Đạo Phật Thực Hành

18/10/20164:26 SA(Xem: 1537)
Đạo Phật Thực Hành
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA HƯƠNG SEN TINH KHIẾT 
Thích Nhuận Châu dịch

PHẦN III : 
NHỮNG BÀI VIẾT VÀ PHÁT BIỂU CỦA
ĐỨC ĐẠT-LẠI LẠT-MA


ĐẠO PHẬT THỰC HÀNH

Hôm nay tôi rất vui mừng khi được nói chuyện với toàn thể các bạn Phật tử Hoa Kỳ (thuộc Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng) ở một tu viện trung tâm Phật giáo Tây Tạng cổ xưa nhất ở Hoa Kỳ. Điều ấy rất khích lệ sự chú ý đến tình hình phát triển hiện thời của Phật giáo Tây Tạng, có chừng 1000 trung tâm ở khắp thế giới, với hơn 250 trung tâm ở Hoa Kỳ. Như tôi thường nói, Phật giáo có một món quà đặc biệt để giúp cho con người lắng đọng tâm thức và học cách sống hạnh phúc hơn. Từ thế kỷ 20, những người Tây Tạng chúng tôi bị bắt buộc phải sống lưu vong... Từ đó, chúng tôi dành quyền ưu tiên chia xẻ món quà Phật giáo cho tất cả bằng hữu khắp các quốc gia, những người đều phải đối diện với vô số khó khăn của đời sống trong thế giới hiện đại đầy náo loạn và lo âu nầy. Có lẽ chỉ có một điều thánh thiện đến với chúng ta từ muôn vàn nỗi bi đát là sự lan tỏa của giáo lý và sự thực hành Phật giáo Tây Tạng.

Hãy tưởng tượng, các vị Lạt-ma Tây Tạng lẽ ra có thể đến các nơi trên thế giới để giảng dạy Phật pháp, họ phải được đi lại bằng thị thực xuất nhập cảnh với giấy thông hành của Tây Tạng. Các tăng sinh ở Tây phương đáng lẽ được tự do đến thăm núi đồi yên tĩnh của Tây Tạng để thưởng thức bầu không khí trong lành, được học tại các tu viện đại học, và thiền quán trong nguồn cảm hứng cô liêu đó. Tôi nói điều nầy không phải chỉ là than phiền về sự thử tháchchúng tôi đang chịu mà vì tôi muốn lưu ý rằng nhiều người có khuynh hướng chấp nhận một thứ chủ nghĩa định mệnh về lịch sửvấn đề Tây Tạng. »Tốt thôi, nó phải xảy ra như vậy, nếu không, người dân Tây Tạng sẽ không thể nào thoát ra khỏi sự cô lập với thế giới«.

Nghĩ theo cách như thế có thể khiến cho họ chậm lại trong nỗ lực hành động để cải thiện thực sự tình hình Tây Tạng, để giải quyết vấn đề Tây Tạng, vấn đề con người với sáu triệu người dân Tây Tạng. Bây giờ, đó là một bài thực tập rất ích lợi để quán chiếu lại khổ đau của riêng mọi người, suy gẫm về việc đó như là »quán chiếu lại nghiệp riêng của mỗi người«, và nhờ vậy, họ sẽ đạt được lợi lạc khi tu dưỡng tính kham nhẫn trong hoàn cảnh khó khăn của mình.

Nhưng đó chưa phải là hữu dụng, cũng chưa phải là lòng yêu thương khi chỉ chịu đựng về nỗi khổ của người khác. Thực vậy, ngài Tịch Thiên nói, một vị Bồ-tát  phải hoàn toàn không thể chịu đựng nổi khi thấy người khác bị khổ đau. Xin đưa ra một ví dụ cá nhân. Tôi từng nói rằng chính tôi đã thấy được lợi lạc thực sự từ nỗi khó khăn khi bị mất quê hương và lang thang trong cuộc sống lưu vong – và tôi muốn nói đến điều đó. Trong hoàn cảnh không có một nơi sống ổn định và với sự đau khổ cùng sự phấn đấu đã giúp cho tôi trưởng thành. Khó khăn ở đời có thể dẫn đến sự phát triển tinh thần nhanh hơn và có được sức mạnh tâm linh lớn hơn. Và riêng tôi hoàn toàn hài lòng với tôi rất nhiều. Tôi đã được sự khích lệ khi tiếp nhận một nền giáo lý Phật pháp nghiêm túc và có được cơ hội thực hành giáo lý nầy trong sự rèn luyện khổ nhọc. Tôi không than phiền điều gì cả. Nhưng lời cam kết với mọi người, với sáu triệu dân Tây Tạng đang trông chờ ở sự giúp đỡ của tôi, thì khác hẳn – tôi không thể nào quên tiếng khóc của họ. Làm sao tôi có thể tụng lời kinh, lời phát nguyện của các vị Bồ-tát, nguyện cứu các loài chúng sanh thoát khỏi khổ đau và thoát khỏi các nguyên nhân gây ra khổ đau, và cùng lúc đó, bỏ dở nửa chừng bất kỳ những việc lẽ ra thực sự có thể cứu vãn cho những nỗi đau của mọi người đang ở trong phạm vi trách nhiệm của tôi? Thế nên tôi luôn luôn cố gắng làm nhiều việc mà tôi có thể làm được. Có lẽ ví dụ của tôi sẽ giúp cho những người Phật tử khác muốn duy trì sự tu tập tâm linhđồng thời cũng muốn làm việc thiện cho toàn xã hội.

Trong quá khứ, các nhà nghiên cứu chủ trương rằng Phật giáo chủ trương nhất tâm (single-mind) trong mục tiêu nhắm vào niết-bàn, từ bỏ thế gian phàm trần nầy như một trường hợp tuyệt vọng. Với ý niệm nguyên sơ đó, họ cho rằng đạo Phật rất ít tham gia vào quyền công dân, để mặc những vấn đề xã hội đi theo hướng của nó.

Hiện thời, người Phật tử và các tu viện Phật giáo mới thực sự có thể làm nhiều việc thiện hơn để giúp đỡ nhiều người trong những thời điểm khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Nhưng tôi tin rằng từ thời đức Phật tại thế cho đến nay, tất cả mọi hình thái sinh hoạt của Phật giáo đều đã liên tục cố gắng để giúp đỡ con người, dù với tư cách tập thể hay cá nhân, không bao giờ có tình trạng đạo Phật không quan tâm đến thế gian. Tự dohạnh phúc của chúng sinh luôn luôn là lý tưởng rốt ráomục tiêu hành động của người con Phật.

Nền văn minh Tây Tạng là một kết quả to lớn từ sự chuyển hóa xã hội nhờ năng lực của Phật pháp. Phật giáo được du nhập vào Tây Tạng từ Ấn Độ bởi Hoàng đế Songsten Gampo vào thế kỷ thứ VII.

