Vấn đề môi trường tính đạo đức trong mối tương quan với sự bảo vệ môi trường

18/10/20164:22 SA(Xem: 1789)
Vấn đề môi trường tính đạo đức trong mối tương quan với sự bảo vệ môi trường
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA HƯƠNG SEN TINH KHIẾT 
Thích Nhuận Châu dịch

PHẦN III : 
NHỮNG BÀI VIẾT VÀ PHÁT BIỂU CỦA
ĐỨC ĐẠT-LẠI LẠT-MA


VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG TÍNH ĐẠO ĐỨC
TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI SỰ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Nguy cơ đối với hòa bình và sự tồn tại của sự sống trên trái đất, như chúng ta biết, đó là sự báo trước về hành vi của con người trong việc thiếu tôn trọng những giá trị nhân văn.

Sự phá hủy bản chất và tài nguyên thiên nhiên là kết quả của vô minh, lòng tham và thiếu sự quý trọng đời sống sinh vật trên trái đất.

Sự thiếu quý trọng này lan đến ngay cả hậu duệ của con người trên trái đất: thế hệ tương lai sẽ thừa hưởng một hành tinh mênh mông bị xuống cấp nếu hòa bình thế giới không trở thành một hiện thực, và sự phá hủy môi trường tự nhiên vẫn tiếp tục với mức độ như hiện nay.

Tổ tiên chúng ta đã có quan niệm trái đất nầy giàu có và phong nhiêu, như nó đang là. Nhiều người trong quá khứ cũng đã thấy thiên nhiên có khả năng chịu đựng vô hạn, như bây giờ ta thấy được qua trường hợp nếu ta biết chăm sóc cẩn thận đến trái đất. Không dễ tha thứ sự hủy hoại trong quá khứ mà kết quả là do sự vô minh. Ngày nay, tuy vậy, chúng ta đã tiếp nhận được nhiều thông tin, và rất thiết yếu để chúng ta khảo sát lại một cách thẳng thắn những gì ta thừa kế được, những gì ta phải chịu trách nhiệm và những gì chúng ta sẽ vượt qua để tiến đến thời kỳ phát triển.

Rõ ràng đây là thời kỳ phát triển then chốt. Thông tin trên toàn cầu đã dễ dàng. Vậy mà những cuộc đối đầu lại xảy ra thường xuyên hơn là những cuộc đối thoại có ý nghĩa (cho hòa bình), đáng lẽ sẽ được diễn ra.

Các kỳ tích về khoa học và kỹ thuật sẽ xứng hợp nếu không bị quá tải bởi quá nhiều bi kịch hiện thời, như nạn đói trên một phần thế giới, nạn diệt chủng một số sinh vật trên trái đất.

Sự khám phá không gian bên ngoài diễn ra trong lúc những vùng đại dương, biển, nước sạch chính trong lòng đất bị gia tăng ô nhiễm. Và những dạng sinh thể khác của trái đất chưa được biết và hiểu đến.

Nhiều cư dân, sinh vật, thảo mộc, côn trùng và cả những loài vi sinh vật mà ta biết là hiếm, có lẽ đến thế hệ tương lai chẳng thể nào biết được. Chúng tanăng lựctrách nhiệm. Chúng ta phải hành động trước khi quá trễ.

                   (Bài phát biểu tại Hội nghị công nhận ngày Môi trường Quốc tế 5.6.1986)

SINH THÁI HỌC VÀ TẤM LÒNG CON NGƯỜI

Theo giáo lý đạo Phật, có sự tùy thuộc mật thiết lẫn nhau giữa môi trường thiên nhiên và các loài sinh vật sống trong môi trường đó. Một số bạn tôi vừa nói rằng, về cơ bản, bản chất con người có chút ít tính bạo động, nhưng tôi nói với họ tôi không đồng ý. Nếu chúng ta khảo sát những loài vật khác nhau, chẳng hạn như cọp hay sư tử, chúng ta biết rằng bản tính đã phú cho chúng răng nanh và móng vuốt. Những loài vật hiền từ, như hươu nai, thuần túy ăn cỏ thì dịu dàng hơn, có răng nhỏ hơn và không có móng vuốt. Từ cái nhìn này, chúng taloài người, có một bản chất không bạo động. Như đối với vấn đề tồn tại của con người thì loài người vốn có bản chất bất bạo động. Để tồn tại, chúng ta cần phải sống hợp quần. Không có người khác, thì đơn giản là ta không thể sống còn được, đó là luật tự nhiên. Do đó tôi tin một cách sâu sắc bản tính con người vốn là dịu dàng, tôi cảm thấy chúng ta không những nên duy trì tính dịu dàng, quan hệ hiền hòa với bạn hữu là loài người mà cũng là rất quan trọng cần phải trải rộng lòng hiền hòa đó đối với môi trường thiên nhiên nữa. Nói một cách đạo lý, chúng ta nên quan tâm đến toàn thể môi trường chung quanh.

