Quyển Hạ

25/06/201012:00 SA(Xem: 8089)
Quyển Hạ

QUI SƠN CẢNH SÁCH
Tỉnh Việt Đông, núi Đảnh Hồ, thầy Sa-môn Thích Hoằng Tán Tại Tham chú giải.
Kẻ môn nhân, thầy Tỳ-kheo hiệu Khai Huýnh làm lời ký.
Hòa Thượng Thích Khánh Anh dịch

Quyển Hạ

II.A.2- Thị pháp.

Chia ra làm ba phần:
a. Đạo hạnh.
b. Thiền giáo.
c. Kiết khuyến.
II.A.2.a- Đạo hạnh.
Chia làm sáu:
a1- Lập hạnh.
a2- Trừng giới.
a3- Cầu đạo.
a4- Trạch hữu.
a5- Kiết hối.
a6- Tiềm tu.

II.A.2.a1- Lập hạnh.

Luận: Kẻ xuất gia, dấy chơn vượt cõi, tâm hình khác tục, nối thạnh giống Phật, khủng bố quân ma, dùng trả bốn ân, cứu vớt ba hữu.

 Câu đầu là phiêu tông (nêu gốc), câu 2 là siêu trần (vượt tục), câu 3 vào bậc Thánh, câu 4 nối giống Thánh, câu 5 dẹp ma, câu 6 báo đức, câu 7 làm lợi chúng sanh. Do vì, giới đức đầy đủ, nên có thể đả đảo giống ác, thành lập giống thiện.

 Luận kẻ xuất gia. Xuất gia có hai hạng:

 1-Ra khỏi nhà thế tục (thế tục của lục thân) là chơn lìa chỗ trần tục đến phương xa học hỏi bực tri thức.

 2-Ra khỏi nhà phiền não (phiền não của tam giới) là dứt vọng hoặc, chứng chân lý (1), chóng vượt tam hữu.

 Dấy chơn vượt cõi, nghĩa là, từ ban đầu phát tâm đi xuất gia, liền phải noi bước nơi đại phương (chân lý Đại thừa), chớ sa nơi dòng tầm thường, lối hẹp nhỏ (phương tiện Tiểu thừa). Do không tuần tự nơi giai cấp nên nói là siêu phương (vượt cõi).

 Tâm hình khác tục: ngoài thân hình thì viên đảnh phương bào, đồng với cái đức tướng của Như Lai; trong lòng dạ thì bối trần hiệp giác bằng với cái tâm trí của Phật huệ.

 Nối thạnh giống Phật: tiếp tục cái huệ mạng của Phật đặng nối gót đức Như Lai, rao truyền chánh pháp, do đấy, ngôi Tam Bảo được chấn hưng cao thạnh.

 Chấn chiệp (2) (rúng khiếp) ma quân: giới đức cao, trí huệ rộng, thì quần tà thất kinh sợ hãi! Nói pháp, mở rộng đường đạo thì, tâm đãm của thiên ma (3) sảng sốt bể rụng!

 Dùng trả bốn ân: lập thân hành đạo, để báo đáp cái ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha, đức đầy đạo lớn, tự nhiên phước nhuần giúp cả bốn ân:

 1-ân của quốc vương (chính phủ). 2-ân của phụ mẫu. 3-ân của sư hữu. 4-ân của thí chủ (xã hội, chúng sanh).

 Cứu vớt ba hữu: Tất cả chúng sanh, mê say nơi ngũ dục lạc, chìm đắm sông ái tình; ta thuyết pháp giáo hóa, khiến ra khỏi biển khổ sông mê, đồng tiến lên cõi vui ngàn giác.

 : Chấn chiệp ma quân, chiệp: sợ, nép, là bị uy thế làm khủng bố thất khí, nghĩa là mất hồn khiếp vía!

 Đại phương, kinh Đạo Tiên nói: Đại phương vô ngung, là phương lớn không góc. Chừ mượn để tỷ cái chân lý không bờ mé. Do là ban sơ xuất gia, phải noi nơi đại lý chân thực, chớ sa đắm nơi thói tục đương thời, lẫm dẫm nơi lề lối Tiểu thừa.

 Quốc vương (chánh phủ) có cái ơn trị an đất nước, vì tất cả nước non, ruộng vườn, đều thuộc về của quốc vương; lại nhờ cái sức trị bình khai mà khỏi phải sự lo kẻ mạnh xâm lướt kẻ yếu mà, Thích tử chúng ta được yên tu đạo nghiệp thì, ân ấy đâu phải nhỏ ru?

 ân của phụ mẫu, sanh thành dưỡng dục, như trời cao vô cùng, lại cho ta đi xuất gia hành đạo thì, ơn nào lớn bằng?

 ân của thầy bạn là Thầy có ân dạy bảo, sanh trưởng giới thân huệ mạng; đạo bạn có cái đức mở mang giải rõ. Đó là cái ân đức của đạo xuất thế gian, còn ai mà có thể so sánh được ru?

 Đàn-việt, có cái ân tứ sự cúng cấp, khiến cho ta đặng an thân để sửa sang đạo nghiệp thì ân chẳng nhỏ vậy.

 Có chỗ, đem ơn Phật thay vì ơn thầy bạn, làm tứ ân; còn với Bồ -tát thì, lấy Tam Bảo, chúng sanh thế cho sư hữu, đàn-việt làm tứ ân.

II.A.2.a2- Trừng giới (Răn đe)

Nếu chẳng như thế, xen lộn chúng tăng.

 Câu trên, trái với việc tu; câu dưới, lộn vào pháp chúng. Nghĩa là, chẳng noi tu như trên chỉ vẽ, lộn xộn vào trong đám pháp chúng. Tức là kẻ phi người tục, phi chúng tăng, tội lỗi nhẫy trời! Tỷ như con lừa lộn bầy trâu, với sừng và lông dù có tương tợ, mà cái đầu và sừng chẳng đồng giống nhau, đến cái tiếng kêu cũng khác lạ hẳn!

 : Lám (tục đọc sai là lạm): nước nhẫy đầy tràn lan, là xen lẫn lộn xộn.

 Với kẻ có cái thân năm thước mà chẳng có trí huệ, Phật gọi là si tăng (ông sư ngu si), có cái lưỡi ba tấc mà nói pháp không được, Phật bảo là á dương tăng (4) (sư dê câm). Người mà chẳng phải kẻ tục vì cũng đầu tròn áo vuông, chẳng phải tăng, vì lòng nhiễm trần tục, Phật cho là điểu thử tăng (5) (thầy chim chuột), cũng gọi là thốc cư sĩ (6) (ông cư sĩ sói đầu).

 Phật dạy “Thế nào là kẻ đạo tặc? - Vì giả dối bận cái pháp y của ta, đem hình tượngđạo pháp của ta ra làm sự buôn bán (7) tạo tác ra mỗi mỗi ác nghiệp”. Đó, chánh chỗ bảo là “lám xí tăng luân”.

Lời nói việc làm hoang đàng thưa thớt, luống uổng ăn dùng của người thí chủ.

 Câu trên hiểu và làm; câu dưới ăn hao của thí chủ. Lời nói, nết làm, phẩm tánh chẳng thuần túy, nói là hoang đàng; chẳng có công đức để đền đáp cái ơn của tín thí, nên nói là luống uổng ăn dùng.

 Hiền triết xưa nói “Với đạo đức không tu, đấy là uổng phí áo cơm”. Đây gọi là thế!

 : Ngôn là lời nói, tức trí hiểu; hành tức là tu hành; hoang là hoang vu, tức cỏ, dây mọc bò lan hàng lan lối; sơ là lai rai rải rác, cũng là sơ lược, nghĩa là lổm xổm. Đây chẳng có cái đức hành và giải tu hànhhiểu biết, thành thử thí chủ chẳng được phúc, nên nói tín thí mất!

Chỗ đi năm trước, tấc bước không dời, ngơ ngáo một đời, toan chi nương cậy?

 Hai câu trên thói cũ chẳng quên; hai câu dưới không có điều thiện gì khá ghi.

