Giáo Nghĩa Của Tiểu Thừa Luật Bộ Và Đại Thừa Luật Bộ

18/06/201012:00 SA(Xem: 9731)
Giáo Nghĩa Của Tiểu Thừa Luật Bộ Và Đại Thừa Luật Bộ

LUẬT HỌC ĐẠI CƯƠNG
Soạn giả: HT. Thích Thanh Kiểm 

GIÁO NGHĨA CỦA TIỂU THỪA 
LUẬT BỘ VÀ ĐẠI THỪA LUẬT BỘ

I. GIÁO NGHĨA TIỂU THỪA LUẬT BỘ

Luật bộ lấy Luật tạng làm sở y, nên gọi là Luật. Khi Đức Phật còn tại thế, nhân những sự việc đã xảy ra mà chế giới, tùy cơ duyên mà giảng dạy. Sau khi Phật diệt độ, ngài Ưu Ba Ly kết tập Luật tạng. Sau đó 100 năm, luật lại lần lượt chia ra nhiều bộ. Các bộ luật truyền tới Trung Quốc gồm có 4 bộ:

1.- Tát Bà Đa bộ tức luật Thập tụng

2.- Đàm Vô Đức bộ tức luật Tứ phần

3.- Ma Ha Tăng Kỳ bộ tức luật Tăng kỳ

4.- Di Sa Tắc bộ tức luật Ngũ phần.

Giáo nghĩa của giới luật không ngoài điều “Chỉ ác” và “Tu thiện”, hoặc gọi là “Chỉ trì” và “Tác trì”.

Chỉ trì là môn chỉ ác, tác trì là môn tu thiện. Trong môn chỉ trì lại chia ra Tăng Ni 2 giới. Hai thứ Chỉ trìTác trì này bao trùm hết thảy giới luật của 4 bộ kể trên. Nay đem phân loại theo nội dung đó như sau:

 Ngoài ra còn các bộ đại trước tác của Đạo Tuyên luật sư để khai triển về luật học cũng nằm trong 2 môn Chỉ trìTác trì này. Vì Ngài nương theo giáo nghĩa của Tứ phần luật làm căn bản. Trong luật Tứ phần có chia ra 4 bộ phận:

Phần đầu nói về giới pháp của Tỷ-kheo, phần 2 nói về giới pháp của Tỷ-kheo-ni, 2 phần này thuộc về “Chỉ trì môn”.

Phần 3 và phần 4 nói về các pháp an cư, tự tứ, gồm 20 Kiền-độ (thiên), 2 phần này thuộc về “Tác trì môn”. Nên:

1.- Tứ Phần luật hành sự sao, 3 quyển, thuyết minh về pháp hành trì giới luật hằng ngày của Tăng già, thì quyển thượng, quyển hạ thuộc “Tác trì môn”, quyển trung thuộc “Chỉ trì môn”.

2.- Tứ Phần luật Yết-ma sớ, 4 quyển, giải thích về nghi thức tác pháp thọ giới, kết giới v.v... thuộc “Tác trì môn”.

3.- Tứ Phần luật giới bản sớ, 4 quyển, giải rõ về bản thể của giới, thuộc “Chỉ trì môn”.

4.- Thập Tỳ-ni nghĩa sao, 3 quyển, đều nương vào “Chỉ trì môn” mà soạn ra.

5.- Tỷ-kheo-ni sao, 3 quyển, giải thuyết về cả hai môn “Chỉ trì” và “Tác trì”.

II. GIÁO NGHĨA CỦA ĐẠI THỪA LUẬT BỘ

1.- Khái thuyết về giáo nghĩa của “Phạm Võng Bồ-tát giới kinh". Kinh Phạm Võng nói đủ là “Phạm Võng kinh Lô-xá-na Phật thuyết Bồ-tát tâm địa giới phẩm đệ thập”. Kinh này chia thành 2 quyển, thượng và hạ. Ngài Tăng Triệu pháp sư, trong Tứ Thánh (Đạo Sinh, Tăng Triệu, Đạo Dong, Tăng Duệ), môn hạ của La Thập Tam Tạng, có viết lời tựa kinh Phạm Võng. Nếu y vào lời tựa này thì Phạn bản của kinh Phạm Võng, nguyên lai gồm có 120 quyển, trong đó có 61 phẩm, ngài La Thập chỉ mới phiên dịch một phẩm “Tâm địa giới phẩm” lại chia ra 2 quyển, thượng và hạ.