Đến đây lại có một quan niệm khác, không chỉ là vấn đề đạo đức mà là vấn đề sinh tồn của chính mình. Môi trường rất quan trọng không chỉ cho thế hệ nầy mà còn quan trọng đối với thế hệ tương lai.

Nếu chúng ta khai thác quá mức những lợi ích khác từ môi trường bây giờ, thì trong lâu dài, chính chúng ta sẽ chịu đau khổ và các điều kiện sống cũng sẽ thay đổi. Khi chúng thay đổi một cách thảm hại, thì kinh tế và nhiều thứ khác cũng thay đổi theo. Ngay cả sức khỏe thể chất của ta cũng chịu ảnh hưởng rất lớn, nên đây không chỉ là vấn đề đạo đức, mà còn là vấn đề sinh tồn của chính chúng ta.

Do vậy, để thành công trong việc bảo vệgiữ gìn môi trường thiên nhiên, tôi nghĩ điều quan trọng nhất trong tất cả là thiết lập một sự quân bình nội tại bên trong chính con người. Sự lạm dụng của mỗi người, có kết quả đe dọa như thế đối với cộng đồng nhân loại, đã phát sinh từ sự thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường. Tôi nghĩ là rất thiết yếu cần phải giúp đỡ mọi người hiểu biết về tầm quan trọng nầy. Chúng ta cần phải giáo dục cho mọi người biết rằng môi trường có một sự phát sinh trực tiếp cho lợi lạc của chúng ta.

Tôi luôn luôn nói về tầm quan trọng của lòng từ bi. Như tôi đã nói trước đây, dù ngay trong quan niệm ích kỷ của mình, các bạn vẫn cần đến người khác. Thế nên nếu bạn mở rộng sự quan tâm đến lợi lạc của người khác, chia xẻ đau khổ của người khác và giúp đỡ họ, thì rốt cục, các bạn cũng được lợi lạc. Nếu các bạn chỉ nghĩ đến mình và quên bẵng người khác, rốt cục các bạn sẽ bị thiệt thòi. Đó cũng là một điều như luật tự nhiên.

Điều ấy hoàn toàn đơn giản: nếu các bạn không mỉm cười với mọi người, mà nhăn mặt khi thấy họ, thì họ cũng sẽ đáp lại tương tự. Phải không? Nếu các bạn cư xử với mọi người bằng một phong thái rất thân mật, cởi mở, thì họ cũng sẽ đối xử lại với mình như vậy. Mọi người đều muốn có bạn chứ không muốn có kẻ thù. Cách hay nhất để tạo nên bằng hữu là có một tấm lòng nhiệt thành, không phải chỉ là tiền hay quyền lực. Tình bạn có được do tiền và do quyền lực là điều hoàn toàn khác: đó không phải là tình bạn chân chính. Tình bạn chân thực phải thực sự là tình bạn xuất phát từ tấm lòng. Phải vậy không? Tôi luôn luôn nói với mọi người rằng những tình bạn đến khi bạn có tiền và quyền thế thì đó không phải là tình bạn chân thực, đó chỉ là bạn của tiền và quyền thế, vì ngay khi tiền và quyền lực biến mất, những người bạn nầy cũng sẵn sàng ra đi. Họ không đáng tin chút nào.

Tình bạn chân thực gắn bó với các bạn dù bạn thành công hay bất hạnh, và luôn luôn chia xẻ với bạn nỗi buồnphiền muộn. Cách để tạo được tình bạn như thế không phải bằng sự nóng giận, cũng chẳng phải nhờ có học hay thông minh, mà nhờ có được tấm lòng thánh thiện.

Suy xét sâu sắc hơn, nếu các bạn phải ích kỷ, thì hãy ích kỷ một cách khôn ngoan, đừng ích kỷ với một tâm lượng thiển cận. Vấn đề then chốtý thức về trách nhiệm với toàn thể cõi người, đó là cội nguồn đích thực của sức mạnh, cội nguồn đích thực của hạnh phúc. Nếu thế hệ chúng ta khai thác triệt để mọi thứ dùng được – như cây cối, nước, và khoáng sản – không chút lo lắng cho thế hệ mai sau, thế là chúng ta đã sai lầm, có phải vậy không? Nhưng nếu chúng ta có một ý thức chân chính về trách nhiệm đối với toàn thể như một động lực trọng tâm của chúng ta thì sự liên hệ của chúng ta với môi trường sẽ được quân bình, và sự liên hệ với láng giềng, với những người trong nước và ngoài nước cũng đều sẽ được cải thiện.

