4. Pháp thiền thử tư: Thiền quán

24/12/20202:59 CH(Xem: 1419)
4. Pháp thiền thử tư: Thiền quán

TÂM THƯ THÁI
7 BƯỚC ĐI SÂU VÀO THIỀN ĐỊNH
Dza Kilung Rinpoche 

Huỳnh Văn Thanh dịch
Nhà xuất bản Hồng Đức



4. PHÁP THIỀN THỨ TƯ
THIỀN QUÁN

Chuyển nghĩa trực tiếp từ Tạng ngữ Lhag-tong có thể hữu ích cho việc hiểu thiền quán. Lhag có nghĩa là “một cái gì đó còn nhiều hơn thế nữa”, còn tong là “nhìn, thấy” hoặc “trong trẻo, sáng suốt”, hoặc “quan sát”. Khi được dịch thành “minh sát”, “thấu thị” và “cái nhìn siêu việt”, chữ này có nghĩa là “nhìn thấy được bản chất bên trong, hữu thể bên trong, hoặc bản chất tuyệt đối của mình”. Nó chỉ ra sự thấy vượt khỏi bề mặt. Ở đây, chúng ta đạt được cái nhìn 360 độ, không bị che chắn ở bất kỳ góc cạnh nào. Tĩnh chỉ cùng với sự thấu suốt và nội quán đi liền với nhau. Việc thực hành thiền chỉ - được phát triển qua hai chương trước ~ mang đến sự chú tâm, quán niệm, và cái nhìn thấu suốt; nó làm bừng lên ánh sáng, soi rọi cho những điều mà chúng ta đang hướng sự .chú ý vào đó. Người ta cũng có thể nói rằng ba pháp thiền đầu tiên cung cấp những công cụ mà qua đó chúng ta có thể bắt đầu trải nghiệm trí tuệ - cái nhìn thấu suốt trực tiếp vào thực tại. Một lần nữa, như ngài Tịch Thiên (shantideva) nói trong Nhập bồ đề hạnh luận (Bodhicaryãvatãra): “Biết rằng các tạp nhiễm của tâm là vượt qua được, thông qua cái nhìn thấu suốt sâu sắc hòa quyện với sự tính lặng vững vàng, bạn trước tiên phải tìm kiếm trạng thái an bình của tính chỉ được thấy trong thái độ hoan hỉ và vô chấp đối với thế gian”.

Khi chúng ta đã hoàn toàn an nhiên tự tại, tâm trở nên tinh khiết và không còn bị xao động nữa. Điều này cho phép chúng ta biết chính mình một cách rõ ràng hơn - chúng ta thật sự là ai, cái gì là bản chất đích thực của con người mình, ý nghĩa sự hiện hữu của chúng ta trong thế giàn này là gì, và do đó cái gì là quan trọng và cái gì không quan trọng. Bởi có sự nối kết giữa nội tâmngoại giới, cho nên pháp môn này cũng sẽ mang đến cho chúng ta cái nhìn thấu suốt vào chân tướng của mọi sự vật và hiện tượng.

Thiền quán hay thiền minh sát - cũng được biết dưới cái tên vipassana (trong tiếng Pali) và  vipashyana (trong tiếng Phạn) - là hết sức phổ biến hiện nay, và thường được dạy một cách có hệ thống. Thiền quán truyền thống sử dụng bốn nền tảng cho việc nội quán là thân, cảm xúc, tâm và các hiện tượng;    

còn trong kinh Tứ niệm xứ (Satipatthana Sutra), các nền tảng đó là thân, tâm, cảm xúc, chướng ngại, ngũ uẩn, ngũ cảnh, các yếu tố giác ngộtứ diệu đế; tư tưởng cơ bản ở đây là phải thấy rằng các đối tượng này là trống không, không có tự tính cố hữu, không có tự ngã. Ở đây, chúng ta cố gắng để bớt lề luật hay qui định đi một chút, không chứa quá nhiều áp lực liên quan đến đúng sai trong việc luyện tập - chẳng quá lo ầu về chuyện toàn mỹ. Chúng ta tìm kiếm cảm giác và các nối kết với tâm thức lẫn với hữu thể ở bên trong. Khoảnh khắc mà bạn cảm nhận được các phẩm chất bên trong được hiển lộ qua cái nhìn thấu suốt quan trọng hơn nhiều so với một loạt các mục tiêu mà bạn đang cố gắng hoàn thành với khá nhiều sự gắng sức. Chúng tathể đạt được phẩm chất tinh yếu của pháp môn thiền quán mà không cần phải trải qua hết các thể thức hay phong cách truyền thống. Điều gì bạn cảm nhận được trong trạng thái tâm xao động? Hãy quan sát cảm xúc ấy. Vậy là - ở ngay đó - cái nhìn thấu suốt, cái nhìn thật rõ ràng.

Thiền quán mang đến sự an nhiên, thư thái, và đây là điểm xuất phát cảm hứng để tâm thức an tĩnh, chẳng còn lăng xăng nhiều nữa, cả trong thiền định lẫn trong các sinh hoạt thường nhật của chúng ta. Tâm thức của chúng ta không cần phải lúc nào cũng lăng xăng bận rộn, nhưng chúng ta đã quen với việc đó - nó đã trở thành một thói quen. Ngay cả sau khi công việc ban ngày đã làm xong, tâm trí của chúng ta cũng vẫn tiếp tục làm việc như thể chúng ta vẫn “đang được trả công để làm” vậy. Và, không chỉ thế, cơ thể của chúng ta cũng vẫn căng thẳng, trở thành nồ lệ cho những cấu trúc suy nghĩ hấp dẫn, những cấu trúc không ngừng giục giã chúng ta, ngăn không cho chúng ta tiếp xúc với bản chất nội tại của mình.

Đôi lúc chúng ta gọi tình trạng này là “vắng nhà”, nghĩa là tâm thức của chúng ta trong giây phút hiện tại không hể có mặt “ở nhà” một chút nào. Đây là một tình trạng vô ích và không cần thiết. Chúng ta càng tập trung vào bên trong bao nhiêu, chúng ta càng có cơ hội hơn để nhận ra và hiểu được bản chất đích thực lẫn tiềm năng đích thực của mình, cũng như để đạt được hạnh phúc thật sự ở bên trong. Hạnh phúc này là điều mà tất cả chúng ta đều đang tìm kiếm. Chúng ta muốn tìm kiếm hạnh phúc cho chính mình, cũng như cho đồng loại của mình. Nhưng bình thường thì chúng ta tìm kiếm hạnh phúc ở bên ngoài, điều luôn luôn mang lại những khó khăn. Phật giáo có một câu chuyện ngụ ngôn liên quan: Việc đó như thể chúng ta nhốt các gia súc - bò, cừu, dê... - vào chuồng. Nhưng hôm sau thì chúng ta lại đi tìm chúng ở ngoài đồng, ngoài rừng, và cảm thấy bối rối khi không tìm được chúng ở những nơi đó, mà quên rằng chúng đang ở trong nhà, trong chuồng, từ bao lâu rồi. Chúng ta cũng vậy, cũng đang tìm kiếm hạnh phúcngoại giới, mà quên rằng hạnh phúc vĩnh hằng và đích thật được tìm thấy ở trong tâm thức.

Để đạt đến cảnh giới bên trong, nơi mà hạnh phúc hiện ra một cách tự nhiên, chúng ta cần phải có một tâm thức thanh khiết và tĩnh lặng. Như với tất cả các pháp thiền trong sách này, người ta không thể đạt được điều đó bằng sức mạnh. Nếu bạn cố gắng để “đào” cho được sự yên bình và thanh tịnh, việc ấy sẽ chẳng đi đến đâu. Thay vì thế, càng cố sức đào bới bao nhiêu - giống như bạn đang dùng sức để moi khoét một cái hố khổng lồ nhằm tìm kiếm một món đồ mỏng manh nào đó - bạn sẽ thấy mình càng lạc xa khỏi những gì đang tìm kiếm. Vậy nên, chìa khóa chính là bớt làm, bớt cố sức, cho phép tâm thư thái. Các phẩm chất an bình và tĩnh lặng là một phần của bản chất an nhiên tự tại của tâm. Bạn càng an tịnh bao nhiêu, các phẩm chất đó càng hiện rõ bấy nhiêu, và đi cùng với chúng là hạnh phúc. Do vậy, chìa khóa để thấu suốt chính là trải nghiệm thư thái - bản chất an nhiên tự tại của tâm. Sức tập trung chú ý là hết sức quan trọng, nhưng phải tập trung một cách hoan hỉ, và sẽ có sự thoải mái, nhẹ nhàng, cùng rất nhiểu nhiệt tình cũng như hạnh phúc.

 

Nhìn thấu suốt

Trong phong cách thiền định nấy, chúng ta tìm kiếm cái nhìn thấu suốt vào bản chất của thực tại - một phương cách cảm nhận cũng như hiểu biết thầm sâu thực sự dựa trên sự an nhiên tự tại. Khi tâm thức không bị tán loạn và đã được tập trung, các suy nghĩ nảy sinh, bạn nhìn thấy chân tướng của các suy nghĩ đó một cách trực tiếp và tức thì. Chúng ta không quan tâm đến nội dung của các suy nghĩ, chúng ta không bám chấp vào chúng để nghĩ rằng, “Quả là một suy nghĩ rất hay, xin chào mừng”, hay “Quả là một suy nghĩ quá tệ, xin mời đi cho”. Chúng ta chẳng dại dột gì để bị cả hai cuốn theo. Ở đây, chúng ta trải nghiệm mọi thứ một cách tự nhiên - các suy nghĩ lẫn các hiện tượng đang trình hiện trước mắt. Mục tiêu của chúng tatri kiếntrí tuệ siêu nghiệm - những phẩm chất vốn sẽ hiện ra một cách tự nhiên trước tâm thanh tịnh.