 Năm trước, tức thuở cũ; chỗ đi là hành động của tâm, như là điều vọng hoặc, thói quen đắm nhiễm. Đây có hai: một, cái vô minh hoặc từ vô thỉ thuộc về đời quá khứ; hai, cái thói quen xông ướp những ngày trước.

 Tấc bước chẳng dời: Với các thói quen, chưa hề có một niệm bỏ lỗi để sửa lại mình cho được tân tiến.

 Ngơ ngáo một đời, … nghĩa lứ, chẳng có cái tinh thần yên lặng để soi xét lại mình, trọn ngày ý thức mãi rượt theo cảnh giới lục trần, có biết đâu, tháng đã qua, năm vẫn lại mà chả có một chút lành gì khá nương, cũng chẳng có công đức gì khá nhờ!

 Đại Trí Luật Sư nói “Vói xa trả ơn, từ Nho qua Thích. Gọt bỏ thói cũ, rửa sạch duyên đời. Ngăn dứt các dòng, vách đứng ngàn nhẫn (8). Văn chương nghiên bút, đều đã đốt dẹp, trăng tuyết gió hoa, chớ nhọc vịnh ngâm (9). Lại chớ quày đầu vào tửu sắc tài khí (10), đâu cho ghé mắt nơi danh lợi vinh hoa.

 Dòng rốt điên dại, chánh pháp suy đồi! Chỉ muốn đổi hình (cạo đầu nhuộm áo), không hề dính đạo (tâm trì trần tục). Dẫu rằng bỏ tục, thói tục không chừa, đều nói ra trần, duyên trần chẳng dứt.

 Mới gần trường giảng luật, đã toan làm thầy Xà -lê. Chưa vào chốn tùng lâm, vội lên chưn cụ trưởng lão.

 Tránh chết đắm, vào chết thiêu, đâu biết đui ngơ muốn tới trước lại bước lui, thực là quá ư điên đảo.

 : Hoảng hốt: sật sừ, tức là ngó bằng cách vô tình, chớ không để ý coi cho thiết thực gì. Nghĩa là ngơ ngáo lơ lửng.

Phương chi, rỡ rỡ tướng tăng, dong mạo khá xem, đều là trước trồng căn lành, nên cảm được báo tốt.

 Hai câu trên cái quả đời hiện tại; hai câu dưới là rõ rằng do cái nhân tốt nơi trước mà đưa đến cái quả đẹp đời nay.

 Huống nãi (phương chi) là thốt ra ngữ từ.

 Rỡ rỡ tướng tăng: đường đường (rỡ rỡ): dung mạo. Lại, sáng láng, nghĩa là đủ dong nghi của Phật (viên đảnh phương bào), vượt trần riêng bước, thầy thợ của người và trời vọi vọi ngôi Tăng bảo vậy.

 Dong mạo khá xemD: sáu căn thâu nhiếp, năm quan không vọng động. Uy nghi trọn đủ, chẳng dự với hạng thường lưu, nên chi được người ta trông thấy phải hân hoan kính ngưỡng, nên nói là khá xem.

 Đều là trước trồng căn lành nên cảm đặng báo thân tốt lạ đây: Số là đời trước gieo trồng cái nhân tốt, thành thử đời nay cảm được cái kỳ báo siêu trần việt tục như thế há chẳng lạ đời khác thường ru!

 : Năm quan là: 1-Miệng chủ việc nói, 2-Mũi chủ việc ngửi, 3-Tai chủ việc nghe, 4-Mắt chủ việc thấy, 5-Thân hình chủ việc chạm đụng biết ấm lạnh trơn nhám. Vì mỗi bộ phận đều có chủ hay mỗi việc, nên gọi là ngũ quan (11) chủ biết.

Liền toan chễm chệ vòng tay, chẳng quí tấc bóng, không siêng năng tu hành, sự nghiệp chẳng do đâu xong nên công quả.

 Hai câu trên ăn rồi ngồi không bỏ mất qua bóng quang âm (thì giờ); hai câu dưới cái nhân chẳng có, nên mất luôn quả.

 Liền toan ngồi chễm chệ vòng tay … Người xưa quí tiếc tấc bóng mà, khinh thường thước ngọc; một ngày không công tác thì, một ngày ấy không dám ăn cơm của chùa! Chúng ta là người bực nào lại vòng tay ngồi không qua ngày mà, chẳng lo tu phúc huệ ư?

 Với sự nghiệp chẳng cần: Sự nghiệp tức là giới định và huệ cùng các việc lành. Chẳng cần là không lo phải thắng tấn. Với chân tu thực hành, đã chẳng cần mẫn, thì công hạnh không thể thành tựu mà, cái quả phúc trí nhị nghiêm cũng mất luôn cái tạo nhân nữa!

 : Khuê Phong thiền sư nói “Thời đại ngày nay, những hậu sanh, mới vào trong chúng, chẳng hái một ngọn rau, không lượm một lọn củi, mười ngón tay chẳng hề thấm đến nước, trăm việc chẳng bận lòng, tuy thì một thuở khoái chí, khôn nài ba đồ khổ thân! Khát tấc bóng, giờ chẳng đợi người, một mai nhắm mắt bị đọa, ruộng truy y (12) không có công một ky đất (13), ngục Thiết Vi có sa hãm trăm tội hình.

 Ngài Xứng pháp sư nói “Vòng tay chẳng công tác, ở không chẳng làm việc, đi giỗn dễnh trên đất chùa, ngồi chì ì trong nhà rỡ. áo trùm thân, cơm trong miệng, đâu dễ tiêu ư? Vuông đồ bận, tròn cái đầu, làm sự gì đó? Ca-sa hết bận mất thân người! Thực là chí khổ! Địa ngục đọa vào chịu báo thân khác, khá gọi bao đành!”

Chẳng những một đời bỏ trống qua, mà cũng nghiệp sau không ích lợi!

 Câu trên, cái nhân mất; câu dưới, cái quả mất.

 Chẳng tu phúc huệ, ấy là bỏ trống qua một đời. Há cho đời nay bỏ trống qua, chả có sở đắc gì, song, với hạnh nghiệp của tương lai cũng chẳng có chỗ bổ ích nữa!

 : Tương lai tức là đời hậu lai vậy.

II.A.3.a3- Cầu đạo.

Từ song thân, quyết chí bận truy y, ý muốn siêu lên chỗ bực nào! Mai chiều nghĩ xét, đâu nên chần chờ qua giờ!

 Câu đầu là chỉ rõ nơi gốc. Câu hai là gạn hỏi lại. Hai câu sau là nhớ nơi gốc, phải chuyên mộ đạo.

 Từ thân quyết chí bận truy y là phát cái tâm dũng mãnh, để tạm thời từ giã đôi thân, lập cái chí quyết định, đi sâu vào đại đạo.

 ý muốn là cái chỗ của ý thức hi vọng. Vượt lên chỗ bực nào vì vượt lên giai cấp chi? Đồng bực (đẳng) với Phật Tổ nào?

 Mai chiều nhớ xét… ta chưa rõ được lòng dạ của ta (chưa minh tâm kiến tánh), cái sanh tử ở trong hơi hô hấp, với chỗ vắng lặng lo lường, đâu chẳng lo cho cần cấp mà có thể còn dời đổi chần chờ, kéo dài cho qua thời, để luống mất qua tấc bóng ngày đêm ru!?

 : Người mà được đốn ngộ (14), tức siêu hẳn giai cấp (15), tình thức (16) quên hết, tức đồng với Phật, vì đã chuyển thức thành trí rồi.

 Truyện Bửu Lâm chép “Dương Huyễn Chi hỏi Tổ Đạt -ma rằng “Bên nước Tây Trúc, chỗ truyền với nhau mà xưng Tổ là như thế nào?” “Rõ được cái tâm tông của Phật (minh tâm kiến tánh), sự rõ và lý hiểu xứng nhau, gọi là Tổ Sư””.

 Truy: màu đen thâm thâm có ửng đỏ, tức hoại sắc y, chính là y phục của Sa -môn thường bận, phi năm màu chính (thực xanh, thực đỏ, thực trắng, thực đen và thực vàng). Cám: xanh mà có ửng màu.

Lòng hẹn làm đống lương cho Phật pháp, để làm qui cánh cho hậu lai. Thường mong lấy cái hi vọng như thế mà, chưa được ảnh hưởng nhau chút nào?

