổi chạy theo trần cảnh, sinh diệt lúc có lúc không thì cái tâm này đâu phải là chơn tâm! Cái mà ông A Nan lầm tưởng là chơn tâm thật ra chỉ là tâm phan duyên của lục thức mà thôi.

Chính cái thức tâm này làm mê mờ chân tánh khiến ông bị trầm luân trong sinh tử luân hồi chẳng khác nào nhận giặc làm con, vô cùng tai hại. Chẳng hạn như có kẻ nghèo, mắt thấy một người có rất nhiều vàng bạc, tâm tham liền khởi dậy thúc đẩy họ trở thành người trộm cướp. Do đó cái tâm tham này chính là vọng tâm điên đảo thay đổi tùy theo hoàn cảnhthời gian chớ không thường trụ, bất biến và lúc nào cũng thanh tịnh như chơn tâm, Phật tánh. Khi mê thì thấy có chúng sinh, có Bồ-tát, có Phật đến khi giác ngộ thì tất cả đều là Phật. Tại sao? Chúng sinh vì tìm Phật bên ngoài tức là thấy Phật qua hình tướng sinh diệt chớ không thấy được bản tâm của chính mình, đến khi thức tỉnh giác ngộ biết lìa bỏ hình tướng sinh diệt bên ngoài mà quay về sống với thật tướng bất sinh bất diệt bên trong thì nghiệm biết tâm mình chính là tâm Phật. Khi tâm không duyên theo những ngoại trần (tiền trần) nên những ý niệm thương yêu, ghen ghét, tham lam, giận hờn, hơn thua, phải quấy…sẽ không còn dấy khởi.

Bây giờ thức tâm, tâm vọng động biến mất và chơn tâm thanh tịnh sẽ hiện bày. Nếu chúng sinh biết dựa theo chơn tâm tức là tâm vô phân biệttu hành thì chắc chắn sẽ có giải thoát giác ngộ. Ngược lại nếu chúng sinh dựa theo tâm phan duyêntu hành thì những hạnh nghiệp sẽ dẫn dắt họ lưu chuyển trong sinh tử luân hồi. Ngày xưa vua Lương Võ Đế xây cất trên 480 ngôi chùa và độ cho rất nhiều Tăng, Ni, nhưng trên thực tế nhà vua chỉ dùng tâm phan duyên để làm phước chớ có quay về với chơn tâm thanh tịnh để tu hành đâu mà có công đức. Mà cho dù nhà vua có tạo phước đức to lớn như núi Tu di đi chăng nữa, cũng vẫn quay cuồng trong lục đạo như thường.


A Nan bạch Phật rằng :


- Bạch Thế Tôn! Con là em của Phật, vì tâm kính yêu Phật nên con xuất gia. Tâm con chẳng những cúng dường Như Lai mà còn trải qua nhiều quốc độ như cát sông Hằng, phụng sự thiện tri thức; phát tâm đại dũng mãnh, làm tất cả những pháp sự khó làm, đều dùng cái tâm này. Giả sử con có hủy báng Phật pháp, rời bỏ thiện căn, bất tín tam bảo, cũng chính tâm này. Nay Đức Phật chỉ rõ cái ấy không phải là tâm thì chẳng lẽ con không có tâm, như gỗ như đá, vì ngoài cái suy nghĩ hay biết ấy ra, con chẳng còn gì khác nữa. Sao Như Lai lại bảo cái đó chẳng là tâm? Con thật kinh sợ và trong đại chúng ai cũng nghi hoặc điều đó. Cúi xin đức Từ Tôn rủ lòng từ bi chỉ dạy cho những người chưa được giác ngộ.


Bấy giờ, Đức Thế Tôn chỉ dạy A Nan và cả đại chúng, muốn cho họ được vô sanh pháp nhẫn.


Từ nơi tòa sư tử, đức Phật xoa đầu A Nan và bảo :


- Như Lai thường nói các pháp sanh đều do tâm biểu hiện. Tâm là cái thể của tất cả thế giới vi trần, của mọi nguyên nhân và kết quả.

 

- A Nan! Như tất cả sự vật hiện hữu trong thế giới lớn như biển cả, núi cao, nhỏ như là cây, ngọn cỏ… khi gạn xét cội gốc của nó, mỗi thứ đều có thể tánh.

(start next track 7 but wrong?? ) Ngay cả đến hư không cũng còn có tên và dáng mạo. Huống gì bản tâm sáng suốt thanh tịnh nhiệm mầu và là bản chất của mọi tâm niệm mà tự nó lại không có thể tánh hay sao?


- Nếu ông quả quyết cho cái tánh hiểu biết, cái suy nghĩ phân biệt là tâm của ông thì tâm này khi rời khỏi sắc, thanh, hương, vị, xúc ra, nó phải còn tính độc lập riêng của nó tồn tại. Như hiện giờ ông đang nghe tôi nói pháp, đó là nhân âm thanh mà có phân biệt. Nếu không nghe tiếng thì sự phân biệt của ông không còn. Giả sử diệt hết cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết, chỉ nắm giữ cái u nhàn lặng lẽ bên trong, thì đó cũng là sự phân biệt bóng dáng pháp trần mà thôi.


- A Nan! Chẳng phải tôi bảo ông phủ nhận cái tính tư duy phân biệt ấy không phải là tâm, nhưng ông phải suy nghĩ chín chắn : Rời tiền trần mà vẫn còn cái biết thì đó mới thật là tâm của ông. Nếu tánh phân biệt này khi rời hẳn tiền trần mà không còn tự thể thì đó chỉ là bóng dáng phân biệt của tiền trần. Tiền trần không phải là thường trụ, khi thay đổi diệt mất đi rồi thì cái tâm nương theo tiền trần ấy khi cũng như lông rùa, sừng thỏ. Thế thì pháp thân của ông cũng thành đoạn diệt, còn gì mà tu chứng vô sanh pháp nhẫn!


Lúc ấy A Nan cùng toàn thể đại chúng chưa nhận rõ thế nào là chơn tâm thường trú nên lòng còn bối rối ngẩn ngơ.
Đức Phật bảo A Nan :


- Trong thế gian những người tu học tuy đã được chín thứ thiền định, nhưng không diệt hết được mê lầm chỉ thành A la hán, đều do chấp nhầm vọng tưởng sanh tử này là chân thực. Thế nên, ông nay tuy học rộng nghe nhiều mà vẫn không thành chánh quả.


Ông A Nan lại chấp lầm tâm vọng tưởng phan duyên của thức thứ sáu tức là ý thức làm chân tâm. Đoạn kinh này rất hay nếu chúng sinh suy nghiệm thật kỹ, bởi vì con ngườinhận biết được tất cả những hiện tượng bên ngoài cũng bởi do ý thức. Âm thanh sắc tướng làm tâm phân biệt mà tạo thành ý niệm. Nhưng ý niệm thì sinh sinh diệt diệt, ý niệm sau liền thay thế ý niệm trước làm cho con người suy nghĩ triền miên và đây chính là cội rễ của phiền não khổ đau. Khi nói sai, ông A Nan liền bị Phật quở trách nên sợ hãi ngơ ngác. Đức Thế Tôn thương xót bèn lấy tay xoa đầu an ủi và nói sơ về cái chơn tâm cho A Nan. Tuy đức Phật nói các pháp sanh ra đều do tâm biểu hiện cũng như tất cả nhân quả ý báo chánh báo của thế gian đều nhờ tâm mà có, nhưng tâm này là chơn tâm chớ đâu phải vọng tâm điên đảo như ông A Nan đã nói. Thật vậy, khi đã thấu triệt thật tướng vô tướng của vũ trụ thì tất cả vạn pháp trên thế gian này đều từ tâm biến hiện. Nếu một người có tâm ác thì đối với họ thế giới họ sống là một thế giới tội lỗi xấu xa, ghê rợn. Ngược lại, nếu một người có tâm thiện thì cũng thế giới này, đối với họ là một thiên đường, là cảnh thanh bình an vui tự tại.

Vì thế trong Kinh Duy Ma Cật cũng dạy rằng : ”Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh” nghĩa là một khi tâm chúng sinh được thanh tịnh thì thế giới họ đang sống là cõi thanh tịnh, cực lạc. Trong Kinh A Di Đà, Phật cũng dạy rằng nếu chúng sinh niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn nghĩa là niệm Phật cho đến khi tâm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước biến mất và chơn tâm, Phật tánh hiện bày thì người này sẽ được vãng sanh về cõi cực lạc. Vãng sanh về cõi cực lạc không có nghĩa là đợi đến lúc chết Phật A Di Đà đến tiếp dẫn về tây phươngvãng sanh là người đó vẫn sống trong thế giới Ta bà này như trăm ngàn chúng sinh khác nhưng cuộc sống của họ đã thay đổi vì tâm họ hoàn toàn thanh tịnh, sáng suốt, không còn ô nhiễmdĩ nhiên dưới ánh mắt họ, thế giới này chính là cõi cực lạc rồi, bởi vì cực lạc là không có phiền não khổ đau. Vì thế mới có câu : ”Lục tự Di Đà vô biệt niệm, hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh” nghĩa là niệm sáu chữ Di Đà đến chỗ không còn niệm thì lúc đó tâm mình biến thành tâm Phật và sẽ không còn tái sinh, sinh tử luân hồi nữa. Do đó thế giới cực lạc không ở ngoài tâm mà chính là do tâm biến hiện. Chính ngài Mã Tổ đại sư mỗi lần lên pháp tòa đều nói rằng : ”tức tâm tức Phật” nghĩa là Phật không ở ngoài tâm bởi vì tâm mình (chơn tâm) chính là Phật.


Tất cả mọi vật trên thế giới này dù to nhỏ tới đâu cũng đều có thể tánh, ngay cả hư không cũng có tên gọi là tướng mạo. Nếu chúng sinh dựa vào sự tướngquan sát tất cả mọi vật thể trên thế gian thì có hình tướng lớn nhỏ, nặng nhẹ, màu sắc, hương vị khác nhau, nhưng tất cả cũng đều chung một thể tánh bất sinh bất diệt. Vì thế cái tâm sáng suốt thanh tịnh mầu nhiệm là tánh của tất cả tâm thì phải có thể tánh. Lý do Phật quở là vì ông A Nan chấp vọng tưởng phân biệt làm chân tâm mà không biết rằng chơn tâm luôn có thể tánh.


Nếu ông A Nan cứ chấp chặt vọng tưởng phân biệtchơn tâm thì nó phải có, phải hiện hữu cho dù lục căn không còn tiếp xúc với lục trần. Thí dụ, khi chúng ta không còn thấy biết âm thanh sắc tướng bên ngoài tức là trong ta không có ý thức, vọng niệm dấy khởi mà ông A Nan vẫn nghiệm biết được thì cái tâm hay biết này mới là chơn tâm. Cũng như Đức Phật đang thuyết pháp thì tai ông A Nan nghe nghĩa là cái nghe là do bởi lời thuyết pháp của Phật, bây giờ nếu Phật dừng lại không nói nữa tức là nếu từ miệng Phật không phát ra âm thanh thì tâm của A Nan cũng không còn ý niệm phát khởi. Rõ ràng đây chính là tâm phan duyên với ngoại trần, là tâm vọng tưởng phân biệt của thức thứ sáu chớ đâu phải chơn tâm. Bởi vì tâm vọng tưởng luôn chạy theo trần, trần có thì tâm có, trần mất thì tâm cũng diệt.


Tiếp theo Phật lại dạy rằng chẳng những ý thức tức là thức thứ sáu là giả dối, hư vọng mà ngay cả thức thứ bảy là Mạt-na-thức cũng chẳng phải thật. Ý Phật muốn dạy rằng không chỉ vọng tưởng phân biệt của thức thứ sáu là hư dối, mà dù ông A Nan có diệt hết mọi “thấy nghe hay biết” tức là sáu căn không hoạt động, nhưng sự yên lặng bên trong tức là vi tế tưởng (ý thức cực nhỏ) cũng là bóng dáng phân biệt của pháp trần. Đây chính là thức thứ bảy chấp có cái ta bên trong của mình và nó chính là nền tảng của ý thức. Mà ý thức là cội gốc của sinh tử thì làm sao là chơn cho được. Tà môn ngoại đạo cũng dùng thiền định để loại bỏ tất cả ý thức ngay cả vi tế tưởng trong tâm để chứng đắc Niết bàn. Nhưng có một điều họ không biết đó là cho dù có loại bỏ ngay cả vi tế tưởng để vào cảnh giới vô tưởng thì họ vẫn nằm trong vi tế của bản tâm tức là họ chưa ra khỏi tâm phan duyên. Mà chưa có chơn tâm thì làm sao có Niết bàn? Do đó cả đời tu mà chưa nghiệm được chơn tâm để có thanh tịnh Niết bàn cho dù có cố gắng thiền định cao cách mấy thì ngoại đạo cũng chỉ được sinh về các cõi trời để hưởng phước lạc chứ chưa thoát ra khỏi sinh tử luân hồi.


Tóm lại, nếu lìa trần cảnh mà có thể tánh thì mới là chơn tâm. Còn nếu lìa Trần mà không có Thể thì khi Trần diệt lẽ ra tâm cũng diệt theo thì làm sao đúng được. Lý luận như vậy chẳng khác nào cho rằng pháp thânsinh diệt nên khi A Nan bị phá cái vọng tưởng không thật làm cho ông mất đi chỗ quay về nên im lặng ngơ ngác. Thí dụ như mắt nhìn thấy một chiếc xe đang chạy, tâm liền phân biệt để biết đó là chiếc xe. Bây giờ chiếc xe khác chạy đến làm tâm lại phân biệt. Tâm thay đổi, không thường trụ thì đây chính là tâm phan duyên, sinh sinh diệt diệt. Như thế, tánh phân biệt không có tự thể. Bởi vì nếu có tự thể thì tự nó phải thường có không cần phải duyên với trần cảnh bên ngoài.

Vì thế nếu dựa vào cái tâm phan duyên mà tu thì làm sao thấy được pháp thânchứng đắc vô sanh pháp nhẫn để giải thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Chúng sinh tham thiền, niệm Phật là muốn diệt cái tâm vọng tưởng, tâm phan duyên để thấy được tự tánh thanh tịnh bản nhiên, pháp thân hay chơn tâm thường trú của chính mình mà có được giải thoát giác ngộ. Tuy những người tu đã thành tựu chín thứ thiền định nếu vẫn còn chấp vọng tưởngchân thật thì tối đa chỉ thành A la hán. Bởi vì các vị A la hán chỉ diệt lục thức mà được ra khỏi tam giới, lìa xa sinh tử nhưng chưa thấu suốt được thật tướng, chơn tâm. Vì thế giáo lý Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên của hàng Thanh Văn, Duyên Giác được gọi là giáo lý phương tiện hay bất Liễu nghĩa. Chỉ có giáo lý Đại thừa mới là giáo lý Liễu nghĩa tức là giáo lý đưa chúng sinh chứng nghiệm được chơn tâm, thật tướng của chính mình. Đây chính là giáo lý tối thắng Đại thừa vậy.
Vậy thế nào là chín thứ thiền định?


1) Sơ thiền : Khi hành giả phá được tất cả tham-sân-si và dập tắt lửa ái dục thì vào được cõi này.


2) Nhị thiền : Sau khi diệt tất cả ái dục thì tâm được vui, bây giờ hành giả phải vào sâu trong thiền định để phá cái vui này để chỉ còn cái vui vi tế mà thôi.


3) Tam thiền : Hành giả cố gắng vào sâu trong thiền định để loại luôn cá vui vi tế để tâm hoàn toàn an tịnh.


4) Tứ thiền : Khi niệm vừa dấy lên thì hành giả dùng thiền quán mà xả bỏ luôn.


Nếu chúng sinh thành tựu bốn cấp thiền ở trên, khi chết sẽ được sanh về cõi trời Sắc giới.


5) Không vô biên xứ : Từ trống không nhỏ đến trống không lớn và dần dần đến vô cùng vô tận.


6) Thức vô biên xứ : Thức phân biệt không có tướng mạo nên quán từ thức phân biệt thân đến phân biệt tâm và dần dần ra khắp hết vô cùng vô tận.


7) Vô sở hữu xứ : Tưởng thân tâm không có gì hết, rỗng tuếch không chỗ nơi thì chứng được.


8 )Phi tưởng phi phi tưởng xứ : Sau cùng đến chỗ không có ý tưởng mà không phải không có ý tưởng.


Nếu chúng sinh đạt được bốn cấp thiền tứkhông định này thì khi chết sẽ sanh lên cõi trời vô sắc giới.


9) Diệt tận định : Đây là cấp thiền định dành riêng cho hàng Thánh giả A la hán. Khi các vị A la hán sắp xả bỏ xác thân tứ đại thì các ngài nhập vào Diệt tận định trong một thời gian bảy ngày bảy đêm. Trong khoảng thời gian này, các ngài rất an vui tự tại và các ngài lần lượt đi sâu vào tứ thiền, tứ không định và sau cùng đi vào diệt tận định. Định này không những diệt hết các Tâm vương (tám thức) và Tâm sở (51 món) của 6 thức mà nó diệt luôn cả phần tạp nhiễm của Tâm vương, Tâm sở của thức thứ bảy, Mạt-na-thức.


Lý do Đức Phật đưa ra chín cấp thiền là muốn nhắn nhủ rằng, mặc dù ông A Nan là người học rộng nghe nhiều mà không hành trì pháp thiền na thì tâm tham-sân-si không tiêu diệt được. Tham-sân-si còn thì vọng tưởng còn, nếu lấy tâm vọng tưởng, tâm sinh diệt mà tu thì mãi mãi trôi nổi trong sinh tử luân hồi không bao giờ thành chánh quả cũng như xây nhà trên cát, nền móng không vững chắc, thì làm sao xây được căn nhà giải thoát giác ngộ.

A Nan Cầu Phật Chỉ Dạy Phương Pháp Tu Hành Lần Thứ Ba.