Vấn đề quan trọng khác là: Cái gì là ý thức? Cái gì là tấm lòng? Ở thế giới Tây phương, trong suốt một hay hai thế kỷ vừa qua đã có sự chú trọng rất lớn vào khoa học và kỹ thuật, là điều liên quan rất lớn với vấn đề. Ngày nay, một số nhà vật lý hạt nhân và các nhà thần kinh học nói rằng khi khảo sát các hạt tử (particles) bằng một phương pháp rất chi tiết, sẽ thấy có một lực ảnh hưởng về phía người quan sát, tức là cái biết[99]. Cái biết nầy là gì? Câu trả lời đơn giản là: Con người, là nhà khoa học. Các nhà khoa học biết bằng cái gì? Bằng bộ não. Nhưng có đến hằng trăm triệu tế bào trong não, mà các khoa học gia phương Tây chỉ mới nhận ra được vài trăm tế bào mà thôi. Bây giờ, dù các bạn có gọi đó là tâm, não hay ý thức, thì vẫn có sự liên quan giữa tâm và não bộ và cũng là mối tương quan giữa tâm và vật. Tôi nghĩ điều ấy rất quan trọng. Tôi thấy có thể nên tổ chức vài cuộc thảo luận về triết học Đông phương và khoa học Tây phương trên cơ sở của sự liên hệ nầy.

Trong mọi hoàn cảnh, ngày nay con người chúng ta quan tâm rất nhiều đến ngoại giới, trong khi thờ ơ hoàn toàn với thế giới nội tâm. Chúng ta rất cần sự phát triển khoa học và vật chất để sinh tồngia tăng sự lợi íchthịnh vượng chung, nhưng song song với nhu cầu đó, chúng ta cũng cần rất nhiều sự bình an tâm thức. Thế mà không một bác sĩ nào có thể chích cho các bạn một mũi thuốc để tạo sự bình an tâm thức, và không có một chợ nào bán sự bình an đó cho các bạn cả. Các bạn có thể mang hàng triệu triệu đôla đến siêu thị để mua bất kỳ thứ gì, nhưng nếu các bạn mang tiền đến đó để hỏi mua sự bình an tâm thức thì ta sẽ cười bạn ngay. Và nếu các bạn đến yêu cầu một bác sĩ điều trị cho bạn có được tâm bình an, thì bác sĩ chẳng giúp gì được cho bạn, ngoại trừ chỉ vài viên thuốc hoặc vài mũi thuốc tiêm vào để giảm cơn đau. Ngay cả các máy vi tính tinh vi cũng không đem đến tâm bình an cho các bạn. Tâm bình an chỉ được lưu hiện từ bản tâm mình. Mọi người đều muốn hạnh phúc, an lạc, nhưng nếu chúng ta so sánh sự an nhàn của bản thân, sự đau khổ của thân với niềm an lạc của tâm và nỗi đau tinh thần, chúng ta sẽ thấy cảnh giới tâm có ấn tượng hơn, hiệu quả hơn và siêu việt hơn. Vậy nên rất xứng đáng khi ứng dụng một phương pháp nào đó để làm lớn mạnh sự bình an của tâm và để làm được việc ấy, điều quan trọng là phải có sự hiểu biết tường tận về tâm. Khi chúng ta nói về sự bảo dưỡng môi trường, là có liên quan đến rất nhiều vấn đề khác. Rốt ráo, sự quyết định là phải xuất phát từ bản tâm, từ tấm lòng của con người. Điểm then chốt là phải có ý thức chân chính về trách nhiệm đối với toàn thể mà nền tảng là lòng từ bi và trí tuệ trong sáng.

(Trích từ My Tibet  (Tây Tạng của tôi) – Berkeley 1990

TRÁCH NHIỆM TOÀN CẦU VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

Hồi nhỏ, khi còn đang học Phật pháp, tôi đã được dạy một điều quan trọng về thái độ trân trọng đối với môi trường chung quanh. Bài thực tập bất bạo động[100] không chỉ áp dụng trên con người mà đối với tất cả mọi sinh thể – bất kỳ sinh vật nào có tâm thức. Nơi nào có tâm thức, ở đó có sự đau khổ, an lạc, và niềm vui giống nhau. Không một sinh vật nào muốn đau khổ, thay vì vậy, các sinh vật đều muốn hạnh phúc. Tôi tin rằng mọi sinh vật đều chia xẻ những cảm nhận nầy trên một vài bình diện cơ bản.