 Hai câu trên lập chí nguyện để lại mô phạm. Câu thứ ba cái chí nguyện vẫn còn. Câu thứ bốn sự hành và lý hiểu chưa đủ. Lại, câu ba là túng, tức buông ra cái chí nguyện. Câu bốn là đoạt, tức bắt lại, vì hạnh nguyện bị hỏng.

 Lòng hẹn làm rường cốt Phật pháp phát tâm lập nguyện để gánh giữ cái chánh pháp của Như Lai.

 Dùng làm bối gương cho hậu lai là để mẫu mực cho học giả đương lai.

 Qui kính tức là nghĩa sư phạm. Do vì cái mai qui để bói cho biết những sự đã qua và sẽ đến; cái gương cốt soi rõ được hình tốt xấu trước mặt.

 Thường lấy như thế là cái chí nguyện chẳng quên vậy.

 Chưa thể chút phần hợp nhau. Tuy sẵn chí nguyện mà hành và giải chưa đủ; ắt cần hành giải tương ưng thì, cái nguyện mới chẳng hỏng. Nhược bằng, có hành mà không nguyện; thì cái hành ắt phải côi quạnh; có nguyện mà không hành thì cái nguyện ắt phải lép. Vậy biết, vừa hành vừa nguyện được song toàn; mới là tương ưng.

 : Chỏi đòn dông nhà là cây đống. Đội cây đống là cây lương. Đều có nghĩa là nó hay cõng đội nóc nhà.

 Nay đây mượn hai chữ “đống lương”, để tỷ là bực thầy thợ, hay làm đống lương trong pháp môn, do vì hai ngôi Phật bảo, Pháp bảo đều nhờ ngôi Tăng bảo để hoằng truyền, nên nói “Nhân năng hoằng đạo, phi đạo hoằng nhân”, thực thế.

Thốt lời, cần quan thiệp với điển chương, nói chuyện, phải bàng thông nơi kê cổ. Dung nghi phải đúng đắn, chí khí cho rỗng rang.

 Hai câu trên lời nói có gốc gác. Hai câu dưới thân tâm tỏ đồ sộ. Nghĩa là, nói năng phải hợp lý nơi kinh điển, luận bàn cốt đúng do rộng xét xưa. Chẳng nên đem ý kiến đặt điều, đồng như lời ma thuyết.

 Song, trí hiểu đủ thì lời nói không lầm, công hạnh đầy thì vững vàng cao rảnh. Lại, trong chứa đủ trí đức Bát -nhã, tâm rảnh hướng về một nơi, các trò đời danh lợi thanh sắc không thể làm động đến chí cả. Hằng dùng cái đạo hạnh để tự xử, nên nói là “ý khí cao nhàn”. Ngoài bày đủ giới đức uy nghi, chẳng giống hạng phàm, siêu quần quán chúng, thế là “hình nghi đĩnh đạt).

 : Bực Cao Tăng như ngài Pháp An là một Tăng nhân xứng đáng, cái thân của Ngài cao tám thước, có ba đặc điểm tuyệt vời: 1-Tư cách đặc sắc, 2-Hiểu nghĩa tột sâu, 3-Tinh tấn sạch mình.

 Cảnh Đức Vân pháp sư nói “ôn làu giáo pháp ba tạng của biển giáo, xem suốt lời lẽ Sáu Kinh (17) của rừng nhu (18). Nói không quấy bàn, lời có sách cứ”. Đây gọi cũng thế.

 Điển là điển tịch, tức các kinh luật luận. Chương là chương chú, là những bài giải thích trong các kinh luật luận. Bàng là gần bên. Kê là khảo xét, là những lời và câu của các vị cổ đức.

II.A.2.a4- Trạch hữu (Chọn bạn).

Đi xa cốt nương bạn lành, thường thường lóng trong tai mắt; dừng ở ắt phải chọn bạn, hằng hằng nghe chỗ chưa nghe. Nên nói “Người sanh ra ta là cha mẹ, kẻ nên cho ta là bậu bạn”.

 Hai câu trên đi đường nhờ bạn giúp ích; hai câu kế đó ở đâu phải cần bạn lợi lạc. Hai câu sau là công đức sanh thành.

 Đại ý rằng ra đi nơi đường xa, cốt nhờ bạn lương thiện, thường lấy những lời lợi ích để trong sạch nơi tai nghe mắt thấy; cư trú với chỗ nào, phải có bạn hiền, hằng đem những pháp chưa được nghe khiến cho ta nghe đó. Hễ tai mắt thanh sạch thì, chỗ thấy biết chân chánh, nghe chỗ chưa nghe thì, cái huệ thắng giải phát sanh. Thắng giải sanh là tỏ ngộ vào pháp vô sanh; kiến thức chánh là chẳng bị người ta lừa dối.

 Thế nên, cha mẹ có cái ơn sanh cái thân xác cho ta, thầy bạn có cái đức thành lập huệ mạng cho ta. Sở dĩ, được nghe rồi nhớ, tu, giác ngộchứng nhập, sanh trưởng pháp thân, thực là do cái sức lực của sư hữu đấy.

 : Giả: nhờ. Lương bằng: thiện hữu. Lại, bằng là anh em bạn đồng học một thầy. Hữu là anh em kết bạn đồng chí.

 Chọn bạn, sách Gia Ngữ chép “Người quân tử, hễ ở đâu, ắt phải chọn bạn, muốn đi dạo chơi đâu, cũng ắt phải chọn phương hướng”.

 Văn Trung Lễ Nhạc nói “Người quân tử, trước chọn lựa rồi sau mới kết bạn, nên về sau ít có sự lỗi lầm; đứa tiểu nhân kết bạn trước rồi sau mới chọn lựa, nên nhiều khi oán trách nhau. Nên chọn kẻ lương thiện để rồi theo, thấy người bực hiền mà lo mình cho bằng, thế là khéo chọn bạn có ích đấy”.

 Như lời Xả Duyên Minh chép “Với tà sư, ác hữu, sợ dường sói cọp; thầy tốt bạn hiền, mến như cha mẹ. Hạ lòng sát đất, ngọng miệng như ngây, xô đổ cái cờ ngã nhân cao cử, thủ tiêu cái mầm khí kiêu căng”.

 Tổ Vĩnh Gia nói “Rộng hỏi bực tiên tri, sau khi quyết trạch phải cẩn thận đối xử, như noi đi trên giá mỏng! ắt phải nghiêng tai mắt, vâng tiếng mầu, nghiêm căn trần để thưởng lẽ nhiệm. Quên lời nói, yêu chỉ, rửa tư lự, ăn vị hèn, tối kính sợ, sớm hỏi han, chẳng cho lộn xộn một tơ một tóc. Được như thế rồi thì, mới có thể ẩn hình nơi núi hang, để được vắng cái cảnh trần lụy, dứt cái ồn nhân quần”.

Gần gũi người lành, tỷ như đi trong vùng sương móc, dù không ướt áo, mỗi giờ có nhuận.

 Câu trên thân với người lành, ba câu dưới lợi ích của lành giúp. Thân phụ nghĩa như thân cận. Người lành tức các thiện tri thứclương bằng.

 Sương móc dụ thiện hữu. Hành: đi, là tỷ dụ thân cận. Dù chẳng ướt áo là dụ chưa chứng quả. Có nhuận là dụ sự hữu ích của thiện hữu. Nghĩa là, thân cận người thiện, mặc dù chưa được liền chứng quả vô sanh, mà sớm được nghe, chiều được ích, đủ để nhuần nhã, thấm thía vào lòng dạ.

 Như kinh Bổn Hạnh Phật thuyết kệ rằng “Như có tay cầm hương trầm thủy (19), và cầm xạ hương, hoắc hương… (20), cầm hương giây phút thơm thấm tay; gần gũi bạn lành cũng như thế”. Nếu người thân cận thiện tri thức, tùy thuận kia những chỗ hành nghiệp, dù chẳng hiện chứng lợi thế gian, nhưng sau sẽ đặng hết khổ nhân.