A Nan nghe xong, đau xót khóc lóc, gieo năm móc sát đất, quỳ xuống chắp tay bạch Phật :


- Từ khi con phát tâm theo Phật xuất gia, thường ỷ lại lòng thương của Phật, tự nghĩ rằng rồi đây Như Lai sẽ ban cho tam muội, chia sớt đạo quả cho. Giờ đây mới biết : Thân tâm không ai có thể thay thế cho ai. Từ lâu con đã đánh mất bản tâm của con rồi. Thân tuy xuất gia mà tâm chưa vào đạo. Như đứa con hoang cùng khổ, bỏ cha bỏ nhà ra đi. Ngày nay mới biết, tuy được nghe Phật pháp nhiều mà không tu hành thì chẳng khác gì người không nghe. Như người chỉ nói đến thức ăn, rốt cuộc chẳng được no bụng.
Kính bạch Thế Tôn! Nay chúng con bị trói buộc bởi hai thứ chướng ngại, do chẳng biết tâm tánh vốn thường hằng vắng lặng. Cúi mong Như Lai thương xót kẻ nghèo cùng rách rưới, phát minh cho cái tâm nhiệm mầu, sáng suốt và khai mở con mắt đạo cho chúng con.


Những lời nói chân tình của A Nan, một người đã theo chân Đức Phật suốt 27 năm ròng mà không đạt được đạo cũng vì ông sống bằng tâm ỷ lại, tâm phan duyên chớ không quay về với chơn tâm, thật tướng bên trong chính mình. Tuy thân tướng là người xuất gia mà tâm chưa vào đạo, chạy theo sắc tướng âm thanh, thị phi nhân ngã làm tâm bất tịnh. Tu là tu tâm chớ đâu phải tu cảnh. Không có một người nào trên thế gian, ngay cả Đức Phật có thể làm cho tất cả mọi người hài lòng, thỏa mãn được. Tại sao? Vì bản năng con người luôn chạy theo tham đắm lợi danh, làm nô lệ cho lục dục thất tình thì biết bao giờ cho đủ, biết bao nhiêu cho vừa, nên người tu hành chân chính chỉ biết giữ tâm mình thanh tịnh bằng cách tránh xa thị phi nhân ngã. Đừng đem những ô nhiễm bên ngoài đưa vào trong tâm, chuyện thế gianrốt cuộc mình lại là người đeo mang hệ lụy phiền não khổ đau.

Những lời thức tỉnh của ông A Nan hy vọng sẽ là tiếng chuông vang dội trong tâm cho những chúng sinh còn mê muội tin rằng Đức Phật là đấng thần linh sẽ ban bố ân sủng nếu họ cầu nguyện. Nên nhớ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ là một đạo sư, là một vị thầy cao cả đã soi đuốc trí tuệ để giúp chúng sinh tự mình vượt qua sông mê bể khổ. Chúng sinh phải tự mình hồi đầu thị ngạn chớ Phật không ra bể khơi để đưa họ vào bờ. Trong Phật giáo, ai tu người ấy chứng, không có ai tu thế cho người khác được. Nói cách khác, một người ăn thì người khác không thể no được. Nếu có giúp đỡ chăng thì chỉ làm tăng thượng duyên, mà nhân duyên phải là tự lực của chính mình.

Đây là lần thứ hai ông A Nan từ khi thoát nạn dâm nữ Ma đăng già nên đã thức tỉnh mà tự hối rằng sự tu hành không thể ỷ lại tha nhân, dù tha nhân đó là Đức Phật. Đạo Phậtcon đường giúp chúng sinh tự mình giải thoát giác ngộ thì càng không có việc ban bố ân sủng hay phong thưởng trong tiến trình hướng về đạo quả Bồ-đề. Do đó, ai ăn người ấy no, ai tu người ấy chứng thì sự tu hành không có ai ban bố cho ai cái gì được vì đó là mâu thuẩn với quy luật nhân quả khách quan của nhân sinh vũ trụ. Vì thế học Phật cốtthực hành cho nên học mà không hành chẳng khác nào nói ăn mà không ăn, không bao giờ no được.


Ngày xưa trên hội Linh Sơn, Phật đưa ra cành hoa senđồng thời đưa mắt nhìn đại chúng. Lúc đó ai cũng phân vân nghĩ ngợi tức là chạy theo tâm phan duyên duy chỉ có một mình Tôn giả Đại Ca Diếp là chúm chím mỉm cười. Liền đó, Phật bảo : ”Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết bàn Diệu tâm….truyền cho Ca Diếp”. Đó là Phật truyền tâm ấn cho Ca Diếp. Vậy truyền tâm ấn là truyền cái gì? Khi một vị Tăng thọ cụ túc thì được nhận y, bát. Do đó có sư phụ trao và người đệ tử tiếp nhận y, bát thì gọi là truyền. Nhưng trong trường hợp của Ngài Ca Diếp, Phật nói truyền mà thật ra chẳng có cái gì để truyền cả. Tại sao? Trước hết chữ “ấn” có nghĩa là in. Thí dụ con dấu thế nào thì in ra như vậy, không sai khác. Khi Đức Phật đưa cành hoa sen lên cốt là để chỉ cho đại chúng cái “thấy biết” chân thật của mình chớ không phải vọng kiến, ý thức suy nghĩ. Tất cả đại chúng ngơ ngác vì tâm họ đang quay cuồng suy nghĩ, chỉ có Đại Ca Diếptự nhiên mỉm cười vì ông thấy sao biết vậy, không cần suy nghĩ vẩn vơ. Trong pháp hội lớn như vậy mà chỉ có hai thầy trò là tâm đầu ý hợp nghĩa là tâm của thầy và tâm của đệ tử thông cảm nhau không khác. Do đó hai người đồng quan niệm với nhau, tâm người này và tâm người kia giống nhau thì gọi là truyền giao tâm ấn chớ Phật đâu có truyền giao cho ông Ca Diếp cái gì.


Tổ Hoàng Bá dạy rằng : ”Nhiều người chỉ học biết để ngộ theo Giáo Pháp, mà không biết tới Tâm Pháp, nên dù đến vô số kiếp cũng không đạt được Phật đạo. Cho nên chỉ cần hiểu rõ Tâm này thì không cần phải đi tìm Pháp nào khác, vì Tâm tức Pháp”. Khi nói về Pháp, Tổ Lâm Tế giảng rằng : ”Pháp là tâm pháp. Tâm pháp không hình, thông suốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Người tin không đến, bèn nhận danh, nhận cú, hướng vào danh tự tìm cầu, lấy ý để suy xét Phật pháp, thật cách xa như trời với đất”. Nghe thế có vị tăng hỏi : ”Thế nào là chân Phật, chân Pháp, chân Đạo?”. Tổ đáp : ”Phật là tâm thanh tịnh, Pháp là tâm sáng suốt, Đạo là mỗi chỗ không chướng ngại. Tuy ba mà một, đều là danh từ suông, không thật có”.


Ngày nay rất nhiều người bày vẽ như vào phòng kín truyền tâm ấn, gây mê tín dị đoan, làm những việc trái đạo lý.


Phật Chỉ Cái “Thấy” Thường Còn


Khi ấy từ chữ vạn trên ngực Như Lai phóng ra hào quang báu, ánh sáng rực rỡ với trăm ngàn màu sắc, chiếu sáng khắp mười phương thế giới chư Phật, nhiều như số vi trần. Hào quang ấy rót xuống trên đảnh Như Lai ở các cõi Phật trong khắp mười phương, xoay về soi đến A Nantoàn thể đại chúng. Rồi đức Phật bảo A Nan :


- Nay Như Lai vì ông dựng lập pháp tràng lớn khiến cho tất cả chúng sinh khắp mười phương đạt được tâm tánh trong sạch, sâu kín nhiệm mầu và đạo nhãn thanh tịnh.


- A Nan! Trước đây ông trả lời rằng thấy nắm tay chói vàng. Vậy nắm tay này nhân đâu mà có? Làm sao nắm tay trở nên sáng chói? Ông lấy cái gì để thấy?


A Nan thưa :


- Cái nắm tay là do bàn tay Phật co các ngón tay lại. Con thấy cái nắm tay là do con mắt của con.


Phật bảo A Nan :


- Nếu không có bàn tay thì không có nắm tay. Nếu không có con mắt (bị mù) thì không có cái thấy. Hai sự việc đó có giống nhau chăng?


Bạch Thế Tôn! Đúng vậy. Nếu không có bàn tay thì không có nắm tay; nếu không có con mắt thì không có cái thấy.
Phật bảo A Nan :


- Ông nói như vậy là không đúng. Tại sao? Không có bàn tay thì dĩ nhiên không có nắm tay, chứ không có con mắt (đui) không phải hoàn toàn không thấy. Ông ra đường thử hỏi những người mù mắt : ”Ông thấy gì không?” Các người ấy sẽ trả lời : ”Nay tôi chỉ thấy một màn đen trước mắt, ngoài ra không thấy gì khác”. Lấy nghĩa đó mà suy nghĩ thì người mù thấy màn đen tối phía trước, chớ cái thấy của họ đâu có thiếu mất.


A Nan thưa :


- Cái duy nhất mà người mù có thể thấy được trước mắt là màu tối đen, sao có thể gọi là tối được?


Ánh sáng rực rỡ với trăm ngàn màu sắc là biểu trưng cho trí tuệ. Chữ vạn trên ngực Đức Phật tượng trưng cho sự kiết tường, cho lòng từ bi và trí tuệ vô cùng vô lượng của Ngài. Sự xoay vần có nghĩa là Phật lực phát tỏa khắp mười phương và ánh sáng trí tuệ của Ngài tỏa khắp để giúp chúng sinh đánh tan mọi vô minh phiền não, giải thoát ra khỏi sinh tử triền miên. Ánh sáng soi khắp thế giới mười phương chư Phật và soi chiếu khắp đảnh chư Như Lai; sau đó xoay về chiếu lên đảnh ông A Nan cùng đại chúng. Ngài dùng trí tuệ giác mà khai thị cho đại chúng, ông A Nanchúng sinh trong mười phương thế giới thấu triệt cái bản tâm bất sinh bất diệtđạo nhãn thanh tịnh sâu kín nhiệm mầu.


Ông A Nan cho rằng không có bàn tay thì không có nắm tay cũng giống như người mù không có mắt thì không thể thấy được vật thể bên ngoài. Mới nghe qua thấy có lý, nhưng trên thực tế lý luận này là sai. Tại sao? Người mù tuy mắt không còn thấy được vật thể bên ngoài, nhưng tánh thấy của họ đâu có mất. Họ vẫn thấy được mầu đen chớ đâu phải không thấy biết cái gì. Nếu khôngtánh thấy thì người mù sẽ trả lời tôi không còn thấy biết cái gì, nhưng tánh thấy đâu có mất nên người mù vẫn còn thấy màu đen. Không thấy hình thể là mắt bị hư chớ tánh thấy đâu có mất. Đó là căn bị mù không thể tiếp xúc với tiền trần chớ tánh thấy không bao giờ mất. Vì thế nếu thay mắt khác thì họ sẽ thấy ngay. Do đó sự lầm lẫn của ông A Nan về cái thấy là mắt hay là tâm?

Phật Chỉ Tâm Lần Thứ Nhất [Audio]

Đức Phật bảo A Nan :


- Có gì khác nhau giữa màu đen tối mà người mù thấy được và màu tối đen mà người sáng mắt nhìn thấy khi họ ở trong phòng tối?


- Bạch Thế Tôn! Đúng vậy.


Phật bảo :


- A Nan! Nếu người mù chỉ thấy được màu tối đen khi bỗng dưng được sáng mắt lại nên thấy được đủ loại sắc tướng. Ông gọi đó là do mắt thấy. Và khi người ở trong phòng tối kia, chỉ thấy phía trước hoàn toàn màu đen, bỗng dưng thấy được mọi vật nhờ có đèn sáng, lẽ ra nên gọi là đèn sáng đúng hơn. Nếu cái thấy do đèn thì đèn có được cái thấy, và nếu là đèn thấy thì quan hệ gì đến ông? Thế nên phải biết, đèn làm cho ta thấy rõ được mọi vật, còn cái thấy là do ở mắt, chớ không phải đèn. Khi mắt nhận rõ các vật thể thì “tánh thấy” đó chính là tâm, chớ không phải là mắt.


Sau khi Phật chỉ sự khác nhau giữa cái tánh thấy và sự thấy của mắt thì bây giờ ông A Nan lại lý luận rằng người mù thấy tối đen thì cái tối đen đâu phải cái thấy. Phật lại dạy tiếp nếu cho rằng người mù chỉ thấy tối đen không phải là cái thấy, còn người sáng mắt ngồi ở trong một căn phòng kín tối đen thì người sáng mắt cũng chỉ thấy một màu đen có khác gì người mù đâu. Vậy nếu người mù và người sáng mắt cùng ngồi trong căn phòng kín tối đen thì cái thấy của họ có khác gì nhau. Phật lại dạy tiếp rằng nếu người mù bỗng dưng được sáng thì ông A Nan gọi cái thấy đó là do mắt thấy. Nhưng nếu cùng lý luận như vậy thì người sáng sáng mắt ngồi trong căn phòng kín tối đen bỗng dưng có đèn sáng nên thấy được mọi vật thì cái thấy bây giờ là do đèn chớ đâu phải do mắt. Điều này là sai.
Vậy mắt thấy hay tâm thấy?


Nếu nói rằng mắt thấy thì sai lầm, thiển cận mà cho rằng không phải con mắt thấy lại càng sai. Còn nếu nói rằng tâm thấy thì tâm thấy là cái tâm nào? Kinh Phật dạy rằng : ”Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc” nghĩa là tâm quá khứ đã diệt, tâm hiện tại quay cuồng, tâm tương lai chưa đến. Vậy lấy cái tâm nào để thấy?


Ngày xưa ngài Huệ Khả quỳ trước cửa chùa ba năm ròng rã để cầu pháp với Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Thấy Huệ Khả có lòng, Tổ hỏi :


- Ông đến đây cầu gì?


Huệ Khả đáp :


- Con cầu pháp để tâm được an.


Tổ hỏi :


- Ông đem tâm đến đây ta an cho.


Huệ Khả tìm kiếm mãi mà không thấy được tâm vì tâm biến hiện theo thời gian, không dừng trụ thì làm sao lấy ra được. Tâm là ý niệm, là vọng tưởng nên thay đổi không ngừng. Mỗi sát na có tới 900 ý niệm tức là 900 cái tâm thì biết cái tâm nào mà lấy. Khi chúng sinh dứt trừ hết vọng niệm thì chơn tâm hiện bày, Phật tánh biểu lộ thì tự họ sẽ có an vui tự tại. Ngược lại, nếu tâm mình chất đầy vọng tưởng, chạy theo tham đắm lợi danh mà về chùa nhờ các sư cầu an thì làm sao mà an cho được. Một người ăn mặn khát nước mà muốn người khác uống nước dùm thì làm sao hết khát được. Muốn tâm an thì chính mình phải diệt trừ bớt vọng niệm, lo tu tâm dưỡng tánh, biết sống tri túc thiểu dục thì tâm sẽ được an. Kinh Lăng Nghiêm giúp chúng sinh loại trừ mọi tà kiến để có cuộc sống thanh thản, an nhàntự tại.
Khi Phật nói tâm thấy là ý Ngài muốn dạy A Nan về bát thức tâm vương trong duy thức luận. Đó là tám thức có công năng thù thắng, cũng như ông vua có oai quyền thế lực, thống trị thiên hạ nên gọi là “tâm vương”:


1) Nhãn thức : Cái biết của mắt, vì thức này nương Nhãn căn, khởi ra tác dụng phân biệt về sắc trần.


2) Nhĩ thức : Cái biết của lỗ tai, vì thức này nương Nhĩ căn khởi ra tác dụng phân biệt về thanh trần.


3) Tỷ thức : Cái biết của mũi, vì thức này nương tỷ căn khởi ra tác dụng về hương trần.


4) Thiệt thức : Cái biết của lưỡi, vì thức này nương tựa Thiệt căn khởi ra tác dụng phân biệt vị trần.

5) Thân thức : Cái biết của thân, vì thức này nương Thân căn khởi ra tác dụng phân biệt xúc trần. Trong tám thức tâm vương thì năm thức này ở bên ngoài và trước, nên cũng gọi là “Tiền ngũ thức”.

6) Ý thức : Cái biết của ý, nương tựa Ý căn khởi tác dụng phân biệt Pháp trần.Trong tám thức duy có thức thứ sáu này rất lanh lẹ và khôn ngoan hơn hết vì con ngườisuy nghĩ làm việc lành, thức này đứng đầu; còn tính toán tạo việc ác thì nó cũng hơn cả.


7) Mạt-na-thức : Thức này có công năng truyền các pháp hiện hành vào Tàng thức và tổng đưa các pháp chủng tử khởi ra hiện hành.


8) A-lại-da thức : Thức này có công năng chứa đựng chủng tử của các pháp


Dựa theo Duy Thức học, Tiền ngũ thứcnhãn thức tác động là một. Khi tiền ngũ thức tiếp xúc với ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) thì chỉ thông qua “hiện lượng”. Hiện lượng là sự lượng biết còn trong đệ nhất sát na chớ chưa chuyển qua thành ý thức phân biệt. Sự tiếp thu tiền cảnh của tiền ngũ thức cũng giống như sự tiếp thu âm thanhhình ảnh của một chiếc máy quay phim. Hình ảnh, cảnh giới, âm thanh bên ngoài thế nào thì chiếc máy ghi nhận y như vậy, không thêm không bớt. Cái thấu kính chỉ cho hình ảnh, âm thanh, màu sắc bên ngoài xuyên vào, nhưng muốn ghi lại những hiện tượng trên thì máy quay phim cần phải có phim, có memory stick để lưu giữ. Do đó khi nói mắt thấy thật ra mắt chỉ tiếp thu làm tỏ rõ các vật sắc cũng như cái thấu kính, mà thấy biết cần phảiý thức tâm vương cộng vào. Vì thế ông A Nan cho rằng mắt thấy thì bị Phật quở là đúng rồi.


Một thí dụ khác là con mắt của con người ví như bóng đèn điện, còn cái thấy của họ giống như dòng điện. Khi bóng đèn hư ví như người mù thì đèn không cháy, chớ không phải dòng điện mất hay bị cúp điện. Đến khi thay bóng mới ví như người mù được sáng mắt thì đèn cháy trở lại. Dù bóng đèn hư hay mới thì dòng điện lúc nào cũng có trong dây điện. Tánh thấy cũng vậy, cho dù con người có mắt hay bị mù thì tánh thấy lúc nào cũng ở với họ. Chỉ khác là sáng mắt thì thấy màu sắc huy hoàng, còn mù thì chỉ thấy toàn màu đen.


Do đó cái thấy của mắt chỉ là hiện lượng cho nên con mắt là phương tiện tỏ rõ sự vật, mà “tánh thấy biết” mới là bản tâm của chính mình.