Trong pháp tu của đạo Phật, chúng tôi đã quá quen với ý tưởng bất bạo động và việc chấm dứt sự khổ đau đã khiến cho chúng tôithói quen không sát hại hay phá hủy mọi thứ một cách không phân biệt. Mặc dù chúng tôi không tin rằng cây cỏ, hoa lá có tâm thức, nhưng chúng tôi cũng đối xử với loài thực vật ấy với lòng trân trọng. Nên chúng tôi đã chia xẻ ý thức về trách nhiệm toàn cầu về cả hai phương diện con ngườitự nhiên.

Niềm tin của chúng tôi vào sự tái sinh, niềm tin về sự quan tâm của chúng tôi đối với tương lai là một ví dụ. Nếu các bạn nghĩ rằng mình sẽ tái sinh, rất có thể các bạn tự nhủ với mình rằng, mình phải giữ gìn vật nầy, thứ kia vì trong thân tái sinh ở tương lai, có thể mình sẽ tiếp tục sử dụng những thứ nầy. Ngay dù trường hợp có thể bạn tái sinh dưới dạng một sinh thể khác, có thể dù ở hành tinh khác, ý tưởng tái sinh vẫn cho các bạn nguyên nhân để có sự quan tâm trực tiếp đến hành tinh nầy và các thế hệ tương lai.

Ở phương Tây, khi nói đến »loài người«, các bạn thường chỉ nói đến thế hệ con người đang sinh tồn. Lớp người quá khứ đã đi qua. Còn tương lai, là sự chết, thì chưa đến. Ý tưởng của người Tây phương thường mắc phải khía cạnh thực dụng vật chất, chỉ để ý đến thế hệ con người hiện tại.

Cảm nhận của người Tây Tạng về môi trường không căn cứ hoàn toàn vào tôn giáo. Cảm nhận nầy xuất phát từ toàn bộ cách sống của người Tây Tạng, không chỉ xuất phát từ tư tưởng Phật giáo. Chẳng hạn, những quan tâm của Phật giáoNhật Bản, Thái Lan về môi trường khác với sự quan tâm của chúng tôi. Nền văn hóa và phong cách sống của họ không giống chúng tôi. Môi trường độc đáo ở nước tôi ảnh hưởng rất mạnh đến chúng tôi. Chúng tôi không sống trên một hòn đảo nhỏ bị ô nhiễm nặng nề, và xa cách láng giềng đồng loại. Chúng tôi không có cảm giác bị ức chế như nhiều cộng đồng dân cư khác.

Có rất nhiều khả năng để thực tập về tinh túy của một đức tin hay tinh túy của một nền văn hóa mà không cần thực hành đời sống tôn giáo. Nền văn hóa Tây Tạng chúng tôi, mặc dù được thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Phật giáo, mà vẫn không đóng khung trong toàn bộ triết lý Phật giáo. Có lần tôi đề nghị một cơ quan về người Tây Tạng di cư rằng sẽ rất hay khi làm một vài nghiên cứu có bao nhiêu người Tây Tạng có được ảnh hưởng bởi sự tiếp cận với phong cách sống của chính từ Tây Tạng? Những yếu tố gì làm cho người Tây Tạng luôn luôn an vui và trầm tĩnh? Mọi người luôn luôn trông chờ câu trả lời nhờ ở một tôn giáo độc đáo, mà quên rằng môi trường sống của đất nước chúng tôi là một sự khác thường.

Sự quan tâm đến môi trường không nhất thiết phải cần đến thần thánh, thiêng liêng, cũng chẳng phải luôn luôn cần đến lòng từ bi. Người Phật tử chúng ta thể hiện lòng từ bi cho hết thảy chúng sinh, nhưng lòng từ bi nầy không cần thiết phải ban rãi cho mỗi tảng đá, cội cây hoặc cái nhà. Hầu như mỗi chúng ta đều có chút quan tâm về ngôi nhà riêng của mình, nhưng thực sự không cần phải động lòng trắc ẩn với chúng. Chúng ta gìn giữ nó để ta có thể sống an vui. Chúng ta biết để có được cảm giác an lạc, trong ngôi nhà của mình, thì ta phải chăm sóc nó. Thế nên cảm giác của chúng ta có lẽ là về sự quan tâm hơn là lòng trắc ẩn.