 Lại, gặp nhau với thầy lành, đặng khỏi mọi điều khổ, nếu gặp nhau với thầy ác, sẽ tập làm sự ác, chẳng khỏi các tai họa! Để lời nhắn người sau, chẳng khá chẳng gìn dè!?

 : Bậu bạn giúp nhau, rằng lệ trạch (ánh gội) kia đây lẫn nhuần, dường mưa gội. Sách Tông Kính nói “Người mà tuy có cái trí mưu ngoài đời, nếu chẳng có người bạn tốt hơn để khai giác cho thì, người ấy chưa có thể tự mình giác ngộ được, vì thường mê vọng trái với đạo, nên cốt phải nhờ có lương hữu”.

 Thiện tri thức. Tri là được người nghe danh tiếng. Thức là bị người thấy thân hình. Vì người ấy giúp ích cái đạo Bồ -đề cho ta nên gọi là thiện tri thức.

 ác sư: thầy ác tục (21), thí như phía bắc sông Hà, với người không môn, không cấm cái tục bắt rắn. Bọn ông A -lê-tra(22) Tỳ-kheo, thực vậy.

 Nghĩa là tại xứ miền Bắc sông Hà (nay là sông Hoàng), người người thường có cái phép thuật bắt rắn không bị độc.

Gần quen với kẻ ác, thêm lớn những tri kiến ác, sớm tối gây việc ác, bị quả báo liền trước mắt, chết rồi trầm luân, một khi mất nhân thân, muôn kiếp khó đem lại.

 Câu trên là thân cận với kẻ ác. Sáu câu dưới là nói rõ những quấy lỗi của việc ác. Lại, câu thứ hai là cái kiến thức ác. Câu thứ ba là nguyên nhân ác. Câu thứ tư là quả báo hiện tiền. Câu thứ năm là trả quảđời sau. Câu thứ bảy là sẽ chịu báo cách nhiều đời về sau, nghĩa là sau đời sau.

 ác tập là gần gũi, xông ướp lấy thói quen, tức là ông ác tri thức bọn bất lương.

 Thêm lớn tri kiến ác: do bị xông ướp, nên thêm lớn cái thấy ác giác (23) bất chánh. Nên kinh nói “Chính mình không biết, lại không có bạn lành, ắt bị bọn ác hữu làm trọng thương cái chánh hạnh! Tỷ như nhền nhện sa vào trong sữa, tất nhiên sữa ấy biến thành chất độc!”

 Mơi chiều tạo điều ác: chỗ kiến thức đã bất chánh lại trọn ngày chỉ tạo những nghiệp bất thiện.

 Trả liền trước mắt: đã chứa nghiệp nhân từ nay, ác quả cũng từ đây đưa đến, vì nhân quả chẳng mất, nên nói liền trả báo trước mắt.

 Chết rồi trầm luân là chết rồi phải đọa xuống tam đồ.

 Như chỗ Phật đã nói “Nếu người mà thân cận với bạn ác tri thức, hiện đời chẳng được tiếng tăm tốt, ắt bởi thân cận nhau với ác hữu, qua đời sau cũng đọa xuống ngục A -tỳ”.

 Một khi mất thân người là từ đời nay mất hẳn cái thân của loài người.

 Muôn kiếp chẳng đem lại là cái nhân ác chả mất, thế thì những quả ác cũng khó hết! Nên những hạng đắc nhân thân rất ít, tỷ như chút đất dính nơi móng tay; còn hạng đọa xuống nơi tam đồ thì quá nhiều, tỷ như bụi đất khắp trên mặt đại địa. Chúng sanh ở nơi tam đồ mà muốn đắc lại nhân thân thực quá ư rất khó, tỷ như rùa gặp được cái lỗ bộng của khúc cây mục trôi giáp vòng nơi chơn núi giữa biển há chẳng gian nan ru!?

 : Hiện báo đời nay làm thiện hay làm ác, liền chịu quả báo hiện tiền trong đời nay, nên gọi là hiện báo.

 Sanh báo đời nay, chỗ đã làm thiện hay tạo ác, qua đời sau mới chịu quả báo, nên gọi là sanh báo.

 Hậu báo với chỗ đã tác thiện hay ác trong đời nay, khi chết rồi về sau hoặc đời thứ nhứt chưa trả, thì đời thứ hai, hoặc là đời sau, nhẫn đến trăm kiếp, ngàn đời mới trả, nên nói là hậu báo.

 Nghiệp nhân tức là tam độc tham, sân, si, thập ác, do cái nghiệp nhân đó mà, phải bị những ác quả nơi địa ngục, ngạ quỷsúc sanh tại đời tương lai. Chao ôi! Cái ngày của địa ngục quá dài, mà cái thọ mạng của chúng sanh ở đấy khó hết.

 Nếu chịu tội ở địa ngục chưa hết mà, cái thế giới này đến thời phải hoại thì, lại đem tội nhân gởi qua nơi địa ngụcthế giới phương khác. Mãi như thế, đến chừng nào trả tội báo nơi địa ngục hết rồi, mới đọa vào loài ngạ quỷ; tại ngạ quỷ, cái thọ mạng cũng vô cùng; đến chừng chịu tội nơi ngạ quỷ hết rồi, mới sanh vào loài súc sanh; luân hồi làm những thân của các con trâu, bò, ngựa, cầm, thú đến các hình hài, cua đinh… Đó, chịu sanh cái thân phi chủng loại, nên nói “vạn kiếp nan phục”.

 Rùa gặp lỗ bộng. Kinh Khổng Tước chép rằng “Thí tỷ khó đặng cái nhân thân, như giữa biển cả, có một hòn đảo. Tại chơn đảo, có một khúc cây mục, cây mục có lỗ bộng, tùy gió thổi trôi giáp vòng từ đông tây qua nam bắc. Trong biển mé núi, có con rùa đui mắt, trải qua một trăm năm mới ngóc đầu một lần, mà nó muốn chun vô cái lỗ bộng để nương đi kiếm ăn, nhưng than ôi! Biển đã mênh mông, cây theo gió giạt, rùa lại không có mắt, mà mỗi một trăm năm mới một lần ló đầu ra, muốn cho gặp đặng cái lỗ cây mục kia, há dễ gì được ru!?

 Biển: sanh tử hải. Núi: ngũ uẩn sơn. Cây: thân tứ đại. Rùa: chúng sanh. Gió: gió nghiệp. Tra: cây nổi trong nước. Kinh nói “Manh qui phù mộc vị kỳ thường…”

II.A.2.a5- Kiết hối (xâu kết lời dạy).

Lời ngay trái tai, há chẳng ghi chạm vào lòng ấy ru?

 Câu trên là chỉ thị lời dạy; câu dưới là khuyên phải duy trì.

 Người xưa nói “Đắng miệng chính là thuốc hay, trái tai ắt là lời thẳng”.

 Với niềm bà tâm, lời khích thiết của Tổ Linh Hựu Đại Sư như thế, dẫu là người sắt đá đi nữa cũng phải cảm động đổ mồ hôi! Mà kẻ có huyết tánh khá chẳng cả sanh lòng biết xấu hổ, ghi khắc nơi tâm phủ, để làm như qui bói, gương soi trọn đời ru!?

II.A.2.a6- Tiềm tu (tiềm tàng ẩn tu).

Mới có thể, gội tâm nuôi đức, vùi tích giấu danh, chứa tinh thần sẵn (24), phải dứt hẳn cảnh ồn ào.

 Hai câu trên là với trong tâm thì tẩy trọc, ngoài thân danh thì phải ẩn hối (25). Hai câu dưới là nội tâm phải uẩn súc, ngoại cảnh phải chỉ tuyệt.

 Hễ là người muốn rửa sạch nơi tâm, vun bồi cội đức thì ắt phải ẩn tích mai danh, chứa sạch lóng thần mà, phi dứt hẳn cái cảnh huyên náo thì chẳng thể được.

 Gội sạch tâm thì, liền trừ được vọng hoặc tập nhiễm; nuôi lớn đức thì, cái đạo thể tự cao; tinh thần chứa thì sáu căn điềm tịnh; dứt huyên náo thì, tư lự vặng lặng, tinh thần an ninh; ẩn danh tích thì, người nhân gian và thần khuất mặt (26) chẳng thể xét thấy được. Chừng đó, hoặc trú bên suối nước, hoặc ở dưới rừng cây, để trưởng dưỡng Thánh thai (27) là nghĩa đâu gọi thế chăng?

