08 Phẩm Phật Đạo

09/06/201012:00 SA(Xem: 9258)
08 Phẩm Phật Đạo

GIẢNG GIẢI KINH DUY MA CẬT
Tác giả Lê Sỹ Minh Tùng

Chương Thứ Tám
Phẩm Phật Đạo
[Audio]
CON ĐƯỜNG PHẬT

(The Family of the Tathagatas) 

Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi nói:

- Thưa ngài Duy Ma Cật! Bồ-tát phải làm gì để con đường Phật được thông suốt.

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Bồ-tát muốn con đường Phật được thông suốt, phải đi con đường ngược lại. Đi con đường ngược thì con đường Phật sẽ thông suốt.

Bồ-tát Văn Thù hỏi:

- Đi con đường ngược, Bồ-tát phải đi như thế nào?

Ông Duy Ma Cật đáp:

- Bồ-tát đi vào ngũ vô gián mà không buồn rầu giận dữ. Vào địa ngụctự tâm không có tội lỗi cấu uế. Đến với súc sanh mà không có vô minh, kiêu mạn. Đến với ngạ quỷ mà đầy đủ công đức lành. Đi vào con đường dục giới, sắc giới, chẳng cho đó là được may mắn hơn.

Giả đi vào con đường tham dụcxa lìa các sự đắm nhiễm dính mắc.

Giả đi vào con đường sân nhuế mà đối với chúng sinh không giận dữ thù hằn.

Giả đi vào ngu sithường dùng trí tuệ điều phục tâm mình.

Giả đi vào con đường xan tham mà xả bỏ thân tâm, của cải cho đến thân mạng cũng không lẫn tiếc.

Giả đi vào đường phạm giớitâm an trụ tịnh hạnh, dù tội lỗi nhỏ cũng răn sợ không cho sai phạm.

Giả đi vào con đường giải đải mà hằng siêng tu công đức thiện.

Giả đi vào đường loạn ý mà thường nghiếp niệm định tâm.

Giả đi vào con đường ngu sithông hiểu hết việc thế gianxuất thế gian một cách đứng đắn.

Giả đi vào con đường siểm trá mà khi kết quả thì đúng với ý nghĩa kinh, hợp lời Phật.

Giả đi vào con đường kiêu mạnthực chất là làm cầu đường chuyên chở chúng sinh.

Giả đi vào con đường phiền não mà tâm thường thanh tịnh trong sáng.

Giả đi vào con đường ma mà thuận theo trí tuệ Phật không nghe theo sự cám dỗ của bọn ma.

Giả đi vào đường Thanh văngiáo hóa chúng sinh bằng pháp đại thừa.

Giả đi vào đường Bích chi Phật mà đi truyền đạt cho chúng sinh tư tưởng đại bi của Phật.

Giả đi vào hàng nghèo khócủa báu công đức trong tay vô tận.

Giả đi vào đường trau dồi trang điểm sắc diện như người thường mà đầy đủ các tướng hảo tự trang nghiêm thân.

Giả đi vào đường hạ tiện mà thực chất sanh trong giòng Phật, bên trong có đầy đủ công đức.

Giả đi vào đường của hạng người quê mùa, yếu đuốithực chất được thân tráng kiện na la diên, chúng sinh đều rất ưa nhìn.

Giả đi vào đường lão bệnh mà dứt hẳn bệnh căn, vượt ra sự sợ sệt chết chóc.

Giả đi vào đường kinh doanh sinh sống mà hằng quán vô thường, không để lòng tham luyến.

Giả có thê thiếp mà thường viễn ly bùn lầy ngũ dục.

Giả hiện như người đần độnbiện tài vô ngại, nhờ ghi không sót.

Giả đứng phe tà mà lấy chánh lý giúp hộ chúng sinh.

Giả hiện đi vào các luân hồi mà đoạn hết nguyên nhân sanh tử, ưu bi khổ não.

Giả hiện ở Niết bàn mà không dứt hết hạt giống sanh tử.

Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ-tát đi vào con đường trái ngược như thế, Bồ-tát sẽ đi một cách thông suốt con đường Phật.

Bồ-tát phải làm gì để đi con đường Phật được thông suốt, không bị trở ngại? Đó là “Bồ-tát hành phi đạo thị vi thông đạt Phật đạo” nghĩa là nếu muốn đi theo con đường Phật được thông suốt thì Bồ-tát phải đi ngược lại con đường chúng sinh đi. Phật đạocon đường dẫn dắt chúng sinh đến chỗ giải thoát giác ngộ. Còn đường của chúng sinhthuận lưu sanh tử tức là xuôi theo dòng sanh tử mà đi. Vì thế nếu muốn đi con đường Phật viên mãn thì Bồ-tát phải đi ngược dòng sinh tử nầy. Thông thường thì dòng sinh tử là khuyến khích con người làm lành, lánh dữ, bỏ ác phục thiện. Bây giờ phi đạo tức là trái đạo hay đi ngược lại dòng sinh tử nghĩa là con đường xấu ác, tội lổi, bất thiện…Vậy tư tưởng của ông Duy Ma Cật có mâu thuẩn với Phật pháp chăng?