Tương tự, hành tinh nầy là nhà của chúng ta, và chúng ta phải giữ gìn nó trong trật tự và phải chăm sóc nó nếu như chúng ta chân thực quan tâm về hạnh phúc của chính mình, cho con cái, bạn bè và các sinh thể khác cùng chia xẻ ngôi nhà lớn nầy với chúng ta. Nếu chúng ta nghĩ về hành tinh nầy như là ngôi nhà chúng ta hoặc như người mẹ – Mẹ Đất – tự nhiên chúng ta sẽ quan tâm đến môi trường chung quanh ta. Ngày nay chúng ta hiểu được tương lai chúng ta tùy thuộc rất nhiều vào nhân loại. Nhưng ý tưởng nầy đã thường không rõ ràng đối với ta. Mãi cho đến bây giờ, các bạn mới hiểu ra. Mẹ Đất, bằng cách nào đó, đã quá chịu đựng sự cẩu thả từ thói quen của người giữ nhà. Thế mà những sự tiêu dùng của con người ngày nay, cùng dân số, kỹ thuật công nghệ đã đến mức mà Mẹ Đất không còn chấp nhận sự hiện hữu của chúng ta bằng sự im lặng. Bằng nhiều cách. Mẹ Đất không nói với ta: »Các con tôi xử sự không đẹp«, mà Mẹ Đất chỉ cảnh báo cho chúng ta biết rằng hành động của chúng ta đã đến mức giới hạn.

Thái độ của người Phật tử Tây Tạng là một biểu hiện của lòng hoan hỷ, và chắc sẽ có vài mối tương quan từ thái độ của chúng tôi với môi trường. Chúng tôi không xài phí vật chất một cách vô tội vạ. Chúng tôi đặt một giới hạn cho việc sử dụng. Chúng tôi tán thán cuộc sống đơn giản và có trách nhiệm cá nhân. Chúng tôi luôn luôn tự xem mình là một thành viên trong môi trường nầy, chứ không phải chỉ là người tham dự. Ngôn ngữ cổ xưa của tổ tiên chúng tôi đã đạt đến đỉnh cao khi đề cập hai chữ: »Vật chứa« và »vật được chứa đựng«[101]. Thế giới là vật chứa – ngôi nhà chúng ta – và chúng ta là vật được chứa đựng trong đó – vật được chứa đựng trong thùng chứa. Từ sự kiện đơn giản nầy, chúng ta rút ra được một sự quan hệ đặc biệt, vì nếu không có thùng chứa, thì vật được chứa không có chỗ để được chứa. Và nếu không có vật được chứa, thì thùng chứa không tồn tại làm gì, thùng chứa thành vô nghĩa.

Trong Năm điểm chương trình hòa bình của tôi đã tuyên bố, Tây Tạng sẽ trở thành một vùng đất hòa bình, trung lập. Tây Tạng là một, mà không qua một nhân danh nào cả. Hòa bình có nghĩa là hòa hợp, hòa hợp giữa người với nhau, hòa hợp giữa người và loài vật, giữa các sinh thể và môi trường. Du khách từ khắp nơi trên thế giới có thể đến Tây Tạng để hưởng hòa bình, hòa hợp. Thay vì xây những khách sạn lớn nhiều tầng, nhiều phòng, chúng tôi sẽ làm những tòa nhà nhỏ, giống những ngôi nhà riêng, thế mới có thể sống hòa hợp tốt hơn với thiên nhiên. Chẳng phải hoàn toàn sai khi con người sử dụng thiên nhiên để làm những điều ích lợi, nhưng chúng ta không được khai thác thiên nhiên một cách không cần thiết.

Rất hay khi sống trong một ngôi nhà, có thuốc để trị bệnh, và được đi đây đó bằng xe hơi. Thẳng thắn mà nói, máy móc cơ khí không phải là thứ xa xỉ, mà có khi rất ích lợi. Chẳng hạn máy quay phim, có thể dùng ghi lại những hình ảnh để phát triển sự hiểu biết.

Nhưng mọi thứ đều có giới hạn của nó. Tiêu dùng quá mức hoặc nỗ lực kiếm tiền là không tốt, sự thỏa mãn thật nhiều nhu cầu cũng không được tốt. Trên nguyên tắc, sự thỏa mãn là một mục tiêu của đời sống, nhưng thuần túy chỉ sống để thỏa mãn sẽ trở nên gần như tự sát. Phải không? Tôi nghĩ rằng người Tây Tạng đã có, trong một lĩnh vực nào đó, thỏa mãn quá nhiều. Và chúng ta đã đánh mất quê hương. Những ngày nầy chúng ta không còn mong thỏa mãn được nhiều từ môi trường nữa.

Hòa bình và sự sinh tồn trên trái đất, như ta thấy, đang bị đe dọa bởi hành vi của con người thiếu sự cam kết về giá trị nhân văn. Sự phá hủy thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên là kết quả của sự thiếu hiểu biết, lòng tham lam và thiếu sự kính trọng sự sống trên mặt đất. Sự thiếu quý trọng nầy lan đến hậu duệ của loài người trên trái đất, thế hệ tương lai sẽ thừa kế một thảm thảo mộc mênh mông đã bị xuống cấp nếu nền hòa bình thế giới không trở thành hiện thực và nếu sự hủy hoại môi trường thiên nhiên vẫn tiếp tục với mức độ như hiện nay.