Trí tuệ từ đạo Phật bắt đầu lan tỏa chầm chậm nhưng đều đặn, giúp cho con người hiền hòa, hạnh phúcan lạc hơn. Sau vài thế kỷ, người Tây Tạng trở nên yêu thích Phật pháp đến nỗi họ có một nỗ lựcđại biến Phật pháp thành trọng tâm cuộc sống của họ, mặc dù không có sự tán trợ của triều đình. Cuối cùng, sau một ngàn năm, người Tây Tạng đã thành công trong việc thể hiện tư tưởng Phật giáo ngay trong thể chế của quốc gia, lập nên sự hợp nhất giữa tính thiêng liêngthế tục bởi Đức Đạt-lại Lạt-ma thứ V[107] vào thế kỷ thứ 17. Tôi tin rằng giáo lý của Đức Phật là điểm then chốt không thể thay thế được để thành tựu sự hạnh phúc cho cá nhân cũng như cho quốc gia. Thế nên toàn bộ hệ thống xã hội chúng tavăn hóa, nghệ thuật, phong cách sống – đều phải tập trung vào sự phát triển tâm linh con người, tùy thuận theo Phật pháp. Dù chúng ta không bao giờ thành tựu được hoàn toàn, chúng ta cũng đã giữ gìn những giáo lýtruyền thống độc đáo, mà một số đó từ lâu đã biến mất trên các quốc gia Phật giáo khác. Nhưng tôi không muốn nói nhiều về điều nầy, vì tôi biết rất nhiều người trong các bạn đã nhận ra giá trị của Phật giáo Tây Tạng, đã yêu quý cũng như chúng tôi. Tôi đã đi đến rất nhiều nơi vì có rất nhiều người lưu tâm đến tôi, từ lời nói cũng như hành động, sự kính trọng của họ, không chỉ nhắm vào giáo lý của Phật giáo Tây Tạng, mà còn nhờ vào cội nguồn của giáo lý ấy, là văn hóavăn minh Tây Tạng, vốn tự nó đã hoàn toàn phát xuất từ một nơi nào đó hơn là trong tim đời sống của người dân Tây Tạng. Văn hóa Tây Tạng thuộc về toàn nhân loại, và sự hủy diệt văn hóa Tây Tạng sẽ không chỉ ảnh hưởng đến người Tây Tạng, mà ảnh hưởng đến toàn nhân loại. Do vậy, chúng ta kêu gọi các thành viên của các nền văn hóa khác giúp đỡ cho dân Tây Tạng giữ gìn nền văn hóa độc đáo và di sản phong phú ấy. Những người bạn tôi ở Quốc hội Hoa Kỳ đã hành động một cách mạnh mẽ để biểu hiện sự hỗ trợ chính nghĩa của chúng ta, thúc giục Trung Hoa đình chỉ ý đồ diệt chủng dân Tây Tạng, xóa sổ quốc gia Tây Tạng trong lịch sử, và hủy diệt văn hóa Tây Tạng. Những nghị sĩ, dân biểu nầy sẽ rất cần sự giúp đỡ của các bạn và sự tán trợ của tất cả các Phật tử, các nhà lãnh đạo tôn giáo khác, các nhà nhân chủng học, và tất cả bạn hữu của nhân dân Tây Tạng, để kết hợp thành một lực đẩy mạnh hơn khiến Trung Hoa phải thay đổi thái độ. Lực đẩy nầy rất thiết yếu và cấp bách để cứu vớt người dân và văn hóa Tây Tạng trước khi quá trễ.

Đối với Trung Hoa cũng vậy, đó là một vấn đề cấp bách, bởi vì nếu những nhà lãnh đạo Trung Hoa không chịu thay đổi đường lối hiện tại, rốt cuộc họ sẽ tự ràng buộc lại mình trong một phương cách tệ hại. Nhưng tôi không muốn vướng mắc vào điều nầy, vì tôi vốn là người lạc quanvẫn có niềm hy vọng lớn lao rằng tính tích cực sẽ vượt trội, chân lýthiện tâm sẽ chiến thắng. Các bạn có lẽ ngạc nhiên, nhưng tôi cho rằng loại chủ nghĩa lạc quan nầy rất thực tế. Bởi vì, các bạn thấy đó, mọi người chỉ muốn có hạnh phúc. Nếu chúng ta khảo sát trái tim con người, không phải chỉ để xem nó theo giáo lý nào, mà để phân tích chi tiết những gì thực sự ở trong đó; chúng ta sẽ thấy rằng điều mà mọi người mong ước, điều tạo nên sự hài lòng, đó chính là con tim nồng ấm, con tim chí thiện, con tim từ bi. Những yếu tố nầy ban cho ta sự trầm lắng, an tĩnhtự tại thực sự, và ban cho ta sức mạnh nội tâm. Mặt khác, sự giận dữ, đố kỵ, tham lam chỉ tạo nên sự khó chịu và luôn luôn bất bình. Ngay cả quốc gia cũng cần kiềm chế và giảm trừ sự gây hấn hiềm khích, đó là cách duy nhất để tránh khỏi khổ đau và mang lại hạnh phúc cho con người. Thế nên rốt ráo, quốc gia chỉ thực hành những chính sách đúng đắn, vì đó là điều quan tâm cao nhất của người dân. Cuối cùng, việc thiệnpháp thực hành cao nhất, là sự hòa giải thực tế nhất. Có lẽ hầu hết các bạn đều biết tầm quan trọng của lòng từ bi. Sự thực hành lòng từ bi là điều cho tôi niềm vui lớn nhất. Bất luận gặp hoàn cảnh nào, bất kỳ đối diện với tình hình bi đát đến cỡ nào, tôi cũng thực tập lòng từ bi, việc nầy đã cho tôi sức mạnh nội tâm và niềm an lạc. Điều nầy cho tôi cảm nhận cuộc sống mình có ích. Thế nên các bạn thấy, từ đó đến nay, tôi được 57 tuổi[108], sắp qua tuổi 58, tôi đã đem hết sức mình để thực hành lòng từ bi, và tôi sẽ tiếp tục thực hành cho đến hơi thở cuối cùng, đến ngày cuối cùng của cuộc đời. Các bạn thấy, chính tôi là người tự nguyện hiến thân cho lòng từ. Đó là cách tôi thực sự hài lòng. Chúng tôi cần sự tán trợ của công chúng, cần sự biểu hiện thiện chí và hành động với việc làm của chúng tôi, xin ấp ủ thiện chí nầy trong tâm, và bất kỳ lúc nào có điều kiện, xin hãy biểu hiện niềm cảm thông sâu sắc với chính nghĩa của người Tây Tạng.

Là người tu tập Phật pháp, các bạn nên nhận thức được sự thiết yếu của việc giữ gìn Phật giáo Tây Tạng. Vì nơi quốc độ nầy, đất đai lãnh thổ của người Tây Tạng đang bị tàn phá. Chúng ta đã đem hết sức mình để giữ gìn truyền thống Tây Tạng khi phải sống lưu vong bên ngoài Tây Tạng suốt 30 năm, và chúng ta đã gần như đã được thành công. Nhưng cuối cùng, sau thời của chúng ta, có một mối hiểm nguy thực sự khiến thế hệ sau sẽ biến đổi, ngại rằng họ không thể tồn tại trong việc bảo trì, nuôi dưỡng quê hương chúng ta. Thế nên, nhờ vào sự giữ gìn Phật giáo Tây Tạng, được xem như một thực thể hoàn chỉnh của Phật pháp. Tôi mơ ước một đất nước Tây Tạng mới, một vùng đất tự do, một quê hương hòa bình, nơi sáu triệu đồng bào tôi có thể phục hồi lại đời sống tâm linh cùng lúc trở nên hòa hợp với từng phương diện tốt đẹp nhất của thế giới. Tôi thấy Tây Tạng là nơi mà tất cả mọi người – không chỉ là đồng bào láng giềng ở Đông Phương – có thể viếng thăm và thưởng thức không khí trong lành và núi đồi hùng vĩ, có thể tìm thấy niềm phấn khích trong phong thái an tĩnh và giàu chất tâm linh, và có thể họ sẽ học được cách nhận thức thế giới của riêng họ tốt hơn bằng cách phóng xả dần trong khi ngồi thiền trên vùng cao nguyên quê hương chúng tôi.

Với sự tán trợ của các bạn. Chúng ta sẽ trở về quê cũ. Bây giờ là lúc các bạn thực hành. Tri ân các bạn rất nhiều.

SỰ TIẾP CẬN CỦA CON NGƯỜI VÀO HÒA BÌNH THẾ GIỚI

Mỗi sáng ta thức dậy, nghe tin tức từ radio hay đọc báo, chúng ta đối diện với những tin tức xấu như nhau: bạo động, tù tội, chiến tranh, thiên tai. Tôi không dám mơ tưởng dù chỉ một ngày không nghe tường thuật những điều khủng khiếp đang xảy ra khắp nơi.

Ngay trong thời hiện đại nầy, rõ ràng đời sống quý báu của con người cũng không được bình an, không có thế hệ tiền bối nào đã hứng chịu như ngày hôm nay. Ý thức sợ hãi thường xuyêncăng thẳng sẽ tạo nên bất kỳ vấn đề nghiêm trọng về cảm xúclòng trắc ẩn của con người trong sự phát triển của thế giới hiện đại nầy. Thật là mỉa mai khi càng có nhiều vấn đề nghiêm túc phát sinh thì xã hội công nghiệp càng tiến triển. Khoa học và kỹ thuật đã tạo ra nhiều điều kỳ diệu trên nhiều lãnh vực, nhưng vấn đề cơ bản của con người vẫn còn đó.

Đã có một lối học mới, nhưng sự giáo dục phổ quát dường như không làm tăng tưởng tính thiện, mà thay vì chỉ làm tăng thêm tính nôn nóng và không thỏa mãn. Không nghi ngờ gì về sự gia tăng tiến bộ vật chất và kỹ thuật, nhưng không rõ vì sao điều nầy không có hiệu quả, vì chúng ta chưa thành công trong việc làm phát sinh hạnh phúcan lạc hoặc là vượt thoát được khổ đau.

Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng phải có điều gì sai lầm nghiêm trọng trong tiến trình phát triển, nếu chúng ta không rà soát lại kịp thời, chắc sẽ có hậu quả thảm hại cho tương lai của loài người. Tôi không phải là người hoàn toàn chống lại khoa học kỹ thuật – nó đã góp phần rất lớn vào toàn bộ kinh nghiệm của loài người, đối với lợi ích vật chấtthịnh vượng, và đối với sự hiểu biết rộng lớn về thế giới ta đang sống. Nhưng nếu chúng ta dành sự chú trọng vào khoa học và kỹ thuật, là chúng ta đang có nguy cơ đánh mất cơ hội tiếp xúc với những khía cạnh tri thức và sự hiểu biết của con người làm phát sinh tính chân thựclòng vị tha.

Khoa học và kỹ thuật, dù có khả năng tạo ra vô số tiện nghi vật chất cũng không thể thay thế giá trị tinh thần truyền thốnggiá trị nhân văn đã tạo nên dạng thức đồ sộ của nền văn minh nhân loại trong toàn thể các hình thái quốc gia như ta đã được biết ngày hôm nay.

Không ai chối từ được tiện nghi vật chất của khoa học kỹ thuật mới mẻ, nhưng vấn đề cơ bản của con người vẫn còn, chúng ta vẫn phải đối diện nỗi khổ, sự sợ hãi, sự căng thẳng giống nhau, nếu không nói là nhiều hơn. Do đó, chỉ có một điều hợp lýcố gắng thiết lập sự quân bình giữa sự phát triển vật chất và mặt khác, sự phát triển tâm linh, và giá trị nhân bản. Để làm được cuộc điều chỉnh vĩ đại nầy, chúng ta cần phải làm sống lại giá trị nhân văn của chúng ta.

Tôi chắc chắn nhiều người sẽ chia xẻ sự quan tâm về sự khủng hoảng đạo đức rộng lớn trong thế giới hiện nay, và sẽ tham gia lời kêu gọi của tôi đến các nhà hoạt động nhân đạo và giới tăng lữ tôn giáo, người chia xẻ sự quan tâm làm cho xã hội chúng ta biết yêu thương nhau nhiều hơn, thể hiện chính trựccông bằng nhiều hơn.

Tôi không phát biểu như là một tu sĩ Phật giáo, hay như là người Tây Tạng, tôi cũng chẳng phát biểu như là một chuyên viên chính trị quốc tế (dù tôi không né tránh tham gia các đề tài nầy). Đúng hơn, đơn giản là tôi phát biểu như là một con người, một người gìn giữ giá trị nhân văn, đó là nền tảng không chỉ của Phật giáo Đại thừa mà còn của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Từ quan điểm nầy, tôi sẽ chia xẻ với các bạn viễn cảnh của cá nhân tôi, đó là:

1. Chủ nghĩa nhân đạo trên toàn vũ trụ là yếu tính để hóa giải vấn đề toàn cầu.

2. Từ bi là cột trụ của hòa bình thế giới.

3. Tất cả các tôn giáo trên thế giới đều sẵn sàng cho hòa bình thế giới theo phương thức nầy, tất cả đều là tinh thần nhân đạo dù dưới bất kỳ ý thức hệ nào.

4. Mỗi cá nhân đều có một trách nhiệm định hình sự mở màn cho việc đáp ứng nhu cầu con người

HÒA GIẢI VẤN ĐỀ CON NGƯỜI 
THÔNG QUA SỰ CHUYỂN HÓA THÁI ĐỘ CỦA RIÊNG TỪNG NGƯỜI

Trong những vấn đề chúng ta đối diện ngày hôm nay, một số là những thảm họa thiên nhiên, và chúng ta phải chấp nhậnđối diện với thái độ trầm tĩnh. Mặt khác, tuy nhiên, một số vấn đề lại do chúng ta gây ra, tạo nên bởi sự hiểu lầm, và có thể là chính xác. Vấn đề như thế sinh ra do mâu thuẫn ý thức hệ, chính trị và tôn giáo, khi con người chống trái lẫn nhau vì những mục đích ty tiện, bỏ quên tầm nhìn về nền tảng của lòng nhân từ ràng buộc chúng ta với nhau như một gia đình nhân loại. Chúng ta phải nhớ rằng các hệ thống tôn giáo, các ý thức hệ và chính trị khác nhau trên thế giớiý nghĩa là giúp cho loài người được hạnh phúc. Chúng ta không được đánh mất cái nhìn về mục tiêu nền tảng nầy và đừng bao giờ đặt phương tiện lên trên cứu cánh, và quyền tối cao của nhân tính vượt lên trên mọi vấn đề về ý thức hệ, và luôn luôn phải được duy trì.

Viễn cảnh về một mối nguy đơn giản nhưng lớn nhất đang đối diện với loài người – thực vậy, với tất cả sinh thể trên hành tinh chúng ta – là sự đe dọa về sự hủy hoại từ vũ khí hạt nhân. Không cần phải nói chi tiết về mối nguy hiểm nầy, nhưng tôi muốn kêu gọi các nhà lãnh đạo các cường quốc hạt nhân đang thực sự nắm giữ tương lai của thế giới trong tay, đến các nhà khoa học và kỹ thuật đang tiếp tục tạo ra những vũ khí đáng sợ cho sự hủy diệt, và đến toàn thể mọi người có một vị thế ảnh hưởng đến những người lãnh đạo của họ. Tôi kêu gọi họ hãy sử dụng phẩm tính trong sáng thánh thiện của mình và bắt tay vào việc tháo gỡphá hủy tất cả vũ khí hạt nhân. Chúng ta biết rằng trong biến cố chiến tranh hạt nhân, sẽ không có người chiến thắng vì sẽ không có ai sống còn. Không sợ hãi khi suy gẫm đến sự phá hoại phi nhân tính và vô tâm như thế hay sao? Và phải chăng không hợp lý khi chúng ta phải xoay chuyển nguyên nhân và có cả thời gian lẫn phương tiện để làm như thế? Thường chúng ta không thể vượt qua những vấn đề của chúng ta vì hoặc là chúng ta không biết được nguyên nhân hoặc là nếu chúng ta không hiểu được vấn đề, thì không có phương tiện để chuyển hóa nó. Đây không phải là trường hợp đối với đe dọa của hạt nhân.

Dù những vấn đề ấy thuộc về sinh thể có mối liên hệ lớn nhất như loài người, hay với loài có mối liên hệ đơn giản hơn như loài vật, thì tất cả các loài chủ yếu đều mong cầu hòa bình, tiện nghi và sự bảo đảm. Đời sống đều đắt giá đối với loài động vật vô tri cũng như đối với loài người, ngay với loài côn trùng nhỏ nhất cũng tranh đấu chống lại sự nguy hiểm đe dọa đời sống của chúng. Ngay cả mỗi người chúng ta cũng muốn sống và không muốn chết, tất cả sinh vật khác trong vũ trụ cũng như thế. Song le, lực tác động đến từng loài là một vấn đề khác.

Nói chung, có hai loại hạnh phúcđau khổ: tinh thầnvật chất. Trong hai loại, tôi tin rằng đau khổ tinh thầnhạnh phúc tinh thầndữ dội nhất. Bởi vậy, tôi nhấn mạnh đến sự đào luyện tâm linh để chịu đựng khổ đau và kéo dài được trạng thái hạnh phúc. Tuy nhiên, tôi lại có một ý niệm cụ thể và phổ quát hơn về hạnh phúc: một hợp thể của sự bình an bên trong tâm thức, một nền kinh tế phát triển, và hơn tất cả, là thế giới hòa bình. Để đạt được mục tiêu như thế, tôi thấy rất cần thiết phải đẩy mạnh ý thức về trách nhiệm toàn cầu, và mối quan tâm sâu sắc về mọi vấn đề lâu nay đã bị thờ ơ như đức tin, chủng tộc, tính dục, hoặc dân tộc.

Tiền đề đằng sau ý tưởng trách nhiệm toàn cầu là một yếu tố đơn giản, nói chung là ước muốn của tất cả mọi người khác đều giống như ước nguyện của tôi. Mọi loài đều muốn hạnh phúc chứ không muốn đau khổ. Nếu chúng taloài người thông minh, không chấp nhận sự kiện nầy thì sẽ càng có nhiều khổ đau trên hành tinh nầy. Nếu chúng ta thừa nhận tư tưởng bản ngã trung tâm để tiếp cận cuộc sống và thường xuyên nỗ lực sử dụng những loài khác làm lợi ích riêng tư cho mình, chúng tathể đạt được lợi ích nhất thời, nhưng lâu dài chúng ta sẽ không thành công ngay cả trong việc đạt được hạnh phúc cá nhân. Còn vấn đề hòa bình thế giới sẽ hoàn toàn vượt ra ngoài vấn đề.