Bồ-tát tự nguyện thị hiện vào đời để cứu giúp chúng sinh thì chắc chắn phải đối diện với thuận hay nghịch cảnh. Nếu gặp thuận cảnh, gặp người hiền lành chất phát siêng năng chăm chỉ tu hành thì việc độ sanh tương đối dễ dàng cũng như chiếc tàu buồm nương theo chiều gió mà thánh thoát lướt tới. Nhưng thế gian là biển khổ trầm luân, con người lặn hụp trong cõi đời ô trược, lấy khổ làm vui vì thế Bồ-tát dám thị hiện vào trong nghịch cảnh để làm những việc khó làm, vào những chỗ tội lổi xấu xa như trà đình tửu điếm, đầu trộm đuôi cướp để giáo hóa cứu độ chúng sinh đưa họ thoát ra khỏi chốn bùn lầy tanh hôi dơ dáy. Các ngài thị hiện làm kẻ tham-sân-si, ham mê sắc dục, làm kẻ phá giới, làm người gian ác để làm gương cho chúng sinh thấy đó mà xa lánh. Các ngài hiện thân ngay cả vào địa ngục, làm ngạ quỷ hay súc sanh nhưng vẫn an nhiên và không vướng mắt sinh tử luân hồi. Với tâm đại từ, đại bi, đại hùng, đại lực các ngài thương tất cả chúng sinh, người tốt cũng thương mà người xấu ác lại càng thương hơn. Vì thế các ngài thị hiện tùy theo căn tánh của chúng sinh mà cứu vớt họ, khuyên nhủ họ lánh xa tội lổi, tu tâm dưởng tánh và trở về với chánh đạo. Dù hiện thân là gì đi chăng nũa, tâm Bồ-tát lúc nào cũng như như bất động vì vậy cho dù các ngài có vào những nơi nhiều cám dỗ hưởng thụ dục lạctâm không hề khởi vọng niệm, không phân biệt chấp trước nên lúc nào cũng an nhiên tự tại không bị ô nhiễm. Có đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu thì Bồ-tát mới gần gũi, thân cận và cảm thông được với hoàn cảnh của chúng sinh mà tạo cơ hội cứu giúp họ. Nên nhớ muốn làm những chuyện khó làm thì chính mình phải có đủ bản lãnh nếu không thì việc mình độ đời hóa ra mình bị đời độ lại nghĩa là chẳng những không cứu giúp được ai mà chính mình cũng bị sa vào vòng đọa lạc. Không biết bơi thì đừng làm anh hùng nhảy xuống sông cứu người đang chết đuối hoặc là thuyền mình nhỏ bé thì đừng mạo hiểm đi vào chốn biển to sóng lớn.

Dựa theo tư tưởng của Phật giáo Mật tông Tây Tạng thì họ chuyển hóa tất cả lạc thú thành kinh nghiệm siêu việt. Đó là thay vì tránh xa lạc thú thế tục, mật tông Tây tạng khuyên con người cứ tự nhiên hưởng lạc, nhưng chuyển cái năng lượng của lạc thú thành con đường hiệu nhiệm đưa đến sự toại ýgiác ngộ hoàn toàn. Khoái lạc tự chúng không là vấn đềvấn đề chính là sự bám víu chấp thủ vào khoái lạc. Do đó con người tha hồ vui thú mà không bị những rắc rối kèm theo sự tìm kiếm khoái lạc. Thật ra tư tưởng nầy không có gì mới lạ đối với giáo lý Phật giáo đại thừa vì sáu căn và sáu trần tự chúng là bản nhiên thanh tịnh không bị ô nhiễm. Nhưng khi sáu căn đối diện với dục lạc, tâm liền phân biệt mà phát hiện ý niệm ham muốnbám víu, chấp thủ lấy dục lạc. Vì thế Phật giáo Đại thừa rất cẩn thận mà dạy chúng sinh kiềm chế tâm tham dục thay vì tha hồ chạy theo tham dục. Chúng taphàm nhân chớ đâu phải là Bồ-tát, không mặc áo quần chống lửa thì đừng chạy vào nhà đang cháy để cứu người.

Khác với các vị Bồ-tát giả hiện vào cảnh xấu, làm các việc xấu nhưng tâm vẫn an nhiên tự tại, không bị bụi trần làm ô nhiễm, các vị A La Hán trong hàng Thanh văn thì cố chấp không dám làm những chuyện phi đạo. Thấy nhà cháy mà không dám vào cứu cô gái đẹp vì sợ phải ẳm bồng. Cũng như ông Xá Lợi Phất thấy hoa trời xinh đẹp, thơm ngát mà không dám ngữi vì sợ phạm giới. Đối với hàng tu theo nhị thừa như Thanh văn, Duyên giác thì cứu cánh vẫn là thoát ly sanh tử luân hồi, lánh xa thế tục để tâm được thanh tịnhchứng đắc Niết bàn. Đây là con đường tự giác mà họ không tha thiết nghĩ gì đến phần giác tha là cứu giúp tất cả chúng sinh vẫn còn lặn hụp trong biển sinh tử trầm luân khổ não. Vì thế Bồ-tát lại thị hiện làm thân A La Hán hay Bích Chi Phật để tiến tu, phát Bồ-đề tâmviên thành Phật đạo để làm gương cho họ tu theo. Có tự độ rồi độ tha hay tự giác rồi giác tha thì đạo Phật mới tồn tại, chánh Pháp mới được lưu truyềndĩ nhiên chúng sinh mới có cơ hội quay về với chánh đạo. Nếu tự giác mà không giác tha thì đạo Phật sẽ chết, ai cũng xa lánh chốn bụi trần vào tận rừng sâu u tịch mà tu thì chân lý huyền diệu nhiệm mầu của Như Lai cũng theo hàng Thanh văn biến mất vào nơi cực lạc, Niết bàn. Vì thế phải có những vị Bồ-tát thị hiện vào những nơi tội lổi xấu xa, làm những việc khó làm để làm gương cảnh tỉnh chúng sinh và giúp đở cho họ tu hành thì tất cả những việc phi đạo mới chính là Phật đạo vậy.

Bấy giờ ông Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Xin ngài cho biết những gì là hạt giống Như Lai?