Thật ra, minh sát hay nội quán (insight) - sự nhìn thấy rõ ràng, thấu suốt - cũng có thể được dịch thành “sự nhìn thấy bản chất”. Nếu không có cái biết thâm sâu và sự nhìn thấy được bản chất các suy nghĩ của mình, chúng ta chỉ biết chạy đuổi theo chúng và lăng xăng cùng với chúng. Việc thanh tịnh tâm thức giúp giữ chúng ở yên, sao cho chúng ta có thể quan sát tận tường và nhìn thấy rõ những gì mà các suy nghĩ đang nối kết - những gì đang xảy đến. Như chúng ta đã biết ở pháp thiền trước, khi tâm thanh tịnh, cái nhìn thấu suốt nảy sinh từ trạng thái thanh tịnh đó sẽ có được cơ hội rất lớn để nhìn vào bên trong, vào bản chất đích thực của chúng ta. Càng an tịnh nhiều hơn và ít lăng xăng hơn, khi ẩy chân tướng của tâm thức có thể được chiếu sáng thấu suốt. Đây mới thật là chìa khóa để thấy nhiều hơn và biết nhiều hơn.

Thiền quán cũng dẫn dắt chúng ta khám phá phẩm chất sáng tỏ bên trong tâm thức cũng như bên trong công cuộc thiền định. Chúng ta biết ánh sáng bên ngoài là ánh nắng mặt trời, ánh đèn, ánh nến đang cháy, cùng các hiện tượng phát sáng khác ở ngoại giới, và đôi lúc chúng ta nghĩ đó là loại ánh sáng duy nhất. Nhưng tâm cũng có phẩm chất phát sáng mặc dù hiếm khi chúng ta nhìn thấy được ánh sáng ấy. Ở đây, ánh sáng có nghĩa là nhìn thấy thấu suốt bên trong. Đây là sự thấu suốt tối thượng.

Việc thực hành nội quán đi liền với trí tuệ, đừng lẫn lộn với kiến thức thuần lý về các sự kiện, thông tin... Trí tuệ - cái biết trên bình diện vô biên, vượt lên trên những giới hạn hiểu biết thông thường - có liên quan đến cái nhìn thấu suốt và cảm hứng. Cái nhìn thấu suốt có một sự sắc bén tinh tế, và sự tinh tế này có năng lượng và ánh sáng. Năng lượng của trí tuệ nhận thức là một phần rất lớn trong trải nghiệm về cái nhìn thấu suốt. Tác phẩm Lượng thích luận (Pramãnavarttika-kãrikã) của ngài Pháp Xứng (Dharmakĩrti) có nói: “Bản chất của tâm là ánh sáng thanh khiết. Các ô nhiễm chỉ mang tính chất tự sinh”.

 

Thấy cái gì?

Khi nội quán, tóc nhìn thấy thấu suốt, cái gí đang được trải nghiệm rõ ràng? Đó là cái Tâm bên trong, cái tâm có sự chăm chú, có sự thư giãn, cái tâm không bị tán loạn, cái tâm hoàn toàn tự do. chúng ta có thể thấy, cảm nhận và trải nghiệm sự tự do hoàn toàn này. Đây là ánh sáng trong trẻo, không nhất thiết là ánh sáng mà mắt nhìn thấy, mà là ánh sáng chúng ta có thể cảm nhận cụ thể trên bình diện năng lượng. Do đó, nội quán cũng được gọi là minh sát (insight). Người ta cũng có thể nhìn thấy ánh sáng thị giác vào lúc này. Khi an trụ thâm sâu với thiền định không chút gián đoạn, chính bản thân, tâm thức cũng sẽ phát quang, hiện hữutrong sáng. Trải nghiệm năng lượng và ánh sáng nội tại này hết sức thanh tĩnh và thoải mái, cũng như sẽ mang đến một sự hài lòng thật đặc biệt.

Pháp thiền thứ tư này cũng thuộc bình diện tế vi hơn trong việc quán sát và chú ý vào năng lượng. Tập trung chú ý (focusing) nghĩa là không thật sự gắng sức nữa, với sự căng thẳng của cơ thể - đây là sự an định không phân tâm. Nếu chúng ta cố sức, tâm có thể trở nên dao động bối rối, và chúng ta thấy mình đi lạc khỏi thiền. Khi phát triển pháp thiền này, cơ thể thư giãn, chúng ta cảm thấy năng lượng lưu chuyển khắp thân. Chúng ta cảm nhận được người đang hành thiền, cơ thể, việc thiền định, năng lượng chẳng còn sự phân biệt nào hết, tất cả đã hòa làm một.

Trạng thái an tịnh của thiền quán có thể dẫn đến sự bien hoa tự than. Chang hạn, nêu bạn nghĩ một số suy nghĩ của mình là quá bất thiện, quá tệ hại, đến độ sự xuất hiện của chúng mang đến cho bạn cảm giác sợ hãilo âu, bạn chỉ cần đơn giản là an trụ cùng với chúng, trong một lúc, một cách nhẫn nại, và sự cởi mở đón nhận đó sẽ cho phép bạn nhìn thấy bản chất siêu việt của chúng. Trên bình diện này, chẳng có lý do gì để sỢ hãi hay ngăn chặn bất kỳ suy nghĩ hoặc cảm xúc nào. Có thể tích hợp tất cả vào trong cuộc thiền định. Cách tiếp cận như vậy có thể hữu ích cả trong lúc thiền định lẫn trong cuộc sống thường nhật, bởi một khi chúng ta có sự nhận biết rõ ràng về nội tâm, việc này sẽ mang theo với nó khả năng nhìn thấy chân tướng đích thật của vạn pháp xung quanh chúng ta.

Nội quán cũng nhấn mạnh đến tính không. Do ham muốnthói quen quá mạnh, chúng ta bám chấp vào niềm tin rằng mọi sự mọi vật đều là thật và chắc đặc. Nếu chúng ta suy ngẫm về tính khôngđạt được một số hiểu biết về nó, điều này làm nới lỏng sự bám chặt của tâm do thói quen và hỗ trợ một cách tự nhiên cho sự nhìn nhận của chúng ta theo cách thế thư thái hơn. Do đó, chúng ta cố gắng để trải nghiệm tri kiến siêu nghiệm này, đồng thời nhận ra bản chất hư ảo của cái tôi, tức bản ngã (trong sự liên kết với tư tưởng rằng cái tôi, tức bản ngã, không hề có sự hiện hữu cố định, độc lập nào cả), và hãy chú ý vào bên trong, đồng thời cho phép mình hiện hữu bên trong sự trải nghiệm thấu suốt đó. chẳng hạn, khi thiền định, chúng ta thỉnh thoảng có thể trải nghiệm một làn sóng ác cảm, một làn sóng tiêu cực. Nhưng nếu chúng ta quyết định không đi theo làn sóng cảm xúcchỉ quan sát, thay vì bơi lặn trong nó - đồng thời kiên nhẫn cho phép nó tự tan biến - chúng ta sẽ nhận ra nó trống rỗng,- nó không có bản chất,- chẳng bao giờ có. Tính chất thiếu vắng sự tồn tại cố định, cố hữu của nó hiện bày ra trước mắt chúng ta.

Do đó, hãy giản dị. Hãy tìm kiếm những phẩm chất cốt yếụ không chút phức tạp. Đây là lối tắt để đi đến giác ngộ. Chỉ cần hiện hữu cùng với những điểm then chốt, với những gì hết sức quan trọng - trạng thái tự nhiên của tính không. Bên trong cái hư không đó là tinh yếu, là cái nhìn thấu suốt. Nội quán bất khả ly với tâm thanh tịnh hay bản chất đích thật của con người.

 

Cảm hứng

Thỉnh thoảng chúng ta có thể trải nghiệm, một 1 cách thanh thoát tự nhiên, tâm thức của mình như 1 thể hoàn toàn siêu việt - an định, thanh tĩnh, tự tại.

Việc đó có thể xảy ra bất ngờ mà không cần đến sự dẫn dắt hay kỹ thuật gì. Bạn nhìn vào cái tâm thuần khiết của mình, và mọi thứ hiện diện một cách rõ ràng. Nhưng rồi có những lúc, ngay cả trong khi đang cố gắng hết sức, bạn thấy khó khăn trong việc có được một sự thoáng hiện của trí tuệ và cái nhìn thấu suốt. Ở những lần khác nữa, tâm có thể chẳng làm việc gì nhiều - không bị phân tâm, tập trung, hành xử mỹ mãn... - nhưng ngay cả khi đó, chúng ta cũng vẫn có thể cảm thấy đờ đẫn, thiếu cái nhìn thấu suốt, chẳng giao tiếp được gì với năng lượngcảm hứng. Thiền quán phát biểu như sau: Làm thế nào chúng ta có thể mang đến cảm hứng cho mình thay vì cố sức thái quá hay có một tâm thức khép kín, bận rộn và căng thẳng, dẫn đến tình trạng buồn ngủ, mệt mỏi và buồn tẻ?  Việc thực hành chuyên cần giúp ổn định bản chất của tâm thứccho phép tâm thức trở nên quen với việc hiện hữu tự dotự tại. Nhưng bản chất tự do của tâm thức không hề buồn tẻ một chút nào. Nó tỉnh thức, đầy sức sống và thanh khiết.