Phật Chỉ Tâm Lần Thứ Hai [Audio]

Mặc dù A Nanđại chúng được nghe Như Lai chỉ dạy như thế, nhưng tâm chưa được khai ngộ nên vẫn im lặng, mong Như Lai thương xót chỉ dạy thêm, nên đồng đứng dậy chắp tay lắng lòng trong chờ đức Phật chỉ dạy.


Tuy Phật đã giải thích rõ ràng cái thấy và tánh thấy của mắt để giúp ông A Nanđại chúng thấu biết mà quay về với bản tâm của chính họ, nhưng A Nan chưa phá được tâm vọng chấp đang bị kẹt cứng ở nơi sắc uẩnthọ uẩn nên tâm vẫn còn mờ mịt không biết lối quay về. Ông không biết thỉnh cầu gì nữa, miệng thì im lặng mà tâm vẫn chưa tỏ ngộ nên chỉ biết đồng đứng dậy mong sự chỉ dạy của đức Thế Tôn.
Bấy giờ đức Thế Tôn giơ cánh tay mềm mại lên, bảo ông A Nanđại chúng rằng:


- Sau khi thành đạo, lần đầu tiên ở vườn Lộc Uyển, Như Lai có dạy cho năm anh em tỳ kheo A Nhã Kiều Trần Như rằng tất cả chúng sinh không thành Vô Thượng Bồ-đề mà chỉ thành A la hán, do vì phiền não khách trần làm mê hoặc. Lúc đó các ông nhân đâu mà được khai ngộ, thành tựu quả vị thánh?
Ông Kiều Trần Như đứng dậy thưa :


- Bạch Thế Tôn! Nay hàng trưởng lão trong hàng đại chúng, chỉ riêng con được danh hiệuGiải nghĩa là Hiểu. Nhờ ngộ được hai chữ khách trầnthành tựu quả vị. Khách là người đi đường, khi cần họ vào quán trọ thuê phòng hoặc ở, hoặc ngủ, hoặc ăn. Ăn ngủ xong xếp hành lý lên đường, không ở luôn được. Còn người chủ thì vĩnh viễn không phải đi đâu nữa. Từ suy nghĩ đó, con hiểu rằng : Khách có đến, có đi; còn chủ thì ở luôn không đi đâu hết.


Về nghĩa chữ trần, thì lúc mặt trời mới lên, ánh sáng xuyên vào các kẽ hở, lỗ thủng của mái nhà. Nhìn theo làn ánh sáng trong khoảng hư không yên lặng ấy, con thấy vô số bụi trần li ti loạn động, cuồn cuộn tung bay; còn hư không thì đứng lặng. Thế nên con suy nghĩ, trong lặng gọi là hư không còn lay động là trần.


Nếu người Phật tử chịu tư duy quán chiếu tức là có thiền định thì sẽ hiểu rằng tại sao trong đại chúng rộng lớn mà Phật lại dùng pháp môn khách trần của ông Kiều Trần Như. Đức Phật đã dạy quá rõ ràng rằng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái biết, cái xúc hay nói một cách tổng quát là những tác dụng nhận thức của sáu giác quan không phải là chơn tâm, nhưng chúng cũng không rời ngoài chơn tâm mà có. Chơn tâm thì thường hằng bất biến, lúc nào cũng có cũng như chủ khách sạn. Ngược lại vọng thức thì có đến có đi giống như khách vào quán trọ. Tiền trần luôn luôn thay đổi lúc có lúc không thì sự hồi tưởng lại cái tướng của tiền trần (thọ uẩn) cũng sinh sinh diệt diệt.

Vì vậy Đức Phật gọi sự hồi tưởng bóng dáng tiền trần vào trong ký ức phân biệt chỉ là vọng tâm, là những phiền não khách trần. Vì là khách cho nên có đến có đi và vì là trần nên không có giây phút nào yên lặng. Trong sự loạn động quay cuồng của trần, còn có hư không yên lặng không hề lay chuyển. Do đó sự nhận thức của sáu giác quan luôn luôn thay đổi từng sát na, từng giây, từng phút, nhưng bên trong sự thay đổi sinh diệt đó, con người còn có một cái thường trụ, bất sinh bất diệt là sự thanh tịnh thường hằng bất biến mà được gọi là chơn tâm. Vì thế nếu ngộ thì trong vọng tâm con người sẽ tìm thấy chơn tâm thường trú.

Ngược lại nếu còn mê thì chỉ có toàn vọng tưởng, bóng dáng của tiền trần. Thí dụ như bây giờ mắt chúng ta nhìn ra ngoài đường, thấy xe chạy, cảnh giới náo nhiệt nên tâm duyên theo mà có sự phân biệt ý niệm. Vài phút sau, điện thoại reo và tai bắt đầu nghe biết bao câu chuyện nhân tình thế thái khác. Tâm lại duyên theo âm thanh mà khởi thêm ý niệm phân biệt. Cái tâm thấy biết được thay thế bởi cái tâm nghe điện thoại và như thế vọng tâm liên tục đến đi, đi đến trong tâm của chúng ta. Do đó nếu là chơn tâm thì lúc nào cũng vậy, không lên bổng xuống trầm, không bị sống chết đổi thay cũng như hư không yên lặng mặc cho bụi trần tha hồ loạn động. Vì thế không chạy theo tiền trầnquay về sống với chơn tâm thì con người có được thanh tịnh Niết bàn. Ngược lại, quên bỏ chơn tâm chạy theo lục dục thất tình thì cuộc sống sẽ đeo mang hệ lụy phiền não khổ đau.


Phật bảo : Đúng vậy.


Khi ấy Như Lai ở trong đại chúng co năm ngón tay lại, co rồi lại mở, mở rồi lại co. Rồi hỏi A Nan :


- Nay ông thấy gì?


- Con thấy bàn tây Phật, nắm lại rồi mở ra. A Nan đáp.
Đức Phật hỏi :


- Ông thấy tay tôi có nắm có mở hay cái thấy của ông có nắm có mở?


A Nan thưa :


- Tay Phật có nắm có mở, chớ cái thấy của con làm sao có nắm có mở được!


Phật lại hỏi :


- Cái nào động, cái nào tịnh?


A Nan thưa :


- Thưa, Bàn tay của Phật không yên, chớ cái thấy của con còn không có tịnh thì làm chi có động!
Phật bảo : Đúng vậy.


Đây là lần đầu tiên Phật khen A Nan nói đúng. Mặc dầu ông A Nan chưa hoàn toàn ngộ về bản tâm, nhưng đây là những bước căn bản vững chắc đưa ông ta đến chỗ ngộ.
Bấy giờ từ trong lòng bàn tay, Như Lai phóng đạo hào quang báu chiếu đến vai bên phải của A Nan, A Nan liền quay đầu qua bên phải để nhìn. Đức Phật lại phóng một hào quang khác qua vai trái, A Nan liền quay sang bên trái để nhìn. Đức Phật bảo A Nan :


Nay đầu ông tại sao lại lay động?


A Nan thưa :


- Con thấy hào quang của Phật phóng ra bên phải và bên trái của con. Đầu con lay động bởi ngó theo hào quang của Phật.
Phật hỏi :


- Đầu ông lay động quay bên phải bên trái. Vậy cái đầu ông động mà cái thấy của ông có động chăng?
Bạch Thế Tôn! Đầu con tự lay động, chớ cái thấy còn không biết ở chỗ nào, thì lấy gì mà lay động!
Phật bảo : Đúng vậy.

 

Đức Phật dùng một thí dụ khác để trắc nghiệm về sự ngộ chơn tâm của A Nan. Nếu tánh thấy mà cố định, không dời đổi theo tiền trần thì cái tánh thấy này là chủ nhân ông, còn sự lay động của cái đầu chỉ là khách trần tức là vọng tưởng. Hai lần hỏi, A Nan nói đúng cả hai nên được Phật khen.


Bấy giờ, Phật bảo ông A Nan :


- Mọi người ai cũng có thể nhận biết : Không ở luôn là khách, chủ thì vĩnh viễn không đi đâu. Bụi trần thì lay động còn hư không tuyệt nhiên yên lặng. Có nắm có mở là tay, cái thấy thì không có nắm mở. Quay qua quay lại là đầu, tánh thấy thì không hề xoay chuyển.


Vậy mà các ông hiện nay lấy cái động làm thân, cái động làm tâm, lấy cái động là cảnh, bỏ mất đi tâm tánh chân thường, bất động, yên lặng nó thường ở luôn với mình. Hằng ngày làm những việc trái ngược, nhận vật làm thân, nhận vọng tưởng làm tâm, xoay vần trong đó nên bị trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi.
Sau khi Phật gạn hỏi A Nan nhiều lần cái gì thấy, mắt thấy hay là tâm thấy? Tâm thấy cách nào hoặc là tâm ở đâu? Phật đã đặt ra bao nhiêu câu hỏi cho đến chỗ lý cùng trí tận để giúp A Nanđại chúng tỏ bày được chơn tâm. Đức Phật đã nhắc lại rằng khách và trần đều là động, một ở bên ngoài và một ở bên trong. Ngoại trần là do gió nghiệp tạo thành nên luôn luân chuyển, biến đổi. Vì tâm duyên theo cảnh bên ngoài nên phát sinh ra muôn vàng ý niệm. Những ý niệm này là khách vì chúng luôn biến đổi, không bao giờ ở một nơi nào cố định, vừa thấy đó đã biến mất. Vì thế nếu chúng sinh không sống với bản tâm thanh tịnh, với chơn tâm thường trú mà chạy theo khách trần động niệm làm cho tâm sinh ra thương yêu, giận hờn, đố kỵ, ghen ghét, tham muốn rồi tự gây ra bao nhiêu nghiệp chướng để phải chịu trôi nổi trong sinh tử luân hồi.


A Nan Cầu Phật Chỉ Dạy ở Nơi Thân Này cái Nào “Chơn”, Cái Nào “Vọng”


Khi ấy A Nanđại chúng nghe Phật chỉ dạy, thân tâm thư thái, nghĩ mình từ vô thỉ đến nay quên mất bản tâm, nhận lầm sự phân biệt bong dáng duyên trần phân biệt làm tâm. Ngày nay được Phật khai ngộ, như trẻ thơ khát sữa bỗng gặp được mẹ hiền, đồng chắp tay lễ Phật, cầu xin chỉ cho chỗ chân vọng hư thực và phát minh tánh sinh diệt cùng không sinh diệt nơi thân tâm.
Bấy giờ vua Ba Tư Nặc đứng dậy thưa :


- Bạch Thế Tôn! Xưa khi chưa được Đức Phật chỉ dạy, con gặp bọn ngoại đạo Ca Chiên Diên (chấp các pháp cũng có cũng không), Tỳ La Chi Tử (chấp mãn kiếp tự nhiên đắc đạo) đều nói rằng: Thân này chết rồi là mất hẳn, gọi đó là Niết bàn. Nay tuy được gặp Phật, nghe pháp, nhưng con vẫn còn hồ nghi. Làm sao để phát huy thực chứng tánh không sanh không diệt nơi tâm này? Hiện nay hàng hữu lậu trong đại chúng đều mong được nghe điều ấy.


Ông A Nan nghe Phật khai thị về khách trần ở đoạn trên để nói rõ thân cảnh động thì cũng là bất động, hay có sinh diệt cũng có nghĩa là không sinh diệt. Tuy đã lãnh hội nhưng ông A Nan vẫn còn nhận tâm phân biệt duyên trần (tâm phan duyên) làm chơn tâm nên chưa thấy được thể tánh bất sinh bất diệt. Vì thế ông cùng đại chúng ước mong đức Thế Tôn lúc bấy giờ chỉ bày thế nào là chân thật? thế nào là hư vọng? thế nào là sinh diệt? và cái gì là không sinh diệt? khiến cho hai thể “chân vọng” được thấu hiểu rõ ràng. Một lần nữa tâm nguyện của A Nan vẫn còn lờ mờ chưa sáng tỏ. Vì thế mà vua Ba-tư-nặc nhân đó mà thỉnh thị.


Trước khi gặp Đức Phật, vua Ba-tư-nặc tôn sùng ngoại đạo Ca-chiên-diên mà vị giáo chủ tên là Ca-la-cưu-đà. Giáo phái này chủ trương con người khi chết thì mất hết và sự mất hẳn này chính là Niết bàn. Họ nghĩ rằng :”Tu nhơn đức già đời cũng chết, hung hăng bạo ngược tận số cũng chẳng còn”. Vì tin tưởng như thế mà luật nhân quả luân hồi đối với họ không còn ý nghĩa nên họ mặc tình làm điều tội lỗi. Đây là tư tưởng “đoạn kiến” vậy. Ngoài ra nhà vua còn nghe theo phái ngoại đạo khác tên là San-xà-dạ-tỳ-la-chi-tử. Phái này chấp các pháp là tự nhiên có nghĩa người chết sẽ sanh ra người, thánh nhân chết sẽ trở lại làm thành nhân, có tu hay không tu cũng như nhau. Họ không sợ tội ác nên chẳng cần làm thiện. Đây là tư tưởng “thường kiến”.


Đối với tư tưởng đoạn kiến tức là chết rồi mất hẳn được phổ biến rất nhiều nơi ngoài Ần độ. Họ quan niệm rằng khi người chết rồi thì khí trong bay lên trời, khí đục thì quay về đất, còn tánh linh thì trở về với hư không. Đây là tà kiến đoạn diệt bởi vì nếu tánh linh thật sự trở về với hư không thì làm sao có nhân quả? Mà nhân quảchân lý khách quan của nhân sinh vũ trụ chớ đâu chỉ riêng cho Phật giáo.
Vào thế kỷ thứ 18, thi hào Tố Như viết như sau:


“…Rằng: Những đấng tài hoa

Thác là thể phách, còn là tinh anh”


Phách là thân tứ đại thì mất, tan rã. Cái duy nhất còn lại của con ngườithi hào Tố Như gọi là tinh anh thì có thể hiểu là cái linh hồn, thần thức, giác linh hay linh tri…Nhưng sau khi chết thì cái đó sẽ ở đâu và sẽ đi về đâu? Con người từ vô thỉ đến nay đã tác tạo biết bao nghiệp, thiện cũng có mà ác cũng nhiều. Khi một ý tưởng, một lời nói hay một hành động vừa thực hiện thì đã được giữ lại trong Tạng thức (A lại da thức) của con người. Vì thế tất cả những chủng tử trong A lại da thức này sẽ được chuyển qua đời sau và nó sẽ là kết quả của tất cả những khổ vui của chúng sinh trong đời kế tiếp.


Tuy gặp Phật nhưng vua Ba-tư-nặc vẫn còn chấp theo tập quán cũ, chỉ biết sau khi chết rồi thì mất hẳn. Nay nghe được tánh không sanh không diệt của tâm mà vẫn còn hồ nghi cho nên mới thỉnh Phật chỉ dạy.
Tuy kinh Lăng Nghiêm nói về chơn tâm, nhưng trong Duy Thức học cũng phân tích rõ ràng về cái tâm để chúng sinh tư duy quán chiếu.


Tâm pháp hay còn được gọi là tâm vương vì những món tâm này rất thù thắng, tự tạitự chủ cũng như vị vua. Tâm vương gồm có tám món :


1) Nhãn thức : Cái biết của con mắt. Vì thức này nương theo sụ thấy biết của mắt mới khởi ra tác dụng sự phân biệt nên gọi là nhãn thức.


2) Nhĩ thức : Cái biết của lỗ tai. Vì thức này nương theo âm thanh mà tai nghe được mới khởi ra tác dụng phân biệt nên gọi là nhĩ thức.


3) Tỷ thức : Cái biết của mũi. Vì thức này dựa theo cái biết của hương vị do mũi tiếp nhận để khởi ra tác dụng sự phân biệt.


4)Thiệt thức: Cái biết của lưỡi. Vì thức này tùy thuộc vào mùi vị do lưỡi nếm được để khởi ra tác dụng sự phân biệt.

5) Thân thức : Cái biết của thân. Khi thân cảm thấy nóng lạnh hay tiếp xúc với cứng mềm để khởi ra tác dụng phân biệt nên gọi là than thức. Vì năm thức ở trên là nằm ở bên ngoài và trước nên gọi là “Tiền ngũ thức”.


6) Ý thức : Thức này nương tựa ý căn mới khởi tác dụng phân biệt Pháp trần nên gọi là “Ý thức”. Trong tám thức chỉ có thức thứ sáu này rất lạnh lẹ và khôn ngoan hơn hết. Bởi vì chúng sinhsuy nghĩ làm việc lành, việc tốt thì thức này đứng đầu. Còn nếu chúng sinh tính toán tạo tác việc ác thì nó cũng hơn cả. Vì thế mà trong Duy thức có câu : ”Công vi thủ, tội vi khôi” nghĩa là Nói về công thì thức này hơn hết, còn luận về tội thì nó cũng đứng đầu.


7) Mạt na thức : Thức này có công năng truyền các pháp hiện hành vào A lại da thức (Tàng thức) và tổng đưa các pháp chủng tử khởi ra hiện hành.


Duy thức tiềm ẩn trong lời Phật rải rác ở các bộ kinh, về sau Bồ-tát Thế Thân dùng lý đó viết thành luận và được gọi là Thành Duy Thức. Thành Duy Thức cũng gọi là Tịnh Duy Thức bởi vì bộ luận này giảng giải rất rõ ràng rốt ráo đạo lý Duy Thức. Trong bài tụng thứ năm, Bồ-tát Thế Thân diễn tả về Mạt na thức như sau :


Thứ đệ nhị năng biến


Thị thức danh Mạt na


Y bỉ chuyển duyên bỉ


Tư lương vi tánh tướng


Dịch là:


Thức năng biến thứ hai


Gọi là thức Mạt na


Nương kia chuyển duyên kia


Tư lương làm tánh tướng.


Thức năng biến thứ hai này chính là Mạt na thức có nghĩa là suy nghĩ, cân nhắc và so đo vì thức nầy có đặc tínhliên tục suy tư, hằng thẩm và tư lương. Thức này nương theo A lại da thức và lấy thức thứ tám này làm căn bản mà chuyển hiện. Cho nên có A lại da thức là có Mạt na thứcA lại da thức sinh về cõi nào thì Mạt na thức chuyển hiện theo cõi ấy. Mạt na thức theo A lại da thức như bóng theo hình, nhưng Mạt na luôn lấy cảnh sở duyên nơi A lại dasuy xét và so đo, khiến cho tâm bị dấy động và ô nhiễm. Thí dụ A lại da thức là mảnh đất thì Mạt na thức là rễ cây luôn bám chặt vào đất A lại da. Còn ý thức và tiền ngũ thức là thân cây và những nhánh cây vươn lên từ mảnh đất A lại da. Một thí dụ khác là A lại da thức nếu ví như là nước trong những con sông thì Mạt na thức chính là gốc rễ của những cây lục bình trôi nổi trên mặt nước và ý thức và tiền ngũ thức bây giờ cũng như là thân và cánh là lục bình.