Văn Thù đáp:

- Thân là hạt giống Như Lai. Vô minh, ái là hạt giống Như Lai.

- Tham, sân, si là hạt giống Như Lai.

- Tứ đảo, ngũ cái, lục nhập, thất tình, cữu não, thập bất thiện nghiệphạt giống Như Lai.

- Nói tóm lại, 62 kiến chấp và tất cả phiền não đều là hạt giống Như Lai.

Nói thế nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là những tâm và tâm sở pháp có tánh chất phiền não, vô minh đó là hạt giống Như Lai Phật. Ngược lại, nếu người tỏ ngộ vô vi, chứng nhập chánh vị thì không thể phát tâm hướng đến vô thượng Bồ-đề. Ví như cao nguyên và đất gò, sen không thể mọc được thì còn mong gì trổ được hoa. Chỉ có đất thấp, bùn lầy, hoa sen mới sanh trưởng. Cũng như vậy, người ngộ vô vi pháp, chứng nhập chánh vị không cần sinh hoạt ở trong Phật pháp nữa. Chỉ có chúng sinh ở trong bùn lầy phiền não, mới phát khởi lòng mong cầu Phật pháp mà thôi. Cũng như trồng cây trong hư không, cây không thể sanh trưởng. Phải trồng ở chỗ có đất phân, cây mới tươi tốt sum suê. Cũng vậy người chứng nhập vô vi chánh vị không còn điều kiện để sanh trong Phật pháp. Thế cho nên phải biết rằng: Tất cả phiền nãohạt giống Như Lai. Ví như không lặn xuống biển sâu, không thể có được bảo châu vô giá. Không vào biển lớn phiền não, không thể có nhất thiết trí vô giá Như Lai.

Các vị A La Hán vì chưa thâm nhập triết lý đại thừa nên thấy thế gian là khổ, chúng sinh cang cường khó dạy, trần thế đầy dẫy tội lổi đau thương nên họ xa lánh chốn bụi trần mà rút tận vào rừng sâu cố tu mong để chứng đắc Niết bàn và thoát vòng sinh tử luân hồi.

Khi chúng sinh đã đoạn trừ hết kiến hoặc, tư hoặcvi tế hoặc thì họ chứng đắc quả vị A La Hán. Đến đây có hai con đường: nếu họ thỏa chí với quả vị A La Hán mà không chịu tiến tu thì họ là Định Tánh A La Hán. Còn hạng thứ hai có trí tuệ và muốn tiến lên trí tuệ Đại thừa để hoàn thành Phật đạo thì gọi là Tuệ Tánh A La Hán. Chỉ có hạng Định Tánh A La Hán mà kinh nầy gọi là nhập vô vi chánh vị tức là chỉ muốn an hưởng một thứ Niết bàn an tịnh mà không chịu tiến tu, không phát tâm Bồ-đề nên Đức Phật luôn quở trách hạng nầy. Phật gọi họ là mầm thối, là hạt giống bị đốt cháy.

Nhưng hoa sen đâu có mọc trên núi cao mà nở hoa tươi thắm ở nơi bùn tanh hôi hám. Thế thì chốn bụi trần chính là đạo tràng tốt nhất, là hạt giống Như Lai để chúng sinh vươn lên mà trổ hoa thơm ngát. Muốn đánh tan tư tưởng cố chấp nhị nguyên của hàng Thanh văn, người học Phật phải thấu suốt chân lý nhất như hay nhất chân pháp giới của đại thừa.

Thuyết nhị nguyên của thế gian thường dẫn dắt con người suy nghiệm sai lầm về nhân sinh vũ trụ. Thí dụ như tốt thì phải có xấu, sáng phải có tối, thiện đi đôi với ác, trong thì có ngoài…nhưng Nhất chân pháp giới hay nguyên lý bất nhị đại thừa của nhà Phật xác định là tất cả là một nghĩa là trong tối có sáng, trong thiện có ác…cho nên phiền não tức Bồ-đề hay sinh tử tức Niết bàn. Vì vậy con người không cần phải tìm Niết bàn hay Bồ-đề ở đâu xa cả mà nó chính là ở trong cảnh phiền não sinh tử mà ra.

Con ngườimê lầm nên luôn tìm cái giác ở ngoài cái mê, nhưng thật ra giác và mê vẫn là một bởi vì hết mê thì thấy giác, hết đau khổ thì có an vui chớ không tìm thấy an vui ở đâu xa. Chúng sinh vị bị vô minh che lấp nên cuộc sống đầy dẫy phiền não khổ đau. Cái nhức đầu nó không tha cho một ai cả, nghèo có nhức đầu, đau khổ của kẻ nghèo, còn người càng giàu sang phú quý thì càng thêm phiền não lo âu. Bây giờ nếu con người thấu hiểu Phật pháp và sống theo chánh pháp thì biết rằng phiền não vô minh dấy khởi làm che lấp Bồ-đề cho nên một khi chúng sinh biết làm cho phiền não lắng xuống thì Bồ-đề sẽ hiện ra. Nói một cách khác nếu con người ôm một bụng phiền não mà chạy tìm Bồ-đề thì cho dù chạy tìm đến muôn đời cũng không bao giờ thấy nó được. Do đó nếu không diệt hết vô minh phiền não thì cho dù chúng sinh có qua tận Ấn độ, tham thiền niệm Phật dưới cội Bồ-đề thì Bồ-đề cũng không bao giờ hiễn hiện. Niết bàn thì cũng thế. Niết là không, bàn là tham do đó hết tham là có Niết bàn. Niết là không, bàn là sân cho nên nếu không còn giận hờn tức tối, không còn chấp lời khen chê thị phi thì có Niết bàn. Niết là không, bàn là si vì vậy khi không còn ham muốn, đòi hỏi hay mù quáng chạy dục vọng thái quá là có Niết bàn ngay.