Trải nghiệm thấu suốt không chỉ là của cái tâm đã đạt được trạng thái không phiền não. Nó cũng bao gồm trải nghiệm năng lượng của tâm vô ngại. Năng lượng tế vi là một phần của việc trải nghiệm cái nhìn thấu suốt. Đây là một trải nghiệm hết sức thầm sâu còn hơn cả trạng thái tĩnh chỉ, mặc dù điều hết sức quan trọng là phải có sự tĩnh lặng như một cái nền cho cảm hứng. Thế rồi, khi sự nhìn thấy rõ ràng phát triển từ đó và tâm có thể an định lâu hơn trong trạng thái tĩnh chỉ, chúng ta càng thấy nhiều cảm hứng hơn. Sự thư giãn tại thời điểm này có phẩm chất khác hẳn. Sau cùng, chúng ta có thể cảm thấy thư giãn nhiều hơn một cách hữu hình - ở cơ thể - và một sự cảm nhận năng lượng đầy hân hoan. Kế tiếp là một kiểu buông lỏng, và cùng lúc, một cảm giác tỉnh thức, một cảm hứng dồi dào hơn. Đây là những dấu hiệu chỉ ra rằng bạn đang được nối kết với sự nhìn thấy bên trong. Khi bạn đạt được một số ổn định trong pháp thiền này, các phẩm chất cảm hứng và nhiệt thành của nó sẽ trở nên dính chặt với thời gian và môi trường hành thiền của bạn. Với nụ cười trên gương mặt, bạn sẽ nghĩ, "0h, đến giờ ngồi thiền rồi! Và đày là chỗ thiền định của tôi”. Và ngay cả khi các khó khăn tái xuất hiện, bằng cách vận dụng đôi chút cố gắng dịu dàng, từ ái và rộng mở, tâm thức sẽ đạt được cảm hứng để hành thiền một cách an nhiên, thư thái.

 

Sự thoáng đãng

Khi các suy nghĩ xuất hiện, bạn không cần phải cắt đứt liền lạc với chúng hay tránh xa tình huống đó. Mà hãy cho phép tâm thức được rộng mở đón nhận, và bằng cách dùng những lăng kính góc rộng, bạn trải

nghiệm một cái nhìn rõ ràng hơn, rộng lớn hơn về thực tại của tâm thứcbản chất của nó. Nó có thể cho phép bạn có ngay câu trả lời “Điều gì đang thật sự diễn ra?” Và nó giúp làm tịnh yên tâm thức, bởi chẳng còn có thêm chút nghi vấn hay nhầm lẫn nào nữa. Do vậy, chúng ta bắt đầu với sự cố gắng, bằng cách nói rằng, “Chúng ta hãy thiền định và không cần níu kéo cũng như chấp giữ các ý nghĩ”. Nếu chúng ta giữ nguyên sự căng thẳng của việc tập trung vào những ý nghĩ yêu và ghét đang xuất hiện - điều mà như chúng ta cũng biết, là một dạng của sự chấp thủ, về mặt tinh thần và thể xác, chúng ta có thể trở nên mệt mỏi, phung phí rất nhiều năng lượng. Khoa thần kinh học hiện đại đã chỉ ra rằng thiền định giúp thư giãn cơ thể và hệ thần kinh. Khi có thể an trụ trong “ánh sáng ngọt ngào” của cuộc thiền định an tịnhthanh khiết, chúng ta thấy mình bội thu hơn là thất thu năng lượng. Sự gia tăng năng lượng giúp chúng ta ổn định việc tu tập.

Trái lại, bằng các phương cách khá giả tạo, chúng ta cố sức để giữ cho mình được tỉnh thức vậ nhạy bén, cố gắng làm tăng năng lượng, bằng cách uống cà phê chẳng hạn. Việc đó chỉ hiệu quả được một lúc, nhưng thường thì chúng ta có thể vẫn cảm thấy mệt mỏi trong tâm trí. Khi chất kích thích trong cà phê tan mất, chúng ta bị ném trở lại cảm giác lờ đờ, căng thẳng, buồn ngủ và thiếu sinh khí. Bằng thiền định, chúng ta có thể nạp năng lượng một cách tự nhiên, bởi sự thư giãn tích cực ảnh hưởng đến Thân và Tâm.

Một khía cạnh khác của sự rộng mở đón nhận, như đã nói ở trên, chính là không mang thái độ phê phán khi môi trường thiền định của chúng ta có những điềụ như tiếng chim hót, tiếng điện thoại reo, tiếng trẻ con khóc... Chúng ta có thể trải nghiệm các hiện tượng đến từ ngũ quan. Hãy rộng mở đón nhận tất cả những điều đó và cho phép chúng như chúng đang là - không chê khen “tốt” hay “xấu”. Bản chất trống không của chúng tự nhiên sẽ hiện bày. Cái ngã tư đường “đóng hay mở” này quyết định môi trường thiền định. Do đó, hãy hiện hữu và dung nhận các âm thanh lẫn mọi hiện tượng khác đến từ bên trong lẫn bên ngoài - hãy để chúng trở thành một phần của cuộc thư giãn và cảm hứng của bạn, chứ không phải là một chướng ngại tạo nên sự vọng động. Với sự thư giãn, tâm sẽ chẳng còn bận rộn nữa, sẽ trở nên cởi mở và thoáng đãng hơn. Bạn chỉ cần an trụ vào đó, cũng như nhẫn nại và buông bỏ mọi mong đợi. Bạn sẽ trải nghiệm sự thoáng đãng, điều trước tiên vốn là bản chất của tâm thức. Và nếu bạn thiền định theo nhóm, sự rộng mở đón nhận cũng sẽ cho phép bạn thu nhận cũng như góp phần vào năng lượng của cả nhóm, làm thăng tiến cuộc thiền định chung.

 

Động cơ bồ đề tâm - Nhân áitừ bi

Hãy nhớ bắt đầu bằng một thái độ tích cực, đồng thời duy trì thái độ rộng mở đón nhận và từ ái đối với chính mình lẫn tha nhân. Một lần .nữa, điều này trong Phật giáo được gọi là bồ đề tâm (bodhicitta), tức sự nhân áibao dung. Vun bồi điều này thật sự có lợi cho việc thiền định, bởi nó mang lại mục đích lẫn ý nghĩa rất to lớn. Thiền định rèn luyện cho tâm thức trở nên biết chú ý tập trung. Chú ý tập trung không thôi vẫn chưa đủ. Bởi chúng ta có thể tập trung sức chú ý để làm những điều tiêu cực. Thay vì thế, chúng ta cần tập trung cho mục đích là làm một việc gì đó thiện hạnhđạo đức - tập trung chú ý sao cho tâm thức có thể chọn lựa một điều gì đó có ích cho bản thân lẫn cho tha nhân. Như có nói trong kinh Hiền ngu (Bàlapandita Sutta): “Đừng xem thường những hành động nhỏ nhưng tích cực bởi nghĩ rằng chúng chẳng lợi lộc gì nhiều, vì ngay cả những giọt nước nhỏ sau cùng cũng sẽ làm đầy một cái bình lớn”. Do đó, có tiềm năng hết sức lớn trong việc thiền định - thẳm diệu hơn rất nhiều, lợi ích hơn rất nhiểu so với việc chỉ có biết tập trung tâm thức. Do đó, bạn hãy tự nhắc nhủ mình về tầm quan trọng của việc tạo nên động cơ là có một trái tim rộng mở đón nhận.

Khi tâm thức an tịnh hơn và ít bị xao lãng hơn, chúng ta cảm. thấy yêu thương, thanh tịnhtừ ái một cách mạnh mẽ hơn và với cái nhìn thấu suốt. Khi tâm bận rộn, tán loạn và không ngừng bị gián đoạn, chúng ta có thể trải nghiệm sự thiếu vắng của lòng nhân ái và bao dung, nhưng việc đó chỉ là tạm thời. Bản chất của nhân ái, bao dungtrí tuệ chưa bao giờ biến mất khỏi chúng ta. Tất cả những gì chúng ta cần làm là nối kết với nó và biểu đạt nó. Chúng ta cần cố gắng bắt đầu cuộc hành thiền bằng động cơ thuần khiếtlòng nhân ái, có nghĩa chúng ta ngồi thiền là bởi chúng ta muốn nhìn thấy bản chất cùa tâm thức một cách rõ ràng và tịnh khiết để làm lợi lạc cho bản thân lẫn cho tha nhần. Chúng ta đào sâu tri kiến của mình và nối kết với trí tuệ, trái tim, lòng yêu thươngtrắc ẩn, để thiết lập sự ổn định cho tâm thức cũng như hồi hướng những điều năy cho chính mình lẫn cho tha nhân. Trong giáo lý đạọ Phật, điều đó được gọi là sự phát triển của tâm giác ngộ, thật ra chính là bản chất của lòng nhân ái.

 

Thiền định

Như đã nói ở trên, hãy cố gắng giữ vững tư thế ngồi thẳng, thay vì khom hay nghiêng sang bên này bên nọ - đề cậc kênh năng lượng trong cơ thể có thể chạy thẳng một mạch, hỗ trợ tự nhiên cho việc hành thiền và giúp cơ thể thoải mái. Nhưng, cùng lúc, điều quan trọng là không được quá cứng nhắc; chúng ta cần phải linh hoạt.

Sau khi thiết lập động cơ là bồ đề tâm - ước muốn mang đến lợi ích cho tất cả chúng sinh - chúng ta bắt đầu bằng Thân, khẩu và ý - đảm bảo rằng thân đang ngồi trong tư thế thoải mái, tâm có cảm hứng và khẩn không còn huyên thuyên. Cả ba khi ấy phối hợp với nhau một cách thật hài hòa. Chúng tacảm giác an tĩnh nhiều hơn trong nhất thể của hiện hữu cốt lõi, rằng chúng ta là một tâm thức, một con người, chứ không phải quá nhiều suy nghĩ cần xử lý. Với trạng thái không tán loạn, chúng ta trải nghiệm năng lượng của trạng thái nhất thể này.

