Phật Giáo Tại Bangladesh

10/10/201012:00 SA(Xem: 11009)
Phật Giáo Tại Bangladesh

Phật Giáo tại Bangladesh
Dr. Sitangshu Bikash Barua 
Nguyễn Văn Hòa Việt dịch

Tổng số dân chúng của nước Bangladesh trong năm 2004 vào khoảng 125 triệu người với một triệu Phật tử sống ở các thành phố Chittagong, Chittagong Hill Tracts, Comilla, Noakhali, Cox Bazar và Barisal. Những Phật tử của nước Bangladesh thuộc bốn nhóm của các quốc gia đã từng bước được pha trộn với nhau. Các nhóm là Austic, Tây Tạng-Miến Điện, các Draviyans và người Aryan.

Theo các nhà sử học thì nhóm Tây Tạng-Miến Điện bao gồm 3 bộ tộc -bộ tộc Pyu, bộ tộc Kanyan và bộ tộc Thét (Chakma). Các bộ tộc Chakma sống trên mảnh đất lịch sử của họ ở Chittagong Hill Tracts. Bộ tộc Kanyan được biết đến như nhóm người Rakhine (Arakanese) vẫn còn sống ở phía Đông Nam của Chittagong. Những người Phật tử ở phần đồng bằng của Bangladesh được gọi là Phật giáo Burua các dân tộc cổ xưa của Bangladesh đã sống ở đây 5000 năm dựa theo niên đại của người Arakanese. Họ khẳng định rằng họ đến từ Aryavarta hoặc quốc gia của người Aryan mà thực chất là giống như quốc gia mà sau này gọi là Majjhimadesh hoặc Madhyadesh trong văn học Pali.

Vào thế kỷ thứ 6 trước tây lịch, Đức Phật đã thuyết giảng Phật pháp trong vùng Majjhimadesh còn được gọi là vùng Trung Châu trong nước vùng này trải dài ở phía đông từ thị trấn Kajangal, qua đó là thành phố Mahasal; ở phía đông nam đến tận dòng sông Salalavati; ở phía nam bao gồm thị trấn Satakannika; ở phía tây đến quận Brahman của tỉnh Thumo; ở phía bắc đến tận rặng núi Usiradhaja. Ngài đã du hành trong những địa hạt này với đôi chân trần trong việc truyền bá Phật pháp. Phật tử tin rằng Đức Phật là vị toàn trí, toàn năng. Bất cứ khi nào Ngài nhìn với cặp mắt toàn trí của Ngài, Ngài có thể ban bố những thiện duyên vì lợi ích của thế gian, với lòng từ bi Ngài thường ban phước báu; và bất cứ nơi nào Phật pháp được nở rộ, Ngài cũng đến đó để thiết lập đạo pháp ngay cả ở thiên đường Tavatims. Tạp chí Dhannyawadi Chronicles thì ghi rằng tôn tượng Đức Phật được gọi là Maha Mrat Muni (Đức Thích Ca Mâu Ni) đã được điêu khắc với sự hiện diện của chính Đức Phật. Ông Maurice Collis trong tác phẩm "The Land of Great Image" đã nói rằng tôn tượng Đức Phật này đã bị đoàn quân chiến thắng Bhama lấy qua Mandalaya vào năm 1784. Theo Anguttaranikaya và Majjhimanikaya Đức Phật đã đến Kajangal và đã thuyết giảng cho các Phật Tử nơi đây hai lần. Nhưng không có tài liệu nào chứng minh rằng Đức Phật đã tới bất cứ vùng nào của Bangladesh để thuyết giảng. Cũng có giả thuyết cho rằng giáo pháp của Đức Phật lan truyền đến Bangladesh trong thời gian Đức Phật còn tại thế là nhờ có một hai tăng sỉ người Bangal đã tìm đến qui y thọ giáo với Đức Phật.