Vì thế tất cả những thứ như tham-sân-si, vô minh, ái dục chính là hạt giống Như Lai, là bùn lầy tanh hôi dơ dáy, là nguyên liệu cần thiết để hoa sen đâm chồi nức rễ. Chính nơi bùn tanh hôi hám nầy mà sen Bồ-đề mới nở hoa thơm ngát và loan tỏa sự an lạc thanh tịnh của Niết bàn.

Hàng Thanh văn vì tỏ ngộ vô vi nghĩa là chứng được ngã Không tức là thấy mình là không và chúng sinh, vạn pháp cũng là Không vì tất cả là vô thường vô ngã, sinh sinh diệt diệt nên họ xa lánh cuộc đời, chán chường nhân thế, sống trong tiêu cực và không phát tâm Bồ-đề để cứu giúp chúng sinh. Ngược lại các vị Bồ-tát cũng hành thâm ngũ uẫn là Không, nhưng cái Không lại hiện ra cái Có tức là Chân KhôngDiệu Hữu nên Bồ-tát không lìa chúng sinh vì Bồ-tát, chúng sinh vốn là một. Các ngài thị hiện nhiều thân hình khác nhau, làm những việc khó làm để cứu độ chúng sinh trong cuộc đời đầy dẫy tội lỗi phiền não khổ đau nầy.

Tóm lại trước tuệ nhãn của Bồ-tát Văn Thù thì tất cả phiền nãohạt giống Như Lai. Chúng sinh muốn thành Phật thì phải dựa trên vô minh phiền não mà từ từ cải tạo chuyển hóa, bớt một phần vô minh thì có một phần Bồ-đề, bớt một phần phiền não thì có một phần Niết bàn cho đến khi vô minh tan biến, phiền não tiêu trừ thì Niết bàn, Bồ-đề hiễn hiện. Thật vậy không xuống biển sâu thì không thể có được bảo châu vô giá, không có vô minh phiền não thì không bao giờ có được Nhất Thiết Chủng Trí Như Lai (trí tuệ Phật) vô giá được.

Bấy giờ ông Đại Ca Diếp tán thán rằng: Ôi! Tuyệt diệu hay! Tuyệt diệu thay! Tuyệt diệu thay! Những lời của ngài Đại Trí Văn Thù Sư Lợi! Thật đúng vậy! Bè lũ phiền nãohạt giống Như Lai. Hàng Thanh văn chúng tôi không kham nổi việc phát tâm vô thượng Bồ-đề. Đến như người thọ tội ngũ vô gián hãy còn có thể phát tâm sanh trong Phật pháp. Nay chúng tôi lại mất hẳn ý chí cầu vô thượng đạo. Ví như người thui chột các căn, đối với ngũ dục chẳng còn tương quan tiếp thọ được gì. Hàng Thanh văn đoạn hết phiền não kiết sử, trong Phật pháp hết đường nhờ cậy, vì chí nguyện đã dứt mất hẳn rồi. Thế cho nên, thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Người bạc địa phàm phu đối với Phật pháp còn có cơ may trở lại, mà hàng Thanh văn thì đã tuyệt phần. Bởi vì, phàm phu nghe Phật pháp, có thể phát khởi vô thượng đạo tâm, chứ hàng Thanh văn dù có nghe Phật pháp trọn đời, vĩnh viễn không thể phát triển ý hướng về vô thượng đạo!

Nếu có người làm ăn rất thành công, tiền bạc dồi dàođời sống đang xuôi buồm thuận gió, giàu sang sung sướng thì những người nầy ít khi nào thích nghe kinh, học Pháp. Trái lại, khi con người đối diện với phiền não khổ đau như công danh thất bại, tiền của mất mát, tình yêu bẻ bàng, gia đình bất ổn, tai nạn xảy ra hay gặp bệnh tật…thì họ mới hồi đầu thị ngạn để nghe kinh học Pháp mà tỏ ngộ chân lý. Vì thế bè lũ phiền não chính là hạt giống Phật, là mầm của Như Lai, là giải thoát giác ngộ. Thật ra những người quá nghèo khổ, cơ hàn thì cũng rất khó mà tu hành vì cũng đối diện với phiền não khổ đau, nhưng họ mãi quần quật với cuộc sống nên không tìm thấy ánh sáng của chân đạo.

Tiếc thay trí tuệ hạn hẹp của hàng tiểu thừa đối với giáo lý Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp của Đại thừa ngay cả ông Xá Lợi Phất cũng tự trách mình và hàng Thanh văn không làm lợi ích, cứu giúp cho chúng sinh. Đối với hạng bạc địa phàm phu còn có cơ hội phát tâm cầu vô thượng Bồ-đề trong khi hàng Định Tánh Thanh văn đối với quả vô thượng Bồ-đề thì vô phương cứu chửa, không còn hy vọng cũng như người tàn phế cả ngũ căn mặc dù ngũ trần còn đó mà chẳng hề hay biết.

Bấy giờ trong pháp hội có Bồ-tát tên Phổ Hiện Sắc Thân, hỏi ông Duy Ma Cật:

- Thưa cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc, bạn lành tri thức của ngài là những ai? Nô tì, đồng bộc, ngựa, voi, xe, kiệu ngài để ở chỗ nào?