 : Rửa, nuôi, chứa và học tập, là cái nhân bên trong, tu là phần tự lực; vùi, giấu, dứt, bặt, là cái duyên bên ngoài, tức là phần trợ lực.

 Song, cái thể tánh chân như, vốn vẫn trống sạch, mà bị vô lượng phiền não trần cấu bấm nhuộm, nếu nay chẳng mượn cái duyên ngoài xông ướp lẫn nhau với cái nhân trong, để mỗi mỗi đào thải cho triệt để thì, không do đâu thanh tịnh được, hầu khôi phục lại cái thể sáng suốt của chân như xưa.

 Nên Khởi Tín Luận nói “Do vì dẹp bỏ phiền não, nên hành giả cần phải xa lìa cái cảnh reo ồn, thường ở chỗ vắng lặng, để tu tập các hạnh đầu đà…”

 Tổ Qui Sơn nói “Mặc dầu đã nhứt niệm đốn ngộ được cái chân lý của tự tánh rồi, nhưng, hãy còn có những tập khí (chủng tử) của bao đời từ vô thỉ kiếp, chưa có thể chóng liền trong sạch ngay với nhứt niệm đốn ngộ ấy, nên cần phải dạy ngươi dẹp bỏ cho sạch hết những cái thức lưu lộ nơi nghiệp (thân ba, khẩu bốn, ý ba) hiện tiền, đấy tức là tu vậy, chớ phi có cái pháp gì riêng khác, hòng dạy ngươi để thú hướng tu hành đâu?”

 Cốt là, từ nghe mà hiểu vào lý, nghe và lý đã tiến đến chỗ thâm diệu thì, cái tâm nó tự tròn sáng, chẳng còn lẩn quẩn ở nơi địa vị mê hoặc (kiến hoặc, tư hoặc…) của chúng sanh trong tam giới.

 Lấy cốt yếu mà nói “Thì chỗ lý thực tế chẳng bợn một mảy bụi (sự chướng) mà, trong môn vạn hạnh (sự tu) không bỏ một pháp”.

 Nếu thế, tỷ như chỉ cầm một mũi đao xông ngay vào trận tuyến (28) thì, cái phân biệt là Thánh (bốn Thánh) là phàm (sáu phàm) đều sạch tất thể chân lộ ra, lý sự phi hai, tức như như Phật đấy.

 Chứa tinh thần (29) sẵn cái linh minh tột bực của tâm gọi là tinh; với linh minh mà khó xét lường được gọi là thần.

 Tâm thể càng yên tịnh, hành tướng càng quảng thì (phổ biến) cùng với cái thái hư (30) hợp đức; tinh thần chứa mà, tâm rất sáng suốt, vắng lặng mà thường tỏ soi.

 Nên Tổ Vĩnh Gia nói “Phát khiển cái tinh thần xưa cho trong sạch thì phong nghi (thái độ) nó vẫn cao thượng. Tâm thần trong, vọng lự sạch, nghiên cứu đến mức ngỏ mà còn nghiền ngẫm nữa”. Đấy cũng gọi thế chăng?

 Dứt hẳn cảnh ồn ào là với trong thì chứa cái trí chân không của Bát -nhã, để lóng tinh thần; với ngoài thì lánh cái trò hay đẹp của sắc thanh, để sạch sáu căn. Được thế, là do nạp thụ lời nói ngay mà mới có thể được như thế.

 Hối tích cũng như ẩn tích, là vùi giấu tông tích. ẩn danh ẩn tàng. Hiêu: chỗ huyên náo. Điềm: đạm bạc vô vi điềm tịnh.

II.A.2.b- Thiền giáo.
 Chia làm hai phần:

b1-Thiền học
b2- Thiền lý.

II.A.2.b1-Thiền học.
 Chia làm hai phần:

b1a- Thị pháp. 
b1b- Tán miễn.

II.A.2.b1a- Thị pháp (chỉ rõ cách học thiền)

Như muốn tu pháp tham thiền đặng học cái đạo vô thượng, để chóng vượt qua các pháp môn phương tiện thì, phải xét thấu lẽ tinh yếu (31) đặng cho cái tâm nó khế hợp bến mầu(32), quyết chọn chỗ kín nhiệm, để mở tỏ tánh chân nguyên.

 Hai câu đầu là nêu cái tông lên. Câu thứ 3 là đắc cái diệu chỉ. Câu 4, 5 là cùng tột cái lý. Câu thứ 6 là đạt đến cái nguồn. Lại, câu thứ 3 là thấy đạo. Câu 4, 5 là thao thủ tiển lự, tức tìm dòng. Câu 6 là tỏ gốc, tức thấu nguồn.

 Tham là tham cứu pháp thiền trực chỉ; học là học cái đạo Vô thượng.

 Chóng vượt qua pháp môn phương tiện (33) là tuyệt hẳn pháp quyền thừa (34), chẳng sa mỗi giai cấp (35).

 Tâm khế hợp bến mầu là một niệm hệt nhau, liên hợp với đạo.

 Xét thấu lẽ tinh yếu. Nghiên: xét. Cơ: tâm u vi: cái tâm nó rất u huyền, rất vi diệu, khó thấy khó rờ được. Nghĩa là, nghiền xét cái thể u vi chí lý của tự tâm, nên nói là tinh yếu.

 Quyết chọn chỗ kín nhiệm: dùng cái trí huệ vô lậu, để quyết đoán chọn lực, bỏ những cái thô thiển mà, lựa lấy phần u huyền.

 Mở tỏ tánh chân nguyên là cùng nguyên cực để vậy.

 : Phương tiện là pháp tạm thích hợp dễ dàng, tức là giáo pháp quyền thừa. Vì, giáo có quyền thực, nghĩa là, pháp mà quyền là thuộc về sự tướng; pháp mà thực mới cùng lý, nên nói là cùng nguyên.

 Như trải tam a -tăng-kỳ (36) kiếp (ba vô số kiếp), rộng ra, tu đủ sáu độ muôn hạnh, để chứng lần lên tam hiền, thập thánh, đó, đều gọi là quyền thừa.

 Kinh Tư ích nói “Người tu Phật mà đắc cái chánh tánh của các pháp (37), chẳng lần hồi chứng từ một quả địa này, đến một quả địa nọ, nên nói là bất lạc giai cấp”.

 Rằng một niệm hệt nhau liền hợp với đạo: Nếu đặng một niệm xứng với chân như thì, còn hoặc đâu mà đoạn, còn lý đâu mà chứng, còn hạnh đâu nữa khá tu, còn quả vị đâu nữa khá đắc, nên nói là liền hợp với đạo (chân như tâm).

 Tâm tuy đã khế hợp với đạo, nhưng mà chủ lực chưa được tự do, vì mắt còn thấy có cái huyễn tướng mà tâm chưa trừ cái quan niệm phân biệt ưa ghét, tiền trần vốn không mà chưa giải thoát được sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu thế thì nên dùng cái trí như huyễn (38), để đoạn cái huyễn hoặc (39), chứng cái huyễn lý (40), tu cái huyễn hạnh (41), cầu cái huyễn vị (42). Nên nói: Nghiền xét cái chí lý của tự tâm, chọn lấy phần u huyền.

 Chỉ cần, với “hoặc” đoạn đến chỗ vô đoạn, với “quả” thì chứng đến chỗ vô chứng. Đến đó, mới nói là cùng nguyên cực để.

 Tổ Khuê Phong nói “Song, một cái hạnh tu thiền định, rất là thần diệu, vì nó hay phát khởi cái vô lậu trí huệ trên tánh. Phải biết rằng tất cả phép diệu dụng, muôn hạnh muôn đức, cho đến phép thần thông, ánh quang minh, chi chi, cũng đều từ nơi thiền định mà phát sanh. Nên các hành nhân tu tam thừa, muốn cầu chứng lên Thánh đạo (Phật quả), ắt phải tu tham thiền, rời thiền định ra thì không còn cửa ngõ đường lối nào hơn”.