Một lần nữa, chúng ta xướng tụng chú ngôn OM, AH, HƯNG để mở rộng và thư giãn thân, khẩu, ý. Khi ngồi thiền, điều hết sức quan trọng là cả ba hoạt động cùng nhau tại cùng một chỗ và với cùng bản tính giống nhau. Trước tiên, sự chú ý và sự mở rộng đón nhận của chúng ta hướng vào thân, làm thư giãn thân. Rồi đến khẩu: sự huyên thuyên của khẩu là chất kích thích của các suy nghĩ. Nếu sự huyên thuyên gia tăng, các suy nghĩ tăng theo. Chúng ta càng có nhiều suy nghĩ bao nhiêu, càng dễ có khuynh hướng bị cuốn hút vào đó, thậm chí gây nên sự bất an hay sự dao động của thân. Do đó, chúng ta cố gắng để được an nhiên: "Ngay lúc này là giờ ngồi thiền”.

Sau cùng, toàn bộ lý do cho việc dành thời gian để ngày ngày ngồi thiền chính là thu được một số ý tưởng nào đó về cách tác động đến tâm thức, đồng thời vận dụng vào cuộc sống thường nhật. Dần dần từng chút một, bạn có thể mở rộngđào sâu hiểu biết này cùng những ứng dụng của nó, đồng thời mang cảm hứng vào việc tạo lợi ích cho chính mình và tha nhân.

Như đã nói ở trên, đôi khi trong lúc thiền định, những dòng suy nghĩ ngầm tê vi cùng các ý tưởng xuất hiện. Bạn có thể không để ý đến chúng cho đến khi chúng đủ lớn để nói, “Tôi đây này!” Ngạc nhiên, chúng ta hỏi, “Làm thế nào các ngươi vào đây được vậy?” Hầu như không thể nói ra được là chúng đang đến, nhưng từ từ, những suy nghĩ ngấm ngầm cứ rón rén lẻn vào. Do đó, thiền định không nên giống như vô thức. Nó hữu thức. Nố có cái biết. Bạn cần phải duy trì cái biết ấy - biết thư giãn, biết an tĩnh. Và cái biết ấy hữu ích khi các dòng suy nghĩ ngầm hiện ra - bạn có thể nhận biết chúng đang đến gần. Và rồi khi chúng xuất hiện, thay vì xua đuổi chúng, bạn cố gắng thư giãn và thoải mái ở bên trong một cách sâu sắc hơn, ngay giữa tâm thức của mình. Và bạn không cạn phải bước vào chúng mà chỉ như một người thợ sửa chữa chúng.

Đôi lúc, khi các suy nghĩ xuất hiện, bạn cảm thấy giống như, “Tôi phải tống khứ cái này và tắt cái kia đi mới-được”. Đó là vì chúng ta thích làm một điều gì đó. Chúng tathói quen phải làm cái này cái kia, phải tham gia, phải sử dụng đậu óc một cách tích cực. Do những thói quen như vậy, thật khó để chẳng làm gì hết. Nhưng xin lưu ý rằng, trong quá trình thoát khỏi một điều gây phân tâm, chúng ta đang tạo ra hai điều. Quan trọng là chỉ cần cho phép nó như nó đang là và đừng hòa lẫn vào nó. Chỉ cần thư giãn. Thế rồi, khi mọi thứ đến, chúng sẽ tự chăm lo cho chúng. Vậy thôi.

Nếu bạn cho phép tâm thức của mình không làm, nhưng vẫn giữ vững cái biết, cái phần tỉnh thức đó không hề chán chường. Bình thường, tâm rất dễ chán khi chẳng làm điều gì cả. Nhưng khi bạn không thấy chán chường vì chẳng làm gì cả, điều đó có nghĩa là việc thiền định của bạn đang tiến bộ. Điều đó có nghĩa là, về cơ bản, bạn đang trải nghiệm cuộc thiền định. Bạn không làm một cuộc thiền định, chỉ cần cảm nhận cái tâm thư thái. Cảm nhận cái tâm thư thái thay vì làm điều gì đó. Hãy ghi nhớ việc ấy.

Khi bắt đầu, trước tiên bạn có thể sử dụng một đối tượng để tập trung sự chú ý vào đó, và rồi khi tâm thức đã tập trung được đôi chút, chỉ cần thư tháiquán tưởng vào năng lượng của sự thư giãn. Sau cùng, khi đối tượng dường như không còn cần thiết nữa, bạn có thể buồng bỏ nó và tập trung sự chú ý vào phi đối tượng - vào cái nhìn thấu suốt. Cái nhìn thấu suốt là tâm thức đang an tịnh một cách tự nhiên. Đến lúc này, hãy cho phép bất cứ điều gì cũng được xuất hiện, hãy cho phép mọi sự vật hòa lẫn vào cái nhìn thấu suốt và bản chất ,an tĩnh, cũng như trải nghiệm các cảm xúc sẽ khiến cho trái tim ,trở nên hạnh phúc. Khi tâm thức không bị xao động, tập trung tốt, và các suy nghĩ dấy sinh, bạn nhìn thấy chân tướng của các sụy nghĩ đó một cách trực tiếp và tức thì - một trải nghiệm hết sức tích cực. Nếu điều ngược lại xảy ra - tiêu cực hoặc căng thẳng - chỉ cần thư giãn cùng với nó. Nếu bạn cảm thấy buồn ngủ hoặc mơ màng, một kiểu vội vàng tóm lấy vài thứ trong tâm trí rồi bắt đầu làm trở lại. Hãy xoay ngược công- tắc ngay. Hãy kích thích mình. Bạn không cần phải quay trở lại và điều trạ các suy nghĩ trước đó. Chỉ cần hiện hữu trong giây phút hiện tại và hòa vào cái nhìn thấu suốt.

 

GỢI Ý THỰC HÀNH

•.    Dõi theo hơi thở.

•     Đừng dõi theo cặc suy nghĩ; hãy thư giãn và an tĩnh.

•     Hãy cảm nhận sự thư giãn của trạng thái an tình.

•     Đừng chú ý một cách thái quá; chỉ cần thật thư giãn.

•     Hãy thư giãn vào thân xác của bạn.

•     Để cho năng lượng lưu chuyển thật tự nhiên theo một cách thư thái.

•     Hãy rõ ràngsáng tỏ.

•     Hãy làm mới tâm thức.

•     Qụan sát tâm thức và các ý nghĩ.

•     Hãy an tịnh một cách rõ ràng.

•     Trẩi nghiệm tâm thức như thể thanh tịnh, ung dungtự tại.

•     Tập trung một cách vui vẻ bằng cảm giác hạnh phúc và sự nhiệt thành.

•     Trải nghiệm một cái nhìn thoáng đãng, không bị chướng ngại bởi bất kỳ góc độ nào.

•     Hãy hít thở thật từ từ, thật dài.

 

HỎI & ĐÁP

H: Nếu các thói quen tinh thầncảm xúc của chúng ta không còn được buông lung, bị cầu thúc bởi sự phản ứngđiều kiện, liệu tự dó mà chúng ta bắt đầu trải nghiệm từ thiền quán sẽ không gây ra sự mất hòa hợp, mất quân bình trên bỉnh diện tinh thần, tình cảm, thậm chí trên bỉnh diện cự thể hay không, khi chúng ta đạt mửc thâm sâu hơn trong cái nhìn thấu suốt của mình - nhất là bởi chúng ta đang làm thay đổi các cấu trúc năng lượng đã bám rễ từ rất lâu?

Đ: Về cơ bản, quả là một dấu hiệu tốt khi thấy biểu hiện thay đổi ở bên trong đủ mạnh để làm lung lay hệ thống cảm xúc của bạn. Khi cảm nhận một sự mất hài hòa cùng sự mất quần bình gây ra bởi thiền địnhthực hành tâm, li, bạn nên tìm đến một vị thầy hoặc các hành giả nhiều kinh nghiệm, và tham vấn họ trước khi đi xa đến mức hoãn lại việc tu tập.

H: Nếu trong khi. đang thiền định, chúng ta cho phép mình tham gia vào các suy nghĩ quá bất thiện hay quá tệ hại, đến mức sự xuất hiện của chúng mang lại lo ầu và sợ hãi, liệu điều đó có khuyến khích thái độ lãnh đạm đối với tha nhấn trong cuộc sống thường nhật hay không một thái độ cố thể gây phương hại cho họ lẫn cho chúng ta?

Đ: Trong pháp thiền này, chúng ta cho phép ngay cả các suy nghĩ bất thiện được phép dấy sinh tự do mà không khiến chúng ta bị lôi kéo vào cuộc. Đó là cái tâm an tĩnh hoàn toàn. Nhưng bạn cần cân bằng quan điểm thiền định này với. sinh hoạt thường nhật. Như ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambhava), người cò.n được gọi là Gurụ Rinpoche - tóc “Thượng sư”, có công truyền bá Phật pháp, từ Ấn Độ ; sang Tây Tạng vào thế kỷ 8, đã nói, “Nếu cái nhìn của anh cao như bầu trời, đức hạnh của anh cũng nên mịn màng như những hạt bột”. Nhưng nếu kiểu thiền định này khiến bạn bị lôi cuốn tham dự vào bất thiện nghiệp, bạn nên ngưng ngay lại và thỉnh thị ý kiên của một vị thầy đủ phẩm chất trước khi tiếp tục hành thiền.