Quyển thượng thuyết minh về hàng vị của các Bồ-tát: Thập Phát Thú (Thập trụ), Thập Trưởng Dưỡng (Thập hành), Thập Kim Cương (Thập hồi hướng) và Thập Địa. Quyển hạ nói rõ về 10 giới trọng và 48 giới khinh.

Nương vào kinh Phạm Võng của La Thập Tam Tạng đã dịch, các ngài Đạo Dong, Đạo Ảnh gồm 300 người đều y vào La Thập Tam Tạng để thọ giới Bồ-tát của Phạm Võng. Đó là giới pháp của Phạm Võng được truyền thọ đầu tiên ở Trung Quốc. Những người đã được thọ giới, hàng ngày thường đọc tụng các giới “Thập trọng và Tứ thập bát kinh giới”, thực hành rất nghiêm khắc, nên mới rút ra những bộ phận nói về “Thập trọng giới và Tứ thập bát khinh giới”, từ phần kệ tụng của Phật Lô Xá Na nói cho tới cuối bài kệ ở quyển hạ, biến thành một quyển riêng, gọi là “Bồ-tát giới kinh” hay “Bồ-tát giới bản”.

Căn cứ theo “Bồ-tát giới kinh nghĩa lý” 2 quyển của Thiên Thai Trí Giả đại sư, thời kinh Phạm Võng thuộc Nhất thừa giáo theo giáo phán và là phần giới thọ trì cộng thông cho cả hai hàng xuất giatại gia.

Giáo nghĩa cũng khác nhau giữa Tiểu thừa Thanh văn giớiPhạm Võng Bồ-tát giới. Có mấy điều chủ yếu:

Thứ nhất, Tiểu thừa giới là “Ngũ thiên thất tụ”, Phạm Võng giới là “Nhị thiên tam tụ”. Biểu đồ khái yếu như sau:

1. TIỂU THỪA 5 THIÊN 7 TỤ: 

GHI CHÚ: Năm Thiên là nương ở chỗ nặng nhẹ của tội quả. Bảy Tụ là những loại tụ căn cứ ở tội tínhnguyên nhân của tội. Thâu-lan-giá gọi là Phương tiện tội (tức nhân tội) của Ba-la-di và Tăng tàn. Ác táctội phạm về thân. Ác thuyết là tội phạm về khẩu.

2. ĐẠI THỪA 2 THIÊN 3 TỤ:

 Liệt kê các tên giới của 10 giới trọng và 48 giới khinh như sau:

- 10 GIỚI TRỌNG: 

 1.- Giới sát sinh. 

 2.- Giới trộm cướp. 

 3.- Giới dâm. 

 4.- Giới vọng ngữ

 5.- Giới bán rượu. 

 6.- Giới nói lỗi tứ chúng

 7.- Giới khen mình chê người. 

 8.- Giới sẻn tiếc mắng đuổi. 

 9.- Giới tâm sân không nhận hối lỗi

10.- Giới hủy báng Tam bảo.

- 48 GIỚI KHINH: 

 1.- Giới không kính thầy bạn. 

 2.- Giới uống rượu. 

 3.- Giới ăn thịt

 4.- Giới ăn ngũ tân

 5.- Giới không dạy người sám hối

 6.- Giới không cung cấp thính pháp. 

 7.- Giới lười không nghe pháp

 8.- Giới trái Đại thừa hướng Tiểu thừa

 9.- Giới không chán bệnh. 

 10.- Giới chứa dụng cụ sát sinh

 11.- Giới đi sứ. 

A-12.- Giới buôn bán. 

 13.- Giới hủy báng. 

 14.- Giới phóng hỏa. 