                                         (My Tibet,  Berkeley 1990.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TRỒNG CÂY VÀ SỰ BẢO DƯỠNG

Tôi vừa đề cập đến vài trường hợp về tầm quan trọng của việc trồng cây, vừa ở Ấn Độ, quê nhà hiện nay của chúng tôi, cũng như ở Tây Tạng. Hôm nay, như một sự biểu hiện của thiện chí, chúng ta cử hành lễ trồng cây nơi chúng ta đang trú ngụ. May mắn thay, cuộc vận động kêu gọi có sự cam kết bảo vệ môi trường thông qua việc trồng cây con và chăm sóc những cây lớn, đang nhanh chóng gia tăng trên toàn thế giới. Trên bình diện toàn cầu, rừng và cây liên hệ rất mật thiết với sự biểu hiện của thời tiết, và cũng duy trì sự quân bình chủ yếu cho thiên nhiên. Bởi vậy, vấn đề bảo vệ môi trường là một trách nhiệm toàn cầu của tất cả chúng ta. Tôi nghĩ rằng cực kỳ quan trọng đối với người Tây Tạng đang sống nơi định cư, không chỉ chú ý sâu sắc đến nguyên nhân của việc bảo vệ môi trường, mà còn thể hiện ý tưởng nầy qua hành động bằng cách trồng nhiều cây con. Theo cách nầy, chúng ta sẽ thực hiện một thiện chí quan trọng cho thế giới, chứng tỏ sự quan tâm đến toàn cầu của chúng ta. Và cùng lúc, tạo nên sự chia xẻ nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa.

Nếu ta nhìn chung quanh, nay chúng ta có thể thấy những ngôi nhà trong tu viện và trong những trang trại nơi người ta đã trồng cây ăn trái, bây giờ họ đã hưởng được lợi lạc lớn lao như là kết quả của việc trồng cây. Trước hết, nếu có một bóng cây trong vườn, nó sẽ làm cho không khí chung quanh một vẻ đẹp an tĩnhtự nhiên. Dĩ nhiên là các bạn còn ăn được trái cây, ngồi dưới bóng cây và hưởng được bóng mát. Những gì cần thiết trong phần tham gia của bạn là một chút tính kiên nhẫn dành ít thời gian chăm sóc cho cây lớn lên.

Cuối cùng, tôi muốn có một đề nghị. Hãy xem lại việc sử dụng nông trại trong khu định cư. Nơi đây, các bạn đã khởi đầu dự án trồng cây ăn trái trong trang trại. Tôi cho đó là một dự án rất tốt. Qua việc trồng cây ăn trái, không những chúng ta chỉ bảo đảm rằng trang trại vẫn còn màu mỡ, mà chúng ta sẽ còn có trái cây để dùng. Tóm tắt, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa tầm quan trọng vô cùng to lớn khi trồng cây con và bảo vệ những cây đang sống chung quanh mình.

   (Diễn văn đọc ngày 6.12.1990 tại buổi lễ trồng cây        

       ở khu định cư Doeguling Tây Tạng của Mundgod,            

        Ấn Độ)

 

QUAN NIỆM CỦA ĐẠO PHẬT VỀ THIÊN NHIÊN

 

Tối nay tôi sẽ nói vài điều quan niệm của đạo Phật về thiên nhiên.

Bồ-tát  Long Thọ (Nāgārjuna)  nói rằng: »Trong một hệ thốngtính Không được biểu hiện, thì tất cả các pháp đều có khả năng (hiện hữu). Nếu không nhờ nghĩa của Không, thì các pháp không thể nào hiện hữu.[102]

Thế nên khi nói về thiên nhiên, thì thiên nhiên cứu cánhtính không[103] vậy nghĩa của tính không là gì? Đó không phải là tính không của tự nhiên hay của sự hiện hữu độc lập, mà nó có nghĩa là các pháp tồn tại nhờ vào sự tương duyên của rất nhiều yếu tố.

Thế nên dù môi trường đó là nơi cư trú hay là cư dân, cả hai đều là hợp thể của bốn hoặc năm đại chủng căn bản. Những đại chủng đó là đất, nước, lửa, gió và không, đó là hư không. Về hư không, trong Thời luân Tantra[104] có một đề cập về điều được gọi là một chất tử của không, hạt tử của không. Thế mà dạng thể đó lập nên một lực trọng tâm của toàn thể hiện tượng giới. Khi toàn thể hệ thống cơ cấu vũ trụ lần đầu được hình thành, nó đã được tạo ra từ lực trung tâm nầy, đó là hạt tử của không, và cũng là hệ thống của vũ trụ cuối cùng, hệ thống nầy cũng sẽ tan hoại trong chính hạt tử của không ấy. Thế nên về mặt cơ bản của năm yếu tố nầy, có sự tương quan rất mật thiết giữa vùng cư trú, đó là môi trường thiên nhiên và cư dân, đó là các sinh thể đang sống trong môi trường ấy.