Một lần nữa, chúng tôi không có bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng Phật giáo đã được truyền giảng ở Bangladesh trong suốt cuộc đời của Hoàng đế Asoka Mauryan. Theo truyền thống sau khi Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ 3 tại Pataliputra, hai vị cao tăng Sonak và Uttara đã đến các xứ mang tên gọi chung là Suvarnabhumi (nay là bán đảo Đông Dương) để truyền bá Phật Giáo. Gần đây một trong những học giả nghiên cứu đến từ Ấn Độ và nói với tôi rằng ông đã tìm thấy một trụ đá Asokan trong Damrai gần thành phố Dhaka là thủ đô của Bangladesh và ông đang cố gắng để tìm hiểu làm thế nào mà trụ đá Asoka có mặt tại nước Bangladesh. Có một hoặc hai trường hợp khác, chẳng hạn như người ta tìm thấy hai chữ khắc vàng ở Sanchi ghi lại những phẩm vật của hai cư dân ở Purnavardhan (Pundravardhan) cho thấy tồn tại của Phật giáo ở Bangladesh trước kỷ nguyên Kitô giáo.

Trước khi chúng tôi thảo luận về việc truyền bá Phật Giáo ở Bangladesh, chúng tôi muốn đề cập đến những Hội Đồng Tăng Sỉ Phật Giáo. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn , Hội Đồng Tăng Sỉ đầu tiên được tổ chức tại Thành Vương Xá dưới sự bảo trợ của Vua A Xà Thế để kết tập Tam Tạng duy trì những lời dạy của Đức Phật cho hậu thế. Hội Đồng Tăng Sỉ lần thứ nhì được tổ chức tại Tỳ Xá Vệ trong thời trị vì của vua Kalasoka một trăm năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Hội Đông Tăng Sỉ lần thứ ba được tổ chức tại Hoa Thị Thành (Pataliputra) dưới thời trị vì của vua A Dục (Asoka). Trong thời kỳ này nhiều tông phái Phật Giáo được hình thành và phát triển. Nhiều kẻ kém đạo đứcnhân phẩm cũng cố gắng thành lập những tông phái theo đường lối riêng của họ. Cuối cùng tất cả những người này cũng thu xếp tổ chức một Đại Hội Đồng Tăng Sỉ ở Puruspura hoặc Jalandhar dưới sự lãnh đạo của Đại Đế Kanishka. Hội đồng này được gọi là hội đồng của các Dị Tăng. Hội đồng này không thu thập kinh điển mà chỉ thu thập những chú giải được gọi là Vibhasha-Shastra. Trong hội đồng một bộ kinh điển mới viết bằng tiếng Sanskrit được chuẩn nhận cùng với những nguyên tắc căn bản của Đại Thừa. Dưới ảnh hưởng của Hội đồng, những tác phẩm của các học giả như Asvaghosa, Parsva, Vasumitra cùng với sự khuyến khích, hổ trợ của hoàng gia, Phật Giáo Đại Thừa đã phát triển không ngừng qua vùng Trung Á, đến Trung Hoa và rồi đến Triều TiênNhật Bản. Đồng thời Phật Giáo Đại Thừa cũng được truyền bá đến khắp các quốc gia Đông Nam Á, qua tận quần đảo Java và Borneo của Nam Dương. Với sự phát triển của Phật giáo Đại Thừa, một trung tâm giáo dục Phật giáo to lớn đã được thành lập tại Nalanda. Ngài Nagajuna cũng đã sống nhiều năm nơi đó. Trong thời đại đế chế Gupta, trung tâm Nalanda đã phát triển cả về tầm vóc cơ sở, nhân sự lẫn sự quan trọng của nó cho đến khi được trở thành một viện đại học Nalanda vỉ đại cùng một lúc có đến từ 3 tới 10 ngàn tăng sỉ nội trú để giảng dạy và thụ huấn, và nơi đó rất nhiều bộ môn khác nhau đã được giảng dạy chẳng hạn như Phật học, Luận lý, Triết lý, Luật pháp, Y học, Ngữ học, Thiền học, Thần Lực học, và Chiêm Tinh học. Viện Đại Học Phật Giáo Nalanda đã nhận được sự bảo trợ của nhiều đời vua trong nhiều đế chế và đã phục vụ như một trung tâm giáo dục quốc tế vỉ đại cho đến khi bị quân Turks tiêu hủy vào năm 1750 Phật Lịch (1200 Tây Lịch) 