Trong những yêu cầu để có hạnh phúc, con người đã dùng nhiều phương pháp khác nhau, phần nhiều thường bị ghê tởm và xa lánh. Xử sự bằng những phương pháp hoàn toàn không mang tính người, họ chống lại khổ đau bằng cách thân thiện với con người và các loài khác chỉ vì lợi ích của riêng cá nhân họ. Cuối cùng, hành vi thiển cận ấy đem đến khổ đau cho chính họ cũng như cho mọi người khác. Để được sinh ra làm người, tự nó là một sự kiện hy hữu, và có thể vận dụng dịp may nầy một cách có hiệu quả và khéo léo là người khôn ngoan. Chúng ta phải có tầm nhìn riêng về tiến trình sự sống của vũ trụ, để hạnh phúc, vinh quang của cá nhân hay tập thể: không phải tìm kiếm ở sự trả giá nơi người khác.

Tất cả đều trông chờ ở một cuộc tiếp cận mới cho vấn đề toàn cầu. Thế giới càng trở nên nhỏ bé hơn, và càng trở nên tùy thuộc vào nhau hơn – như là một kết quả nhanh chóng của kỹ nghệ tiến bộ và mậu dịch quốc tế cũng như mối quan hệ xuyên quốc gia. Ngày nay chúng ta tùy thuộc rất nhiều đến những người khác. Thời cổ đại, các vấn đề hầu như chỉ trong phạm vi gia đình, nó liên kết chặt chẽ một cách tự nhiên trong phạm vi gia đình, nhưng tình thế ngày nay chúng ta tùy thuộc vào nhau rất mật thiết, liên quan với nhau rất chặt chẽ, đến nỗi nếu khôngý thức về trách nhiệm toàn cầu, nếu không cảm thấy tình huynh đệ trong toàn thế giới, không có sự hiểu biếtniềm tin rằng chúng ta là một phần của gia đình nhân loại rộng lớn, thì không ta không thể nào hy vọng vượt qua hiểm nạn để có được sự sinh tồn – để phát triển hạnh phúcan lạc.

Về lâu dài, vấn đề của một quốc gia không thể đơn độc giải quyết ổn thỏa trong lâu dài được, vì tùy thuộc quá nhiều vào sự quan tâmthái độ hợp tác của các quốc gia khác. Tính chất nhân văn phổ quát tiếp cận vào vấn đề thế giới dường như chỉ là nền tảng của vấn đề hòa bình thế giới. Điều ấy có nghĩa gì? Chúng ta khởi đầu từ nhận thức đã được đề cập trước đây rằng mọi chúng sinh đều mong muốn có hạnh phúc và không ai muốn khổ đau. Thế nên sẽ trở nên sai lầm về đạo đứcthực dụng thiếu khôn ngoan khi chỉ truy cầu hạnh phúc cho riêng mình, dĩ nhiên với ý nguyện là cho mọi người sống chung quanh ta như một thành viên của cùng một gia đình nhân loại. Phương cách khôn ngoan hơn là nghĩ đến người khác khi theo đuổi hạnh phúc riêng cho mình. Việc nầy sẽ dẫn đến điều tôi gọi là »lợi ích cá nhân khôn ngoan«, hy vọng tự nó sẽ được chuyển thành »lợi ích của toàn thể« hoặc tốt hơn nữa là »các bên cùng có lợi«.

Mặc dù sự gia tăng tính tương duyên trong số các quốc gia sẽ đưa đến hy vọng làm nảy sinh sự hợp tác thông cảm nhiều hơn, khó mà đạt được sự hợp tác tinh thần chân thực khi mà con người còn thờ ơ với sự xúc cảm và hạnh phúc của người khác. Khi con người bị kích động bởi tham lamđố kỵ, thì họ rất khó sống hài hòa. Một lối tiếp cận tinh thầnthể không hóa giải được toàn bộ vấn đề chính trị khi đã được tạo nên bởi lối tiếp cận của lợi ích cá nhân, nhưng lâu dài, nó sẽ vượt qua được các nền tảng của vấn đề mà ta đang đối diện ngày nay.

Mặt khác, nếu loài người tiếp tục tiếp cận các vấn đề chỉ xét đến tiện nghi hiện thời, thì thế hệ tương lai sẽ phải đối diện với khó khăn khủng khiếp. Dân số toàn cầu đang gia tăng, tài nguyên của chúng ta cạn kiệt nhanh chóng. Hãy nhìn rừng cây chẳng hạn. Không ai có thể biết chính xác vô số ảnh hưởng nghiêm trọng của việc khai thác rừng đối với khí hậu, đất đai và sinh thái toàn cầu như là một thể thống nhất. Chúng ta đang phải đối diện với các vấn đề do con người chỉ chú ý đến họ trong một khoảng thời gian ngắn, chỉ để ý đến lợi ích cá nhân, không lưu tâm đến toàn nhân loại. Họ không chiêm nghiệm về trái đất và ảnh hưởng lâu dài vào đời sống chung như một toàn thể. Nếu chúng ta là người của thế hệ hiện tại, không suy gẫm những chi tiết nầy, thì thế hệ tương lai không thể đối phó nổi với các vấn đề ấy.

LÒNG TỪ BI NHƯ LÀ CỘT TRỤ  CỦA

HÒA BÌNH THẾ GIỚI

Theo tâm lý học Phật giáo, hầu hết những rắc rối của chúng ta đều do sự ham muốn mãnh liệt và chấp trước vào các pháp mà ta hiểu lầm các pháp ấy là những thực thể tồn tại lâu dài. Sự theo đuổi các khách thể là do lòng tham và sự chấp trước của ta liên quan với việc sử dụng sự gây hấntranh đua như là một công cụ hiệu nghiệm. Tiến trình tâm linh như thế dễ dàng chuyển thành hành động của con người, nuôi dưỡng tính hiếu chiến như một hậu quả tất yếu. Những tiến trình như vậy đã được tiếp diễn trong tâm thức nhân loại từ lúc nào không biết được, nhưng sự biểu hiện đã trở thành rất có hiệu quả dưới những điều kiện tân tiến. Chúng ta có thể làm gì để kiểm soátđiều chỉnh những »độc tố«: vô minh, tham lam và bạo động? Vì chính những độc tố nầy là hậu trường của hầu hết mọi phiền nhiễu trên thế giới.

Là một đặc điểm phát sinh từ ra trong truyền thống Phật giáo Đại thừa, tôi thấy rằng lòng từ bi là chất liệu đạo đức dệt nên hòa bình thế giới. Trước tiên, tôi định nghĩa về ý nghĩa của lòng từ bi. Khi các bạn thương xót hay động lòng trắc ẩn đối với một người rất nghèo, nghĩa là các bạn đang biểu hiện sự thông cảm vì người ấy nghèo khổ, do lòng thương tâm của các bạn xuất phát từ lòng vị tha.

Mặt khác, tình yêu chồng vợ, con cái, hay bạn bè thân thiết thường xuất phát từ lòng quyến luyến. Khi lòng quyến luyến của bạn thay đổi, thì tình thương yêu của bạn cũng thay đổi, hay có thể biến mất luôn. Đây không phải là tình thương chân thực. Tình yêu chân thực là không xuất phát từ sự quyến luyến, mà xuất phát từ lòng vị tha. Trong trường hợp nầy, lòng từ bi của bạn sẽ tồn tại như sự đáp ứng cho con người bị khổ đau cho đến khi loài người còn tiếp tục đau khổ.

Dạng lòng trắc ẩn nầy là điều chúng ta phải cố gắng gieo trồng trong chính mình, và chúng ta phải phát triển tấm lòng ấy từ tầm mức hữu hạn đến vô hạn. Lòng từ bi không phân biệt, ngẫu nhiênkhông giới hạn đối với chúng sinh dĩ nhiên không phải là tình yêu thông thường mà con người ban phát cho gia đình, bạn thân của họ, đã bị giảm giá trịvô minh, tham muốnchấp trước. Loại tình yêu mà ta tán đồng là loại tình thương rộng lớn mà các bạn ban phát ngay cả cho người mà đã hãm hại các bạn: là kẻ thù.