Mạt na thức sinh ra từ A lại da thức, nhưng nó lại lấy A lại da thức làm đối tượng sở duyên. Vì thế các chủng tử và hiện hành của A lại da thức luôn bị Mạt na thức lấy cảnh sở duyên mà duyên tức là các chủng tử nầy cứ bị soi chiếu, suy xét và đo lường. Chưa hết các cảnh sở duyên lại bị Mạt na thức duyên thêm một lần nữa nên bị biến đổi và sự biến đổi này lại được đưa vào A lại da làm tăng trưởng hay làm suy yếu thêm các chủng tử có sẳn nơi A lại da thức. Nếu sự tác động làm tăng trưởng các chủng tử có sẳn trong A lại da thức thì gọi là Thuận Tăng Thượng Duyên và nếu sự tác động làm suy yếu hay hủy diệt các chủng tử có sẵn trong A lại da thì gọi là Nghịch Tăng Thượng Duyên.


Thêm nữa bản chất của Mạt nasuy xét và đo lường cho nên Mạt na thức không bao giờ là không suy tính và so đo. Chính vì sự tư lương này mà tánh chất nhận thức nơi Mạt na thức không được khách quan trung thực, luôn bị bóp méobiến đổi khác đi mà Duy thức gọi là phi lượng. Vì thế Mạt na thứcchấp NgãNgã Sở.


Bây giờ hãy nghiệm bài tụng thứ sáu :


Tứ phiền não thường câu


Vị : ngã si, ngã kiến


Tinh ngã mạn ngã ái


Cập dữ Xúc đẳng câu.


Dịch là:


Tương ưng bốn phiền não


ngã si, ngã kiến


Cùng ngã mạn, ngã ái


tâm sở Xúc thấy.


Mạt na thức là hằng thẩm tư lương nên luôn chấp đó là mình, là của mình mà sinh ra tham đắm si mê. Vì còn phân biệt đối đải nên thấy có ta có người và dĩ nhiên là thấy cái ta và cái của ta là đúng, là đẹp, là hơn. Đây là những căn bản của phiền não khổ đau cũng bởi do chấp ngã mà ra. Vì thế mới gọi là Ngã Si, Ngã Kiến, Ngã MạnNgã Ái.


Ngã Sivô minh, là mê muội vọng chấp mà tin rằng tất cả các pháp là ngã trong khi chính nó không có tự tánh thì làm sao có tự ngã được.


Ngã Kiến là luôn cho rằng những điều mình thấy, mình nghĩ, mình quan niệm, mình tin tưởng là đúng. Những gì khác với quan niệm của mình là sai cho dù đó là lời chân thật. Đây là cố chấp, ngoan cố không phục thiện.

Ngã Mạn là luôn coi mình là nhất, không coi ai ra gì, lấn lướt và khinh thường người khác.

Ngã Ái là luôn luôn chấp ngã và sinh tâm mê thích ta và cái của ta. Chỉ biết nghĩ đến mình và những gì thuộc về mình.
Bốn thứ ngã này làm che đậy và làm vẫn đục nội thức tức là làm nhơ bẩn A lại da thức và phát sinh tiền lục thức khiến cho con người mãi trôi nổi trong sinh tử luân hồi.

Sau cùng hãy nghiệm bài tụng thứ bảy :


Hữu phú vô ký nhiếp

 

Tùy sở sanh sở hệ


A La Hán, Diệt định


Xuất thế đạo vô hữu


Dịch là:


Tánh hữu phú vô ký


Sanh theo A lại da


Chứng A La hán, Diệt định


Xuất thế đạo, không còn.


Với những phiền não chấp ngã và suy tư lo nghĩ, Mạt na thức luôn bám lấy A lại da thứcchấp ngã, chấp là mình, là của mình tức là ngã và ngã sở. Tất cả những hành tướng này tạo nên Nghiệp Nhân và những nghiệp này cứ trùng trùng duyên khởi, tương tục tăng trưởng, sinh sinh diệt diệt cho đến khi đầy đủ nhân duyên thì thọ sanh vào một trong lục đạo và những quốc độ tương xứng với nghiệp quả của mình. Do đó nếu nghiệp báo A lại da thức chuyển biến khởi sanh vào cõi nào thì Mạt na thức sanh vào cõi đó. Vì thế khi nhân duyên đã đầy đủ chín mùi thì A lại da thức có thể chuyển biếnhiện hành thành một loài trong lục đạo, hay một loài trong những cõi trời Sắc giới hay Vô Sắc giới.


Khi các vị A la hán của hàng Thanh văn, các vị Bích chi Phật của hàng Duyên giác hay các bậc Bồ-tát Đệ Bát Địa của Đại thừa tu chứng để diệt các thọ và tưởng tức là nhập vào Diệt tận định thì các chấp ngã sẽ không còn sanh khởi trong Mạt na thức nghĩa là các vị đã đạt đến trạng thái vô ngã. Không còn sinh khởi không có nghĩa là Mạt na thức bị biến mất, không còn nữa. Nói tóm lại, khi chưa chuyển y thì Mạt na thức luôn luôn chấp ngã và chỉ duyên nơi A lại da thức. Đến khi đắc thành thánh quả, chuyển chấp ngã thành vô ngã thì Mạt na thức chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí tức là thức thứ bảy bây giờ chỉ còn duyên chân như cùng tất cả các pháp khác, thấy được mọi căn cơsai biệt nơi mỗi loài chúng sinh, tùy duyên hóa thân ứng hiện thuyết pháp độ sanhA lại da thức chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí.


8) A lại da thức : A lại da là âm của tiếng Phạn Alaya có nghĩa là cái kho mà danh từ Hán-Việt gọi là tàng. Tất cả mọi chủng tử không phân biệt thiện ác, tốt xấu, sanh tửniết bàn, mê ngộ và khổ vui, ngay cả vô ký đều được chứa đựng trong tàng thức này. A lại da thức có khả năng tiếp nhận, duy trì và làm các hạt giống chủng tử tăng trưởng, chuyển biến cho đến khi đầy đủ nhân duyên thuần thục chín mùi thì mới được đi tái sanh vào những thế giới thích hợp với căn nghiệp của mình. Tùy theo nghiệp lực của mỗi chúng sinh mà được thọ sanh vào trong lục đạo hoặc sinh về những cõi trời trong những cõi Sắc giớiVô sắc giới. Nếu nhân trong A lại da thức chứa nhiều chủng tử thiện thì khi đầy đủ nhân duyên chín mùi thì sẽ chuyển biến và hiện khởi ra quả báo là người hay là trời. Ngược lại nếu chứa nhiều chủng tử bất thiện thì sẽ hiện khởi ra quả báo trong ba đường ácsúc sanh, ngạ quỷđịa ngục. Vì các sự huân tậpchuyển biến trong A lại da thức thật tiềm ẩnvi tế nên người chưa đắc đạo không thể biết được mình sẽ thọ thân làm loài gì và ở trong quốc độ nào.


Thức thứ tám này cũng còn được gọi là A-đà-na thức. Vậy cái tên này xuất xứ từ đâu?


Trong kinh Giải Thâm Mật có bài tụng rằng :


A-đà-na thức thậm thâm tế
Tập khí chủng tử như bộc lưu
Ngã ư phàm ngu bất khai diễn
Khủng bỉ phân biệt chấp vi ngã
Dịch là:


Thức A-đà-na rất thậm thâmtế nhị
Các tập khí chủng tử của nó sinh diệt như dòng nước thác
Ta (Phật) đối với chúng phàm phunhị thừa không nói thức này
Vì sợ chúng phân biệt chấp làm ngã.


Thức này là căn bản của chơn và vọng vì thế thánh phàm đều nương ở nơi đây. Do đó thức A-đà-na rất thâm sâutế nhị. Nó chứa nhóm các tập khí chủng tử từ vô thỉ đến nay. Nó làm chủ giữ gìn báo thân của hữu tình chúng sinh sống trong một thời kỳ. Cũng như dòng nước thác, ở xa thấy như điềm tịnh mà kỳ thật nó chảy rất mau. Chẳng những chúng phàm phu không biết mà ngay cả hàng Tiểu thừa Thanh văn cũng mê lầm thức này. Đức Phật đối với hai hạng này chẳng hề giảng nói đến thức A-đà-na vì sợ họ mê lầm chấp làm Ngã.


A-đà-na thức còn được tìm thấy trong Nhiếp Đại thừa luận, Hiển dương thánh giáo luận, Thành Duy Thức luận và Du Dà Sư Địa luận…


Trong Thành Duy Thức Luận quyển ba giải thích thức A-đà-na có ba công năng như sau :


1) Giữ gìn (chấp trì) chủng tử của các pháp : Các pháp nói ở đây là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi. Đó là “hữu lậu hữu vi” tức là các pháp tạp nhiễm thuộc về chúng sinh và “vô lậu hữu vi” tức là các pháp thanh tịnh thuộc về Thánh hiền. Tuy nhiên “chủng tử” chỉ có công năng tiềm tàng (ẩn núp) mà không khởi hiện. Nếu không có một cái gì để chứa giữ thì chủng tử của các pháp phải bị tản mất. Nếu chủng tử các pháp bị tản mất thì các pháp hiện hànhthế gianxuất thế gian cũng chẳng còn. Do đó phải có thức A-đà-na, tánh vô phú vô ký, nhất loại sinh diệt tương tục mới có thể duy trì chứa giữ chủng tử của các pháp.
2) Giữ chịu (chấp thọ) sắc cănthế giới : Đây là muốn chỉ cho cái công năng giữ gìn báo thân của chúng sinh hữu tình được tương tục tồn tại trong một thời kỳ không tan hoại.


3) Giữ lấy (chấp thủ) việc kết nối đời sau tức là “kiết sanh tương tục” là do ba pháp : phiền não, nghiệp và sanh. Con người vì sống trong vô minh phiền não nên tạo ra nghiệp mà phải kết nối đời sau để thọ khổ. Chữ “kiết sanh” có nghĩa là thọ sanh tức là bắt đầu từ khi kết thai cho đến lúc sanh ra vậy. Tiến trình kết mối đời sau bắt đầu từ thân đang sống đến thân đang chết. Rồi từ thân đang chết đến thân trung ấm (thân mới chết chưa đầu thai). Và sau cùng từ thân trung ấm đến thân đời sau. Nếu các thân được tương tục không gián đoạn như thế ắt phải có một cái gì thường lưu hành và giữ gìn (chấp thủ). Cái đó chính là thức A-đà-na. Thật vậy, nếu không có thức thứ tám này để nắm giữ việc “kết nối đời sau” thì khi một người chết rồi phải mất luôn, không còn tái sanh được nữa. Như thế thành ra bị rơi vào thuyết Đoạn diệt của ngoại đạo rồi. Đây là câu trả lời cho vua Ba tư nặc về thuyết Đoạn diệt của bọn ngoại đạo Ca chiên Diên.


Thêm nữa tất cả những chủng tử tốt xấu đều được gieo vào mảnh đất A lại da trong trạng thái tiềm ẩn. Các chủng tử này được huân tập, chuyển biến, tương sanh, tương duyên, tương diệt liên tục. Tất cả những sự chuyển biến này xảy ra liên tụctức thời, chớp nhoángliên tiếp. Cái này diệt thì cái kia sinh, tương tức tương tục liên miên bất tận nên được gọi là Sát Na Sinh Diệt. Sát Na Sinh Diệt có thể được ví như những khối nước liên tục chuyển động chảy trong dòng thác lũ. Khối nước trước đổ qua thì có khối nước khác đổ tới, tiếp nối liên tục không ngừng nghĩ và dĩ nhiên dòng nước cũ không thể chẩy trở lại nơi mà nó đã chảy qua. Sự sinh diệt triền miên đó cũng có thể ví như những đợt sóng dạt dào trên biển cả. Đợt sống này đẩy đợt sóng kia, đợt sóng mới đẩy đợt sóng cũ. Bởi có gió vọng tưởng thổi sóng dạt dào trên biển cả làm các ngọn sóng liên tiếp nhồi lên lặn xuống không ngừng nghĩ cho nên ngọn sóng này diệt thì ngọn sóng mới khởi sanh.


Khi chúng sinh biết tu tập làm cho tâm được thanh tịnh thì các chủng tử vô lậu được huân tập, tăng trưởng và phát sinh ra hiện hành. Các hiện hành này được huân tập trở vào thức A lại da thành các chủng tử vô lậu mới. Tùy theo tánh chất của các chủng tử vô lậu mới này mà chủng tử hữu lậu tiềm ẩn sẳn có trong tàng thức bị suy thoái và tiêu diệt hoặc các chủng tử vô lậu sẵn có ở trong đó được tăng trưởng và phát sinh thêm. Nếu chúng sinh trì công tu tập có nghĩa là tiếp tục huân tập các chủng tử vô lậu thanh tịnh đến khi tất cả các chủng tử và hiện hành hữu lậu hoàn toàn bị tiêu diệt thì lúc đó họ sẽ chứng đắc được quả vị A la hán trong hàng Thanh văn hay là bát địa Bồ-tát của Đại thừa. Đến đây thì tàng thức chỉ chứa toàn các chủng tử vô lậu. Các hạt giống hữu lậu của phiền não, nghiệp báo luân hồi sinh tử không còn nữa và A lại da thức bây giờ chuyển thành “Vô cấu thức”. Vô cấu thức cũng còn cái tên khác là Yêm-ma-la thức, Bạch tịnh thức, Thanh tịnh thức, Chân như thức, Như Lai tạng thức hay thức thứ chín. Tuy có rất nhiều tên như thế nhưng chúng quy cũng chỉ có một ý nghĩa “thanh tịnh”.


Khi chúng sinh đạt đến quả vị A la hán hay bát địa Bồ-tát thì các chủng tử hữu lậu làm chướng ngại chân tâm sẽ bị hủy diệt, nhưng thật ra vẫn còn những chủng tử hữu lậu vi tế nằm tiềm ẩn trong thức thứ tám này. Chỉ khi nào các vị A la hán hay bát địa Bồ-tát tiếp tục tiến tu pháp tối thắng vô phân biệt trí, được gọi là Thắng Pháp Không Quán, để vượt qua khỏi bậc Bồ-tát Thập địa mà đến bậc Đẳng Giác và khởi Kim Cang Dụ Định mà đạt tới Phật quả thì thức thứ tám này mới xóa tan hoàn toàn tất cả các vô lậu thậm thâm vi tế và chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí. Khi đó các chủng tử vô lậu, cấu nhiễm đã hết, thức này chuyển thành trí thanh tịnh chiếu khắp mười phương các cõi nhiều như vi trần nên gọi là Đại Viên Cảnh Trí. Đây chính là cái thể thanh tịnh của Chơn Tâm cũng như mặt gương sáng chiếu soi tất cả vạn pháp một cách chân thật mà nhà Phật gọi là “như thị bất khả tư nghì”.


Chúng sinh vì có những nghiệp báo khác nhau nên khi đi thọ báo tái sinh họ sống trong những môi trường, những tin tưởng, những mục đích, những chọn lựa và những hành động khác nhau. Chính vì có sự khác biệt về sinh lý, tâm lývật lýĐức Thế Tôn phải tùy theo trình độ, căn cơ của mỗi hạng người mà phương tiện chỉ bày ra những pháp môn thích hợp ngỏ hầu giúp họ có thể hội nhập Phật tri kiến. Tuy con người căn nghiệp, tánh nết không đều cũng như tu có mau có chậm, nhưng khi giác ngộ được chân tánh thì đồng một thể chân như. Trong Truyền Tâm Pháp Yếu, tổ Hoàng Bá đã dạy rằng :


- Phật cùng chúng sinh một tâm không khác. Cũng giống như hư không, không tạp loạn, không hư hoại. Như ánh sáng mặt trời chiếu khắp thiên hạ. Khi mặt trời lên thì chiếu sáng khắp nơi mà hư không chưa từng sáng. Đến lúc mặt trời lặn, u tối khắp nơi mà hư không cũng chưa từng tối. Cảnh sáng tối tự tranh nhau, còn tánh của hư không thì rỗng rang không thay đổi. Tâm của Phật và tâm của chúng sinh cũng như vậy. Nếu quán Phật mà thấy cái tướng thanh tịnh, quang minh, giải thoát và nếu quán chúng sinh mà thấy cái tướng ô nhiễm, ám muội, sinh tử thì với kiến giải như thế, trải qua hằng hà vô số kiếp vẫn không chứng đạt được đạo quả Bồ-đề. Đó cũng vì còn chấp sắc tướng vậy. Tức tâm là Phật. Tâm đó là vô tâm nghĩa là biết xa rời mọi tướng để thấy biết rằng chúng sinh và Phật không hề khác nhau. Chỉ cần được vô tâm tức thì thành Đạo. Người học đạo nếu không có được cái vô tâm thì tu hành kiếp kiếp cũng không thành “Đạo” được. Tu hành có mau có chậm. Có kẻ mới nghe pháp liền được vô tâm. Có kẻ phải tu hành đến thập tín, thập trụ, thập trụ, thập hồi hướng mới được vô tâm. Lại có kẻ đến hàng thập địa mới được vô tâm. Tóm lại, dù mau dù chậm, hễ chúng sinh có được vô tâm là sẽ an trụ ở đó chứ chẳng còn gì để tu, để chứng nữa. Thật chẳng có gì sở đắc. Sự thật như vậy, quả không hư dối.


Sau cùng Chân Như tuyệt đối chỉ có đạt được bằng công năng tu trìthiền quán nhằm loại bỏ các tập nhiễm từ thô đến tế có từ vô thỉ để đưa tâm thức trở về với tự tánh thanh tịnh bản nhiên tức là bản lai diện mục. Chỉ khi ấy chúng sinh mới nhận chân ra cái cảnh giới như thị, không thể nghĩ bàn mà chư Phật trong tam thế mười phương đã chứng đắc.