Phật giáo phát triển mạnh ở Bangladesh vào đầu thời kỳ của đế quốc Gupta điều đó cho thấy Phật giáo đã hưng thịnh ở các thành phố khác của Bangladesh trong những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô giáo. Bây giờ thì đã rõ ràng rằng Phật giáo trong thời gian đó là những người theo tông phái Phật giáo Đại thừa. Trong tập ký sự của Cao Tăng Pháp Hiển đã đề cập đến hành trình của mình (399-414 AD) trong đó có viết về Vương quốc Champa ở bờ Nam của sông Hằng khi ông đi qua có nhiều bằng chứng về sự sinh hoạt của Phật giáo mà chủ yếu là Phật giáo Đại Thừa. Trong thế kỷ thứ 7, Cao Tăng Hiền Trang, một học giả du tăng nổi tiếng của Trung QuốcẤn Độ, đã ghi lại nhiều trường hợp đàn áp Phật giáo của vua Sasanka, Gouda (Tây Bắc một phần của Bengal). Ngài đã ghi lại Phật giáo Đại thừa ở nhiều tỉnh khác nhau của xứ Bangladesh với một số giáo phái Thượng Tọa Bộ (Sthavir).

Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 12, giáo phái Đại Thừa đã có một thời kỳ vàng son ở Bangladesh, một số những tu viện lớn ở Paharpur, Somapura, Jagaddal, Vikrampur, Pattikeraha đã được thành lập. Các học giả như Sree Dipankar Atish, Shilabadra, Shantiraksit xuất hiện ở Bangladesh cùng với công trình học thuật của họ đối với các trường phái Đại Thừa, cuối cùng hấp thu phép tu thiền định của Kim cương thừa, Phật giáo Mật tông (Tantricism).

Phật giáo Mật tông đã bỏ những giáo lý nguyên thủy của Đức Phật. Họ không theo nguyên tắc cơ bản của Phật giáo. Ngay cả các nhà sư của cộng đồng Phật giáo đã phạm giới luật . Nhìn thấy sự sụp đổ của Phật giáo ở Bangladesh nhiều nhà sư và những người thế tục đã cố gắng để khắc phục tình trạng này. Trong thế kỷ thứ 15 (theo Tiến sĩ Heinz Bechert) một thành viên của Hoàng gia có tên là "Keyakcu" của Cakaria đến thành phố Moulmein ở Miến Điện và được thọ giới xuất gia dưới sự giám hộ của Ven. Sharbu. Ngài được pháp danhTỳ Kheo Ven. Chandrajyoti và ở lại 20 năm tại Miến Điện để học kinh điển. đã đến thành phố Chittagong và thành lập Asrams trong các thành phố Sitakunda, Haidgaon gọi là Cakrasala, cendirpuni, thegarpuni, Chittagong, Ramu vv cho công việc hoằng dương Phật Giáo Nguyên Thủy. Tuy nhiên, ngài không tổ chức truyền thống Tăng đoàn Phật giáo ở Bangladesh. Những người dân của Bangladesh vẫn còn chưa hiểu rõ về Phật Giáo Nguyên Thủy. Tiến sĩ BM Barua viết "Phật giáo được thịnh hành trong thế kỷ 19 ở miền Đông Ấn Độ bao gồm cả thành phố Chittagong, vùng đồi núi Chittagong, Tipera, Laksham và Comilla không phải là Phật giáo Nguyên Thủy. Đó là một hỗn hợp của phép tu thiền định của Kim cương thừa (Tantric), Ấn Độ giáo và các tông phái khác của Phật giáo.

Kim cương thừa (Tantrayana) sau này dần dần chia thành ba giáo phái khác nhau: Pháp thời luân Kim Cang (Kala-Chakrayana) là một pháp tu thuộc về bộ Tối Thượng Du Dà của Mật Tông Tây Tạng, Kim Cương thừaPhật giáo Sahajayana . Phật giáo Sahajayana đã kết hợp với các tông phái Ấn Độ giáo (Hindu), như tông phái Sivaite và Vaisnavaite mà về sau đã trở thành các tông phái nổi tiếng Nath, Bauls, Avadutas v.v... Kết quả là các vị tu sĩ Phật giáo đã không tuân thủ giới luật Patimokkha và các cư sĩ đã mất đi lý tưởng Phật giáo của họ. Họ bắt đầu thờ phượng Durga, Kali, Laksmi, Manasa, Saraswati, Kartika và nhiều vị thần và thần nữ khác. Họ thường cử hành những nghi thứcnghi lễ không có liên hệ tới truyền thống Phật giáo." 