H: Tôi có một câu hỏi liên quan đến cụm từ bản chất đích thực của các suy nghỉ, khi chúng ta khám phá pháp môn thiền quán và khi chúng ta cố gắng để nhận ra bản chất đích thực của các suy nghĩ. Tôi luôn luôn như bị va đầu vào tường khi cô' gắng xấc định xem đây có phải là thứ vừa mới trải nghiệm xong và không bị khái niệm hóa, hay đây là một kiểu đột phá mang tính khái niệm hóa như thế nào đó đang diễn ra. Tôi không biết chắc mình đang tìm kiếm cái gì trong bản chất đích thực của các suy nghĩ.

Đ: Trong chừng mực nào đó, khi các suy nghĩ dừng lại, tâm thức trở nên cởi mở đón nhận hơn. Chúng ta không quá bám chấp vào các suy nghĩchạy theo chúng. Chúng ta cảm nhận và biết trải nghiệm này một cách trực tiếp, không bị lôi kéo vào “cái này”“cái kia”. Do đó, biết được “bản chất đích thực của các suy nghĩ” có nghĩa là trở nên thư tháian nhiên hơn cùng với chúng trên bình dịện thâm sâu, nơi chúng ta nhìn thấy bản chất của chúng, thay vỉ chú mục vào nội dung của chúng. Mọi thứ chúng ta đang trải nghiệm đều được mang vào bên trong cái hương vị thư thái, tự tại có một không hai này. Chúng ta trải nghiệm tinh yếu của suy nghĩ, vốn không hề mang tính khái niệm hóa.

H: Liệu có đúng không khi nói rằng vôi thiền quán, chúng ta có thể mở rộng đón nhận, mở rộng một trường (field) bao gồm những gì đang trải nghiệm, nhưng phải vối cái kỷ cương là không được để cho mình bị cuốn hút vào việc ấy?

 

Đ: Vâng, và đó là lý do tại sao chúng ta không thật sự đóng chặt cửa các suy nghĩ. Khi các suy nghĩ trở nên thanh tịnhchúng ta đang trải nghiệm chúng trong trạng thái thư giãn, các suy nghĩ chẳng còn là những chướng ngại nữa. Các suy nghĩ chẳng qua là một dòng dữ liệu, những thông điệp mang hình thức năng lượng, đang nuôi dưỡng cái nhìn thấu suốt của chúng ta. Bởi tâm thức đang hết sức thư thái và tế vi, bất cứ điều gì hiện ra cũng đều được phản ánh một cách rõ ràng.          

 

SUY NGẪM THỨ NHẤT

MỘT CÁI NHÌN SÂU HƠN VÀO CÁC CHỦ ĐỀ

H: Tôi đang hành thiền, và rồi tôi nhận ra mình chẳng còn nhô gì năm phút trưốc đó - nó. chỉ là một khoảng trắng. Có phải là tôi đang ngủ không? Tôi không còn nhớ là mình đang ngồi nữa, nhưng nhận ra khoảnh khắc thời gian vừa qua chỉ là một khoảng trắng. Có phải tôi đang ngủ, hay điều gì đang xảy ra?

Đ: Đôi lúc, khi việc đó xảy ra, đấy chẳng phải là một giấc ngủ thật sự, mà chỉ là một trạng tháimơ màng màng làm ảnh hưởng đến cái biết. Việc ấy mang lại ấn tượng có những khoảng trống trong sự chú ý của ; chúng ta. Chúng ta bị mất đi cái nhìn thấu suốt trong  những kẽ hở ấy. Do đó, cần phải làm cho đầu óc tỉnh táo lại. Thỉnh thoảng, chúng ta cũng cần phải khởi động lại chiếc máy tính của mình.

Chương này và phần song sinh với nó - Suy ngẫm thứ hai là tùy chọn. Các độc giả sẵn sàng “bắt tay vào việc cần làm”thiền định có thể bỏ qua chương này. Tất cả thông tin cần thiết để phát triển một công cuộc thực hành thiền định vững vàng đều đã có hết trong bảy chương trình bày về các pháp thiền. Tuy nhiên, có thể có một số người còn mới mẻ với thiền, những người hiếu kỳ muốn biết căn nguyên của bảy phong cách thiền định. Và những người có một số kinh nghiệm về Phật giáo Tây Tạng có thể ước muốn nối kết cách tiếp cận bớt mang sắc thái truyền thống được trình bày trong sách với các trình tự tu tập chuẩn, với các. triết lý như người ta vẫn thường trình bày.

Kể từ Đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (Shakya- ưiuni hay Siddhartha Gautama) giảng pháp vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, nhiều truyền thống Phật giáo đã ra đời. Đức Phật đã giảng dạy trong suốt bốn mươi lăm năm. Một số đệ tử của ngài đã có trí nhớ hết sức mạnh mẽ, và ngay sau khi ngài nhập Niết-bàn, một hội nghị đã được tổ chức để ghi chép những gì Đức Phật đã nói. Từ những lời pháp được ghi lại, đã có hàng chục trường phái phát triển, với chỉ có một trường phái trong số đó là còn tồn tại đến ngày nay - “Thượng  bộ”, tức Theravada (hay Tiểu thừa, tức “Cỗ xe nhỏ”). Trường phái này, với các pháp môn chính bao gồm shamatha (thiền chỉ) và vipas- sana (thiền quán), được tìm thấy ngày nay ở châu Á. Về sau, trường phái Mahayana (Đại thừa, tức “Cỗ xe lớn”) và rồi Vajrayana (Kim cương thừa, tức “Cỗ xe kim cương”) phát triển ở Ấn Độ và lan truyền sang Trung Hoa, Nhật Bản, và sang Tây Tạng vào đầu thế kỷ 8. Phật giáo Tây Tạng kết hợp cả ba truyền thống chính của Phật giáo - Theravada, Mahayana và Va- jrayana - thành một toàn thể liền mạch. Những người sơ học thường bắt đấu với các pháp môn của Thera- vada, rồi tiếp tục bước sang Đại thừa và rồi Kim cương thừa, vốn được xem là tế vi, mạnh mẽ và tinh tế hơn.

 

Đạo pháp

Có thể so sánh giáo lý đạo Phật với một viên kim cương có nhiều mặt, mỗi mặt đều nối kết rực rỡ với toàn thể. Đây là - Đạo pháp (Dharma) - một cái học cực kỳ mênh mồng, phức tạp và tỉ mỉ. Người ta có thể trở nên bị thu hút hoàn toàn vào những phức tạp của nó. Nhưng chúng ta luôn luôn được cảnh giác rằng nếu chúng ta thật sự quan tâm đến mục tiêu của Phật pháp - tiêu trừ sự khổ của toàn thể chúng sinhthành tựu giác ngộ - chính việc tu tập, chứ không phải sự uyên bác, là điều quan trọng nhất.

Lời dạy đầu tiên của Đức PhậtTứ diệu đế: sự hiện hữu phổ biến của khổ, sự thật rằng khổ có những nguyên nhân của nó, sự thật rằng có thể tiêu trừ được các nguyên nhân ấy, và chân lý về một con đường sẽ chấm dứt các nguyên nhân của khổ, và qua đó chấm dứt khổ hoàn toàn. Các nguyên nhân của sự khổ tóm tắt lại là samsara (sinh tử luân hồi), nghĩa là tình trạng duyên sinh duyên khởi của tâm thức - những thói quen thâm căn cố đế của chúng ta - những thứ mà chúng ta đã chế biến lại thành thế giới quan. Có thể tổng quát hóa các nguyên nhân này thành ba loại độc: chấp thủ (ham muốn), sân hận (ganh ghét, hằn thù), và vô minh (dốt nát). Có một cách tổng quát hóa khác là phân thành năm thứ độc, trong đó đố kỵkiêu căng được cộng thêm vào ba cái độc nói trên. Sự tiêu trừ hoàn toàn tình trạng này chính là giác ngộ, sự chấm dứt hoàn toàn khổ Một tròng những phương pháp chính trong Phật giáo nhằm đạt được mục tiêu ấy là thiền định.

 

Thiền định, Tâm và thân

Samsara (luân hồi) chứa đựng đầy sự phân tâm, tán loạn - tạo ra những tâm thức hỗn độn, rối bù - và bị chi phối bởi vô minh. Tinh hoa của thiền định đã được trình bày trong Chương 1. Thiền định sẽ làm tịnh yên và thanh sạch cho tâm, và sau cùng, vô minh sẽ bị thay thế bằng trí tuệ. Vậy, khi ấy, tâm là cái gì? Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ khác đi khi hiểu biết người ta trở nên sâu sắc hơn. Trong Phật giáo, tâm không phải là trí não. Não ảnh hựởng đến tâm, nhưng tâm không phải là vật chất, hữu hình hữu thể. Tất nhiên, có mối quan hệ giữa Thân và Tâm, và các mô tả chi tiết về mối quan hệ này đã có sẵn trong giáo lý đạo Phật, nhưng chúng không thuộc phạm vi thảo luận của phần này.

Cái tâm mà bình thường chúng ta vẫn trải nghiệm là các hiện tượng tâm thức - các suy nghĩ, các cảm xúc và những nhận thức - đi cùng với cái biết mang những điều này ra ánh sáng. Nó giống như một sân khấu, qua đó đủ loại diễn viên bước lên, biểu diễn, rồi đi xuống. Bình thường thì vở kịch mang tính chất gây phân tâm, tán loạn. Chúng tathể đạt được một số kiểm soát trong những lãnh vực nào đó, trong những khoảng thời gian tương đối ngắn, nhưng chẳng hề nắm được quyển kiểm soát toàn cục. Một điều gì đó thật đơn giản, như một lời nói sốc hoặc một vật bị đặt nhầm chỗ chẳng hạn, có thể phá tan sự tĩnh lặng tạm thời của tâm thức.