Tính hợp lý của lòng từ bi là mọi người chúng ta đều muốn tránh khổ đau và có được hạnh phúc. Điều nầy, trở lại, được xuất phát trên cảm giáchiệu lực về »tôi«, nó định hình sự mong muốn phổ quát về hạnh phúc. Thực vậy, tất cả mọi người đều được sinh ra với một mong muốn giống nhau, tất cả lẽ ra đều có quyền bình đẳng để đạt được điều mong ước đó. Nếu tôi so sánh mình với người khác, đông vô chừng, tôi thấy những người kia quan trọng hơn vì tôi chỉ là một trong khi những người kia là nhiều. Hơn thế nữa, truyền thống Phật giáo Tây Tạng dạy chúng ta xem tất cả các loài hữu tình như là người mẹ thân yêu của mình và mình phải biểu hiện lòng tri ân bằng cách yêu thương tất cả mọi loài. Bởi vì theo giáo lý Phật pháp, chúng ta đã sinh ra và tái sinh trong vô số kiếp, và điều ấy được xem là mỗi người đã là cha hoặc mẹ của chúng ta trong một đời hay nhiều đời khác. Trong tinh thần đó, tất cả loài hữu tình trong thế gian đều chia xẻ với nhau cùng một mối quan hệ gia đình.

con ngườiniềm tin vào tôn giáo hay không, chẳng có ai mà không cảm thụ được lòng từ bi. Ngay lúc chào đời, chúng ta được chăm sóc bởi lòng từ bi của cha mẹ mình. Sau đó trong đời sống, khi đối diện với đau khổ của bệnh tật và tuổi già, chúng ta lại nương tựa vào lòng từ bi của những người khác. Nếu lúc sinh ra và kết thúc cuộc đời mình, chúng ta tùy thuộc vào lòng từ bi của người khác, tại sao trong thời trung niên chúng ta lại không sống với mọi người bằng lòng từ bi?

Sự sinh khởi của lòng từ bi (cảm giác thân mật dành cho mọi người) không phải là niềm tin tôn giáochúng ta thường tham dự trong sự thực hành đời sống tôn giáo quy ước hằng ngày. Lòng từ bi ấy không phải chỉ dành riêng cho những người tin vào tôn giáo, mà cho mọi người không kể chủng tộc, tôn giáo, khuynh hướng chính trị. Lòng từ bi ấy dành cho mọi người tự xem mình, hơn tất cả, là thành viên của gia đình nhân loại và những người nhìn thấy mọi điều tới một toàn cảnh rộng lớn và lâu dài hơn. Đây là một cảm nhận mạnh mẽ mà chúng ta nên phát huy và áp dụng, thay vì chúng ta thường thờ ơ, đặc biệt là trong thời gian đầu đời khi chúng ta trải qua ý thức sai lầm về sự an ninh cá nhân.

Khi chúng ta có được nhận thức về viễn cảnh lâu dài hơn, thực tế là tất cả mọi loài đều muốn có được hạnh phúc và tránh mọi khổ đau, giữ trong tâm quan hệ bình thường với vô số người khác, chúng ta có thể kết luận rằng thật đáng quý khi chia xẻ mọi thứ sở hữu của mình cho người khác. Khi các bạn rèn luyện quan niệm nầy, một ý thức chân thực về lòng từý thức chân thực về tình thương yêu và sự kính trọng đối với người khác – trở thành có thực. Hạnh phúc cá nhân đình chỉ để tạo thành ý thức nỗ lực tìm kiếm; nó trở thành một năng lực tự động và siêu việt bởi vì xuất phát từ toàn thể quá trình thương yêu và giúp đỡ cho người khác.

Một kết quả khác của sự phát triển tâm linh lợi lạc nhất trong đời sống ngày nay là nó đã đem lại một tâm thức an tĩnh ngay trong giây phút hiện tại. Cuộc sống chúng ta thường xuyên bị phóng vọt ra ngoài, mang theo rất nhiều rắc rối. Khi chúng ta đối diện với tâm tĩnh lặng và trong sáng, mọi vấn đề có thể được hóa giải một cách trọn vẹn. Trong khi, thay vì vậy, chúng ta đánh mất sự tự chủ trong tâm khi ta nóng nảy, ích kỷ, đố kỵ, hờn giận, chúng ta đánh mất ý thức chân chính. Tâm ta bị mù lòa và trong phút chốc dại dột nầy, mọi việc đều có thể xảy ra, gồm cả chiến tranh. Do vậy, sự thực tập lòng từ bi và trí tuệ rất có ích cho tất cả mọi giới, đặc biệt là cho những người có trách nhiệm điều khiển quốc gia, trong tay họ nắm toàn bộ quyền hạn và cơ hội tạo nên cấu trúc một thế giới hòa bình.

MỘT TÔN GIÁO PHỔ QUÁT CHO NỀN HÒA BÌNH NHÂN LOẠI

Những đạo lý được thảo luận đến vẫn có được sự hài hòa với giáo lý đạo đức của tất cả các tôn giáo trên thế giới. Tôi xác nhận rằng mỗi tôn giáo lớn trên thế giới: đạo Phật, Cơ-đốc giáo, Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Kỳ Na giáo, Do Thái giáo, đạo Xích[109], đạo Lão, đạo Zoroastrianism[110], đều có quan niệm về tình thương giống nhau, có cùng mục tiêu đem sự lợi lạc đến cho loài người qua phương cách thực hành tâm linh, và cùng một hiệu quả khiến cho các tín đồ của họ trở nên con người hoàn thiện. Tất cả các tôn giáo đều dạy những giới điều đạo đức để hoàn thiện chức năng của tâm ý, thân thểlời nói. Tất cả các giới luật đều dạy chúng ta không nên nói dối hoặc trộm cắp hoặc hủy hoại sinh mạng của người khác, và còn nữa. Mục đích chung của tất cả giới điều đạo đức được đưa ra bởi những bậc đạo sư vĩ đại của nhân loại chính là tính vô ngã. Các vị đại đạo sư muốn dẫn dắt môn đệ của mình tránh khỏi con đường tạo ra những chủng tử xấu gây nên bởi vô minhgiới thiệu cho các môn đệ con đường nhắm đến toàn thiện.

Tất cả các tôn giáo đều đồng ý đến tính cần thiết của việc điều chỉnh tâm thức lan man là nơi trú ẩn của bản ngã và những cội rễ khác của phiền não, và mỗi giáo lý đều chỉ dạy một con đường dẫn đến cảnh giới tâm linh đầy bình an, ổn định, đức hạnhtrí tuệ. Trong ý nghĩa nầy, tôi tin rằng các tôn giáo đều có một thông điệp cơ bản giống nhau. Những giáo lý khác nhau có thể được quy về cho sự khác nhau của các thời đại và các hoàn cảnh sống cũng như sự ảnh hưởng của các nền văn hóa. Thực vậy, những cuộc tranh luậntính chất học giả sẽ không cùng tận khi ta chỉ thuần túy khảo sát tôn giáo trên khía cạnh siêu hình. Tuy nhiên, sẽ được lợi lạc nhiều hơn khi cố gắng ứng dụng trong đời sống hàng ngày những giới điều đạo đức để đạt được sự toàn thiện được các tôn giáo hướng dẫn hơn là bàn cãi về những sự khác biệt khi tiếp cận.

Có nhiều tôn giáo khác nhau mang đến lợi íchhạnh phúc cho nhân loại bằng nhiều phương pháp giống nhau như có nhiều cách chữa trị đặc biệt cho nhiều loại bệnh tật. Bởi vì, các tôn giáo đều hiến mình theo phương thức của riêng mình để cứu giúp cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau và đạt được hạnh phúc. Và, mặc dù chúng ta có thể tìm thấy những nguyên nhân về sự ưa thích việc biện minh, lý giải cho một chân lý của tôn giáo nào đó, thì vẫn có nhiều nguyên nhân lớn hơn về sự hợp quần, phát sinh từ lòng người. Mỗi tôn giáo hoạt động theo phương pháp riêng của mình để giảm trừ khổ đau con người và đóng góp vào văn minh của nhân loại. Trái lại, không phải là mục đích của tôn giáo. Chẳng hạn, tôi không cho rằng nên bắt buộc người khác cải đạo sang Phật giáo, hay là gieo thêm những nhân duyên với Phật pháp. Đúng hơn, tôi thường suy nghĩ làm sao để mình được là một con người của đạo Phật nhân bản, có thể góp phần vào hạnh phúc của con người.