Phật Chỉ Tâm Lần Thứ Ba [Audio]

Phật bảo :


- Này đại vương! Như đại vương đã biết ngay nơi thân ông đang tồn tại, nay Như Lai hỏi ông. Thân máu thịt này của ông có giống như thân kim cương bất hoại hay sẽ bị biến hoại?
Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay, rốt cuộc rồi sẽ bị biến hoại.


Đức Phật bảo :


- Đại vương! Ông chưa từng diệt, làm sao biết mình sẽ biến diệt?


- Bạch Thế Tôn! Cái thân biến hoại vô thường của con hiện nay tuy chưa từng diệt, nhưng con thấy trước mắt, từng niệm dời đổi mãi không ngừng như lửa tàn thành tro, dần dần tiêu tan. Vì tàn hoại không dừng nên con biết chắc thân này sẽ bị diệt mất.


Đức Phật nói :


- Này Đại vương! Đúng như vậy.


Đại vương! Ông nay tuổi đã già yếu, dung mạo so với lúc trẻ như thế nào?


- Bạch Thế Tôn! Khi xưa con còn bé, da dẻ tươi nhuận, đến tuổi trưởng thành, khí huyết sung mãn, nay tuổi già, thân thể cũng theo đó mà già yếu khô gầy, tinh thần không còn sáng suốt, tóc bạc mặt nhăn, sống chẳng còn bao lâu. Làm sao có thể so sánh với khi còn trẻ mạnh.
Phật bảo:


- Này đại vương! Thân thể của ông đâu phải già liền?


Vua Ba-tư-nặc thưa:


- Bạch Thế Tôn! Nó âm thầm thay đổi, con thật chẳng biết, lạnh nóng đổi dời cho đến ngày nay. Vì sao? Lúc hai mươi tuổi, tuy tuổi còn nhỏ, nhưng sắc mặt đã già hơn lúc mười tuổi. Khi ba mươi thì già hơn lúc mới hai mươi. Nay con đã sáu mươi hai tuổi, so với lúc năm mươi tuổi, rõ ràng lúc năm mươi tuổi cường tráng hơn nhiều.


- Bạch Thế Tôn! Con thấy nó âm thầm dời đổi, tuy cái già nua nầy thay đổi trong vòng mười năm. Nếu con suy nghĩ kỹ hơn, chẳng những nó thay đổi trong khoảng một kỷ, hai kỷ mà thực ra nó thay đổi trong mỗi năm, chẳng những nó thay đổi trong từng năm, mà thực ra nó thay đổi trong từng tháng. Chẳng những nó thay đổi trong từng tháng, mà thật ra nó thay đổi trong từng ngày. Suy nghĩ thật sâu, quán sát thật kỹ, thấy nó thay đổi trong từng sát na, trong từng mỗi niệm, không hề dừng nghĩ. Thế nên con biết thân này cuối cùng phải chịu sự biến đổihoại diệt.
Đức Phật bảo :


- Này đại vương! Ông thấy sự biến hóa thay đổi không ngừng, nên biết thân mình hoại diệt. Vậy chính khi nó hoại diệt, ông có biết trong thân có cái gì không hoại diệt chăng?
Vua Ba-tư-nặc thưa :


- Thật con chẳng biết.


Đức Phật đã khai thị cho vua Ba-tư-nặc và đại chúng thấu rõ sắc thân tứ đại là một hiện tượng, một dạng vật lý cho nên phải bị chi phối bởi luật vô thường của tạo hóa. Sắc thân thay đổi không ngừng, biến hóa theo niên kỷ, tháng ngày dời chuyển, thay đổi từng giờ, từng phút, từng sát na.



Phật Chỉ Cái “Tánh Thấy” Không Sinh Diệt


Đức Phật bảo :


- Nay tôi sẽ chỉ cho ông tánh chẳng sinh diệt.


Đức Phật bảo :


- Này đại vương! Ông thấy nước sông Hằng lúc mấy tuổi?


Vua Ba-tu-nặc thưa :


- Khi lên ba tuổi, mẹ con dẫn đến lễ bái Kỳ-đà-thiên, có đi qua con sông này. Con được thấy nước sông Hằng khi ấy.
Đức Phật bảo :


- Này đại vương! Như ông vừa nói, khi ông hai mươi tuổi thấy mình già hơn khi mười tuổi, cho đến khi sáu mươi tuổi , ngày qua tháng lại, niệm niệm dời đổi. Vậy khi ông thấy nước sông Hằng lúc ba tuổi so với cái thấy nước sông Hằng lúc mười ba tuổi như thế nào?


Nhà vua thưa :


- Cái thấy ấy không khác so với khi còn ba tuổi, cho đến nay con đã 62 tuổi, cái thấy ấy vẫn không khác.


Đức Phật bảo :


- Nay ông tự cảm thương tóc bạc mặt nhăn, mặt ông nhất định là nhăn hơn lúc trẻ. Vậy cái thấy sông Hằng của ông hiện nay và cái thấy lúc còn nhỏ có già có trẻ chăng?


Vua Ba-tư-nặc thưa :


- Bạch Thế Tôn! Không vậy.


Đức Phật bảo :


- Mặt ông tuy nhăn, nhưng tánh thấy này chưa từng bị nhăn. Cái bị nhăn thì biến đổi, còn cái không bị nhăn thì chẳng biến đổi.
Cái biến đổi thì phải bị hoại diệt, cái không biến đổi kia vốn chẳng sinh diệt, làm sao trong đó nó nhận chịu sự sinh tử của ông? Mà ông còn dẫn lời của ngoại đạo Mạt-già-lê rằng : ”Thân này sau khi chếthoàn toàn mất hẳn”.


Vua nghe lời ấy, tin rằng thân này sau khi chết sẽ sinh thân khác, nên vua cùng đại chúng vui mừng hớn hở như được điều chưa từng có.


Theo tục lệ của người Ấn Độ vào thời Đức Phật thì người Ấn Độ phải đến sông Hằng để lấy nước sông mà xối từ đỉnh đầu xuống khắp châu thân để gội sạch tất cả những ô nhiễm, dơ bẫn giúp cho họ loại bỏ những vô minh mà có được trí tuệ sáng suốt. Vì thế mà vua Ba-tư-nặc cũng làm theo tục lệ này nên khi lên ba tuổi được mẹ dắt đến sông Hằng trước là lễ lạy thần sông Kỳ-bà-thiên và sau đó dùng nước thiêng của sông Hằng mà rửa sạch những uế trược, bẩn nhơ.


Ngày nay chúng ta sống ở những quốc gia Tây phương, tín đồ của những hệ phái tin lành, Thiên chúa giáo cũng dùng nước thánh (nước lạnh từ trong faucet) để rửa tội. Họ làm những cái bồn lớn như bồn tắm rồi nhận tín đồ vào đó cho ước toàn thân thì những tội lỗi do tổ tiên gây ra sẽ được xóa sạch. Đây là họ bắt chước theo câu chuyện ông thánh John đã rửa tội cho chúa Jesus trong dòng sông Jordan hai ngàn năm về trước. Thật ra người Phật tử không cần phải đến sông Hằng, hay qua tận trung Đông để ngâm mình trong dòng sông Jordan mà rửa tội. Vì có rửa cũng chẳng bao giờ sạch được. Nếu tội lỗi có thể dùng xà phòng, hay nước mà rửa được thì chúng ta tắm hằng ngày bao nhiêu tội ác cũng theo dòng nước trôi đi đâu còn nữa. Như vậy thế giới này sẽ biến thành thiên đường cực lạc rồi, nhưng tại sao con người vẫn còn tranh chấp giết hại lẫn nhau? Tội là do tâm tạo để biến thành nghiệp chướng. Nhưng tâm là tư tưởng mà dùng nước rửa bên ngoài thì làm sao xóa được những tư tưởng thiện ác trong tâm!


Tuy sắc thân tứ đại biến đổi, hư hoại, thoái hóa theo thời gian, không gian cũng như :


“Xuân đến trăm hoa nở


Xuân đi trăm hoa rụng


Sự vật đổi thay trông trước mắt


Già nua biểu hiện mái tóc sầu”.


Nhưng trong cái vô thường sinh diệt đó, còn có cái thường hằng bất sinh bất diệt. Đó là cái tánh thấy. Thật ra tánh thấy cũng là một hiện tượng, nhưng là hiện tượng của sự tùy duyên biểu hiện của bản thể chân như. Vì thế thân già mắt kém nhưng tánh thấy không già. Tóc tuy có điểm màu sương, lưng có còm, má có hóp nhưng tánh thấy vẫn sáng suốt như ngày nào, không tăng không giảm. Trong thế giới hữu vi sinh diệt, hễ có sắc, có tướng là có thay đổi rồi sẽ hoại diệt mất đi. Chỉ có bản thể chân thườngbất sinh bất diệt cũng như :


Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết


Trước sân, xuân nọ cành mai hãy còn.


Xuân đến thì mai nở, xuân đi thì mai rụng cũng như duyên đến thì thân sanh, duyên tan thì thân hoại. Xuân đến, xuân đi, mai nở, mai tàn, nhưng cây mai trước sân nhà đâu có mất. Cũng như sắc thân có sinh có diệt, nhưng bản thể chân như có mất bao giờ.

A Nan Cầu Phật Chỉ Cái “Điên Đảo”.


A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay quỳ xuống bạch Phật :


- Bạch Thế Tôn! Nếu cái thấy nghe này không sanh diệt, tại sao chúng con bỏ quên chân tánh, làm việc điên đảo? Nguyện xin Thế Tôn đem lòng thương xót rửa sạch trần cấu cho chúng con.
Liền khi ấy, Đức Phật buông cánh tay sắc vàng, năm ngón tay chỉ xuống, bảo A Nan rằng :


- Nay ông thấy cánh tay tôi như thế này là xuôi hay ngược?


A Nan thưa :


- Chúng sinh trong thế gian đều cho đó là ngược, riêng con chẳng biết thế nào là xuôi hay ngược.


Đức Phật bảo A Nan :


- Nếu người thế gian cho là ngược, vậy họ cho thế nào là xuôi?


A Nan thưa :


- Khi Như Lai đưa cánh tay hướng lên trên không thì gọi là xuôi.


Bấy giờ Phật đưa cánh tay lên và bảo ông A Nan :


- Cái trái ngược của ông là ở chỗ đó, chỉ có một việc thay đổi lẫn nhau vậy mà người thế gian gán cho cái thấy một ý niệm Ngược, Xuôi. A Nan! Thân ông và thân Như Lai chẳng khác gì nhau, nhưng thân Như Laipháp thân thanh tịnh chánh biến tri giác, còn thân ông gọi là tánh điên đảo. Vậy ông hãy chín chắn suy nghĩ tìm xem sự trái ngược của thân ông và thân Phật khác ở chỗ nào?


Khi ấy A Nan cùng toàn thể chúng hội chăm chú nhìn Phật không chớp mắt, không biết nơi thân tâm mình chỗ nào là điên đảo?


Đức Phật khởi lòng từ bi, thương xót A Nan và cả đại chúng, nên phát ra lời nói bằng âm thanh như tiếng hải triều, bảo khắp đại chúng :


- Này các thiện nam tử! Như Lai thường nói sắc, tâm và tâm sở pháp đều duy tâm biến hiện. Thân tâm các ông chỉ là vật ở trong chơn tâm minh diệu. Tại sao các ông bỏ mất đi cái chơn tâm minh diệu quý báu mà nhận lấy cái mê trong ngộ?


Dựa vào câu hỏi thì đủ biết ông A Nan vẫn chưa thấy được chân tánh nên lấy vọng làm chân mà tâm sinh điên đảo. Đứng về mặt chơn đế, vạn pháp vốn không có tên tuổi, nhưng đứng về mặt tục đế, nhân sinh xã hội đặt cho sự vật vạn pháp một danh ngôn để xưng gọi mà con người sống phù hợp theo tánh hiện thực khách quan của nó. Nhưng tai hại của danh ngôn là do sanh lòng chấp mắc. Con người vì chấp vào hình tướng nên cho rằng hướng này đúng hướng kia sai, tay đưa lên là xuôi hay đưa xuống là nghịch. Xuôi đối với người này mà nghịch đối với người kia thì xuôi ngược nói sao chẳng được, lấy gì làm tiêu chuẩnnói đúng hay sai. Ông A Nan còn để tâm duyên theo tiền trần thì bị Phật quở là đúng rồi.

Khi cư sĩ Duy Ma Cật hỏi Bồ-tát Nhất Sanh Bổ Xứ Di Lặc trong Kinh Duy Ma Cật rằng : ”Thế Tôn thọ ký cho Ngài một đời nữa sẽ thành Phật. Đời quá khứ đã qua, đời hiện tại biến chuyển không ngừng, đời tương lai chưa đến. Vậy một đời là đời nào? Theo Phật giáo không có cái móc thời gian nên thời gian là giả huyển, không thật. Con người đặt ra để gọi thế thôi. Người Tàu gọi giờ thìn, giờ ngọ. Người Mỹ gọi năm giờ, bảy giờ…Cũng cùng một thời gian mà bên Mỹ là mùa đông giá rét, còn ở Úc là mùa hè nóng bức. Ở Việt nam là ban đêm trong khi đó ở Hoa kỳ lại là ban ngày. Thế thì thời gian nào là thật? Con người còn chạy theo hình sắc bên ngoài là chạy theo sinh diệt, còn biết quay về với thật tướng, chân tánh thì mới sống được với chơn tâm thanh tịnh thường hằng bất biến. Nhưng chân tánhchân không thì làm sao thấy được mà so sánh xuôi hay ngược.


Bây giờ Phật hỏi tại sao thân Phật và thân ông A Nan giống nhau mà thân Phật gọi là pháp thân thanh tịnh Chánh biến tri, còn thân A Nan là thân điên đảo? Nếu nhìn từ hình sắc thì thân của Đức Phật và thân của A Nan đều là thân tứ đại, chịu sinh lão bệnh tử như nhau, không sai không khác. Nhưng ở đây Đức Phật dùng chữ “pháp thân thanh tịnh” cho nên thân mà Đức Phật muốn ám chỉ trong đoạn kinh này không phải là ứng thân sinh diệt mà chính là pháp thân, là chơn tâm thanh tịnh có sẳn trong tất cả mọi chúng sinh. Cái khác nhau ở đây là Đức Phật lúc nào cũng sống với chơn tâm. Đó là Ngài làm chủ bản thân, làm chủ vạn pháp và làm chủ tâm tánh mình. Đức Thế Tôn nhìn tất cả hiện tượng vạn pháp với cái “tri kiến vô kiến” nghĩa là thấy mà như không thấy nên tâm không còn dính mắc. Cái tâm này chính là pháp thân thanh tịnh Chánh biến tri. Ngược lại ông A Nanđại chúng sống với tâm phan duyên, chạy theo ngoại trần mà quên bỏ tâm tánh của mình. Ông nhận thức vạn pháp theo “tri kiến lập tri” nghĩa là thấy sao biết vậy nên tâm chất đầy vọng tưởng, không thanh tịnh. Do đó Phật quở ông A Nan vì bỏ mất chơn tánh nên A Nan sống với tánh điên đảo là như vậy.


Dựa theo Duy thức luận, tâm gồm có tám thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thứca-lại-da thức) đều có quyền tự chủ, tự tại, cũng như vị vua nên được gọi là “tâm vương”. Vị quốc vương thì phải có quần thần phụ tá, tâm vương thì cũng phải có bộ hạ tùy tùng giúp đở mới tác tạo ra nghiệp. Những bộ hạ này không được tự tại nên gọi là “tâm sở” hay “tâm sở pháp”. Những thứ như tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến…đều thuộc về tâm sở. Sắc thuộc về sắc pháp như hình sắc, màu sắc, nhưng sắc là tướng phát sinh bởi tâm vươngtâm sở. Do đó sắc, tâm và tâm sở pháp cũng đều do tâm biến hiện. Vì thế nếu sống với tánh thì có được chơn tâm, ngược lại chạy theo trần thì sống trong điên đảo khổ đau.
Phật lại dạy rằng :


A Nan! Mê muội thành ra có hư không, trong hư không mê muội ấy, kết cái tối tăm thành sắc. Sắc xen tạp với vọng tưởng, nhận tướng vọng làm thân. Cảnh sắc bên ngoài phản ánh tư tưởng bên trong rồi cho cái tác dụng nghĩ ngợi lăng xăngtâm tánh. Một khi đã lầm là tâm thì chắc chắn nhận lầm tâm ở trong thân. Chẳng biết rằng từ sắc thân cho đến núi sông hư khôngthế giới đều là vật ở trong chơn tâm minh diệu. Thật chẳng khác trăm ngàn biển lớn sạch trong, chỉ nhận một cái bọt nước rồi cho đó là nước của toàn thể đại dương. Các ông là những người trong đám người mê, chỉ một cánh tay Như Lai mà nảy sanh quan niệm Ngược Xuôi, tranh biện. Như Lai gọi các ông là những người đáng thương xót.


Ông A Nanđại chúng cũng vì nhận tâm phan duyên làm chơn tâm nên sống trong điên đảo mà tạo nghiệp để phải lưu chuyển trong sinh tử luân hồi. Vì còn mê nên con người chỉ tham đắm hình sắc ảo tưởng, giả dối sinh diệt bên ngoài mà quên quay về sống với cái chân thật, thanh tịnh, không sinh diệt, lúc nào cũng có bên trong là chơn tâm, là bản lai diện mục, là Phật tánh vĩnh hằng trong tất cả mọi chúng sinh. Hình sắc có khác biệt như núi cao rừng thẳm, chim bay cá lặn, trời xanh mây trắng và những hình ảnh đó tuy có đẹp đẽ, hấp dẫn hay quyến rũ đến đâu thì tất cả cũng đều do bản tâm biến hiện. Người mê thì lấy sắc, hư không làm tâm, chẳng khác nào như thấy một bọt biển nhỏ bé mà cho rằng đó là toàn thể nước của đại dương. Còn kẻ thức tỉnh thì sống với chơn tâm bao la vô cùng vô tận cũng như toàn thể nước của đại dương không còn ngăn ngại.


Tuy chơn tâm rộng lớn bao la vô cùng vô tận, nhưng còn người sống với tâm phan duyên, nhận các tướng sinh diệt của trần cảnh làm bản tâm nên chính họ đã đánh mất đi cái chân tánh trong sạch tức là chơn tâm minh diệu. Vì thế Đức Phật mới gọi đây là sự trái ngược cũng giống như cánh tay của Như Lai đang buông rũ xuống.