Để làm tịnh khiết cái tâm đầy những tán loạn, chúng ta bắt đầu bằng cách tạo nền cho thân - biến nó thành cái bệ thoải mái cho việc thiền định - và rồi tập trung sự chú ý lên Thân, làm cho nó trở nên tịnh yên và nhạy bén. Khi chúng ta quan sát samsara lúc nó đang hoạt động bên trong mỗi con người - cái tâm bận rộn của chúng ta, cái thân cùng hệ thần kinh căng thẳnglo âu của chúng ta, những phản ứng tự phát của chúng ta trước nhiều tình huống, sự xuất hiện không mời mà đến của giận dữ, ham muốn, ghen ty và kiêu ngạo - chúng ta hiểu rằng quán tưởng thấu suốt lên thân là một việc rất quan trọng.

Việc tạo ra một tâm thức thanh tịnh và tập trung đạt được thông qua quán niệm (mindfulness). Lúc đầu, việc duy trì quán niệm - cho dù vào Thân xác, hơi thở, một hình ảnh thị giác, một chú ngôn, hay đối tượng nào khác - đòi hỏi chúng ta phải dần dần khắc phục các thói quen xuất phát từ sự phản ứngđiều kiện của chúng ta do samsara. Đương nhiên là chúng ta bước vào cuộc hành thiền với một số quan tâm và nhiệt tình, và có một số mục tiêu cần đạt được. Nhưng, khi thực hành, chúng ta phải buông bỏ những thứ này. Chúng ta phải tránh những điều gây phân tâm do các kỳ vọng tạo ra, và đừng để bị lôi kéo bởi thái độ đo lường - số lần ngồi thiền chúng ta thực hiện trong một ngày, những cách tập luyện “thượng thừa hơn, thần bí hơn” mà chúng ta biết, hay số lần xướng tụng chân ngônchúng ta đã thực hiện - hơn là về chất lượng hành thiền. Nếu hối hả, chúng ta đang mở đường cho sự căng thẳng, vốn là phẩm chạt điển hình của samsara. Thay vì thế, chúng ta phải vun bồi sự nhẫn nại. Samadhi (nhập định), mang đặc trưng là sự hợp nhất giữa Thân và Tâm như đã mô tả trong chương 1) sẽ nảy sinh một cách tự nhiên khi chúng ta thư giãn yượt khỏi các ham mụốn, các mục tiễu và các kỳ vọng.

Thật ra, thân cũng tiêu biểu cho nhiều chướng ngại đối với thiền định. Các suy nghĩcảm xúc của chúng ta đâu có tách rời khỏi thân, chúng hành sự chung lưng với nhau. Vì. lẽ này, các bài tập luyện nhằm vận động các kênh năng lượng có thể cực kỳ hữu ích cho việc dọn sạch cắc yếu tố gây phân tâm đang ngăn trở những trạng thái ý thức tinh tếthâm diệu hơn. Trong Phật giáo Tây Tạng, những việc này bao gồm hành động đơn giản là ngồi cho thật thẳng - giúp làm “thẳng” các kênh năng lượng, cho phép năng lượng trong cơ thể được lưu chuyên thoải mái - cho đến những bài tập luyện thể lực cực kỳ phức tạp, các bài tập luyện hít thở, và các phép quán tưởnghiệu quả mạnh.mẽ đến mức người ta phải giữ bí mật và chỉ truyền cho các môn sinh giỏi thông qua các bậc thầy thiền định đủ tư cách.

Theo nghĩa nào đó, việc xướng tụng OM, AH và HƯNG vào đầu mỗi lần ngồi thiền là một cách tiếp cận bằng Thân để giúp tịnh yên cuộc thiền định. Mỗi âm tiết đều có liên quan đến một luân xa (chakra) - trung tâm năng lượng của cơ thể có tác động rất mạnh mẽ đến sức khỏe, khuynh hưởng cảm xúctinh thần của chúng ta, cũng như tác động đến sự ; rộng mở đón nhận các ảnh hưởng tâm linh và đón nhận các kỹ thuật thiền định. OM gắn liền với luân xa đỉnh đâu. AH kích hoạt luân xa cổ họng, còn HUNG có quan hệ với luân xa tim. Những âm tiết này, như kinh sách giải thích, có ảnh hưởng quan trọng lên việc thiền định, ít nhất cũng giúp người ta có “tâm trạng thích hợp” lúc bắt đầu ngồi thiện.

 

Động cơ

Trong tu tập Phật giáo - và tròng bất kỳ hoạt động nào cũng vậy - yếu tố then chốt chính là động cơ. Khổ tràn ngập trong cuộc sống, và việc tiêu trừ hoàn toàn khổ cho toàn thể chúng sinh là động cơ chính yếu. Một động cơ như vậy lẫn các hoạt động theo cùng điều đó được gọi là bồ đề tâm (bodhicitta), “trái tim giác ngộ”. Bồ đề tâm bao gồm sự từ áibao dung, những lời được nói ra là vì chính những điều đó. Hành giả hoàn toàn dâng hiến cho bồ đề tâm được gọi là bồ tát - bodhisattva.

 

Bồ đề tâm có hai phương diện - tương đốituyệt đối. Bồ đề tâm tương đối là một thực hành quan trọng, trong đó người ta suy ngẫm một cách có hệ thống về sự khổ của chúng sinh, yà thông qua sự cảm thông, lòng từ bi được phát triển lớn hơn theo thời gian. Trong truyền thống Tây Tạng, hành giả đặc biệt được khuyến khích tập trung sự chú ý vào lòng bác ái của thân mâu minh trong kiếp này và các bà mẹ ở những kiếp trước. Suy cho cùng, các bà mẹ của chúng ta nuôi dưỡng chúng ta, dạy bảo chúng ta mọi điều, và rất được kính trọng trong văn hóa Tây Tạng. Rồi người ta trải rộng tấm lòng cảm thông, yêu mến, từ áibao dung đó rã bên ngoài, từ những người thân cùa mình sang những người xa lạ hoàn toàn, sau cùng là đón nhận ngay cả các "kẻ thù”. Trong sự bất diệt của vũ trụ luận Phật giáo, bất kỳ ai, ở lúc này hay lúc khầc, cũng đều có lần từng là mẹ của chúng ta. Do. đó, mục tiêu là cảm nhận bồ đề tâm như nhau đối với toàn thể chúng sinh. Bồ đề tâm tương đối còn được phân nhỏ thành bồ đề tâm qua chủ ý (phát triển quan niệm từ bi thông qua việc tu tập)bồ đề tâm qua hành động (thực sự giúp đỡ ; các chúng sinh khác).

Bồ đề tâm tuyệt đối nảy sinh từ trí tuệ - từ những nhận thức thâm diệu nhất, cho dù chúng đến  trong những lúc ngồi thiền hay một cách tự phát từ  các sinh hoạt thường nhật. Ở bình diện này, bồ đề tâm đồng nghĩa với thanh tịnh nguyên sơ, bản chất của tâm, rigpa... Người ta nói rẳng khi ai đó bước vào trạng thái này, lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh trỗi dậy, bởi nó trở nên hiển nhiên trong sự nhận thức trực tiếp, phi khái niệm, rằng tiếm năng để đạt được giác ngộ đang hiện diện trong toàn thể chúng sinh, và sự khổ của chúng tahuyễn ảo, hư vọng. Lòng từ bi như vậy được phản ảnh qua bài kệ sau đây có tên là Tứ vô lượng tâm” (bốn tâm thức vô cùng lớn lao);

Cầu cho tất cả chúng sinh  đều có hạnh phúc cùng các căn nguyên của nó.

Cầu cho tất cả  đều thoát khỏi khổ đau cùng các căn nguyên của nó.

Cầu cho tất cả không bao giờ bị tách lìa khỏi hạnh phúc và không bị khổ đau.

Cầu cho tất cả  đều an trụ trong tự tại.

 

Đạo đức

Có nhiều bộ giới luật đạo đức trong các trường phái Phật giáo khác nhau. Các tỳ kheo, theo truyền thống, phải thọ nhận 253 thệ nguyện đạo đức, các tỳ kheo ni còn phải thọ nhận nhiều hơn- Đạo đức sẽ góp phần vào bồ đề tâm tích cực - người ta hành xử có đạo đức là để giúp chứ không phải để làm hại tha nhân. Nó cũng trợ giúp cho việc thiền định bằng cách mang lại một thái độ tinh thần không bị chướng ngại bởi cảm thức tội lỗi. Nếu cư xửđạo đức, người ta ít khi muốn gây xung đột với người khác và sẽ cảm thấy tự tin cũng như điềm đạm. Hành vi bất thiện sẽ tạo ra tâm trạng bối rốinghiệp quả bất thiện, dẫn đến tình trạng chướng ngại cho việc tu tập.

Một trong những kim chỉ nam đạo đức phổ biến nhất dành cho những người tu tại gia là tập hợp mười phẩm hạnh phi đạo đức cần tránh. Mười giới cấm đó được phân thành ba giới cấm liên quan đến thân, bốn giới cấm liên quan đến khẩu và ba giới cấm liên quan đến ý. Người ta không được sát sinh, trộm cắp, hay tà dâm. Về phần khẩu, người ta không được nói dối, nói lời cay nghiệt, nói xấu hay tham gia ngồi lê đôi mách. Các hành vi bất thiện đối với ý là mong muốn làm hại tha nhân, lòng tham và tà kiến (những cách nhìn không nhất quán với các giáo lý chính yếu của đạo Phật). Bằng cách tránh những điều này, người ta đang thực hành mười thiện hạnh.