Kinh điển Đại thừa, mỗi khi giới thiệu tên một vị Phật hay Bồ-tát thì kinh thường ám chỉ một ý nghĩa thâm sâu huyền diệu chẳng hạn như Nan Thắng Như Lai, Tu Di Đăng Vương Như Lai…Trong phẩm nầy khi giới thiệu Phổ Hiện Sắc Thân Bồ-tát thì cũng không ngoài ngoại lệ đó. Phổ là rộng, Hiện là cho thấy cho nên Phổ Hiện Sắc Thânthị hiện thành nhiều thân hình và làm những việc khó làm để chúng sinh dựa theo đó mà quay về với chánh đạo.

Thưở Đức Phật còn tại thế thì Ngài chỉ dùng khẩu thuyết chớ không có văn tự để hoằng pháp. Vì thế sau mỗi bài pháp thoại thì Ngài thường tóm gọn những tư tưởng chính vào thành một bài kệ để đại chúng dễ nhớ, dễ tu học.

Ông Duy Ma Cật đáp lời qua bài kệ:

Trí độ mẹ Bồ-tát

Phương tiện ấy làm cha

Tất cả các đạo sư

Đều do đó sanh ra.

Pháp hỷ chính là vợ

Tâm từ bi là gái,

Tâm thánh thật là trai,

Rỗng lặng là nhà thường trú.

Trần laođệ tử,

Sai khiến theo ý muốn,

Đạo phẩmthiện tri thức

Do đấy thành chánh giác.

Lục độ pháp là bạn bè

Pháp tứ nhiếp là kỹ nữ

Ca ngâm tụng lời pháp,

Lấy đó làm âm nhạc.

Hoa viêntổng trì

Rừng cây là pháp vô lậu,

Giác ý là hoa tịnh diệu

Trái là giải thoát trí tuệ.

Bát giải (thoát) là ao tắm,

Nước định lóng trong đầy đầy

Để tắm ngời không nhơ.

Ngũ thông, voi, ngựa chạy,

Đại thừa là xe cộ,

Cầm cươngnhất tâm,

Dạo chơi đường Bát chánh.

Tướng hảo để đẹp người

Đức tốt làm trang sức

Tâm quý làm xiêm áo

Thân tâm làm tràng hoa

Bảy của báusự nghiệp

Giáo hóa làm lợi tức

Việc làm đúng như lời nói

Hồi hướng là lợi lớn

Tứ thiền làm giường ngồi

tịnh mệnh sanh ra,

Học rộng tăng trí tuệ,

Trí tuệ là tiếng cõi lòng

Thức ăn là pháp cam lồ,

Nước uống là vị giải thoát,

Tắm rửa sạch tịnh tâm,

Hương thoa là giới phẩm.

Đánh tan giặc phiền não

Mạnh mẽ không ai hơn.

Hàng phục bốn giống ma

Dựng cờ đại chiến thắng

Tuy biết không sanh diệt,

Vì dạy dỗ thị hiện có sanh

Xuất hiện khắp cõi nước

Như mặt trời tỏa sáng trong không

Cúng dường mười phương quốc độ

Vô lượng ức Như Lai.

Chư Phật và thân mình

Không có tưởng phân biệt

Dù biết các cõi Phật

Với chúng sinh đều không

Mà thường tu Tịnh độ

Giáo hóa hết quần sanh

Bao nhiêu loại chúng sinh

Hình thành và cử chỉ

Lực vô úy của Bồ-tát

Một thời đều hiện đủ.

Biết rõ các việc ma

Mà hiện theo hạnh nó

Dùng trí phương tiện khéo

Hiện theo ý bọn ma

Hoặc hiện già, bệnh, chết

Giáo hóa các quần sanh

Rõ biết như huyễn hóa

Việc làm không trở ngại.

Hoặc hiện kiếp cháy tan

Trời đất đều trống rỗng

Mọi người có tưởng thường

Khiến biết được vô thường

Vô số ức chúng sanh

Đồng đến mời Bồ-tát

Cùng một lúc đến nhà

Dạy họ về Phật đạo.

Kinh sách, chú thuật

Các nghề nghiệp khéo léo,

Đều hiện làm việc ấy,

Vì lợi ích chúng sinh.

Các đạo pháp thế gian

Nương đấy mà xuất gia,

Để chỉ rõ chỗ sai

Khiến khỏi rơi tà kiến.

Có lúc làm nhật nguyệt

Làm Thế chủ, Phạm vương

Có lúc làm đất nước,

Có khi làm gió lửa.

Trong đời có đói kém

Thân hiện các thức ăn

Cứu đói khát cho người

Sau đem Phật pháp dạy.

Đời sắp nổ binh đao,

Đem đạo từ bi thuyết,

Giáo hóa cho chúng sinh,

Xóa bỏ lòng tranh chấp.

Nếu chiến tranh bùng nổ,

Đứng giữa thế cân bằng,

Hiện uy thế Bồ-tát,

Thuyết phục khiến yên hòa.

Trong tất cả quốc độ,

Chỗ nào có địa ngục,

Liền đến vào nơi đó,

Giúp họ khỏi khổ đau.

Trong tất cả cõi nước,

Súc sanh ăn nuốt nhau,

Hiện sanh vào trong đó,

Làm cho họ được lợi lành.

Giả bằng lòng ngũ dục,

Lại biểu hiện hành thiền,

Khiến tâm ma rối loạn,

Không dễ khuấy lung lay.

Hoa sen sanh trong lửa,

Chuyện hi hữu trên đời,

Trong cõi dục mà tu thiền,

Ít có cũng như thế.

Hoặc hiện làm dâm nữ,

Dụ những người háo sắc,

Trước lấy dục dụ người,

Sau khiến vào Phật trí.

Hoặc làm người quốc trưởng,

Hoặc là chủ thương thuyền,

Quốc sư Đại thần tốt

Để giúp ích chúng sinh.

Với những người nghèo khó,

Hiện làm kho vô tận,

Nhân đó khuyến dạy người,

Phát khởi Bồ-đề tâm.