Cũng thế, khi ta nói về những đại chủng, có những yếu tố nội tại tồn tại trên cơ sở tự tính (existent inherently) ngay trong sinh thể ấy, cũng có những bình diện khác nhau, một số dạng thô và số khác thì vi tế.

Nên rốt ráo, theo giáo lý đạo Phật, điều vi tế nhất bên trong tâm thức chính là vai trò vi diệu độc nhất của sự sáng tạo, chính là bao gồm năm đại chủng, và tính chất rất vi tế của các đại chủng. Những yếu tố vi tế nầy phân tích ra như những điều kiện tạo ra những yếu tố nội tại để hình thành nên sinh vật, và trở lại tạo nên sự hiện hữu hay sự tiến hóa của những yếu tố bên ngoài. Thế nên có một sự tương phùng rất mật thiết hoặc là sự tương quan giữa môi trường và các sinh thể đang sống trong môi trường ấy.

Trong ý nghĩa của tương duyên[105], có nhiều mức độ khác nhau mà các vật thể nương tựa vào nhau – yếu tố nguyên nhân của nó – hoặc là tâm ý thức thường gán cho nó một nhãn hiệu hoặc một biểu tượng.

Mục tiêuchúng ta thảo luận hôm nay là sự tương quan hay tính tương duyên giữa môi trường thiên nhiên và các sinh thể đang sống trong đó.

Bây giờ, các bạn biết đó, có một số bạn tôi nói rằng bản chất con ngườibạo động. Tôi bảo với bạn tôi rằng tôi không nghĩ là như vậy. Nếu chúng ta khảo sát nhiều loại động vật có vú, những loài như cọp và sư tử, ta thấy tùy thuộc vào cuộc sống của những sinh vật khác mà có được sự sinh tồn của loài nầy, vì bản tính cơ bản của nó có một cấu trúc rất đặc biệt, răng nanh dài nhọn và móng vuốt rất sắc. Cũng như vậy, những loài vật hiền hòa, như hươu nai, hoàn toàn ăn cỏ, răng và móng của nó hoàn toàn khác, hiền hơn. Nên từ quan điểm nầy, loài người chúng ta thuộc vào loài hiền từ, có phải vậy không? Răng, móng của chúng ta rất hiền. Thế nên tôi nói với người bạn, tôi không đồng ý với quan điểm của bạn. Cơ bản loài ngườibản chất không bạo động[106].

Cũng vậy, về vấn đề sinh tồn của con người, loài ngườimột sinh vật có tính hợp quần. Để sinh tồn, các bạn cần có những nhóm người khác. Không có những con người khác, đơn giản là không có khả năng sinh tồn – đó là quy luật tự nhiên, đó là bản chất.

Bởi vậy, tôi tin tưởng sâu sắc rằng cơ bản loài người thuộc về bản tính dịu hiền, tôi nghĩ là thái độ của con người đối với môi trường cũng nên hiền hòa. Do đó tôi tin rằng không những chúng ta nên giữ mối liên hệ với loài người hiền hòa và không bạo động mà cũng nên có mối quan hệ như thế, cũng quan trọng khi lan tỏa thái độ đó đến môi trường thiên nhiên. Tôi cho rằng nói một cách đạo lý, chúng ta có thể suy nghĩ như thế và chúng ta đều phải nên quan tâm đến môi trường sống quanh mình.

Tôi lại nghĩ đến một quan điểm khác. Trường hợp nầy không phải là vấn đề đạo đức, luân lý, mà là vấn đề sinh tồn của chính chúng ta. Không chỉ cho thế hệ nầy, mà còn cho thế hệ tương lai, môi trường là điều rất quan trọng. Nếu chúng ta khai thác môi trường bằng một phương pháp cạn kiệt, thì ngày nay chúng ta có thể sẽ có chút ít lợi ích, nhưng trong lâu dài chính chúng ta sẽ chịu đau khổthế hệ tương lai cũng sẽ đau khổ.