 

Trí tuệ

Giáo lý đạo Phật dạy chúng ta vươn cao đến giác ngộ trên đôi cánh trí tuệtừ bi. Trong Phật giáo, trí tuệ không có nghĩa là sự hiểu biết các sự kiện được thu thập thông qua tư duy bằng biện biệt. Mà là trí tuệ siêu việt vượt lên các khái niệm và là một trải nghiệm trực tiếp về bản chất của thực tại. Do đó, trải nghiệm của trí tuệ không thể mô tả bẳng lời được, mà chỉ có thể gợi ý được thông qua các loại suy. xềt theo góc độ khác, có thể nghĩ trí tuệ giống như những tầng bậc vi tế nhất của tâm thực, của sự hiểu biết.

Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, cửa ngõ đi đến giác ngộ là trải nghiệm trực tiếp, phi khái niệm về tính không (đây cũng là mục tiêu chính yếu trong Phật giáo Theravada), được hợp nhất bất khả phần với khía cạnh diễn cảm của thực tại, đôi khi được gọi là sự hiển lộ hoặc sự rõ ràng. Trí tuệ của một bậc giác ngộ viên mãn - một vị Phật - được mô tảđạt đến mức toàn trí, theo phạm trù là sự hiểu biết trực tiếp vạn pháp đang hiện hữu ở mức lớn lao nhất, và đến tận các chi tiết nhỏ nhất của chúng. Bởi tất cả các chướng ngại đối với chính kiến đều đã được tiêu trừ, cho nên các tấm màn khái niệm che giấu tương lai và quá khứ đều được gỡ bỏ. Tính vật chất được siêu vượt. Có nhiều khía cạnh “nhiệm mầu” khác nữa. Hiển nhiên là, sự trải nghiệm về một trí tuệ như thế thì chẳng thể nào mô tả được.

Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, các cấp độ của hữu thức được phân theo các phạm trù là thồ và tinh. Mục tiêu chung của thiền định là mải giũa hữu thức đến mức mà trí tuệ phi khái niệm được trải nghiệm theo những tầng bậc khác nhau dẫn đến giác ngộ. Sự tinh luyện hữu thức bao gồm sự tinh luyện sức chú ý, năng lượng và thư giãn.

Ngoài bằng chứng nhận được khi trải nghiệm trực tiếp,các dấu hiệu tiến bộ về mặt trí tuệ gia tăng trên con đường thiền định còn bao gồm việc không còn nhiều các cảm xúc tiêu cực hay gây ưu phiền nữa, sự hòa hợp cũng nhiều hơn trong tương tác với tha nhân, lòng bác ái và baọ dung tăng lên, và sự điềm đạm nội tâm cũng nhiều hơn - nhất là khi đối diện với các hoàn cảnh khó khăn.

 

Tính không

Tính không (emptiness) là một đề tài có tầm quan trọng đặc biệt trong Phật giáo. Tất nhiên, sự thực chứng tính không cũng xuất hiện trong lúc hành tập thiền định ở .các truyền thống khác, nhưng không nơi nào nó được nhấn mạnh cũng như khảo sát tinh mật như trong Phật giẳo. Ở định nghĩa cơ bản nhất của nó, không có nghĩa là sự vắng bặt hiện hữu, vắng bặt đối tượng được khảo sát. Đối tượng đang được nói đến - cho dù đấy là một vật thể hữu hình, tâm thức, tính cách, hay bật kỳ cái gì - không hề hiện hữu riêng nó. Khi khảo sát cẩn thận, người ta thấy rằng đối tượng đó hiện hữu một cách tương liên tương thuộc, chứ không phải độc lập. Nó phụ thuộc vào các hiện tượng khác và xuất hiện tùy theo ý thứcđiều kiện của người quan sát.

Ví dụ, nếu tôi đang chụp một quả bóng tennis, làm cách nào để nó trình hiện thành như một con dơi đang bay ngang qua? Một con chim? Một con ong? Nó có thể được nhận biết như một đối tượng khác tùy theo mỗi người. Một số người có thể chẳng nhận biết được gì hết. Sự xuất hiện của nó phụ thuộc vào ý thức đang quan sát nó. Thêm nữa, nếu khảo sát quả bóng đó bằng ý thức con người, tôi có thể thấy rằng nó được làm bằng cao su, những sợi nhỏ, keo và không khí bên trong. Ở tầng bậc phân tích vật chất sâu hơn, nó được làm bằng các phân tử, được cấu tạo từ các nguyên tử, mà nếu phân tích xa hơn nữa là những hạt cơ bản. Nhưng vật lý học hiện đại không biết các hạt cơ bản đó thật ra là gì. (Trong cơ học lượng tử, chúng có vẻ như chẳng là gì ngoài những khả năng xuất hiện tùy phương tiện đo lường mà người ta sử dụng - khá giống với sự khác biệt giữa đôi mắt, của một con chim, của một con ong hay “ăng- ten” mà loài dơi sử dụng.)

Như vậy, quả bóng tennis của chúng ta trống không về bản chất cố hữu. Chúng ta gán nhãn cho một tập hợp các đặc trưng là “quả bóng tennis” và giả định nó là một hiện hữu chân xác, cụ thể. Thật ra, người ta chẳng thể nào tìm được một quả bóng tennis “thật sự”. Nhưng sự kiện các sự vật đều trống không cũng không có nghĩa là chúng không hể tồn tại; bởi chúng đang có mặt. Chúng có một sự hiện hữu. Phủ định điều đó tức là phủ nhận chân ỉý khách quan - chấp không (nihilism), một thuật ngữ đặc biệt trong Phật giáo. Và nói rằng các sự vật có sự tồn tại cố hữu - rằng chúng “thật sự có” - thì được gọi là chấp thường (eternalism). Trong Phật giáo, cả hai quan điểm này  đều được gọi là các biên kiến (những cái nhìn cực đoan) và bị xem là sai lầm. Theo Căn bản trung quán luận tụng (sa. Mũlamadhỵamaka-kãrikã) của đại sư Long Thụ (Nagarjuna): “Nói rằng nó là” là quan điểm của thuyết thường hằng. Nói rằng “nó không là” là quan điểm của thuyết hư vô. Do đó, người học không nên trụ vào hữu hay phi hữu”. Trung đạo nằm giữa hai cực đoan đó - các sự vật xuất hiện và do đó có một kiểu hiện hữu trước các tâm thức đang nhận biết và gán nhãn cho chúng, nhưng không có sự tồn tại cố hữu - được xem là chân lý tuyệt đối liên quan đến sắc tướng, có thể nói như vậy.

Bình thường thì chúng ta hay chấp vào các quan đỉểm cực đoanhư vô luận và thường hằng luận vì rằng đó là cách chúng ta đã được điều kiện hóa (đã được nuôi dưỡng, giáo dục và bị tập nhiễm). Chúng ta đã biến điều đó thành thói quen. Nhưng những niềm tin này, khi được khảo sát thấu đáo bằng cách sự dụng triết học về tính không của Trung quán (Madhỵamaka), sẽ bị tan thành từng mảnh. Chúng ta cũng có thể nhìn xuyên qua chúng - nhìn thấy sự hư không của chúng một cách trực tiếp - khi thiền định. (Phải tiếp cận tính không một cách cẩn thận, bởi nếu bị hiểu lầm là chẳng có gì hết, người ta sẽ tin rằng mình có thể dự phần vào bất kỳ hành vi nào mà chẳng bị bất kỳ hậu quả nào. Nếu mọi thứ đều là vô nghĩa - “có cái gì mà chẳng hoại diệt” - tại sao không xử sự tiêu cực bằng lòng tham, sự độc ác, lòng căm ghét, sự lãnh đạm...? Nhưng theo giáo lý đạo Phật, sự việc không phải như vậy - đây hoàn toàn chẳng phải là ý nghĩa của tính không).

Đức Phật cũng đã giảng dạy giáo lý vô ngã (anatman, trong tiếng Phạn) và đã vận dụng nó cho con người lẫn các hiện tượngngoại giới”. Điều này để nói rằng, giống như ví dụ quẫ bóng tennis, tính cách được giả định của chúng ta - “tôi” - chỉ là một tập hợp gồm những thành phần tương liên tương thuộc mà chúng ta gán nhãn là “cái tôi” hay “bản ngã”. (Tập hợp giả tạm là một thuật ngữ chuyên môn thú vị dùng để chỉ danh sách các thành phần của cái tôi). Thật dễ để thấy là, tính cách của chúng ta luôn thay đổi - hạnh phúc lúc này, buồn lúc khác, rồi giận dữ, bối rối... Chúng ta giả định có cái “chân ngã” nào đó đứng đằng sau tất cả sự đa dạng này, nhưng khi phần tích cho thật tính tường, người tạ chẳng hề tìm đầu ra một con ngườiở hậu trường” như vậy. Nhưng, một lần nữa, cái tôi ấy không phải là phi hữu. Các phẩm chất của chúng ta và cái nhãn chúng ta gán cho chúng - “tôi” - vẫn đang có mặt ở đó. Chỉ là chúng không có tính chất chắc đặc và sự độc lậpbình thường chúng ta vẫn giả định rằng chúng có. Việc nhìn thấu qua các giả định bình thường của chúng ta về cái tôi dẫn đến chân lýtự do.