Chúng sinh vì chấp cái sắc thân tứ đạithế giới giả dối sinh diệt bên ngoài mà đánh mất đi cái hiện hữu không sinh diệt đã sinh ra nó cho nên Đức Phật mới gọi đây là sự đảo lộn. Thí dụ khi chúng ta nhìn vào tấm gương thì thấy tất cả những hình tướng phản chiếu từ tấm gương. Nào là nhà xinh xe đẹp; nào là núi cao rừng thẳm; nào là trăng sáng mây bay; thiên hình vạn tướng…Con người thấy được những hình sắc đẹp đẻ trong gương nhưng họ quên mất những hình sắc đó là do sự soi chiếu từ bản gương. Cũng thế chơn tâm là cội nguồn sinh ra tất cả vạn pháp trên thế giancon người quên bỏ nó để chạy theo tâm phan duyên sinh diệt. Do đó người mê thì họ sống trong sắc tướng thế giới giả dối, còn người giác ngộ luôn sống trong chân tánh thanh tịnh của bản tâm. Dựa theo Pháp Giới Duyên Khởi thì “Bất biến Tùy duyên” có nghĩa là khi có đủ nhân duyên thì Bản Thể Chân Như duyên khởi thành vạn vật trong thế gian này.

A Nan Đã Hiểu Được Chơn Tâm Nhưng Chưa Dám Nhận [Audio]

Ông A Nan nghe lời dạy bảo thâm thiết của Phật, sung sướng rơi nước mắt, vòng tay mà bạch Phật rằng :


- Tuy con nghe được pháp âm vi diệu của Phật, ngộ được tâm vốn thanh tịnh sáng suốt viên mãn thường trú. Nhưng con ngộ được pháp âm thường trụ của Phật vừa dạy thì con cũng dùng tâm phan duyên để nhận biết điều mong ước. Con dù có được tâm này cũng chưa dám nhận là tâm tánh xưa nay hằng có. Cúi mong đức Phật thương xót, tuyên dạy viên âm, nhổ sạch gốc nghi ngờ trong con để con được quay về với đường vô thượng giác.


Ông A Nan đã dùng tâm phan duyên để nghe pháp cho nên tuy được Như Lai khai ngộ chơn tâm rộng lớn sáng suốt nhiệm mầu làm cho ông cảm động đến rơi nước mắt, nhưng đây chính là nhân nghe diệu âm của Phật để duyên vào tâm mà ngộ chớ không phải chính do A Nan thật chứng nên chính ông cũng chưa tin vào tâm mình để đạt đến chỗ không còn nghi mới là thật chứng. Bởi vì một phút nghi ngờ sinh ra biết bao mê muội cho nên ông A Nan mặc dù nghe pháp mà chỉ nghe bằng tâm phan duyên cho dù đó là pháp âm Phật thì chính ông cũng chưa lắng nghe được pháp tánh thanh tịnh bản nhiên của vạn pháp vốn đã có sẳn trong tâm của tất cả chúng sinh. Thí dụ như nghe có loại trà rất quý, nhưng phải tự mình uống qua thì mới biết trà ấy hương vị thơm ngon đến mức nào. Cũng như chúng sinh miệng thì nói ăn mà không ăn thì bao tử làm sao no được.


Đức Phật bảo A Nan :


- Các ông vẫn còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp thì pháp đó chỉ là pháp tướng vương víu tạm thời, chứ không phải là pháp tánh.


- Ví như có người lấy ngón tay chỉ mặt trăng, người trí nương ngón tay để tìm thấy trăng, nhưng nếu cho ngón tay là trăng thì không những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất luôn cả ngón tay nữa. Vì ngón tay mà đã tưởng là trăng thì cũng không biết thế nào là sáng, thế nào là tối. Nay ông lấy sự phân biệt pháp âm của tôi mà cho là tâm, thì lúc không có pháp âm, lẽ ra ông phải còn phân biệt. Ví như người khách trọ ngủ trong lữ quán, tạm nghĩ rồi đi, không dừng lại mãi, còn người chủ quán thì chẳng đi đâu, nên gọi là chủ.


Sự phân biệt về âm thanh đã vậy thì sự phân biệt của sắc, hương, vị, xúc cho đến các phi sắc, phi không của pháp trần cũng vậy. Rời đối tượng phân biệt ra mà cái phân biệt của ông phải thường còn thì đó mới thật là tâm tánh của ông. Trái lại, hễ đối tượng không có, phân biệt cũng không còn, thế thì tâm tánh của ông có chỗ trả về, như khách đến rồi đi, không còn là địa vị chủ quán trọ nữa.


Nếu ông A Nan dùng tâm phân biệttiếp nhận pháp âm Phật thì cái tâm đó chắc chắn không phải là chơn tâm. Vì sao? Bởi vì một khi pháp âm Phật không còn nữa thì cái tánh “thường trú’ cũng tan biến theo. Tiền trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc lúc có lúc không, nhưng cái tâm “vô phân biệt” của chúng sinh lúc nào cũng thường trụ không chạy theo tiền trần. Con người nương theo ngón tay để thấy ánh sáng huyền diệu của mặt trăng, cũng như ông A Nan dùng nhĩ căn để nghe pháp âm Phật mà thấy được chơn tâm của mình. Nhưng ngón tay không bao giờ là mặt trăng và tuy pháp âm Phật có huyền diệu sâu xa thì pháp âm Phật vẫn không bao giờ là chơn tâm của A Nan được.

Nếu dùng tâm phan duyên để nghe pháp thì pháp này cũng thuộc về tâm sinh diệt sở duyên chớ không đạt được pháp thể ly ngôn. Nếu lấy phân biệt pháp âm làm tâm của A Nan thì tâm này lẽ ra khi lìa âm thanh thì phải có thể cũng như lữ khách vào quán trọ nghĩ ngơi rồi ra đi còn người chủ thì ở lại. Nếu sự phân biệt này đúng là chơn tâm của ông A Nan thì nó phải thường trụ. Cớ sao khi âm thanh mất thì nó cũng biến theo? Như thế chẳng những tâm ông A Nanvô thể mà ngay cả sự phân biệt về tướng mạo của ông A Nan nếu lìa sắc tướng cũng là vô thể. Tiền trần tuy có muôn hình vạn tướng, có phát sinh thì sẽ có chỗ trả về, nhưng tánh thấy, tánh nghe, tánh biết, tánh ngửi, tánh nếm của con người sẽ không trả về đâu hết vì nó chính là của chúng ta. Tiền trần đối tượng có sinh có diệt, có đến có đi ví như người khách trọ trong lữ quán nên gọi là “khách trần”. Bây giờ nếu tiền trần mất mà nhận thức chủ thể lúc nào cũng hiện hữu thì đó mới chính là chơn tâm thường trú vậy.


Mặc dù tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh biết, tánh nếm là hiện tượng biểu hiện của chơn tâm cũng ví như vành trăng chớ chưa phải là chơn tâm. Chỉ khi nào chúng sinh nhận thứcthể nhập vào bản thể bất biến của chơn tâm thì người ấy sẽ thấy được toàn vẹn mặt trăng. Từng, giây, từng phút, từng sát na trong tâm của chúng sinh hiện lên biết bao tâm niệm nào là vui, buồn, hờn, giận, thương yêu, ganh ghét, đố kỵ…, nhưng nếu chúng ta chịu tư duy quán chiếu một chút thì biết rằng tất cả những niệm thiện ác tốt xấu kia đến rồi lại đi. Vậy tất cả chúng nó đều là ý niệm phân biệt do tâm phan duyên với ngoại cảnh mà có. Còn cái tâm lẳng lặng thường trú lúc nào cũng ở với chúng ta không bị chi phối bởi sự thay đổi của thế giới bên ngoài thì đây mới là chơn tâm vĩnh hằng thanh tịnh có sẳn trong tất cả mọi chúng sinh.

Ông A Nan thưa :


- Bạch Thế Tôn! Nếu tâm tánh con có chỗ trả về, vậy cái chơn tâm minh diệu Như Lai nói, vì sao lại không có chỗ trả về? Xin Phật thương xót vì chúng con dạy bảo.

 

Phật Chỉ Tâm Lần Thứ Tư & Năm [Audio]

Phật bảo A Nan :


- Cái thấy mà ông thấy tôi, dù không phải là chơn tâm minh diệu, nhưng nó là là tánh thấy trong sáng chưa nhuốm trần lao. Nó như vành trăng thứ hai chứ không đến nỗi như bóng trăng đáy nước. Ông hãy chín chắn lắng nghe, nay tôi chỉ cho ông cái nghĩa không có chỗ trả về.


A Nan! Cửa giảng đường lớn này mở ở hướng Đông, khi mặt trời lên thì có ánh sáng, giữa đêm không trăng mây mù mờ mịt tối tăm. Chỗ có các cửa thì thấy thông suốt, chỗ có tường ngăn thì thấy bít lấp. Chỗ có phân biệt được thấy cảnh sắc, chỗ trống trơn thấy hư không. Chỗ cát bụi tung lên thấy mịt mù, chỗ mưa tạnh mây tan thấy quang đãng.


A Nan! Ông đã thấy các tướng biến hóa như vậy, nay Như Lai trả các tướng ấy về nơi xuất phát của nó. A Nan! Cái sáng trả về cho mặt trời vì không có mặt trời thì không sáng. Tại sao? Vì nếu khôngmặt trời thì không có sáng. Nguyên nhân cái sáng kia là do mặt trời nên trả nó về cho mặt trời. Cái tối trả về cho đêm không trăng. Thông suốt trả về cho cửa mở. Ngăn bít trả về cho tường vách. Cảnh sắc trả về cho phân biệt. Hư không trả về cho khoảng trống. Mịt mù trả về cho cát bụi. Quang đãng trả về cho mưa tạnh mây tan. Sự vật thế gian tuy nhiều, nhưng không ngoài những thứ đó. Còn cái thấy mà ông thấy tám thứ đó, ông định trả nó về đâu? Nếu ông trả về cho sáng thì lúc không có sáng lẽ ra ông không thấy được tối. Nhưng trước mắt ông, sáng và tối có sai khác mà cái thấy của ông thì không sai khác.


Các thứ có thể trả về được, nhưng đương nhiên không phải là ông. Cái không trả về được, chẳng phải là ông thì là cái gì? Vậy nên biết tâm ông vốn nhiệm mầu, thanh tịnh sáng suốt mà ông tự mê muội, bỏ mất tánh bản nhiên, đành chịu luân hồi, mãi bị chìm đắm trong biển sinh tử. Thế nên Như Lai gọi các ông là những người đáng thương xót!


Tuy Phật đã giải thích rõ ràng về bản tâm minh diệu, nhưng ông A Nan vẫn còn mờ mịt chưa thật sự khai ngộ về bản tâm nên hỏi rằng nếu tâm tính của ông có chỗ trả về thì tại sao tâm tính của Như Lai dạy lại không có chỗ trả về? Một lần nữa, ông A Nan lại dùng tâm phan duyên mới thấy có sự phân biệt này. Ông A Nan nghĩ rằng thân tứ đại đất, nước, gió, lửa của ông và của Phật đâu có khác gì nhau. Cũng mắt, tai, mũi , lưởi, thân. Cũng ăn uống nằm ngồi ngủ nghĩ giống nhau thì tại sao Như Lai lại nói tâm tính ông có chỗ trả về trong khi đó thì tâm Như Lai không có chỗ trả về. Đây là lối nhận thức của kẻ còn mê; tâm còn chấp ngã, chấp pháp và còn quay cuồng với sự tướng sinh diệt bên ngoài mà chưa thấy được bản thể thanh tịnh bất sinh bất diệt bên trong. Tuy sắc thân Phật và A Nan có giống nhau, nhưng A Nan sống với tâm phan duyên sinh diệt chạy theo vui buồn, hờn giận, hơn thua phải trái nên tâm bất tịnh.

Ngược lại Đức Phật tuy ứng thân có giống sắc thân A Nan, nhưng tâm Phậtchơn tâm thanh tịnh lúc nào cũng thường trụ Niết bàn thì cái chơn tâm này làm sao có chỗ trả về? Còn cái vui cái buồn, cái thương cái ghét, cái tốt cái xấu thì có chỗ trả về vì vui đến rồi vui đi, đâu có ở mãi với chúng ta. Như thế cái có thể trả về thì chắc chắn không phải của ta, mà không phải của ta thì làm sao gọi nó là bản tâm thanh tịnh được. Hơn nữa, thế gian hiện tượng tuy nhiều, nhưng tựu trung cũng không ngoài tám cảnh duyên là sáng, tối, thông, bít, sắc, không, trong, đục. Tám duyên này đều có thể trả về chỗ sở nhơn phát sinh ra nó, nhưng tánh thấy sáng suốt mà ông A Nan thấy được về tám tướng kia không thể trả về đâu được. Do đó những thứ có thể trả về được thì chẳng phải là chơn tâm của ông, còn tánh thấy tám duyên kia không thể trả về thì nếu nó không phải là chơn tánh của ông A Nan thì là của ai? Chơn tánh ở trong ông A Nan vốn sáng suốt thanh tịnh, nhưng vì mê muội không ngộ nên đánh mất cái sẵn có mà phải chịu sinh tử luân hồi.


chơn tâm là chơn không diệu tánh nên rất khó diễn tả. Do đó Phật mới mượn tánh thấy để diễn bày cái ở và cái đi tức là “thường trụ” và “khách trần”. Nhưng tánh thấy kia còn lẫn lộn trong duyên trần mà tám thức của tâm vương lại không thuộc duyên trần nên nói tánh thấy vốn sáng suốt thanh tịnh là vậy. Tuy tánh thấy chưa phải là chơn, nhưng rất cận kề với chơn cũng như vành trăng không thể lìa mặt trăng được.

 

Phật Chỉ Tâm Lần Thứ Năm

Bấy giờ ông A Nan vẫn còn nghi ngờ nên bạch với Phật rằng :


- Bạch Thế Tôn! Tuy con biết tánh thấy không thể trả về, nhưng làm sao biết được đó là chơn tánh của con?


Phật bảo :


- A Nan! Nay Như Lai hỏi ông. Hiện nay ông chưa chứng quả vô lậu thanh tịnh, nhưng do nương oai thần chư Phật mà thấy được cõi sơ thiền không ngăn ngại. Còn ông A Na Luật thì thấy cõi Diêm phù đề như thấy quả quít để trên bàn tay. Chư Bồ-tát thấy được cả trăm ngàn thế giới. Mười phương chư Phật đều thấy cùng tận các cõi nước thanh tịnh như số vi trần không sót chỗ nào. Còn chúng sinh thì thấy chẳng được xa hơn gang tấc.


Này A Nan! Tôi cùng ông xem cung điện Tứ thiên vương và xem khắp các loài trong nước, trên đất, trong hư không, tuy có nhiều hình sắc tối sáng khác nhau, nhưng chúng đều là tiền trần đối tượng phân biệt. Những thứ mà ông thấy, ông nên ngay đó mà phân biệt, cái gì là mình, cái gì là vật. Nay Như Lai để cho ông lựa ra trong cái thấy, cái gì là tâm thể cái gì là vật thể.
A Nan! Cùng tột sức thấy của ông, từ mặt trời, mặt trăng cũng là vật chớ chẳng phải là ông. Cho đến cả bảy ngọn núi bằng vàng, xem xét cùng khắp, dù có thấp cao lớn nhỏ và màu sắc không đồng nhưng cũng đều là vật chớ chẳng phải ông. Lần lần quan sát mây nổi chim bay, gió động, bụi tung, cây, rừng, sông, núi, cỏ, hoa, súc vật…cho đến con người đều là vật chớ chẳng phải ông.
A Nan! Tính chất của các vật xa gần tuy có khác, nhưng cũng đều nhờ tánh thấy thanh tịnh của ông nhìn được. Các vật loại kia có sai khác mà tánh thấy của ông thì không sai khác. Cái tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt này chính thậttánh thấy của ông.


Qua đoạn kinh trên, mặc dầu Đức Phật đã khai thị rõ ràng về tánh thấy, nhưng trong tâm ông A Nan vẫn còn chấp chặt trong cái sở văn tri giác tức là thấy nghe hay biết và chấp chặt vào kiến giải đa văn nên rất khó thông hiểu lời Phật dạy. Không phải chỉ một mình A Nan là mắc phải bịnh kiến chấp mà tất cả chúng sinh nếu chưa chứng ngộ được bản tâm thanh tịnh của chính mình mà cứ chấp chặt vào kiến văn Phật pháp thì chẳng khác nào tự mình dấn thân vào chốn bão táp phong ba, xa dần bến bờ giác ngộ vì tất cả những kiến chấp đó đều là pháp sinh diệt, không giúp ích gì trong việc tìm về với bờ cũ bến xưa để trực nhận bản lai diện mục của chính mình. Đây là sự khác nhau giữa ông A Nantôn giả Đại Ca Diếp khi ông đối diện Phật trong hội Linh Sơn. Khi Phật đưa cành hoa sen lên tôn giả mỉm cười vì cái tánh thấy thì không thể nói được. Biết mà không nói được nên tôn giả chỉ mỉm cười. Ở đây ông A Nan thích học rộng nghe nhiều nên tâm chất đầy văn tự Phật pháp làm che lấp tánh thấy biết chân thật của ông. Nhiều người cho rằng phải học nhiều, biết nhiều, thông kinh hiểu nghĩa mới gọi là tu. Thật ra biết nhiều thì càng dễ bị chấp chặt vào kinh điển, vào văn tự, vào phương tiện mà khó đạt được cứu cánh giải thoát giác ngộ. Người càng buông xả, càng nhẹ nhàng thanh tịnh thì càng dễ dàng quay về với tự tánh thanh tịnh bản nhiênchứng ngộ chơn tâm.


Dựa theo Duy thức luận thì nhãn thức là một trong tám thức tâm vương. Tánh thấy chính là tinh quang của tám thức soi vào năm trần mà rõ được cảnh. Nếu lúc nhãn căn mới chạm vào sắc trần thì gọi là “hiện lượng” tức là thể sáng suốt của tám thức. Khi niệm thứ hai khởi tâm phân biệt thì gọi là “tỷ lượng” tức là thuộc về ý thức phân biệt. Vì thế tánh thấy thanh tịnh, sáng suốt nhiệm mầu cho dù có tiếp thu trần cảnh, nhưng tánh thấy chỉ thu nhận “tánh cảnh” tức là thấy cảnh vật mà chưa có tâm phân biệt và “hiện lượng” cho nên tự tánh của cái thấy lúc nào cũng thanh tịnh vì thế tánh thấy chính là biểu hiện của chơn tâm. Vì chỉ là hiện lượng nên tánh thấy rất gần với bản chất thanh tịnh của chơn tâm hơn các hiện tượng khác cũng ví như vầng trăng chớ không điên đảo hư dối như bóng trăng soi trong đáy nước.