 Chí ư, hành giả tu niệm Phật, cầu sanh tịnh thổ (ñoä), cũng phải tu mười sáu pháp thiền quán, cùng các pháp niệm Phật tam muội, ban châu tam muội…

 Lại, chân tánh tức bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, dầu lục phàm, tứ Thánh, vẫn đồng chân tánh ấy, chứ không sai khác. Còn thiền môn thì sự lý tu chứng có thiển có thâm, giai có khác bực.

 Nhưng, nếu tu thiền mà kèm theo cái kế lạ, như ham muốn bực trên, chán nhàm bực dưới (43), thế là cách tu thiền của ngoại đạo (44).

 Người có tâm chánh tín với lý nhân quả để tu thiền bằng cách cũng ham trên chán dưới, là phàm phu thiền (45).

 Kẻ tu thiền mà nguyên đã giác ngộ được cái lý ngã không thiên chân (46), tu thiền như thế là Tiểu thừa thiền.

 Hành giả mà đã giác ngộ được ngã không, pháp không, hiển hiện ra cái chân lý, như thế mà tu thiền, là Đại thừa thiền.

 Bằng đốn ngộ được tự tâm, xưa nay vẫn thanh tịnh, nguyên không có phiền não (các vọng hoặc), vốn tự trọn đủ cái vô lậu trí tánh, tâm đây tức Phật, cứu cánh không khác, người mà được thế, y nơi Thiền để tu, là Tối thượng Thiền, cũng gọi Như Lai thanh tịnh Thiền, cũng kêu là Nhất hạnh tam -muội, cũng tên là Chân như tam muội, đấy là căn bản của tất cả tam muội; nếu hay mỗi niệm như thế, đều tu tập thiền định, thì tự nhiên dần dần đắc trăm ngàn tam muội.

 Môn đệ của Tổ Đạt -ma, lần lựa truyền trao cho nhau, đó là pháp Tối thượng Thiền đây vậy.

 Khi tổ Đạt -ma chưa đến về trước, từ xưa, các đấng cao tăng đều nương tu theo bốn pháp Thiền trước (ngoại đạo thiền, phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền và Đại thừa thiền), và Bát định (47), đều được có công dụng.

 Đến các Tổ Thiên Thai, Nam Nhạc… đều bảo các học giả y nơi cái lý tam đế, tu pháp tam chỉ, tam quán. Giáo nghĩa: Đế, Chỉ, Quán ấy, tuy tối diệu tối huyền, nhưng, cái thứ lớp tiến vào môn hộ, cũng chỉ là cái hành tướng của các thiên trước kia, người mà thực học chân tu theo Đế, Chỉ và Quán ấy, được chứng lên giai thê tam Hiền thập Thánh.

 Duy Tổ Đạt -ma sở truyền ra, đồng ngay với Phật thể, khác xa với các thiền môn kia, nên các học giả tu tập theo thiền môn của Tổ Đạt -ma, phần nhiều khó đắc tông chỉ hễ đắc là mau chứng Bồ -ñeà, liền thành Phật ngay, nếu thất thì thành tà ma, chóng vào nơi đồ thú, thế là cũng tùy nơi căn khí của mỗi hành nhân.

 Nhưng, phải biết cái danh Thiền tuy đồng, mà chỗ nhập môn chẳng phải một. Hễ thâm nhập một môn nào, cũng được chứng đạo quả cả. Tỷ như một vị thuốc thạch cao, mà dược tánh nó phân ra có lạnh và nóng, thạch cao sản xuất ở phía Nam thì tánh chất nó lạnh; còn thạch cao phát sanh ở miền Bắc thì tánh chất nó nóng. Người bị nhiệt bệnh, nên uống nam thạch; kẻ phải lãnh bệnh, nên dùng bắc thạch. Dùng lành bệnh là hơn; thế, với cái cốt yếu của đạo xuất thế, học giả cần nghiệm lấy tâm bệnh của mình, nên tu pháp dược nào cho hợp cách mà, tự mình quyết lấy.

 Tam đế: một Chân đế, hai Tục đế, ba Trung đế. Nghĩa là, phải xét cái tâm nhứt niệm, nó tức sẵn đủ cái pháp tam đế như quán cái tâm vẫn không thì, tất cả pháp đều không, tức là Chân đế; như quán tâm giả thì tất cả pháp đều giả, tức là Tục đế; nếu quán tâm trung thì cả thảy pháp đều trung, tức là Trung đế.

 Đấy là tam đế mà tức tam quántam quán đây, toàn do nơi tánh phát sanh, chứ hẳn phi tu thành, nên với nhứt tâm, rõ ra có ba tác dụng, chính chỗ bảo nhứt tâm tam quán, thực thế.

 Lại, tam không ngại với nhứt, tức là viên dung tam đế, rộng như chỗ khác giải thích.

 Tam chỉ: một là thể chân chỉ, tức là rõ thấu cái vô minh, vọng tưởng tức là cái chân của thực tướng. Hai, phương tiện tùy duyên chỉ: dầu tùy duyên trải cảnh mà tâm an bất động. Ba, li nhị biên phân biệt chỉ: chẳng phân biệt những cái hiện tượng sanh tử Niết -bàn và hữu vô.

 Bát định: Với trung gian của mỗi: Nhứt thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền, đều có hai định là sắc và không.

Rộng hỏi bực tiên tri, gần gũi các bạn lành. Với thiền tông này, khó đặng chỗ mầu nhiệm, rất phải chín chắn dụng tâm. Trong đó ngộ được chánh nhân là ra khỏi tầng bực cảnh trần (tam giới).

 Hai câu đầu là tham cứu, xin hỏi nơi thầy bạn. Hai câu kế là tông thẳm, lý rất sâu. Hai câu sau là ngộ được bổn nhân thì vọng hoặc trừ sạch.

 Là nói cái tông Trực Chỉ Thiền đây, chính là tâm địa pháp môn, phi hạng người thô tâm thiển học mà có thể đắc cái mầu của nó.

 Nên phải tham vấn bạn tri thức, xin thêm các thiện hữu mới ngộ được chân nguyên là chánh nhân của tâm địa. Cái hoặc gụt sạch, các nghiệp cổi mở, dần dần ra khỏi trần lao. Nên gọi rằng “Với lý dù đã đốn ngộ, với sự phải trừ lần lần”, thực thế.

 : Tiên tri thiện hữu là phần chính duyên, muốn đặng chơn chánh nhân, ắt phải được sự giúp đỡ nhau của phần chính duyên.

 Đã huyền lại huyền nữa, nên nói là Diệu. Phàm Thánh đã cùng đường rồi nên nói rằng tông u. Chỗ mà lời nói ý nghĩ chẳng thể đến kịp, nên gọi là lý trí. Không có cái trí tột thẳm, gọi là thô tâm. Không khắp tham rộng hỏi, gọi là thiển học.

 Tổ Vĩnh Gia nói “Cần phải rộng hỏi bực tiên tri, thì chính mình phải nép lòng thành khẩn, quỳ gối chấp tay, tâm ý chỉnh, dung nghi đoan, sớm tối quên nhọc, thỉ chung kính ngửa, hi sanh thân khẩu, dẹp bỏ trễ lờn, chẳng đoái hình hài. Đó, người mà chuyên tinh nơi chí đạo như thế, mới khá gọi lóng thần nơi vuông tấc”.

Thế thì phá tan tam giới, hai mươi lăm loại hữu (48).

 Câu trên là nói chung. Câu dưới là nói riêng. Đây là nói rõ y báo, chánh báo của chúng sanh ước lược (tóm tắt) về y báo thì, chia tam giới, hai mươi lăm xứ; luận về chánh báo thì, đủ bốn sanh, mười hai loại hữu (49).

 Thế thì là lời đề cử trên, chường rõ dưới. Do vì tham thiền mà được đốn ngộ, ra khỏi cõi trần, nên phá tiêu được cảnh mê mờ tam giới và hai mươi lăm loài hữu.