Trong khi chỉ ra những điểm tương đồng căn bản giữa các tôn giáo trên thế giới, tôi không biện hộ cho một tôn giáo đặc biệt nào và hạ thấp các tôn giáo khác, tôi cũng không tìm kiếm một »tôn giáo thế giới« mới. Tất cả các tôn giáo khác nhau trên thế giới đã đủ để làm giàu cho kinh nghiệm của con người và đủ cho văn minh nhân loại rồi. Tâm thức con người chúng ta, vốn có nhiều khả năng và thiên hướng khác nhau, nên cần có những phương cách để tiếp cận với sự an bìnhhạnh phúc. Cũng giống như thức ăn, một số người nhận thấy Cơ-đốc giáo  hấp dẫn hơn, một số khác thích Phật giáo hơn vì không có một đấng sáng tạo thế giới trong giáo lý ấy và mọi hiện hữu đều tùy thuộc vào hành vi của chính mình. Chúng ta có thể mở ra nhiều cuộc thảo luận về các tôn giáo khác như thế. Vậy nên mục đích thì đã rõ: nhân loại cần tất cả các tôn giáo để thích nghi với phương thức sống, thích nghi với nhu cầu tâm linh đa dạng và thừa kế truyền thống dân tộc của cá nhân con người.

Từ viễn cảnh nầy, tôi tán đồng những nỗ lực đang được thể hiện từ khắp mọi nơi trên thế giới để góp phần cho sự hiểu biết tốt hơn về các tôn giáo. Nhu cầu cho việc nầy đặc biệt cấp bách hiện nay. Nếu tất cả các tôn giáo tạo nên được sự cải thiện những mối quan tâm chính của nhân loại, thì họ sẽ cùng hành động hòa hợp với nhau cho hòa bình thế giới. Sự tin tưởnghiểu biết lẫn nhau sẽ sinh khởi sự cần thiết nhất quán cho các tôn giáo cùng hoạt động với nhau. Tuy nhiên, mặc dù đây thực sự là một bước quan trọng, chúng ta phải nhớ rằng. Sẽ không có một giải pháp nào nhanh chóng và dễ dàng cả. Chúng ta không thể giấu diếm được những xung khắc của các học thuyết đang tồn tại từ những đức tin khác nhau. Cũng không hy vọng có thể thay thế những tôn giáo đang hiện hữu bởi một đức tin mới phổ biến hơn. Mọi tôn giáo đều có những sự đóng góp riêng biệt để thực thi, và mỗi tôn giáo đều có riêng phương pháp để thích nghi với từng căn cơ của các dạng người như họ nhận thức về đời sống nầy. Thế giới cần tất cả các tôn giáo ấy.

Có hai vấn đề chủ yếu đòi hỏi các nhà hoạt động tôn giáo quan tâm đến hòa bình thế giới. Trước hết, chúng ta phải phát huy hơn nữa sự tin tưởnghiểu biết lẫn nhau để tạo nên mức độ khả thi cho sự hợp nhất các tôn giáo. Điều nầy có thể thành tựu từng phần bởi sự tôn trọng các đức tin của mỗi bên và bằng cách nhấn mạnh mối quan tâm chung nhất về niềm an vui của con người.

Thứ hai, chúng ta phải lập ra thỏa hiệp chung có thể tác dụng trên giá trị nền tảng về tâm linh sẽ làm rung động lòng người và tăng trưởng hạnh phúc của toàn nhân loại. Điều nầy có nghĩa là chúng ta phải chú trọng vào mẫu số chung của các tôn giáo trên thế giớilý tưởng nhân đạo. Hai bước nầy sẽ khuyến khích chúng ta hành động trên cả hai phương diện, cá nhâncộng đồng để tạo ra các yếu tố tâm linh thiết yếu cho hòa bình thế giới.

Chúng tahành giả của các đức tin khác nhau. Có thể cũng hợp tác với nhau cho hòa bình thế giới. Khi chúng ta thấy rõ các tôn giáo khác nhau chính là những chất liệu thiết yếu để phát triển thành một tấm lòng chí thiện – yêu thươngtôn trọng mọi loài, cùng ý thức chân chính về đời sống cộng đồng. Điều quan trọng nhất là nhìn về các dự định triển vọng của các tôn giáo, không chỉ ở chi tiết về lý thuyết và chất siêu hình, chỉ có thể dẫn dắt đến chủ nghĩa tri thức. Tôi tin rằng tất cả các tôn giáo lớn trên thế giớithể tham gia vào hòa bình thế giớihợp tác cùng nhau cho lợi ích nhân loại nếu chúng ta gạt qua một bên những dị biệt siêu hình vi tế, vốn thực sự là những vấn đề nội tại của mỗi tôn giáo.

Mặc dù tiến trình thế tục hóa đã phát sinh bởi sự hiện đại hóa trên bình diện thế giới, và mặc dù những nỗ lực mang tính hệ thống hóa ở một phần thế giới nhằm phá hủy giá trị tâm linh, nhưng số đông loài người vẫn tiếp tục tin vào một tôn giáo nầy hoặc tôn giáo khác. Niềm tin bất diệt vào tôn giáo, những biến cốtrải qua dưới hệ thống chính trị vô thần, biểu lộ rõ ràng tiềm năng của tôn giáo như nó vốn vậy. Năng lực tâm linh nầy và sức mạnh bên ngoài có thể sẵn sàng để phát khởi những yếu tố tâm linh cần thiết cho hòa bình thế giới. Những nhà lãnh đạo tôn giáo và các lãnh đạo các phong trào nhân đạo trên khắp thế giới phải nên có một vai trò đặc biệt để điều hành trên phương diện nầy. Dù chúng ta sẽ thành tựu được hòa bình thế giới hay không, chúng ta không thể lựa chọn mà chỉ hành động nhắm đến mục tiêu nầy. Nếu tâm ta bị chế ngự bởi nóng giận, chúng ta sẽ đánh mất phần ưu việt nhất của tri thức con ngườitrí tuệ, là khả năng quyết định giữa chính và tà. Nóng giận là một vấn đề nghiêm trọng nhất thách thức thế giới ngày nay.

NĂNG LỰC CÁ NHÂN ĐỊNH HÌNH CHO SỰ KHỞI ĐẦU

Nóng giận đóng một vai trò không nhỏ trong các cuộc xung đột hiện thời như đang xảy ra ở Trung Đông, Đông Nam Á, vấn đề Nam Bắc... Những cuộc xung đột nầy phát sinh từ sự thất bại trong việc không hiểu biết về quan điểm nhân đạo của nhau. Giải quyết vấn đề không phải là sử dụng và phát huy quân đội hùng mạnh, hoặc các loại vũ khí hiện đại. Cũng không phải thuần túy vấn đề chính trị hay thuần túy kỹ thuật. Cơ bản vấn đềtinh thần, trong ý nghĩa những gì cần thiết là sự hiểu biết nhạy bén về tình trạng chung của con người. Thù nghịch và chống đối không thể mang lại hạnh phúc cho mọi người, ngay cả người thắng trận. Bạo động luôn luôn tạo ra khổ đau, chủ yếu là tác động ngược lại. Vậy nên, đó là lúc cho các nhà lãnh đạo thế giới học cách vượt qua sự kỳ thị chủng tộc, văn hóaý thức hệ để có cái nhìn xuyên suốt bằng con mắt khác để thấy tình trạng chung của con người hiện nay. Làm được như thế, sẽ có lợi lạc rất nhiều cho từng cá nhân, cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới.

Sự căng thẳng của thế giới hiện nay phần lớn dường như xuất phát từ mâu thuẫn giữa »khối phương Đông« và »khối phương Tây« tiếp diễn từ thế chiến thứ 2. Cả hai khối nầy có khuynh hướng mô tả và nhìn khối kia bằng một nhãn quan hoàn toàn bất lợi. Cuộc đấu tranh liên tục, bất hợp lý nầy do vì thiếu thông cảm và thiếu tôn trọng lẫn nhau như là một người bạn. Những người thuộc khối phương Đông nên từ bỏ sự thù nghịch với khối phương Tây vì khối phương Tây cũng bao gồm những người đàn ông, phụ nữ, trẻ em. Tương tự, khối phương Tây nên từ bỏ sự thù nghịch lẫn nhau giữa hai khối như thế, các nhà lãnh đạo của hai bên phải đóng một vai trò rất lớn. Nhưng trước nhất, các nhà lãnh đạo phải nhận thức được tính nhân đạo trong người dân nước mình và người dân nước khác. Không có được nhận thức cơ bản nầy, thì rất hiếm có được hiệu quả trong việc giảm trừ sự thù nghịch ở các tổ chức.