Với hạng người kiêu mạn,

Hiện làm đại lực sĩ,

Tiêu phục lòng cống cao,

Quay về đạo vô thượng.

Những người hay sợ sệt,

Đến nơi để an ủi,

Xua tan niềm sợ hãi

Sau khiến phát đạo tâm.

Hoặc hiện lìa dâm dục,

Làm ngũ thông tiên nhân,

Chỉ dạy cho chúng sinh,

Để được giới, nhẫn, từ.

Thấy ai cần hầu hạ,

Hiện làm người tôi tớ,

Phục vụ đẹp ý chủ,

Sau khuyến phát đạo tâm.

Dùng phương tiện khéo léo

Cung dưỡng mọi nhu cầu

Con đường đạo vô lượng

Việc làm không bến bờ.

Trí tuệ không hạng lượng,

Độ vô số chúng sinh,

Giả sử tất cả Phật,

Trong vô số ức kiếp,

Tán thán công đức kia,

Hãy còn không cùng tận.

Ai nghe pháp như thế,

Chẳng phát Bồ-đề tâm,

Trừ người mất giống Phật,

Ngu si không trí tuệ..

Kinh điển Đại thừa, mỗi khi giới thiệu tên một vị Phật hay Bồ-tát thì kinh thường ám chỉ một ý nghĩa thâm sâu huyền diệu chẳng hạn như Nan Thắng Như Lai, Tu Di Đăng Vương Như Lai…Trong phẩm nầy khi giới thiệu Phổ Hiện Sắc Thân Bồ-tát thì cũng không ngoài ngoại lệ đó. Phổ là rộng, Hiện là cho thấy cho nên Phổ Hiện Sắc Thânthị hiện thành nhiều thân hình và làm những việc khó làm để chúng sinh dựa theo đó mà quay về với chánh đạo.

Trí độtrí tuệ độ tức là Bát nhã độ hay Bát nhã ba-la-mật đa nghĩa là trí tuệ rốt ráo, là cái sáng suốt triệt đểcông năng đưa người từ bờ mê sang bến giác. Vì thế trí tuệ là mẹ của Bồ-tát và cũng là mẹ của ba đời chư Phật. Còn phương tiện ấy là cha nghĩa là khi làm bất cứ việc gì miễn có lợi ích cho chúng sinh và đưa họ quay về với Phật pháp thì Bồ-tát không bao giờ chấp phương tiện cả. Nhắc lại khi ông Xá Lợi Phất hỏi cầu ở thừa nào trong ba thừa thì Thiên nữ giải thích rằng tất cả trăm sông đều cùng đổ về biển lớn nghĩa là tất cả đều là Nhất thừa Phật đạo thì tại sao con người còn chấp cứng vào phương tiện? Thanh văn, Duyên giác hay Bồ-tát cũng chỉ là phương tiện trên bước đường hoàn thành Phật đạo. Người có trí tuệ sáng suốt thì không chấp phương tiện. Nếu cần thì nghiêm trì giới luật cứng ngắt như Thanh văn, nhưng khi hoàn cảnh thay đổi cần cứu giúp chúng sinh thì họ uyển chuyển, thong dongthực hành Bồ-tát đạo mà tâm vẫn tự tại thanh tịnh. Vì thế người có trí tuệ Bát nhã ba-la-mật đa thì không bao giờ chấp phương tiện nghĩa là sợ tổn hại cho phẩm hạnh, công đức tu hành của mình mà nhìn vào cứu cánh cứu độ chúng sinh nghĩa là nếu chúng sinh thoát được hiễm nghèo, tai ách thì Bồ-tát dầu có hy sinh ngay cả chính thân mạng của mình cũng không màn. Do đó có trí tuệ sáng suốt và biết dùng phương tiện thiện xảo thì đó cũng như là cha, mẹ của Bồ-tát vậy.

Đã là cư sĩ thì phải có vợ con, nhưng khác với phàm nhân thì pháp hỷ nghĩa là niềm vui nơi Phật pháp mới chính là người vợ của ông ta. Còn tâm từ bi thương xót tất cả chúng sinh là con gái và tâm lành, tâm thiện mới chính là con trai. Là bậc thượng nhân thì dĩ nhiên phải có đệ tử, nhưng đệ tử ở đây chính là trần lao, khổ ách của chúng sinh. Bồ-tát không phải thấy chúng sinh đau khổ thì chạy trốn, an hưởng cảnh tịch diệt Niết bàn cho riêng mình như hàng Thanh văn mà phải xông vào trần thế để cứu giúp tất cả mọi người. Sống trên đời thì ai cũng có bạn bè nhưng bạn bè thiện tri thức ở đây là những đạo phẩm như 37 phẩm trợ đạo, Tứ như ý túc, Thất giác chi, Bát chánh đạo, Lục độ Ba-la-mật…để dẹp tan bọn giặc phiền não, sân hận

Kỹ nữ của ông là Tứ nhiếp pháp. Đó là bố thí giúp đở chúng sinh từ tài thí, pháp thí cho đến vô úy thí, ái ngữtùy theo căn tánh chúng sinh mà nói năng an ủi, khuyên lơn, lợi hành là làm lợi ích cho người bằng ý nghĩ lời nói hay hành động khiến cho người cảm mến mà theo ta tu học, đồng nhiếp là tuỳ theo căn cơ, hoài bão, địa vị, nghề nghiệp của chúng sinh mà hòa nhập và cộng tác thân thiện làm cho họ cảm mến mà quay về với chánh đạo. Tụng kinh, nghe Phápca vịnh, là âm nhạc. Hoa viên để dạo chơi chúng quanh tịnh thấttổng trì nghĩa là giữ cho tâm không còn tạp loạn. Rừng cây là pháp vô lậu, còn hoa thì lúc nào cũng tỉnh giác và trái là trí tuệ giải thoát.

