Tiểu Sử Pháp Sư Cưu Ma La Thập

09/06/201012:00 SA(Xem: 20075)
Tiểu Sử Pháp Sư Cưu Ma La Thập

GIẢNG GIẢI KINH DUY MA CẬT
Tác giả Lê Sỹ Minh Tùng

Tiểu Sử Pháp Sư Cưu Ma La Thập [Audio]

Pháp sư Cưu Ma La Thập tiếng Phạn là KUMARATRA gốc người Ấn Độ sinh ra trong thời Diêu Tần tức khoảng 400 năm sau Tây lịch và gần 1000 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Ngài là người trí tuệ vô song, làu thông tam tạng kinh điển nên được gọi là Tam Tạng Pháp Sư.

Khi còn ở Ấn Độ, dòng họ của Ngài là một gia đình nối truyền nhau làm quan Tướng quốc (chức Thủ tướng ngày nay) đến khi thân phụ ngài là Cưu Ma La Viêm (Kumarayàna) thì ông nầy bỏ ngôi Tướng quốc, xuất gia tu Phật và xuất ngoại vào nước Cưu Ty, miền Tây vực nay thuộc tỉnh Tân Cương, Trung Hoa. Quốc vương nước nầy rất kính mến nên phong ông làm Quốc sư. Nhà vua có người em gái tên là Kỳ-Bà (Jivà) mới hai mươi tuổi mà tư chất thông minh xuất chúng nên muốn đem ép gả cho Cưu Ma La Viêm. Sau đó sinh ra ngài Cưu Ma La Thập. Tuy tuổi rất trẻ nhưng ngài đã biểu hiện nhiều thiên tài thần diệu. Lúc lên bảy tuổi ngài theo mẹ vào chùa để xuất gia, thấy một cái bình bát làm bằng thiết thì ngài liền lấy đội lên đầu. Lúc ấy trong tâm ngài phát sinh ý niệm cái bình bát nầy rất nặng thì bổng nhiên cái bình bát nặng lên mấy trăm lần. Nhưng điều thần diệutự nhiên trong ngài sinh lực cũng tăng lên mấy trăm lần tương xứng với sức nặng của bình bát để giúp ngài đủ sức đội. Từ đó mà ngài thấu được câu:”Vạn Pháp Duy Tâm” có nghĩa là tất cả mọi việc trong thế gian nầy đều do tâm mình tạo. Khi tâm mình nghĩ thiện thì có cảnh thần tiên, ngược lại nếu tâm mình nghĩ ác thì thấy cảnh địa ngục, A-tỳ.

Sau khi xuất gia không lâu, ngài học hiểu, thông suốt tất cả tam tạng kinh điển và phát sinh đại trí tuệ. Ngài có biện tài vô ngại nên nhà vua rất quý trọng bèn sai đúc một cái pháp tọa bằng con sư tử vàng để ngài ngồi lên mà thuyết pháp.

Bấy giờ ở bên Trung Hoa vào đời nhà Đông Tấn có vua Tần Phù Kiên của nước Tần vì nghe đại danh của ngài Cưu Ma La Thập nên sai đại tướng Lữ Giang cử bảy vạn binh đánh vào Tây vực buộc vua nước Cưu Ty phải giao Pháp sư cho họ. Vua nước Cưu Ty khước từ nhưng cuối cùng bị thất trận đành phải giao Pháp sư cho vua Tần. Khi vừa đến đất Lương Châu thì nghe tin vua Tần Phù Kiên bị ông Dao Trành giết chết, Lữ Giang tự chiếm đất Lương Châu và tự phong mình làm vua là Tam Hà Vương, lập ra nhà Hậu Lương.

Vua Dao Trành lập ra triều đại Hậu Tần mà kinh điển thường gọi là Dao Tần hay Diêu Tần. Vua Dao Trành qua đời con là Dao Hưng lên nối ngôi mới cất binh qua đánh vua Lữ Giang, nhưng Lữ Giang vừa qua đời con là Lữ Long lên thay chịu đầu hàng. Nhà vua liền rước Pháp sư về Tràng An, tôn làm Quốc sư và ngự tại Tiêu Diêu Viên và Tây Minh Các để kiểm duyệt lại tất cả kinh điển.

Pháp sư Cưu Ma La Thập xem xét lại kinh điển thì thấy phần lớn đều sai lệch chẳng đúng với phạm-bản liền cho mời các vị danh tăng như Tăng Triệu, Tăng Duệ, Tăng Lãnh, Đạo Sanh, Đạo Dung, Đạo Hằng, Huệ Quang, Huệ Nghiêm, Đạo Thường, Đạo Phiêu mà được người đời gọi là :”Thập môn, Thập triết” tức là mười nhà, mười vị bác học cùng với các vị Đại đức khác tổng cộng trên 108 người cùng nhau dịch ra các bản kinh luật mới, trước sau hơn 390 quyển.

Trước khi lâm chung, ngài Cưu Ma La Thập cho mời tăng chúng đến dặn rằng:

- Sau khi ta mệnh chung, hãy đem nhục thể của ta hỏa thiêu. Nếu quả thực các kinh điển do ta phiên dịch không có điều gì sai lầm thì lưỡi của ta không bị hoại. Còn như nếu là sai với tâm ý của Phật thì lưỡi của ta tất bị thiêu hóa.

Sau khi lửa tàn, thi thể cháy hết mà lưỡi của Pháp sư vẫn giữ màu hồng tươi như khi còn sống. Xem như vậy mới biết rằng tất cả các kinh do ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch hoàn toàn không sai lạc, thật đúng với tâm ý của Phật.
Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 41475)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!