Thế nên khi môi trường thay đổi, thời tiết khí hậu cũng thay đổi, khi nó thay đổi một cách bi thảm, thì cơ cấu kinh tế và nhiều thứ khác cũng thay đổi – ngay cả thân thể vật lý của ta. Thế nên các bạn có thể thấy ảnh hưởng lớn lao từ sự thay đổi ấy. Từ quan điểm nầy, đây không phải chỉ là vấn đề sống còn của chúng ta. Do vậy, để thành tựu được nhiều kết quả hữu hiệu và để thành công trong việc bảo vệ, giữ gìn môi trường thiên nhiên. Trước hết, tôi nghĩ, cũng rất quan trọng khi làm phát sinh sự quân bình nội tại trong chính con người. Bởi vì sự thờ ơ với môi trường mà đã có hậu quả tai hại rất nhiều đối với cộng đồng nhân loạixuất phát từ sự mê muội về tầm quan trọng đặc biệt của môi trường. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất trong tất cả là truyền đạt sự hiểu biết nầy cho mọi người. Thế nên rất quan trọng khi dạy hay nói với mọi người về tầm quan trọng, về lợi ích của chính môi trường.

Kế đến, một điều tối quan trọng khác nữa, như tôi luôn luôn kêu gọi, là tầm quan trọng của lòng từ bi. Như tôi đã đề cập trước đây, dù có xuất phát từ quan niệm ích kỷ của riêng mình, thì các bạn vẫn phải cần đến người khác. Thế nên qua biểu hiện sự quan tâm đến lợi ích của người khác, chia xẻ khổ đau với người khác, và qua sự giúp đỡ người khác, rốt cục mình sẽ được lợi lạc. Còn nếu chỉ nghĩ đến riêng mình và quên người khác, rốt cục mình sẽ thiệt thòi. Đây cũng là điều giống như luật tự nhiên. Tôi nghĩ điều nầy rất đơn giản. Nếu các bạn không biểu lộ nụ cười với người khác, mà biểu hiện một cái nhìn ác cảm, thì người kia sẽ đáp lại một cách xử sự tương tự. Có đúng vậy không? Nếu quý vị dành cho người khác một phong thái chân thành và cởi mở, thì sẽ nhận được sự đáp ứng tương tự. Nên đó là luận lý hoàn toàn đơn giản.

Thực vậy, thời cổ đại, có nhiều nhà tư tưởng cũng như các vị đạotâm linh vĩ đại đã ra đời ở đất nước Ấn Độ nầy, nên tôi cảm thấy trong tương lai, những nhà tư tưởng Ấn Độ vĩ đại, như Mahatma Gandhi, cũng như những nhà chính trị khác, sẽ áp dụng tư tưởng quý báu như Bất hại (ahimsa) vào lĩnh vực chính trị. Theo một phương cách nào đó, chính sách ngoại giao không liên kết cũng có liên quan đến đạo lý nầy. Thế nên tôi suy nghĩ đến tầm mức xa hơn, hoặc sự phát triển rộng hơn về ý tưởng quý báu, hoặc hành động cao quý nầy ở đất nước Ấn Độ là rất thích đáng và rất quan trọng.

Bây giờ trong khía cạnh nầy, có một điều khác mà tôi thấy rất quan trọng là tâm thức. Thế tâm là gì? Cho đến nay, đặc biệt là ở thế giới Tây phương, suốt hai thế kỷ trở lại đây, khoa học kỹ thuật đã chú trọng rất nhiều và chủ yếu là về vật chất. Bây giờ ngày nay một số nhà vật lý hạt nhân và các nhà thần kinh học đã bắt đầu khảo sát, phân tích các chất tử (particles) theo một phương pháp rất chi tiết và sâu sắc. Trong khi tiến hành thí nghiệm, họ tìm thấy có sự tham gia của phía người quan sát, đôi khi họ còn gọi là »cái biết«. Điều gì là »cái biết«? Đơn giản là sự sống, là con người, như nhà khoa học. Bằng cách nào mà các nhà khoa học biết được? Tôi cho rằng nhờ vào bộ óc mà họ biết được. Nay, nói về não bộ, các khoa học gia phương Tây chưa có một định nghĩa gì nhiều hơn về não ngoài hằng trăm triệu tế bào chứa trong não. Còn bây giờ nói về tâm, dù các bạn có gọi tâm là một năng lực đặc biệt của bộ não, hay gọi là ý thức, thì quý vị sẽ thấy rằng có một sự liên hệ rất rõ giữa bộ não, tâm và vật. Tôi nghĩ điều nầy rất quan trọng, tôi thấy nên có vài cuộc đối thoại giữa triết học Đông phương và khoa học Tây phương về nền tảng quan hệ giữa tâm và vật.

(Bài phát biểu ngày 14.2.1992 ở New Delhi, Ấn Độ)

 
Tạo bài viết
18/12/2015(Xem: 8721)
16/01/2016(Xem: 6817)
Ngày 9/12/2018 vừa qua Câu lạc bộ Nhân Sinh đã tổ chức Khóa tu “Tuổi trẻ có gì vui” tại Tu viện Khánh An 2, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai với sự tham gia của hơn 250 bạn trẻ. Khóa tu diễn ra dưới sự hướng dẫn của sư Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng các vị Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.