 Ao tắm của ông ta chính là bát giải thoát và nước định thì lúc nào cũng đầy trong ao để ngâm ướp bông thất tịnh và tắm gội cho người vô cấu. Khi đi đâu thì dùng cổ xe Đại thừa mà đi trên còn đường Bát chánh đạo. Tướng đẹp đẻ để làm cho người vui chớ Bồ-tát chẳng cần những thứ giả huyễn nầy cho nên Bồ-tát lấy đức hạnh làm trang sức. Còn áo quần là tàm quý. Tàm nghĩa là bất cứ từ ý nghĩ, lời nói cho đến hành động cho dù không hay biết đó là của mình cũng không bao giờ làm tổn hại thương đau cho ai còn quý là biết sửa đổi, sám hối lổi lầm. Tràng hoa đeo trên người được kết bằng tâm thâm kín sâu sắc. 

Gia tài sự sản của ông là Thất tài bảo hay Thất thánh tài. Đó là Vàng tượng trưng cho Giới, Bạc tượng trưng cho Tín, Lưu ly tượng trưng cho Văn (nghe), Xà cừ tượng trưng cho Tàm (xấu hổ), Xích châu tượng trưng cho Tinh tấn, Mã não tượng trưng cho Trí tuệSan hô tượng trưng cho Xả (bỏ). Đối với Bồ-tát thì Thất tài bảo chính là Giới, Tín, Văn, Tàm, Tinh tấn, Trí tuệBuông xả khác với thất tài bảo sinh diệt của phàm nhân và cũng là cội nguồn của phiền não khổ đau chính là vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, xích châu, mã nãosan hô. Còn giáo hóa, làm lợi ích cho chúng sinh mới là lợi tức sống của Bồ-tát. Việc làm đúng như lời nói nghĩa là “như thuyết mà tu hành” tức là nghe, học được pháp nào thì phải áp dụng ngay vào trong cuộc sống thì mới có lợi ích. Làm xong bất cứ việc gì thì nên hồi hướng, cho hết chúng sinh thì mới lợi lạc

Giường ngồi của ông Duy Ma Cậttứ thiền nghĩa là lúc nào tâm cũng thanh tịnh. Càng học hỏi, tư duy quán chiếu mới làm tăng trưởng trí tuệ được. Trí tuệ là cõi lòng nghĩa là phải học và am hiểu chánh đạo để mở mang trí tuệ. Thức ăn của ngài là nước cam lộ mát mẽ và nước uống là hương vị giải thoát giác ngộ. Đối với phàm nhân thì tắm gội cho thân thể được sạch còn cách tắm gội của Bồ-tát là tịnh tâm cho tâm hồn yên tỉnh, trong sạch vì thế chữ “cấu’ trong nhà Phật là phiền não vô minh. Tắm xong lấy giới phẩm làm hương hoa. Mặc dầu giặc phiền nãokhách trần, nhưng người học Phật ví như những chiến sĩ gan lì thì mới đánh tan bọn giặc phiền não bên ngoài nầy. Hàng phục bốn giống ma là phiền não ma, ngũ uẩn ma, tử mathiên ma. Đó là những thói hư tật xấu tiềm ẩn trong tâm của con người để xúi giúp họ gây ra phiền não, tội lỗi đau thương và cũng chính là những chướng ngại, cạm bẩy ngoài đời để thử thách công phu tu tậpđạo hạnh của kẻ tu hành. Bồ-tát có đủ oai lực để chiến thắng, hàng phục tất cả những ma chướng trên nên các ngài thị hiện nhiều thân để dạy dỗ chúng sinh. Muốn chúng sinh thấu hiểu lý vô thường vô ngã mà không tham đắm các pháp sinh diệt của thế gian, các ngài thị hiện thân sinh, già, bịnh, chết. Dầu mang thân cư sĩ, ngồi trong tịnh thấttâm thanh tịnh, nghĩ nhớ đến chánh pháp cũng như chư Phật thường tới lui thăm viếng. Mặc dầu tất cả là Không nhưng vẫn tu về Tịnh độ nghĩa là giai khôngchân lý của vạn pháp, là bản thể của vạn hữuduyên khởi thành ra hiện tượng tạo thành tất cả. Đã có hiện tượng thì không thể nói là không có mà cái có chỉ là do duyên khởi mà thôi. Bồ-tát biết rõ đó là ma mà vẫn thị hiện tùy thuận dùng phương tiện khéo léo mà giáo hóa, hành phục bọn ma nầy. Khi chúng sinh nghèo đói, túng quẩn thì Bồ-tát phải đến để cứu bần, giúp họ qua cơn bỉ cực mà khỏi lún sâu vào chốn tội lỗi thương đau.