Các vị A la hán, chư Bồ-tát cũng như chư Phật và chúng sinh tuy có khác nhau về địa vị phàm thánhcông năng đối cảnh tuy rộng hẹp bất đồng, nhưng tất cả cũng đều đều thuộc về tánh thấy sáng suốt của hiện lượng trong tám thức. Tuy trời đất, vạn vậthư không có nhiều hình sắc khác nhau, nhưng tánh thấy trước sau như một, không sai khác.


Ở đây chúng ta dùng tánh thấy để đơn cử công dụng phát thức của một căn. Nhưng thật ra, “tánh cảnh hiện lượng” cũng là đặc tính chung cho bốn căn còn lại là tai, mũi, lưỡi và thân. Khi một căn tác dụng thì bốn căn kia chỉ hoạt động trong một bối cảnh tùy duyên.

Phật Dạy Thêm Cái “Thấy” Là Tâm Chứ Không Phải Vật


Nếu tánh thấy là vật thì ông có thể thấy được tánh thấy của Như Lai. Nhưng sự thật thì không như vậy. Điều đó chứng minh rằng : tánh thấy không phải vật, mà là chủ thể phân biệt của chính ông. Sự thể quá rõ ràng, sao ông còn nghi ngờ cái chơn tánh của ông? Chơn tánh của ông, ông không tự nhận, vướng chấp pháp âm của Như Laicầu thực chứng thì làm sao có được?


Phật trong đoạn kinh này đã giải thích rõ ràng rằng nếu vật thì bị thấy, còn tâm thì không bị thấy. Vì thế cái thấy là tâm nên không thể thấy tâm mình được. Thí dụ nếu chúng ta nhìn một trái cam để trên bàn thì trái cam là vật bị thấy mà mắt là căn để thấy. Tánh thấy chỉ tồn tại khi nào hiện lượng còn. Khi hiện lượng mất và tỷ lượng xuất hiện thì tánh thấy cũng tan biến theo có nghĩa là chơn tâm thanh tịnh không còn nữa mà được thay thế bằng tâm phân biệt chấp trước.


Con người có còn phiền não khổ đau cũng vì còn chấp tiền trần bên ngoài rồi sinh tâm phân biệt. Vì tâm phân biệt phát khởi nên có yêu, thương, giận, hờn, hơn, thua, phải quấy làm tâm họ chất đầy vọng tưởng. Con người vì đánh mất tâm thanh tịnh, tánh sáng suốt mà sống với tâm vọng tưởng mê lầm nên mãi quay cuồng lang thang lẫn thẫn trong sinh tử luân hồi. Ngược lại một người làm chủ bản tâm của mình tức là họ không chạy theo lục dục thất tình, không còn lệ thuộc vinh nhục khổ vui, khiến tâm không bị mê loạn sẽ có cuộc sống thanh thoát an vui tự tại
Bây giờ ông A Nan nghi “Cái Thấy” Có Lớn Nhỏ.


Ông A Nan bạch Phật :


- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy này nhất định là con chứ chẳng phải gì khác. Khi Như Lai và con xem cung điện Tứ thiên vương, mặt trời, mặt trăng, cái thấy này bao trùm cả cõi Ta bà. Khi quay về tịnh xá, con chỉ thấy khu đất già lam, đến trai đường chỉ còn thấy giới hạn của một căn phòng.


Thưa Thế Tôn! tánh thấy vốn khắp cùng một cõi, mà nay ở trong nhà chỉ thấy một gian phòng. Vậy tánh thấy lớn rút lại thành nhỏ hay do tường nhà ngăn chận làm cho đứt đoạn? Điều đó, con chưa hiểu, xin Phật từ bi chỉ dạy.

Phật dạy : Trần Cảnh có Lớn Nhỏ, Tánh ”Thấy” không Lớn Nhỏ


Phật bảo A Nan!


- Tất cả các thứ trong ngoài, lớn nhỏ trên thế gian đều thuộc về tiền trần, ông không nên nói tánh thấy có giãn ra hay rút lại. Tánh thấy vốn trùm khắp ví như hư không. Nếu đặt cái đồ vuông thì dung tích hư không vuông, còn để vật tròn thì dung lượng khoảng hư không tròn. Nếu muốn hư không, không vuông, không tròn, chỉ cần bỏ đi những cái đồ khí mảnh ấy mà không cần có ý nghĩa phải loại bỏ tướng vuông tròn của hư không. Như lời ông hỏi : Khi vào phòng cái thấy bị rút lại, hay bị vách nhà ngăn đứt? Nghĩa đó không đúng. Nếu vào phòng nhỏ, cái thấy bị rút lại, vậy khi ông ngước xem mặt trời, phải chăng tánh thấy đã giãn ra để tiếp xúc với mặt trời? Nếu vào nhà bị vách cắt đứt, khi xoi một lỗ nhìn ra sao không thấy dấu nối?


A Nan! Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay lầm mình là vật, bỏ mất bổn tâm, bị vật xoay chuyển cho nên trong đó thấy lớn thấy nhỏ. Nếu chuyển được vật thì đồng với Như Lai, thân tâm tròn đầy sáng suốt, ngồi ở một chỗ mà đầu mảy lông có thể chứa trọn mười phương quốc độ.


Vật chất hay sự tướng trong thế gianhình tướng lớn nhỏ khác nhau. Nào là dãy Hy mã lạp sơn, nào là tòa nhà cao nhất thế giới, nào là thành phố đông dân nhộn nhịp ở New york, ở Tokyo, ở Sài gòn, ở Bắc kinh. Ngày xưa máy bay nhỏ, bay gần; ngày nay máy bay Airbus 380 có thể chở trên năm sáu trăm người. Nói chung tuy thế giới hiện tượng thay đổi có hình tướng, kích thước, màu sắc không đồng cũng ví như hư không tùy theo đồ vật như ly, chén, chum, tách…mà biểu hiện theo hình thể vuông, tròn, dài, méo, sâu, cạn…nhưng thể tánh hư không thanh tịnh bản nhiên lan tỏa khắp thế giới chớ không bị hạn chế trong bất cứ một hình thức khuôn khổ nào. Vì tánh thấygiác minh tức là cái tinh kiến nghĩa là tánh thấy lúc nào cũng ở trong phạm vi “hiện lượng” chớ không chuyển qua “tỷ lượng” và “phi lượng”. Do đó không gian vật chất tuy có lớn có nhỏ, nhưng thể tánh vốn giống nhau, là chơn không diệu tánh lan rộng khắp mười phương thế giới.

Tánh thấybản chất thanh tịnh của chơn tâm nên thông suốt không ngăn ngại. Nhưng cảnh giới tiền trần bên ngoài làm cho tánh thấy bị ngăn ngại. Thật vậy thể tánh chơn tâm của chúng sinh lúc nào cũng thấu suốt khắp mười phương, nhưng sở dĩ chúng ta không thấu suốt cũng bởi vì tướng tiền trần làm khởi tâm phân biệt mà có sự ngăn ngại. Vì có sự ngăn ngại nên mới có to lớn, nhỏ bé và tướng trạng khác nhau. Con người vì còn bị vô minh che lấp, bị tướng tiền trần vọng tưởng làm ngăn ngại nên không sống được với chơn tâm, Phật tánh của mình nên tánh thấy cũng bị che lấp, ngăn ngại theo vì thế mà chúng sinh không thể thấy xa hay thấy về những kiếp đời quá khứ, hiện tại hay vị lai được. Trong khi đó các vị A la hán, chư Bồ-tát hay chư Phật vì luôn sống với chơn tâm thanh tịnh tức là tánh thấy được thông suốt, không ngăn ngại nên các ngài có thể thấy suốt được tam thiên đại thiên thế giới và tất cả những đời quá khứ, hiện tạivị lai rất rõ ràng.


Từ nơi thể tánh chơn tâm, vì vô minh vọng động mới sinh ra có hư không thế giới, chúng sinh cùng các cảnh vật nên gọi là “mê mình là vật”. Khi có cảnh vật rồi, con người cứ theo đó mà phân biệt tốt xấu, lớn nhỏ, mừng giận, thương ghét…nên nói “bị vật chuyển xoay”. Đến khi hết vô minh vọng động, quay trở về với thể tánh chơn tâm thì các cảnh vật ấy không còn nữa cũng như người thức giấc chiêm bao thì cảnh chiêm bao kia hết, nên nói “xoay chuyển vật” là vậy. Trong sách vở Tây tạng có rất nhiều câu chuyện huyền thoại về những cao tăng đã dùng thần thông bay trên đỉnh núi tuyết hay có thể làm mưa, gọi gió…làm cho đại chúng rất khâm phục.

Thật ra trong Phật giáo những hiện tượng này rất thông dụng khắp mọi nơi chớ không nhất thiết chỉ có các vị tăng Tây tạng mới đạt được. Khi chúng sinh tu hành đến chỗ minh tâm kiến tánh hay niệm Phật đến chỗ Nhất tâm bất loạn thì tâm họ hoàn toàn sáng suốt, rất thanh tịnh và cái tâm này chính chơn tâm thường trú và thể tánh tịnh minh. Khi tâm định thì trong họ tự nhiên thần thông ứng hiện cho nên họ có thể xoay chuyển vật rất dễ dàng. Khi cần, họ nhập vào đại định tức là tâm họ đã hòa trong càn khôn vũ trụ nên họ có thể chuyển mây thành mưa hay bay bổng trên không trung rất tự tại. Thật vậy, trong thế gian vũ trụ rộng bao la vô cùng vô tận cũng không ngoài cái chơn tâm của con người cho nên khi chuyển được vật tức là có thể nắm được càn khôn vũ trụ rồi. Tuy chúng ta ngồi đây, nhưng nó đã che phủ cả thập phương thế giới. Một ý niệm cứu nhân độ thế vừa phát khởi tức thì đã vang dội trong mười phương ngay. Vì thế chơn tâmbản thể lan tỏa vô cùng vô tận và chính là cội nguồn sinh ra tất cả.


Nếu chúng sinh đoạn trừ vô minh phiền não, không còn chấp ngã chấp pháp quay về sống với chơn tâm thường trú và thể tánh tịnh minh, chuyển vật, làm chủ lấy mình và hòa nhập vào trong nhất nhân pháp giới. Tự nhiên họ sẽ thấy rằng vật, tâm bất nhịchúng sinh, Phật cũng vốn không hai. Đó là tất cả là một và một là tất cả. Khi mê thì thấy có vật có tâm, có chúng sinh có Phật đến khi thức tỉnh giác ngộ thì vật tâm là một chẳng phải hai và tất cả chúng sinh đều là Phật. Khi thân tâm đã hoàn toàn sáng suốt thanh tịnh thì con người có được thần thông tự tại. Dựa theo Quảng hiệp tự tại vô ngại của Thập Huyền Duyên Khởi trong bộ Kinh Hoa Nghiêm Sớ Sao và bộ Tham Huyền Ký của ngài Hiền Thủ thì một vật tuy nhỏ như đầu mảy lông có thể chứa cả càn khôn vũ trụ mà không chật hẹp. Nói một cách khác khi con người biết quay về sống với chơn tâm thì một sợi lông hay mười phương thế giới cũng đều là chơn tâm cả. Vì đã đồng chơn tâm, cùng một thể tánh thì sẽ không còn thấy thế giới lớn hơn sợi lông, hay sợi lông nhỏ hơn thế giới cho nên đức Phật mới dạy rằng:”Trên đầu một sợi lông, có thể chứa đựng mười phương thế giới” là vậy.


Tánh Thấy Và Vật Bị Thấy Vốn Là Tâm Tánh Bồ Đề Nhiệm Mầu Sáng Suốt


Ông A Nan bạch Phật :


- Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấytâm tánh mầu nhiệm của con thì diệu tánh đó phải ở ngay trước mắt (chấp sắc là ngã). Tánh thấy đó chắc thật là con, vậy thân tâm con hiện nay là vật gì? (chấp lìa sắc là ngã). Nhưng nay thân tâm con thật có sự phân biệt, còn tánh thấy kia không phân biệt được thân con (chấp ngã lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngã). Nếu thật là tâm con, khiến cho con nay thấy được, thì tánh thấy ấy thật là con, còn thân chẳng phải là con. Khác nào trước kia Như Lai hỏi : “vật có thể thấy được con chăng?” (chấp sắc lớn ngã nhỏ, ngã ở trong sắc). Cúi mong đấng đại bi chỉ bày cho kẻ chưa ngộ.


Đã bao lần Đức Phật khai thị rất rõ ràng mà ông A Nan vẫn còn mơ hồ trong nhận thức về cái tánh thấy nên mới đặt câu hỏi rằng tánh thấytâm tánh hay không là tâm tánh của ông. Sự mê mờ về tâm tánh cũng bởi vì A Nan nghe Phật khai thị, nếu có thể chuyển được vật, tức đồng với Như Lai, bèn phát nghi chấp vật là cái thấy. Vì nghĩ như vậy nên ông cho rằng tất cả vạn vật đều là tánh thấy sáng suốt của ông tức là vạn vật kia chính là ông rồi. Nếu cho rằng vạn vật là ông A Nan vậy thì thân tâm thật của A Nan là ai? có phải là của A Nan chăng?


Đức Phật bảo A Nan!


- Nay ông nói cái thấy ở trước mặt ông, nghĩa ấy không đúng. Nếu tánh thấy thực sự ở trước mặt ông và ông nhận thấy được thì tánh thấy này đã có chỗ nơi, chẳng phải không chỉ ra được. Vậy nay Như Lai cùng ông ngồi trong rừng Kỳ đà, xem khắp rừng suối, nhà cửa, xa đến mặt trời mặt trăng, phía trước là sông Hằng. Nay ông đang ở trước tòa sư tử của Như Lai, hãy dùng tay chỉ rõ ra các tướng loại ấy. Chỗ mát là rừng cây, chỗ sáng là mặt trời, chỗ ngăn ngại là vách, chỗ thông suốthư không. Như thế cho đến cỏ cây, mảy lông lớn nhỏ tuy có sai khác, nhưng đã có hình tướng thì đều chỉ ra được. Nếu nhất định có cái thấy hiện ra trước mặt ông, thì ông phải dùng tay chỉ chính xác cái nào là cái thấy. A Nan! Ông nên biết, nếu hư không là cái thấy, mà đã thành cái thấy rồi thì cái gì là hư không? Nếu vật là cái thấy, đã thành cái thấy rồi thì cái gì là vật? Ông hãy chín chắn lựa chọn trong muôn vàn hiện tượng, tách tánh thấy nhiệm mầu thanh tịnh ấy ra và chỉ cho Như Lai xem cụ thể rõ ràng, như các vật mà không lầm lộn.


A Nan thưa :


- Bạch Thế Tôn! Nay con ở trong giảng đường nhìn ra xa thấy sông Hằng, trên thấy mặt trời mặt trăng. Cái mà tay chỉ ra được và mắt thấy được, đều là vật chớ không có cái nào là tánh thấy.


Bạch Thế Tôn! Đúng như lời Ngài vừa dạy, chẳng những hàng Thanh văn, sơ học chúng tôi, cho dù hàng Bồ-tát cũng không thể nào trước các hiện tượng mà chỉ ra được cái thấy khi lìa tất cả vật mà có tự tánh riêng.


Phật bảo : Đúng thế! Đúng thế.


Tánh thấybản tâm thường trụ, không sinh diệt của mỗi chúng sinh và cái bản tâm này không thể trực nhận bằng nhục nhãn của con người. Nhục nhãn của chúng sinh thì thấy những sắc tướng hiện tượng bình thường, nhưng tánh thấy thì phải trực nhận bằng tâm hồn thanh tịnh, bằng trí tuệ sáng suốt và nó chỉ hiển bày khi tâm không còn lưu giữ bất cứ một trần cảnh phân biệt nào.


Tất cả những gì mà ông A Nan thấy được từ trong rừng Kỳ Đà cho tới rừng suối, nhà cửa, sông Hằng hay ngay cả hư không, mặt trời mặt trăng chỉ là ý thức sinh khởi phát xuất từ tâm phan duyên sinh diệt. Trong cuộc sống, tất cả những cảnh giới như thiên đường hạnh phúc, cõi cực lạc thanh tịnh thanh thoát an nhàn hay đau khổ đọa lạc như trong địa ngục đều do bản tâm của con người tác tạo. Chúng ta nghĩ thiện thì có cảnh thiên đường. Ngược lại chúng ta nghĩ ác, lợi mình hại người thì tâm bất an, sống trong lo âu sợ hải nên lúc nào cũng bị ám ảnh những hình ảnh kinh sợ nếu đây không là địa ngục thì còn là gì?


Nói tóm lại, trong nhận thức của ông A Nan chỉ loanh quanh lẩn quẩn qua hình bóng của pháp trầný thức.

Tuy đã theo chân đức Phật rất nhiều năm và tất cả pháp đều rót vào tâm ông, nhưng ông chỉ nghe mà chưa có khái niệm vững vàng về thể tánh của kiến tinh minh giác nên mới phát sinh ra ý niệm nghi ngờ mà cho rằng:”tánh thấy là tâm tánh hay không là tâm tánh? và tánh thấytrước mắt hay không ở trước mắt?”. Nếu ông A Nan cho rằng tánh thấy hiện ở trước mắt của ông mà ông thấy được thì tánh thấy đó chính là vật thể tức là nó có sắc tướng. Và nếu tánh thấy là vật thể thì lẽ ra ông A Nan phải chỉ được nó ở chỗ nào vì chỉ có vật thể mới thấy bằng mắt được. Nhưng tất cả những sự vật mà A Nan xem thì ông không thể chỉ ra được cái nào là tánh thấy. Do đó nếu nói rằng hư không thành ra tánh thấy thì còn cái gì mới là hư không. Thí dụ như dòng sông Hằngtánh thấy thì còn cái gì mới là sông Hằng. Như thế tất cả những gì mà ông thấy được đều là vật chớ không có cái gì là tánh thấy cả.


Đến đây đức Phật mới đồng ý với ông mà cho rằng :


Không có vật nào là tánh thấy.