Nếu như, chẳng hạn, lãnh đạo của Hoa Kỳ và lãnh đạo của Liên bang Xô-viết tình cờ gặp nhau giữa một hoang đảo, tôi chắc là họ sẽ đáp ứng những vấn đề tự phát của nhau như là những người bạn thân của loài người. Nhưng một bức tường của sự nghi ngờhiểu lầm lẫn nhau ngăn cách ngay giây phút họ tự đồng nhất mình với danh hiệu »Tổng Thống Hoa Kỳ« và »Tổng Bí thư Liên bang Xô-viết«. Nhiều người quen tiếp xúc với hình thức không cần lễ nghi trong các cuộc gặp gỡ rộng rãi, không cần hẹn trước, như thế sẽ phát huy được sự hiểu biết lẫn nhau; họ sẽ học được cách liên hệ với những người khác và rồi có thể cố gắng hòa giải vấn đề thế giới căn cứ trên sự hiểu biết nầy. Khi không có hai đảng phái, đặc biệt là những bên có một lịch sử đối kháng nhau, thì họ có thể đàm phán thành công trong bầu không khí nghi ngờthù nghịch.

Tôi đề nghị các nhà lãnh đạo thế giới nên gặp nhau một năm một lần ở một nơi có phong cảnh đẹp mà không có sự bận rộn của công việc, chỉ để tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau về giữa con người. Thế rồi, sau đó họ có thể gặp nhau để thảo luận về những vấn đề toàn cầu. Tôi chắc sẽ có nhiều người cùng chia xẻ ước muốn của tôi về các lãnh tụ thế giới nên gặp nhau ở bàn hội nghị trong bầu không khí kính trọnghiểu biết lẫn nhau về tính cách con người của nhau.

Để phát triển rộng lớn sự liên lạc mật thiết giữa người với người trên thế giới, tôi mong muốn thấy sự khích lệ lớn hơn của ngành du lịch thế giới. Cũng vậy, phương tiện truyền thông lớn lao, đặc biệt là ở xã hội dân chủ, có thể tạo nên quan tâm thích đáng vào hòa bình thế giới bằng cách đóng góp nhiều bài tường thuật về những tiết mục mà con người quan tâm, phản ánh sự hợp nhất tối cao của nhân loại. Với sự sinh khởi của vài năng lực vĩ đại nầy trên diễn đàn quốc tế, nơi vai trò của nhân tính trong các tổ chức quốc tế đang bị bỏ qua và xem thường, tôi hy vọng điều nầy sẽ được điều chỉnh và tất cả các tổ chức quốc tế, đặc biệtLiên Hiệp Quốc, sẽ năng độnghiệu quả hơn trong việc bảo đảm lợi lạc lớn nhất cho nhân loạimở rộng tầm hiểu biết trên phạm vi quốc tế. Thực là rất bi đát nếu một vài thành viên có thế lực mạnh tiếp tục bạc đãi các tổ chức khác trên thế giới, như Liên Hiệp Quốc với những quan tâmtính cách thiên vị. Liên Hiệp Quốc phải trở thành công cụ cho hòa bình thế giới. Tổ chức thế giới nầy phải được tôn trọng bởi tất cả, vì Liên Hiệp Quốc là cội nguồn hy vọng duy nhất cho những nước nhỏ bị áp bức và cũng như cho toàn thể các hành tinh.

Như các quốc gia nghèo tùy thuộc vào các nước khác hơn trước đây bao giờ hết, thì sự hiểu biết của con người phải vượt qua ranh giới quốc gia và phải bao hàm cả cộng đồng thế giới ở mức độ rộng lớn. Thực vậy, trừ phi chúng ta tạo được bầu không khí hợp tác chân thực, không thủ lợi bằng sự đe dọa hay thực dụng thông qua bạo lực mà bằng sự hiểu biết thông cảm, thì vấn đề thế giới sẽ được thúc đẩy. Nếu người ở các quốc gia nghèo bị khước từ hạnh phúc mà họ mơ ước và xứng đáng được hưởng, tự nhiên, họ sẽ bất mãn và đặt vấn đề với người giàu. Nếu những hình thức xã hội, chính trị, văn hóa vô ích ấy tiép tục áp đặt cho con người một cách miễn cưỡng, thì mục đích hòa bình thế giới thật đáng ngờ.

Tuy nhiên, nếu chúng ta thỏa mãn mọi người ở mức độ tùy tâm, hòa bình chắc chắn sẽ đến.

Trong mỗi quốc gia, mỗi cá nhân phải có quyền được hạnh phúc, và giữa các quốc gia, phải có sự quan tâm bình đẳng về lợi ích của một quốc gia dù nhỏ nhất. Tôi không đề nghị một hệ thống này tốt hơn hệ thống kia và tất cả đều phải chấp nhận. Ngược lại, những hệ thống chính trị và ý thức hệ khác nhau là điều tốt đẹpthích hợp với những thiên hướng khác nhau trong cộng đồng nhân loại. Điều nầy làm tăng thêm những yêu cầu hạnh phúc không ngừng của nhân loại. Vậy nên mỗi cộng đồng nên có được tự do tham gia vào hệ thống chính trị và kinh tế – xã hội của riêng họ, căn cứ vào nguyên tắc của quyền tự quyết.

Sự thành tựu của công lý, hòa hợp, và hòa bình tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Chúng ta nên suy nghĩ về nó trong phạm vi lợi lạc của con người về lâu dài hơn là ngắn hạn. Tôi nhận thấy sự to lớn của vấn đề đã xảy ra trước chúng tôi, nhưng tôi hiểu không có cách thay thế hơn là cách mà tôi đã dự tính – căn cứ trên cộng đồng nhân loại chúng ta. Các quốc gia không còn có sự lựa chọn nào hơn là quan tâm đến lợi ích của người khác, không nhiều bởi vì niềm tin vào nhân loại, mà bởi vì đó là sự hỗ tương lẫn nhau và lợi ích lâu dài mà tất cả các quốc gia cùng quan tâm. Một cảm thụ về thực tại mới mẻ nầy được biểu hiện bởi sự nổi lên của các tổ chức kinh tế khu vực hay liên lục địa như Cộng đồng kinh tế châu Âu[111] và Hiệp hội các nước Đông Nam Á[112]... Và cứ thế, hy vọng còn có nhiều tổ chức xuyên quốc gia sẽ được thành lập, đặc biệt là ở những vùng kinh tế phát triển và những nơi dường như ổn định với những nhu cầu tối thiểu.

Với điều kiện hiện nay, chắc chắn có một nhu cầu đang lớn mạnh về tri thức của nhân loạiý thức về trách nhiệm toàn cầu. Để thành tựu được lý tưởng nầy, chúng ta phải nuôi lớn lòng từ bi chí thiện, không có tấm lòng nầy, chúng ta không thể có được hạnh phúc cho nhân loại cũng không có hòa bình thế giới lâu dài. Chúng ta không thể tạo hòa bình trên giấy. Trong khi bào chữa, biện hộ cho trách nhiệm toàn cầu và tình huynh đệ rộng lớn không giới hạn, thực tế là tính nhân đạo ấy được hợp thành bởi những thực thể tách rời trong dạng những xã hội mang tính quốc gia. Do vậy, trong một ý nghĩa thực tế, tôi thấy những xã hội nầy dường như đang bị bắt buộc phải dựng nên một chướng ngại cho hòa bình thế giới.

Những nỗ lực đã có trong quá khứ để tạo dựng cho xã hội công chínhbình đẳng hơn. Những sự khởi động đã được thiết lập với những hiến chương cao quý để chống lại những thế lực phá hoại xã hội. Không may, những ý tưởng nầy đã bị lòng ích kỷ đánh lừa. Còn hơn trước đây, ngày nay chúng ta chứng kiến đạo đức và những nguyên tắc cao quý bị che mờ bởi bóng râm của tư lợi, đặc biệt là trong bầu khí chính trị. Có một trường phái tư tưởng cảnh báo chúng ta đề phòng vấn đề chính trị nói chung, vì chính trị đã trở nên đồng nghĩa với phi luân. Chính trị thiếu luân lý thì không thúc đẩy được lợi ích nhân loạiđời sống không có đạo đức thì kéo con người xuống mức cầm thú. Tuy nhiên, chính trị rõ ràng không »dơ bẩn«. Đúng hơn, những chất liệu của nền văn hóa chính trị của chúng ta đã bóp méo lý tưởng cao cảý thức cao thượng có ý nghĩa đẩy mạnh lợi lạc cho con người. Tất nhiên, những người có tinh thần biểu lộ sự quan tâm của họ về những nhà lãnh đạo tôn giáo hay »lẫn lộn« với vấn đề chính trị, do họ sợ sự ô nhiễmtôn giáo phải bị mắc phải vì sự bẩn thỉu của chính trị.