 15.- Giới dạy giáo lý cạn hẹp. 

 16.- Giới vì lợi nói pháp không thứ lớp. 

 17.- Giới cậy thế cầu xin

0-18.- Giới không hiểu làm thầy. 

 19.- Giới nói lưỡi hai chiều. 

 20.- Giới không phóng sinh cứu sinh. 

 21.- Giới sân đánh trả thù

 22.- Giới kiêu mạn không thính pháp. 

 23.- Giới kiêu mạn sẻn pháp. 

 24.- Giới không tập học Đại thừa

 25.- Giới không khéo hòa chúng. 

0-26.- Giới thọ lợi dưỡng riêng. 

A-27.- Giới thọ biệt thỉnh

 28.- Giới biệt thỉnh Tăng. 

 29.- Giới tà mệnh tự sống. 

 30.- Giới không kính thời tốt. 

 31.- Giới không cứu chuộc. 

 32.- Giới tổn hại chúng sinh

A-33.- Giới tà nghiệp nghe xem. 

 34.- Giới tạm nghĩ Tiểu thừa

 35.- Giới không phát nguyện

 36.- Giới không phát thệ. 

 37.- Giới vào chỗ hiểm nạn. 

 38.- Giới trái tôn ti thứ tự. 

 39.- Giới không tu phước tuệ. 

0-40.- Giới lựa chọn thọ giới

0-41.- Giới vì lợi làm thầy. 

 42.- Giới vì người ác thuyết giới

A-43.- Giới không thẹn nhận thí. 

 44.- Giới không cúng dường kinh điển

 45.- Giới không giáo hóa chúng sinh

 46.- Giới thuyết pháp không như pháp.

 47.- Giới chế hạn phi pháp

A-48.- Giới phá pháp.

GHI CHÚ: Tam tụ tịnh giới và 10 giới trọng là giới pháp cộng thông cho cả hai hàng tại giaxuất gia. Trong 48 giới khinh, 5 giới có phụ thêm “0” là những giới chế cho Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni. 5 giới có phụ thêm “A” là những giới chỉ chế đối với người xuất gia.

Thứ hai, trần thuật về “Tiệm chế” và “Đốn chế” của hai giới Đại thừa, Tiểu thừa cùng trái nhau. 250 giới của Tiểu thừa được chế định theo thứ lớp ở nơi phạm lỗi của các đệ tử Phật, từ lúc Phật sơ chuyển pháp luânLộc Dã Uyển cho tới khi Phật nhập Niết bàn nơi Sa la Song thọ. Giới Phạm Võng, Phật Lô Xá Na vì Biện Hải Vương và Vương tử mà kết thành luôn 58 giới. Nên giới Tiểu thừa là Tiệm chế, còn giới Đại thừa thuộc Đốn chế.

Tiểu thừa giới 4 Ba-la-di, Phạm Võng giới lại nói 10 Ba-la-di. Lại, giới Tiểu thừa nói Dâm, Đạo, Sát, Vọng theo thứ lớp, giới Phạm Võng nói Sát, Đạo, Dâm, Vọng theo thứ lớp. Ở Tiểu thừa, giới Dâm để thứ nhất, vì việc dâm dục người nào cũng khó giữ và dễ phạm, đã phạm thời không thoát khỏi sinh tử, nên giới Dâm để đầu là trọng chế. Nhưng ở giới Phạm Võng, giới sát sinh trở nên Tính tội, nên trọng chế để ở hàng đầu. Lại, chỗ chế của Tiểu thừa giới chỉ hạn chế ở hai nghiệp thân, khẩu; Phạm Võng giới thì thông cả ba nghiệp thân, khẩu, ý. Lại, ở giới Tiểu thừa phán ở tội khinh, giới Phạm Võng lại phán ở tội trọng. Như lấy trộm của Phật nơi chùa tháp, ở Tiểu thừa cho là tội khinh nhưng ở Đại thừa lại là trọng tội.

Tạo bài viết
01/07/2010(Xem: 45615)
29/06/2010(Xem: 41751)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.