Đức Phật lại bảo A Nan :


- Như lời ông nói : Rời tất cả vật, tánh thấy không có. Trong tất cả vật chỉ ra được, không có cái nào là tánh thấy. Giờ đây ông cùng tôi ngồi trong rừng Kỳ đà này, ta hãy nhìn xem vườn rừng cho đến mặt trời, mặt trăng và vô vàn hình tượng, trong đó không có cái thấy để ông chỉ ra được. Vậy ông hãy phát minh trong các vật đó, cái nào không phải tánh thấy.


Ông A Nan bạch Phật rằng :


- Con xem khắp rừng Kỳ đà, tập trung tâm ý, quan sát tư duy, nhưng không tìm ra trong đó cái nào không phải tánh thấy. Vì sao? Nếu cây chẳng phải là cái thấy thì làm sao thấy được cây. Còn nếu cây là cái thấy thì sao gọi là cây? Như thế cho đến nếu hư không chẳng phải là cái thấy thì sao gọi là hư không? Con nay suy nghĩ chín chắn và phát minh trong muôn vàn hiện tượng, không có cái nào là tánh thấy.
Phật bảo: Đúng thế! Đúng thế.


Một lần nữa để làm sáng tỏ tánh thấy thanh tịnh nhiệm mầu, Đức Phật lại dạy A Nan rằng ông hãy xem xét lại tất cả các sự vật, có cái gì ra ngoài cái thấy không? Sau khi xem xét kỹ lưỡng ông A Nan xác định là dù cho trăm ngàn sự vật, nhưng không có sự vật nào ra ngoài cái thấy vì nếu có sự vật nào ra ngoài cái thấy thì đã không thể thấy nó được. Phật lại đồng ýkết luận rằng :
Không có một vật nào không phải là tánh thấy.


Phần trước Phật xác định là “không có vật nào là tánh thấy” nhưng phần này Phật lại nói là “không có một vật nào không phải là tánh thấy”. Tại sao sự xác định của Đức Phật đối với ông A Nan lại mâu thuẫn lạ kỳ như vậy? Sự mâu thuẫn này chẳng những làm ông A Nan mà toàn đại chúng hoang mang dao động.


Trong thế giới của bản thểhiện tượng thì chân lý “bất tức bất ly” nghĩa là bản thể tức là “không” và hiện tượng tức là “có” tuy không giống nhau nhưng không thể chia cắt, phân ly ra được. Nói thế có nghĩa là không có một hiện tượng nào trên thế gian này mà không ở trong bản thể và không có bản thể nào mà không biểu hiện qua hiện tượng. Đó chính là sắc tức là không và không tức là sắc bởi vì từ khôngduyên khởi thành sắc hay tất cả những cái có là từ cái không mà có. Thí dụ hiện tượng là sóng và bản thể thanh tịnh là nước yên lặng. Vì thế bản thể không rời hiện tượng tức là nước và sóng không thể tách rời nhau vì cùng là nước. Còn nếu nói hiện tượng không là bản thể tức là bỏ sóng tìm nước thì làm sao tìm thấy nước được. Tóm lại, nước không là sóng, nhưng nước không rời sóng cho nên nước và sóng là bất tức bất ly.


Nếu áp dụng chân lý “bất tức bất ly” vào trong trường hợp này thì tánh thấy tức là bản thể thanh tịnh còn tất cả những vật bị thấy như rừng kỳ đà, mặt trời mặt trăng, sông Hằng đều là hiện tượng. Nhưng tánh thấy và vật bị thấy không thể tánh rời nhau cũng như sóng không thể rời nước. Do đó nếu đứng về phương diện hiện tượng mà nói thì không có vật nào là tánh thấy vì chúng là sóng nước thay đổi sinh diệt. Còn nếu đứng về bản thể thanh tịnh mà nói thì không có vật nào là không có tánh thấy vì bây giờ chúng ta không còn nhìn sóng nước bên ngoài mà quay về nhìn thấu suốt thể tánh nước thanh tịnh bên trong. Đây là thế giới vô vi thanh tịnh nghĩa là thế giới của bản thể chân như thì tất cả đều là chơn không diệu tánh. Vì là chơn không diệu tánh nên tất cả sự vật đều có tánh thấy như nhau.


Không thông hiểu lời Phật không có nghĩa là Phật nói sai, nói dốiĐức Phật lúc nào cũng thể hiện qua câu : ”Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất dị ngữ giả, bất cuồng ngữ giả” nghĩa là lời nói của Phật là chân chính, là thành thật, không tráo trở và không bao giờ dối trá.

Bồ Tát Văn Thù Cầu Phật Thương Xót :


Phật Dạy : Tánh Thấy Không Có “Cái Thấy” Hay “Bị Thấy” (Thị, Phi Thị)


Bấy giờ trong đại chúng, những vị chưa chứng quả vô học, nghe Phật nói lời này, mờ mịt chưa hiểu thế nào, sanh lòng sợ hãi, không giữ được chánh niệm.


Trên bước đường tu học nếu người đệ tử Phật vừa mới nhập môn tu học cho đến các vị chứng được ba quả đầu tiên của hàng Thanh vănTu Đà Hoàn, Tư Đà HàmA Na Hàm thì được gọi là hàng hữu học. Hữu học có nghĩa là còn phải học giáo lý, học chánh pháp để có thể diệt trừ phiền não vô minh mà có giải thoát giác ngộ. Nói cách khác, hữu học có nghĩa là còn có vô minh, còn có phiền não. Chỉ có những vị đã chứng quả A La Hán thì mới được gọi là hàng vô học. Vô học có nghĩa là đã chứng được vô sanh pháp nhẫn tức là các vị đó tự mình nghiệm chứng được vạn pháp sanh không thật sanh và khi vạn pháp diệt thì cũng không thật diệt. Khác với chúng sinh là khi thấy vạn pháp sanh thì tin chắcvạn pháp sanh và khi thấy vạn pháp diệt thì nghĩ rằng vạn pháp sẽ biến mất nên không diệt trừ hết ưu bi khổ não làm tâm bất tịnh.

Trong cuộc sống hằng ngày, nếu chúng sinh không thông hiểuduyên khởi bằng cách dùng trí tuệ sáng suốt của mình để quán chiếu sự sinh diệt của vạn pháp mà chỉ dùng nhãn quan của mình thì chắc chắn tâm mình sẽ thăng trầm theo sự biến dời của vạn pháp. Thí dụ thấy một người chết, lòng đau xót vì thấy cảnh sinh ly tử biệt. Nhưng thật ra đâu có ai thật chết đâu mà sợ. Chết là để đổi thân cũ lấy thân mới vì khi nhân duyên hết thì mọi liên hệ thế gian cũng chấm dứt. Anh em, cha mẹ, vợ chồng, con cái mỗi người đi mỗi ngã tùy theo nhân duyênnghiệp quả của họ. Vì thế con người, vạn vật thế gian chẳng khác gì vầng mây tan hợp, đến rồi đi, chia biệt để tương phùng.


Như Lai biết đại chúng lo sợ, khởi lòng thương xót an ủi A Nanđại chúng :


- Các thiện nam tử! Bậc vô thượng pháp vương, lời nói chân thật, đúng như tánh chơn như, không dối gạt và lừa đảo quanh quẩn như bốn thứ nghị luận bất tử của bọn Mạt Già Lê. Các ông hãy suy nghĩ chín chắn, chớ phụ lòng thương xót của Như Lai.


Nghị luận bất tử là lối lý luận chẳng đi về đâu, nói sao cũng được, miễn sao vừa lòng người nghe bất chấp lời nói đó đúng hay sai. Đây là lời nói ba phải, lừa dối quanh co, không chân thật. Ngược lại đức Phật là bậc vô thượng pháp vươnglời nói của Ngài là chân lý, là chánh pháp.


Bấy giờ Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, thương xót hàng tứ chúng, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy đảnh lễ Phật, chắp tay cung kính thưa rằng :


- Bạch Thế Tôn! Đại chúng đây không hiểu được chỗ Như Lai phát minh hai nghĩa “phải” và “không phải” của “tánh thấy” và “sắc không”. Bạch Thế Tôn! Nếu những hiện tượng sắc không tiền cảnh là cái thấy thì lẽ ra có chỗ chỉ ra được. Nếu không là cái thấy thì lẽ ra không thể thấy. Nay đại chúng không hiểu nghĩa ấy do đâu, nên mới kinh sợ, chớ không phải vì thiện căn nhiều đời ít ỏi. Kính mong Như Lai thương xót phát minh chỉ rõ các vật tướng ấy và cái thấy vốn là thứ gì mà rời ngoài các ý nghĩa “phải” hay “không phải” như vậy?


Phật bảo Bồ-tát Văn Thùđại chúng :


Thập phương Như Lai và các đại Bồ-tát tự trụ tam ma đề, thì cái “thấy” , cái “bị thấy” và các nhớ nghĩ, tưởng tượng đều như hoa đóm trong không chẳng có thật. Bản thể của chúng vốn là tâm tánh Bồ-đề nhiệm mầu, thanh tịnh sáng suốt, cho nên trong đó không có vấn đề “phải” hay “không phải”?


- Tự trụ tam-ma-đề là thiền cao nhất trong Phật giáo. Nó chính là Như Lai thanh tịnh thiền có nghĩa là tâm của Như Lai lúc nào cũng trụ vào trong đó để thấy rằng vạn pháp duyên sanh như huyễn nên tất cả những bất tịnh của thế gian như tài, sắc, danh, lợi không bao giờ lọt vào trong tâm tưởng của Như Lai. Trong Phật giáo nếu thiền giả ngồi đếm hơi thở hay là thiền quán bất tịnh thì đây là thiền đối trị tức là thiền để điều thân. Còn thiền Sam-ma-tha là thiền Chỉ dùng để ngăn chận vọng tưởng tức là điều tâm. Còn ở đây Như Lai đã qua khỏi điều thân và điều tâm nên thiền của Như Lai gọi là tự trụ tam-ma-đề nghĩa là thiền mà không cần phải ngồi, phải đi hay nằm gì cả mà lúc nào tâm cũng hằng thanh tịnh. Tại vì bất cứ bốn oai nghi của Ngài đều là thiền vì thiền đây chính là thiền trong tâm chớ không phải là thiền ở bên ngoài. Thiền có nghĩa là không còn tánh tham tật đố, không còn tâm sân hận, không còn lòng si mê, không cần tài sắc danh lợi làm vẫn đục thanh tâm của mình.


Này Văn Thù! Nay tôi hỏi ông : Như ông là Văn Thù, có đúng là Văn Thù hay chẳng phải là Văn Thù?


- Đúng vậy, bạch đức Thế Tôn. Chính con là Văn Thù thì không thể nói “thật Văn Thù” được. Vì nếu nói “thật Văn Thù” thì phải nói có ông Văn Thù giả (thứ hai). Song con đã là Văn Thù rồi thì không thể nói “thật” hay “không thật” được.
Đức Phật bảo :


Tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt này cùng với hư khôngtiền trần cũng lại như vậy. Vốn là chơn tâm viên mãn thanh tịnh vô thượng giác ngộ sáng suốt nhiệm mầu, nhưng vọng làm ra sắc không và thấy nghe. Ví như mặt trăng thứ hai, thì cái nào là mặt trăng thật, cái nào chẳng phải mặt trăng. Này Văn Thù, chỉ có một mặt trăng thật. Trong đó không có cái nào là mặt trăng thật, cái nào chẳng phải là mặt trăng. Thế nên nay ông hãy xem cái thấy và trần cảnh cùng các thứ phát minh ra được đều là vọng tưởng, trong ấy không thể chỉ ra nghĩa phải và chẳng phải. Bởi do tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu ấy, nên khiến ông vượt ra ngoài cái chỉ ra được và cái chẳng chỉ ra được vậy.


Có ba điều kiện để tạo thành “cái thấy”.


1) Có mắt mà không có vật, màu sắc hay đối tượng thì không thành cái thấy.
2) Có vật hay đối tượng mà không có mắt thì cũng không thành cái thấy.
3) Bây giờ có mắt, có vật mà không có tánh thấy thì cũng không thành cái thấy.


Do đó muốn có cái thấy thì phải có mắt, có đối tượng và điều quan trọng nhất là phải có tánh thấy thì cái thấy mới thành tựu được.


Trong kinh này “thị” nghĩa là cái thấy và “phi thị” nghĩa là sắc không tức là trần cảnh bên ngoài. Vì nó là trần cảnh bên ngoài nên “phi thị” là cái bị thấy. Vậy cái thấy là căn mắt của con người và cái bị thấy là tất cả những cảnh vật, hình tướng, màu sắc bên ngoài mà mắt có thể thấy được. Như thế “phi thị” là những thứ như nhà cửa, xe cộ, núi cao, rừng thẳm, mặt trời, mặt trăng…và con mắt là cái thấy những hiện tượng này nên con mắt là “thị”. Vậy tất cả những hiện tượng trên thế giới hữu vi này không ra ngoài thị và phi thị.

Khi chư Phật mười phương và các chư đại Bồ-tát nhập vào tam-ma-địa nghĩa là các ngài nhập vào trong chánh định thì tất cả những ý niệm thiện ác, tốt xấu, hơn thua, phải quấy tan biến mà trở về với tự tánh thanh tịnh bản nhiên nghĩa là họ đang sống với bản lai diện mục tức là chơn tâm, là Phật tánh. Khi đạt đến trình độ này thì căn của mắt hay trần cảnh bên ngoài tức là cái thấy và cái bị thấy cũng không còn làm tâm của họ bị dao động nữa. Dựa theo nguyên lý bất nhị hay vào pháp môn không hai thì phiền não tức Bồ-đề, sinh tử tức Niết bàn. Vì sao? Một khi chúng sinh biết hóa giải tất cả những hệ lụy của phiền não trần cấu thì Bồ-đề hiển hiệnphiền não, Bồ-đề là song lập, cùng tồn tại bất khả phân ly chớ không phải phiền não ở trong tâm còn Bồ-đề ở một nơi khác.

Thêm nữa, trên con đường giải thoát giác ngộ, người đệ tử Phật cũng cần nhận thức cho rõ ràng rằng một khi chúng sinh đã đoạn trừ mọi phiền não để có tâm thanh tịnh, nhưng nếu chúng sinh vẫn còn chấp vào sự thanh tịnh này tức là chúng sinh vẫn còn chấp pháp. Nếu tâm vẫn còn chấp cho dù đó là chấp ngã hay chấp pháp thì tâm chưa hoàn toàn thanh tịnh vì thế những vị A la hán tuy đã phá được chấp ngã nhưng chấp pháp vẫn còn nên Niết bàn mà họ có chỉ là hóa thành (tạm thời) chớ chưa phải là bảo sở (hoàn toàn) như chư Bồ-tát hay chư Phật.


Chơn tâm vốn không hai nên không còn thị và phi thị đối đãi cũng như ngài Văn Thù không thể nói “thật” hay “không thật” được vì chỉ có một Văn Thù còn nếu nói có hai Văn Thù thì chẳng lẽ một thân mà có tới hai Văn Thù hay sao? Tánh thấy thì lúc nào cũng sáng suốt thanh tịnh trong khi đó thị và phi thị là những tướng trạng nằm bên ngoài. Do đó con người chỉ có một tánh thấy cũng như chỉ có một Văn Thù.


Lúc đưa tay lên dụi mắt thì khi nhìn mặt trăng chúng ta thấy có tới hai mặt trăng, nhưng trong tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu không có chứa mặt trăng giả hay mặt trăng thật cũng như trong bản tánh chân như cũng không chứa cái thấy và cái bị thấy. Vì tất cả những hiện tượng của thế giới hữu hình mà mắt thấy làm tâm khởi niệm phân biệt chỉ là vọng tưởng phát khởi. Nhưng tất cả những vọng thức phân biệt cũng trở về với bản tâm thanh tịnh của chính mình cũng ví như ra biển chúng ta thấy những bọt nước lao xao trên những làn sóng, nhưng tựu trung những bọt biển này cũng chính là nước biển bởi vì bọt biển, sóng biển cũng từ nước biển mà ra. Con ngườichạy theo hình tướng, văn tự mà bị chấp chặt trong đó nên quên mất đi bản tâm trong sạch thanh tịnh vốn đã có sẳn trong họ vì chơn tâm vượt ra ngoài sự đối đãi và nói năng phân biệt nên không thể nói “phải” hay “không phải”. Do đó nếu chúng sinh biết rời xa “thị” và “phi thị” tức là rời xa “cái thấy” và “cái bị thấy” thì họ sẽ quay về sống với chơn tâm, với bản lai diện mục của chính mình.


Hằng ngày con người sống dựa theo lục căn của mình, nhưng thật ra nếu dựa vào một khía cạnh là cái lục căn làm cho con người thấy, nghe, hay, biết, ngửi, nếm để biến hóa cuộc đời thêm nhức đầu, phiền não khổ đau thì còn một khía cạnh khác là cũng cái lục căn đó mà bây giờ lại giúp cho con người hưởng được những giây phút an vui thoải mái tự tại. Đây mới là mặt thật của lục căn và nó chính là bản lai diện mục có sẳn trong tất cả mọi người. Bản lai diện mục của chúng sinh vốn trong trắng hiền lành, an nhiên tự tại, chẳng vướng vô minh và cũng không còn phiền não. Vì thế khi tâm không còn phân biệt đối đãi, không còn thị và phi thị, không còn phải hay không phải thì tất cả những ý niệm của cái thấy và cái bị thấy sẽ hoàn toàn biến mất. Lúc ấy chơn tâm hiển bày, tự tánh biễu lộ vì con người đang sống với bản thể nhất chân tức là một là tất cả và tất cả tức là một vậy.
Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 44608)
Chùa Việt Nam tại số 857-863 S. Berendo St., Los Angerles, CA 90005, do Hòa Thượng Thích Như Minh làm Viện Chủ đã tổ chức đêm tiệc chay gây quỹ đúc Đại Hồng Chung Hòa Bình Thế Giới và chuẩn bị cho Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Liên Hữu Việt Mỹ.
Tại Anaheim Convention Center 800 W Katella Avenue CA 92802 lúc 2:00 PM ngày 15 tháng 12 năm 2019 | 10: AM - Triển lãm | - 12:30 PM Pháp Hội Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa - Sinh Hoạt với giới trẻ | - 02:00 PM Đại lễ Đức Phật Thành Đạo và khai mạc Đại Hội GHPG Liên Hữu Mỹ-Việt | - 04:00 Đại Nhạc Hội Ánh Đạo Vàng |- 8:00 PM Bế Mạc
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.