Tôi đề nghị sự tự tôn thông thường về tôn giáoluân lý không nên đặt trong chính trị và những người có đời sống tôn giáo ấy nên tự mình sống ẩn dật như một nhà tu khổ hạnh. Quan niệm như vậy về tôn giáo cũng chỉ mới một chiều, nó thiếu tầm nhìn chính đáng về sự liên hệ của cá nhân với xã hộivai trò của tôn giáo trong đời sống chúng ta. Đạo đức như là một tính chất quyết định đối với một chính trị gia như nó đối với một tín đồ. Hậu quả nguy hiểm sẽ kéo theo khi nhà chính trị và lãnh đạo quên đi những nguyên tắc đạo đức. Dù chúng ta có tin vào thượng đế và nghiệp hay không, luân lý vẫn là nền tảng của mọi tôn giáo. Những phẩm chất của con người như đạo đức, từ bi, sự lễ phép, trí tuệ... là nền tảng của tất cả mọi nền văn minh. Những phẩm chất nầy phải được gieo trồng và nuôi dưỡng thông qua hệ thống giáo dục đạo đức với sự hỗ trợ của môi trường xã hội chung quanh để tính nhân bản thế giới có thể khởi phát được. Những phẩm tính cần thiết để tạo nên một thế giới như vậy phải được khắc sâu vào trong trí ngay từ lúc mới sinh trưởng, từ thời thơ ấu của trẻ thơ. Chúng ta không thể chờ đợi thế hệ tương lai, nhưng không thể có được điều nầy trừ phi chúng ta khởi đầu một sự thay đổi chủ yếu trên bình diện thế giới trong hệ thống giáo dục hiện thời. Chúng ta cần có một cuộc cách mạng trong sự cam kết của chúng ta và sự thực hành giá trị nhân bản trên toàn cầu.

Phát những lời kêu gọi rầm rộ để điều chỉnh lại sự suy thoái đạo đức cũng chưa đủ, chúng ta phải làm một điều gì đó. Bởi vì chính phủ ngày nay không gánh vác một trách nhiệm »tôn giáo« như vậy. Các nhà lãnh đạo tôn giáolãnh đạo các tổ chức nhân đạo phải kéo dài sự tồn tại một xã hội, văn hóa, nền giáo dục và các tổ chức tôn giáo có tính công dân, để làm sống lại tính nhân đạogiá trị tâm linh. Nơi đâu có nhu cầu cần thiết, chúng ta phải tạo ra tổ chức mới để thành tựu mục tiêu. Chỉ có thực hiện như vậy, chúng ta mới mong tạo được một nền tảng vững chắc cho hòa bình thế giới.

Cùng sống trong xã hội, chúng ta nên chia xẻ sự đau khổ của đồng loạithực hành lòng từ bi và lòng khoan thứ không những chỉ đối với những người ta yêu mà còn đối với kẻ thù nghịch ta. Đây là sự thử nghiệm sức mạnh đạo đức. Chúng ta phải lấy ví dụ ngay nơi sự thực hành của mình, vì chúng ta không thể hy vọng tin tưởng giá trị tôn giáo ở người khác chỉ bằng qua lời nói. Chúng ta phải sống cùng một tiêu chuẩn của sự hợp nhất và lòng hy sinh cao độ mà chúng ta đã đòi hỏi ở người khác. Mục đích tối hậu của các tôn giáo là giúp ích và làm lợi ích cho nhân loại. Đây là lý do rất quan trọng tại sao các tôn giáo luôn luôn có ảnh hưởng đến hạnh phúc và hòa bình của toàn thể chúng sinh mà không chỉ là chuyển hóa người theo tôn giáo khác.

Cũng vậy, trong tôn giáo không có biên giới quốc gia. Một tôn giáo chỉ có thể nên áp dụng bởi con người khi họ nhân ra có những điều lợi lạc khi sống trong tinh thần tôn giáo đó. Điều quan trọng cho mỗi người tìm kiếm là chọn được một tôn giáo thích hợp với đời sống tâm linh của riêng mình. Nhưng, sự chọn lựa một tôn giáo đặc biệt không có nghĩa là từ bỏ tôn giáo khác hoặc cộng đồng nơi mình đang sống. Thực vậy, rất quan trọng cho những người chọn một tôn giáo không nên tách rời hẳn mình khỏi xã hội mình đang sống, họ nên tiếp tục sống trong cộng đồng và hài hòa với các thành viên đang sống trong đó. Bởi vì từ bỏ cộng đồng của mình, thì các bạn không thể làm lợi ích cho người khác, trong khi làm lợi ích cho mọi người thực sự là mục tiêu cơ bản của tôn giáo.

Theo quan điểm nầy, có hai điều quan trọng chúng ta phải giữ trong tâm: tự chiêm nghiệm và tự điều chỉnh lại mình. Chúng ta nên thường rà soát lại thái độ của mình đối với người khác, khảo nghiệm mình rất kỹ, và chúng ta nên điều chỉnh phong cách kịp thời khi thấy có điều gì sai trái.

Cuối cùng, là vài lời về sự tiến bộ vật chất. Tôi đã nghe nhiều than phiền về tiến bộ vật chất ở phương Tây, và thế là có điều nghịch lý, điều ấy đã là niềm hãnh diện của thế giới phương Tây. Tôi không thấy điều gì sai trái trong sự tiến bộ vật chất, miễn là con người luôn luôn tạo ra tiêu chuẩn sống cho mình. Tôi tin chắc chắn rằng để giải quyết vấn đề nhân loại trong mọi chiều hướng, chúng ta phải kết hợp và điều hòa sự phát triển kinh tế và phát triển đời sống tâm linh.

Tuy nhiên, chúng ta phải biết giới hạn của nó mặc dù tri thức duy vật trọng hình thái khoa học kỹ thuật đã đóng góp một cách vô cùng to lớn cho lợi ích nhân loại, nhưng nó không có khả năng tạo ra hạnh phúc lâu dài. Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, nơi mà sự phát triển của kỹ thuật có lẽ tiến bộ hơn bất kỳ quốc gia nào khác, mà người dân vẫn còn rất nhiều nỗi khổ tinh thần. Đây là vì tri thức vật chất chỉ có thể đáp ứng một phần hạnh phúc tùy thuộc vào điều kiện vật lý. Nó không thể đáp ứng được hạnh phúc phát xuất từ những yếu tố nội tại phát triển độc lập từ chiều sâu tâm linh.

Để làm mới lại giá trị nhân bảnđạt được hạnh phúc lâu dài, chúng ta phải nhìn vào di sản của cộng đồng nhân loại từ khắp các quốc gia trên thế giới. Nguyện cầu cho bản chuyên luận nầy được đến quý vị như một lời nhắc nhở cấp bách để chúng ta khỏi quên giá trị nhân bản đã nối kết chúng ta lại với nhau thành một gia đình hợp nhất trên hành tinh nầy.

Tạo bài viết
18/12/2015(Xem: 8454)
16/01/2016(Xem: 6649)
06/10/2016(Xem: 7016)
Kim Sơn Bảo Thắng Tự tọa lạc gần đỉnh Fansipan, được xây dựng từ cuối năm 2015 và chính thức hoàn thiện, khánh thành sau hai năm triển khai thi công (tháng 1/2018). Từ Kim Sơn Bảo Thắng Tự đi dọc theo con đường La Hán xuống là Đại tượng Phật A Di Đà cao 21,5m, được đúc bằng đồng theo kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Đây là bức tượng Phật bằng đồng cao nhất Việt Nam tới thời điểm này.
Sáng ngày 7/10/2018, Thượng toạ Thích Chân Tính trụ trì Chùa Hoằng Pháp - Việt Nam cùng chư Tôn đức Tăng – Ni tại Hoa Kỳ đã long trọng tổ chức Lễ Đặt đá Xây dựng Chùa Hoằng Pháp tại Tp. Sacramento, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Đến chứng minh và tham dự có đức Trưởng lão Hoà thượng Thích Thắng Hoan, Trưởng lão HT. Thích Tuệ Minh, HT. Thích Thông Hải, HT. Thích Đồng Trí, cùng chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử tại Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cuối tuần qua, đông đảo Phật tử đến từ hơn 50 trung tâm tu học, cơ sở tự viện khác nhau đã thực hiện cuộc tuần hành tại San Francisco cùng với hàng ngàn người khác kêu gọi quan tâm đến hiện tượng biến đổi khí hậu.