 

Tái Sinhnghiệp quả

Mặc dù các đề tài tái sinhnghiệp quả chỉ được đề cập ngắn gọn trong cẩm nang hành thiền này; nhưng bất kỳ sự thảo luận nào về Phật giáo mà thiếu phần tái sinh (reincarnation)nghiệp quả (karma) cũng đều bất cập. Trong Phật giáo, người ta tái sinh theo hành vi đạo đức và sự tiến bộ tâm linh cùa mình. Có sáu cõi tái sinh - cõi địa ngục cực kỳ đau khổ, kết quả của giận dữ và hằn thù; cõi ngạ quỷ, cõi của ham muốn chưa được thỏa mãntâm tính keo kiệt; cõi súc sinh, cõi của vô mình và ngu dốt; cõi con người; cõi a-tu-la, nơi vẫn còn bị chi phối bởi lòng ghen ty; cõi của các thần tiên trường thọ vẫn còn bị chi phối bởi ngã mạn. Xin lưu ý rằng năm trong số sáu cõi này có liên quan tương ứng với ngũ độc (năm chất độc) - giận dữ, tham muốn, vô minh, ghen ty và ngã mạn. Cõi con người - được xem là thuận lợi nhất cho sự tiến bộ tâm linh - chứa đựng một hỗn hợp gồm toàn bộ ngũ độc.

Nghiệp (tiếng Phạn là karma, tức “hành động hay việc làm”) là một triết thuyết về nhân quả. Nếu bạn đức hạnh, tương lai của bạn sẽ là một tương lai hạnh phúc. Nếu bạn sống vô hạnh, bạn sẽ trải nghiệm sự khổ trong tương lai, tương tự như sự khổ mà bạn đã gieo cho người khác. Thật dễ để quan sát sự hoạt động của nghiệp quả trong ngắn hạn: Nếu chúng ta đối xử bạc ác với ai đó - thậm chí với ngay cả một con vật nuôi - chúng dễ có khuynh hướng trở nên bực tức, thậm chí là khó chịu, trong tương lai. Nếu xúc phạm đến cấp trên, chúng ta không thể nào được đề bạt như mong đợi. Trong Phật giáo, thuyết nghiệp quả rất tế vi và diễn ra trong nhiều kiếp. Hoàn cảnh hiện tại của chúng ta được xem như kết quả của thiện nghiệpbất thiện nghiệp tích tụ trải qua các kiếp tái sinh trước đây. (Đây chỉ là một sự miêu tả tổng quát về nghiệp quả. Chẳng hạn, thứ tái sinh luân hồi không phải là tính cách hay linh hồn theo khái niệm Kitô giáo. Nó thường được mô tả như thể một dòng tâm thức, nhưng ngay cả tư tưởng đó đôi lúc cũng bị xem là quá cụ thể).

Nếu luân hồi có vẻ mang tính chất tưởng tượng, thái độ chủ đạo trong xã hội hiện đại của chúng ta cung cấp nhiều niềm tin phủ nhận sự tái sinh luân hồi. Những niềm tin này bao gồm niềm tin không có sự tổn tại của các hiện tượng siêu hình, niềm tin rằng ý thức là sản phẩm của vật chất (tức là của não bộ), và niềm tin rằng khi não chết; ý thức phải biến mất. Nhưng, ngay trong vật lý học hiện đại, cách nhìn khoa học của nó về vật chấtnăng lượng sẽ bị các nhà khoa học sống cách đây một thế kỷ mô tả là “siêu hình”. Và khoa thần kinh học hiện đại cũng thừa nhận rằng không thể đo lường hay xác định cái biết hữu thức là gì.

Bạn có thể đọc cuốn sách của tiến sĩ lan Steven- son, từng là trưởng khoa Tâm thần tại Đại học Y khoa Virginia, where Reincarnation and Biology Intersect  (Nơi mà luân hồi và sinh học gặp gỡ) để tham khảo ý kiến của nhiều nhà khoa học về khái niệm luân hồi.

 

Thiền quán truyền thống

Trong truyền thống Theravada, dựa trên sự tập trung thanh tịnhan định, đạt được nhờ thực hành thỉền chỉ, người ta quán sát hết thảy mọi đối tượng của nhận thức - bên trong lẫn bên ngoài - và nhận biết tính chất hư không của hiện hữu. Thông qua sự nỗ lựcphối hợp, người ta tập cho minh quen với trí tuệ về tính không. Trong nhiều phương pháp để đạt đến điều này, có phép thiền tứ niệm xứ (về bốn nền tảng của quán niệm) như trong Satipatthana Sutra (kinh Tứ niệm xứ). Ở cách tiếp cận thứ nhất, người ta quán sát và đặt câu hỏi (vận dụng quán niệm) vào các giả định lẫn các nhận thức về thân, cảm xúc, tâm  và các hiện tượng. Bằng cách sử dụng kinh Tứ niệm xứ làm chỉ nam, tương tự, người ta cũng quán sát về thân, tâm, cảm xúc, chướng ngại, ngũ uẩn, ngũ cảnh, các yếu tố của giác ngộ, và tứ diệu đế. Kết quả là, trong trường hợp lý tưởng, người ta được giải thoát sự bám chấp vào các hình tướng này, những điều mà trong cách nhìn thông thường của chúng ta về chúng, là nền tảng của sinh tử luân hồi. Vậy nên thiền quán là một cuộc tập luyện để giải thoát. Như bạn có thể hình dung qua phần mô tả được trình bày ở đây, nó là một phong cách thiền định có tính hệ thống và khá chính quy. Nó đã được chính Đức Phật lịch sử shakyamuni tu tập và truyền dạy.

 

Sáu ba-la-mật

Tuy không được nói đến một cách trực tiếp, nhưng bốn chương đầu đã có đề cập đến một pháp mồn quan trọng khác của Phật giáo - sáu ba-la-mật (tiếng Phạn là paramita). Đấy là sự rộng lượng (bố thí), đạo đức (trì giới), nhẫn nại, cố gắng một cách kiên định (tinh tấn), thiền địnhtrí tuệ. Thực hành chuyên cầnnhất quán những điều này trong cuộc sống là một phần hết sức quan trọng trên con đường đạt đến giác ngộ. Sự rộng lượng bao dung giúp mang lại một tâm thức rộng mở như đã để cập trong suốt quyển sách này. Đạo đức mang lại nền tảng vững chắc cho yiệc tu tập. Kiên nhẫn vừa là một phương cách để sống từ ái với tha nhân, vừa là một hình thức của thư giãn - cho phép chúng ta tránh sự bận tâm đến các kỳ vọng. Chuyên cần giúp chúng ta tiến bước một cách vui vẻ trên con đường. Thiền định - được tinh luyện thông qua thiền chỉthiền quánthuần hóa và mài bén tâm thức của chúng ta cũng như làm cho nó trở nên tinh khiết để có thể trải nghiệm được trí tuệ.

Sáu ba-la-mật (sáu sự viên mãn) trở thành sáu chứng đắc siêu việt khi chúng được thực hành theo phương cách bất nhị. Ở đây, tính không được kết hợp chặt chẽ. Chẳng hạn, khi thực hành rộng lượng (bố thí), sự thực chứng tính không chỉ rõ chẳng hề có người cho đi nào tách rời, riêng biệt, độc lập. Tương tự, tuyệt đối không hề có hành vi cho đi thật sự nào hết, mà cả vật cho đi cũng vậy. Tất cả những thứ đó đều tương liên tương thuộc với nhau, không có tự tính thật sự - không có người cho, sự cho và người nhận thật sự nào cả. Như Đức Phật từng nói: “Hình tướng như huyễn của Như Lai xuất hiện trước mắt những con người như huyễn để chỉ cho họ thấy con đường như huyễn dẫn đến sự giác ngộ như huyễn”. Sự thấu hiểu bất nhị là mối quan tâm chính trong các chủ đề của ba pháp thiền sau trong cuốn cẩm nang này: Đại thừa, Kim cương thừa và Đại viên mãn.

Tạo bài viết
26/08/2013(Xem: 37613)
03/09/2018(Xem: 7107)
28/01/2011(Xem: 242732)
19/04/2014(Xem: 18351)
16/09/2015(Xem: 11213)
25/05/2014(Xem: 9187)
Chúng đệ tử Phật Việt Nam, trong nước cũng như ngoài nước, cùng chung một huyết thống tổ tiên, cùng tôn thờ một Đức Đạo Sư, hãy cùng hòa hiệp như nước với sữa, thì ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích và an lạc. Hãy quên đi những bất đồng quá khứ và hiện tại trong các hoạt động Phật sự, hãy quên đi những lỗi lầm của người này hay người kia, cùng hòa hiệp nhất trí hoằng dương Chánh Pháp trên cơ sở giáo nghĩa được lưu truyền trong Tam tạng Thánh giáo, để không phụ công ơn tài bồi của các Sư Trưởng; công đức hy sinh vô úy của chư vị Tăng Ni, Phật tử, vì sự trong sáng của Chánh Pháp, vì sự thanh tịnh và hòa hiệp của Tăng già, đã tự châm mình làm ngọn đuốc soi đường cho chúng ta ngày nay vững bước trên Thánh đạo.
"Giáo dục là vũ khí mạnh nhất để thay đổi thế giới. Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào, không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. - Bệnh nhân chết dưới bàn tay các bác sĩ của nền giáo dục ấy. - Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay các kỹ sư của nền giáo dục ấy. - Tiền bị mất trong tay các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục ấy. - Nhân loại chết dưới bàn tay các học giả tôn giáo của nền giáo dục ấy. - Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục ấy. - Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia".
Thứ Bảy ngày 27 tháng 11 năm 2021 vừa qua, vào lúc 10 giờ sáng (giờ Việt Nam) Hội đồng Hoằng Pháp (GHPGVNTN) đã tổ chức đại hội lần thứ I trực tuyến qua hệ thống Zoom. Trước đó, các thông báo về tin tức đại hội được loan tải trên trang nhà Hoằng Pháp, công bố chương trình nghị sự và thời gian tổ chức.