Nhiều Phật tử đã cố gắng để sửa đổi những hành vi hủ bại này mà thời đó đang được các Phật tử của Bangladesh tin theo. Ven. Cainga Bhikkhu của Pahartali, Chittagong đã đến thăm Mrohang (Mijhan), cố đô của Arakan và đã được chiêm ngưỡng tôn tượng toàn mỹ của Đức Mahamuni được thờ phụng trong một ngôi chùa thanh tĩnh. Ông đã lập tức vẽ ra một bức họa giống hệt như tôn tượng này với đầy đủ chi tiết bao gồm chiều cao, vòng kính của tôn tượng, vv ... Sau khi trở về, ông đã khởi công xây dựng tôn tượng Mahamuni với sự giúp đỡ của một số nhà điêu khắc Arakanese. Dù cố gắng Ông cũng không thể thành lập một Tăng đoàn Phật giáo. Ven. Pannasar Mahasthavir (Khetromohan) của Raozan đi Miến Điện để nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Ông trở về xứ sở và cố gắng sửa đổi các nhà sư hủ bại của Bangladesh nhưng vô ích. Sau đó, ông đã rời Bangladesh trong sự thất vọng.

Người dân Bangladesh đã lo lắng về tương lai của Phật giáo trong xứ sở họ. Nhiều người như Bhikkhu Chandramohan, Radhu Mathe đã suy nghĩ về việc làm thế nào để cải thiện tình trạng này. Tại thời điểm quan trọng này Thượng Tọa Saramedh Mahasthavir của Arakan đến thăm Ấn Độ qua một cuộc hành hương. Trong chuyến đi, ông gặp một tăng sỉ của Barua Raoli tên là Radhu Mathe (Radharam Mahasthavir). Thượng Tọa Radharam Mahasthavir rất thông thạo tiếng Miến Điện (Arakanese), tiếng Phạn và tiếng Pali. Ông đã thảo luận tình hình thực tế của Phật giáo ở Bangladesh với Thượng Tọa Sangharaj Saramedha Mahasthavir và mời Thượng Tọa đến Bangladesh. Trong khi đó, lãnh thổ Chakma là một nhà nước phong kiến do chính phủ Anh bảo hộ và người trị vì Chakma là hoàng hậu Kalindi (1830 - 1873).Bà cũng mời Ven. Sangharaj Saramedha Mahasthavir đến Bangladesh. Năm 1864 Ven. Sangharaj Saramedha đến Chittagong và tháp tùng với Ngài là một phái đoàn gồm các tăng sĩ được đào tạo đầy đủ ngỏ hầu có thể truyền bá đạo pháp thâm sâu hơn cho những người tha thiết tìm đạo. Sau đó Ngài dừng chân tại Pahartali Mahamuni ở Chittagong. Trong thời gianlễ hội "Mahamuni Fair" hàng năm rất nhiều Phật tử tập trung nơi đây và vào dịp tốt lành đó, ông đã làm lễ thọ ty kheo giới cho bảy tu sĩ Chittagong của Udaka-Ukkhepa, Sima của Hancoar-Ghona gần làng Mahamuni. Đây là buổi lễ lịch sử Upasampada đầu tiên ở Chittagong mà Phật Giáo Nguyên Thủy đã chính thức chủ lễ. Các vị vua cổ đại của Arakan đã tạo ra một tiền lệ tôn vinh các Tỳ Kheo nổi tiếng, người đã hiến thân cho đạo pháp, bằng những sắc phục và danh xưng rất được sùng kính. Ven. Saramedha đã được chính phủ Anh vinh danh với một danh hiệu tối cao. Đây là lý do tại sao ông đã được nhiều người biết đến với danh xưng là "Sangharaj" và các đệ tử của ông đã thành lập tổ chức Phật Giáo Nguyên Thủy nổi tiếng có tên là "Sangharaj Nikay."

Tạo bài viết
Chùa Hương Sen tổ chức 3 tours hành hương từ ngày 02/09/2019 đến ngày 07/10/2019
12 cầu thủ nhí của đội bóng Thái Lan và Ban Huấn luyện, những người cách đây một năm đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới khi hơn hai tuần bị mắc kẹt trong hang động Tham Luang ngập nước, đã có buổi kỷ niệm bằng nghi thức Phật giáo vào ngày 24-6.
Đức Đạt Lai Lạt Ma tròn 84 tuổi vào ngày 6 tháng 7 và dường như ông đã suy nghĩ rất nhiều về người kế vị - đặc biệt về ngoại hình.