 Nguyên vì, tam giới là do cái tâm thức (a-lại-da) gầy dựng (tưởng trừng thành quốc thổ), nên hễ tâm hết mê mà giác ngộ lại rồi thì tam giới bị phá tan (tỷ như thức giấc rồi thì cảnh chiêm bao không còn nữat); hai mươi lăm hữu từ nơi vọng hoặc mà thành lập (tri giác nãi chúng sanh), nên hễ vọng hoặc đoạn trừ rồi thì hai mươi lăm hữu hoàn không (ví như hết bệnh ban bạch rồi thì không còn thấy kỳ hình dị tướng gì).

 Nên kinh Lăng Nghiêm nói “Các pháp (sự vật) sở sanh ra, là duy tâm sở hiện; hết thảy nhân quả, thế giới, mảy bụi, đều do nơi tâm mà thành thể (tâm sanh chủng chủng pháp sanh), nên một người phát minh được chân quy nguơn (chân tâm) thì, người ấy thấy mười phương thế giới đều tiêu diệt ráo (vạn pháp tòng tâm diệt)”.

 Cổ đức nói “Nếu người mà biết được tự tâm, đại địa không còn tấc đất (50)”.

 Đây thì, nhứt niệm đốn ngộ được tự tâm, là cả tam giới, hai mươi lăm hữu trọn không thể còn (51), thế là bị phá tan cả.

 Tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

 Nhị thập ngũ hữu: Nói sơ lược thì tam hữu, nói rộng thì cửu hữu và nhị thập ngũ hữu. Do vì, để phá tà, khiển chấp, nên nói phân biệt ra như thế.

 Nội dung của Dục giới thì có bốn châu, bốn ác thú và sáu Dục thiên; Sắc giới thì có trời Phạm vương, trời Vô tưởng, năm trời Tịnh Cư cả Tứ thiền, cộng mười tám cõi trời Phạm; Vô sắc giới thì có bốn trời Không; cả ba giới cộng là hai mưới lăm hữu.

 Song, trời Phạm Vương, trời Vô Tưởng và năm trời Tịnh Cư đều ở trong bốn Thiền thiên, mà lại nêu riêng cái tên ra như thế là, vì các phái ngoại đạo họ kể trời Phạm vương là thường sống còn vĩnh viễn, bởi họ chấp trời Phạm vương là ông thiên chủ sanh hóa ra vạn vật; còn phái thì chấp trời Vô tưởng là cõi Niết -bàn, vì họ vọng tưởng rằng Vô tưởng tức là vô tâm; phái thì chấp rằng năm cõi trời Tịnh cưcảnh giới chân giải thoát.

 Thế nên trong các kinh luận chỉ riêng ra tên của ba trời ấy (Phạm vương, Vô tưởng, Tịnh cư) là để phá những tà chấp của ba phái ngoại đạo kia.

 : Có chỗ nói: “Giữa năm trời Tịnh Cư, có chỗ Đại Tự Tại Thiên Vương, người bên ngoại đạo họ chấp rằng vị Thiên Vương kia là có thể làm căn bản sanh ra mọi vật, hễ quy đầu về đó thì được giải thoát; đức Như Lai vì phá cái bệnh tà kiến kia, nên kinh luận cũng nêu riêng tên trời ấy.

 Bốn châu: Đối với núi Tu -di phía Đông là châu Thắng Thần; phía nam là châu Thiệm Bộ; phía Tây là châu Ngưu Hóa; phía Bắc là châu Cu Lư.

 Tứ ác thú: A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

 Sáu trời dục: 1-Trời Tứ vương, 2-Trời Đao -lợi,
3
-Trời Dạ -ma, 4-Đâu-Suất-Đà thiên, 5-Hóa Lạc thiên, 6-Tha Hóa Tự Tại thiên.

 Bốn Không thiên: 1-Trời Không xứ, 2-Trời Thức xứ, 3-Trời Vô Sở Hữu xứ, 4-Trời Phi Phi Tưởng xứ.

 Tứ thiền thiên: Sơ thiền có ba trời: trời Phạm chúng (trời dân); trời Phạm phụ (trời quan); trời Phạm vương (trời vua). Nhị thiền có ba trời: trời Thiểu quang, trời Vô Lượng quang, trời Quang âm. Tam thiền có ba trời: trời Thiểu tịnh, trời Vô Lượng tịnh, trời Biến tịnh; Tứ thiền có chín trời: trời Vô vân, trời Vô tưởng, trời Phước sanh, trời Quảng quả, trời Vô thiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện kiến, trời Thiện hiện, trời Sắc Cứu cánh. Năm cõi trời sau đó, tên là Ngũ Tịnh Cư Thiên, chính là chỗ ở của Thánh nhân quả thứ ba hiệu là A -na-hàm cùng bốn quả Thanh văn, nên cũng gọi là năm trời A -na-hàm (ba cái biển).

 Trời Phạm vương ở nơi trung gian trời Sơ thiền và trời Nhị thiền. Trời Vô tưởng ở trong Đệ tứ thiền.

 Rằng Cửu hữu tức là Cửu địa: lấy nhân gian, thiên thượng (sáu dục thiên) ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục của Dục giới chung lại một địa; bốn Thiền thiên của Sắc giới làm bốn địa; bốn Không thiên của Vô sắc giới làm bốn địa. Cộng là chín địa.

Các pháp bên trong và ngoài, đều biết chẳng thực, từ nơi tâm biến hiện, thảy đều giả danh (52).

 Hai câu trên là cái tướng chung; hai câu dưới là cái tướng riêng. Trong thì thân tâm, ngoài thì khí giới. Lại, trong là bốn uẩn, ngoài thì sắc uẩn. Bốn uẩn là tâm, sắc uẩn là thân. Cái thân tức bốn đại tổ thành ra, cái tâm chính là bóng của sáu trần duyên vào.

 Khí giới là cái cảnh của chúng sanh nương ở, tức là ba ngàn cả ngàn thế giới. Số của thế giới tuy nhiều, mà chẳng ngoài tam giới. Chúng hữu tình tuy đông mà không ngoài hai mươi lăm hữu. Cả thân tâmkhí giới như thế, đều từ nơi vọng niệm mà có; cái vọng tâm nó không có tự thể, do phân biệt mới sanh ra nó. Rõ cái tâm và cảnh ấy luống dối, biết là chẳng thực có thì, cả thân tâmkhí giới lập tức không thể còn được.

 Từ nơi tâm biến hiện thảy đều giả danh: Tất cả chúng sanh nhận lầm: bốn đại làm cái thân tướng của mình, cái bóng của sáu trần (53) duyên qua làm cái tâm tướng của mình. Chứ có biết đâu bốn đại mượn gộp, trong đó không có ta làm chủ và chẳng có cái gì là sở hữu của ta, vì tất cánh vẫn là không.

 Thế mà chúng phàm phu mê mờ quên mất cái Pháp thân của mình, nên mới chấp bậy lấy bốn đại làm tự thân tướng. Phải biết sáu trần là cảnh, thức thể là tâm. Tâm đối với căn trần tức có cái tướng (hiện tượng) duyên lự sanh khởi. Sáu trầncảnh sở duyên (bị duyên), vọng thức là tâm năng duyên (chủ quan). Sáu trần không thực tế, dường như cái ảnh tượng (như cái bóng chiếu trong gương), là từ nơi cái cảnh sở biến của thức, nên cả cái thể của sáu trần tức là không. Thành thử cái tâm duyên lự vốn không có thực. Nhẫn đến mê vọng sanh khởi những thành kiến phân biệt rằng lục phàm, tứ thánh… nên nói thảy đều là giả danh.

 Hiểu thấu được như thế, tức nhiên biết được cái tâm tánh bấy nay (54) vẫn thường là không là tịnh, trọn đủ tròn sáng thì, hoặc đã là chẳng thể làm mê nhiễm mà, trí giác lại cũng không làm thanh tịnh thêm, vì tâm nó là chân giác linh minh, thể nó là rỗng vắng lóng trong, vốn phi như cái tâm duyên lự.

 Thế mà chúng sanh đã lâu lắm rồi, bị mê mờ quên cái tâm ấy, nhận lầm cái tâm bằng ảnh tượng phan duyên lục trần là cái vọng niệm thoạt khởi thoạt diệt, thực là luống dối mà cho là tự tâm, đó rồi cứ mỗi niệm, mỗi niệm theo mãi, thế nên quanh quẩn đi lại với hai mươi lăm hữu giữa tam giới!