Hàng Thanh văn khi tu thì chỉ chú tâm tới tu mà không được làm bất cứ cái gì như thủ công, kỷ nghệ, ngược lại Bồ-tát thì phải thông suốt cả ngũ minh để có khả năng, kiến thức thích hợp với xả hội mới thì việc hoằng pháp mới thực tiển. Đó là: 1)Nội minh là người hoằng pháp phải có kiến thức sâu rộng về kinh điển nghĩa là không biết chữ làm sao dạy ai hoặc không có tiền làm sao bố thí. 2)Nhân minh: Am tường giáo lý cũng chưa đủ mà người hoằng pháp phải dựa trên một phương pháp lý luận, một lập thuyết vững vàng để đối phó với thiên ma ngoại đạo. 3)Thanh minh: Phải thông thạo các ngôn ngữ, văn tự của các nước khác để truyền đạt chánh pháp được lưu loát. Ngày nay người Việt định cư khắp nơi trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Thụy Điển…vì thế nếu Phật giáo được phát triển thì cần phải chuyển giáo lý sang những ngôn ngữ nầy chẳng những cho những thế hệ con cháu mà còn cho cả người bản xứ. 4)Công xảo minh: người Phật tử lấy công nghệ và kỷ nghệ phụng sự nhân loại dựa theo lòng vị thabác ái, không vụ lợi ích kỷ. 5)Y phương minh: Phật phápthần dược để chửa tâm bịnh, nhưng người Phật tử cũng cần học thêm y dược để điều hòa thân bệnh cũng như Đức Dược sư Lưu Ly là một tấm gương sáng. Chú thuật cũng ví như con dao hai lưỡi. Nếu biết chú thuật để hàng phục tà ma ngoại đạo mà cứu giúp chúng sinh và hoằng dương đạo pháp thì tốt, ngược lại dùng chú thuật cho tư lợi, lừa phỉnh thế gianvô cùng tai hại. Bồ-tát thấy người thiếu cơm, thiếu áo thì cung cấp cho họ rồi sau mới dùng chánh phápgiáo hóa.

Ngay cả trong bất cứ cuộc chiến tranh, binh đao khói lửa nào thì người có tâm Bồ-tát phải dùng thế trung dung, không thiên vịgiảng hòa tránh tai ương chết chóc cho chúng sinh. Bồ-tát làm bất cứ việc khó làm nào, thị hiện làm bất thân hình nào cũng chỉ vì muốn cứu khổ chúng sinh. Bồ-tát làm tất cả mọi chuyện, lành cũng có mà phi đạo cũng làm, nhưng làm xong là bỏ, không chấp việc làm của mình, không mong cầu trông đợi gì hết. Ngược lại phàm nhân thì làm vì tư lợi, làm xong thì nhớ mãi không quên, tâm luôn mong cầu đền đáp. Châm ngôn của người thế tục là bánh sáp trao đi thì bánh quy trao lại do đó mất bánh sáp mà không thấy bánh quy thì tự mình chuốc lấy hệ lụy khổ đau. Còn đối với Bồ-tát thì cho là hết, cám ơn cũng vậy mà không cám ơn cũng chẳng mất chi nên tâm hằng thanh tịnh.

Tóm lại Bồ-tát làm tất cả mọi việc để cứu độ và dẫn dắt chúng sinh về với Phật đạo. Các ngài không ngại nghịch cảnh, không chấp phương tiện ngay cả làm những việc phi đạo, thuận theo lòng nhân thế, phá tan thiên ma ngoại đạo, không quảng ngại gian lao, không mong cầu đền đáp, thi ân bất cầu báo mà tâm hằng thanh tịnh để chúng sinh noi theo đường sáng, quay về với chánh phápphát tâm Bồ-đề.

Phẩm nầy đề cao hạnh nguyện của Bồ-tát thị hiện vào đời để hóa độ chúng sinh. Khác với hàng Thanh văn xa lánh cuộc đời nhiễm ô xấu ác, rút tận vào chốn rừng sâu u tịch để mong cầu giải thoát cho riêng mình thì các vị Bồ-tát đối với sinh tử không nhàm chán, thấy khổ không sợ, thấy thế gian vạn pháp là Không mà vẫn vào đời cứu độ, người tốt cũng thương mà kẻ ác cũng không chê trách, làm mọi hạnh lành, không ngại phi đạo mà không hề bị cấu nhiễm, tham đắm.

Bài kệ trên diễn tả rõ ràng về gia thế của cư sĩ Duy Ma Cật. Đây không phải là một cư sĩ bình thường mà tâm hạnh chính là một vị đại Bồ-tát, trí tuệ viên thông, biện tài vô ngại. Ông chính là một người Bất tư nghì để trình diễn Phật sự Bất tư nghì nhằm giáo hóa chúng sinh về Đại thừa Diệu Pháp Bất tư nghì vậy. Trí tuệ của ông thì thâm sâu huyền diệu chỉ có những người xuất gia thượng căn thượng trí mới mong sánh kịp. Vậy chủ yếu của kinh Duy Ma Cật là gì? Phải chăng kinh nầy muốn nhắn nhủ với chúng sinh là “chiếc áo không làm nên người thầy tu”. Tư tưởng Đại thừa là không câu nệ trên hình thức trong khi giáo lý Tiểu thừa thì chấp chặt vào nó. 

Con người vì ham chuộng hình tướng bên ngoài, mủ cao áo rộng mà quên đi thật tánh huyền diệu vô vi thanh tịnh bên trong nên mới lao đầu vào trong hang hùm, nanh cọp. Nay nếu biết thức tỉnh để thấy rằng chiếc áo lúc nào vẫn là chiếc áo, đừng bao giờ lầm lẫn chiếc áo là những đức tính cao quý, tâm đạo đức, tánh vị tha vô ngã của nhà tu chân chính. Đây là muốn nhắc nhở những người đệ tử Phật muốn tiến trên con đường Niết bàn, vô thượng Bồ-đề thì phải cảnh giác về chiếc áo. Nói một cách khác tu là chuyển tâm tức là soi chiếu từ trong nội thể thì ở đâu tu cũng được và đây chính là tâm xuất gia mà thân không xuất gia vậy. Càng nằm trong bùn lầy tanh hôi dơ dáy thì sen càng nở hoa thơm bát ngát, càng gặp nghịch cảnh chướng duyên thì càng nung nấu chí nguyện để sớm viên thành Phật đạo.

Tạo bài viết
14/06/2010(Xem: 41710)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.