 : Tâm tánh bấy nay đã là phi nhiễm phi tịnh, mà cớ sao lại bị sáu căn, sáu trần và sáu thức làm mê hoặc?

 Nguyên do, chúng sanh hồi rốt trước (55), cái “tâm bất giác” mà khởi vọng niệm đảo điên (56), thì ra tâm bất giác cùng hòa hợp nhau với cái “niệm sanh diệt" mà tổ thành ra cái “thức a -lại-da”; lại do vì chấp lấy kiến phần của thức ấy làm “pháp sở hữu” của ngã (57), rồi dần dần chuyển sanh ra bảy cái thức kia (58), cộng thành tám món thức.

 Mỗi thức đều do nơi thức thể của mình mà sanh khởi ra phần năng kiến, do nơi năng kiến đó, nên thấy tựa hồ như có ngoại cảnh hiện lên, rồi chấp lấy hiện tượng đó định là thực tế, mà tạo ra mỗi mỗi nào là biệt nghiệp, nào là cộng nghiệp; nên với trong thì cảm niệm lấy tự thân, với ngoài thì cảm thụ lấy khí giới (59).

 Thế nên biết, tất cả chư pháp, đã do thức sanh khởi (vạn pháp duy thức) nên hiểu hết thảy đều là chẳng thựùc.

 Thấy phân biệt có phàm có thánh: trong cõi chân như, không hẳn cái danh giả dối của chúng sanh và chư Phật; giữa huệ bình đẳng chả có cái tướng phân biệt của ta và người là cái cớ tuyệt đối đó vậy.

 Bổn văn bốn câu, không ngoài hai pháp là sắc và tâm, thì biết rằng: nguyên sắc pháp là do nơi tâm pháp tạo ra, nên toàn thể sắc tức là tâm. Nên kinh nói: “Cả tam giới không pháp chi riêng hơn chỉ là nhứt tâm tạo tác ra (tam giới duy tâm)”.

 Tỳ-bà-sa nói: “Cái tâm nó hay vì tất cả pháp mà đặt danh này tự nọ, nên hễ vô tâm thì, không có cả thảy danh tự. Đấy, phải biết cả danh tự của thế gianxuất thế gian, đều do nơi tâm để sanh khởi”.

Chẳng dùng đem tâm (thức thứ sáu) so ước tính toan, chỉ tình (sáu thức) chẳng trú trước nơi vật (sáu trần) thì vật há làm chướng ngại với người.

 Câu trên: răn chớ để ý so lường; câu kế: dạy phải tâm nên lìa cảnh, câu dưới: là nói cảnh chẳng làm phòng ngại tâm (thế là chẳng bị hoàn cảnh lôi cuốn, vì tâm đã tự chủ).

 Nguyên là, cái chí lý rỗng mầu, mà hễ vừa toan nghĩ đến là sai xa với thể của nó. Tâm cảnh vốn là trống không, mà hễ vừa tính đến tức lầm to, vì tâm không cảnh tịch. Tình mà quên luôn chấp và bỏ, thì cảnh nó tự nhiên im lặng, tức thì, chí lý (chân tâm) hiện tiền, thế, còn vật gì đâu mà làm trở ngại người?

 Chính là cái chỗ mà ông Bàng Uẩn bảo rằng: “Chỉ ta vô tâm với vạn vật, ngại chi muôn vật thường vây quanh”.

 Đức Tam Tổ nói: “Muốn lấy pháp Nhứt thừa, chớ ghét cảnh lục trần, với sáu trần chẳng ghét, tức đồng Phật chánh giác. Kẻ trí tự vô vi, người ngu tự trói buộc; pháp vẫn không pháp lạ, lòng vọng có ham yêu, đem tâm và dụng tâm, há chẳng là lầm to”.

 : Đã là biến sanh, giả danh, thì còn dùng toan tính ao ước chi? Song, tình và vật tức là vọng cảnh cả, tâm nguyên nếu dứt vọng niệm, thì cả pháp giới đồng vặng lặng, còn vật gì đâu nữa làm ngần ngại người?

Tha hồ pháp tánh nó giáp thông, chớ dứt chớ nối (chớ hề phân biệt thủ xả chi).

 Câu trên là đắc tánh. Câu dưới là khế lý. Vì đã chẳng làm chướng ngại người, nên mặc ý để nó khắp lan.

 Pháp tánh cảnh vật (60). Nghĩa là, tâm mà chẳng khởi quan niệm vọng thì pháp nào pháp nấy toàn là chân như. ở trong chúng hữu tình thì kêu là Phật tánh, tại giữa vật vô tình thì gọi pháp tánh. Pháp nào cũng như pháp nào vốn tự như như, thể nó thường phẳng lặng, dường như chỗ hư không, rỗng rang khắp giáp sa số thế giới.

 Thế, nếu đem tâm mà thủ lấy là bị mê mờ, còn cố ý xả bỏ đi thì bị tán thất. Hoặc đoạn tuyệt, hoặc tiếp tục, tức đọa về đoạn kiến, thường kiến; chẳng thủ chẳng xả mới là hợp lẽ mầu.

 Nếu là người có thể chứng đắc cái chánh tánh của các pháp thì, nằm ngang nơi pháp giới, tha hồ để cho nó lưu thông phổ biến, tự tại, tiêu dao, vô ngại vậy.

 : Đoạn là diệt, tục là thường. Thường tức là hữu, diệt tức không, thì ra, sanh diệt, đoạn thường, không hữu, danh dù lạ mà nghĩa đồng nhau. Thủ tức là tục, xả tức là đoạn, nên đọa về hai bên, xả bỏ hai bên, nên khế hợp với lý trung đạo.

 Nếu đem cái vọng tâm chấp thủ lấy danh tướng, tức là tùy nơi cảnh mà sanh diệt, nên hoặc đoạn hoặc tục. Chân tâm không trú trước, nên mặc ý giáp thông, khắp giáp phổ thông, nên không nhứt định trụ vào đâu cả. Vô trụ, nên rỗng khắp giáp cả sa giới.

 Thanh Lương quốc sư nói: “Chí đạo gốc là cái tâm, tâm pháp vốn là vô trụ. Cái tâm thể vô trụ, thiên biết chẳng mờ tối, tánh tướng vẫn vắng lặng trùm bọc cả đức dụng, suốt thu hết trong ngoài, vừa sâu vừa rộng, phi có phi không, bất sanh bất diệt, vô thỉ vô chung, tìm kiếm đã chẳng đặng, xua bỏ lại chẳng lìa. Mê quên hiện lượng (61) thì nào hoặc nào khổ lăng nhăng, tỏ nhớ chân tánh thì là không là minh (62) rỗng suốt.

  “Dầu tức tâm tức Phật, duy kẻ đã chứng rồi mới biết, nếu còn có chứng có biết thì, huệ nhựt (63) bị chìm mất nơi chỗ có (64). Còn như kẻ mà không chiếu không ngộ thì, mây mờ che bít nơi không môn (56). Nếu tâm không sanh một niệm vọng, thì dứt hẳn cái ranh trước sau, soi thấy bổn thể riêng rảnh tự tại, vật ta đều như, đến tận nơi tâm nguyên, không trí không đắc, bất thủ bất xả, không đối đãi, không tu chứng.

 Song, cái mê nó nương nhau với cái ngộ, vọng đối đãi nhau với chân, nếu tìm chân bỏ vọng, tỷ như muốn bỏ cái bóng bằng cách chạy tránh dưới ánh nắng nhọc thân, nếu rõ vọng tức là chân, tựa hồ đến chỗ âm u, tự nhiên cái bóng mất.

 Nếu không tâm tưởng, quên xét soi, thì muôn điều tư lự đều mất luôn, bằng mặc ý vắng biết, thì các việc công hạnh mở toang. Buông rộng, tha hồ đi, ở, lặng soi biết thấu nguồn dòng. Nói, nín chẳng mất huyền vi (66), động tĩnh chưa lìa pháp giới. Rằng “chỉ” thì vừa mất biết, vừa mất vắng, bàn “quán” thì vừa soi vắng vừa soi biết nói “chứng” thì chẳng thể giơ ra cho người xem, thốt “lý” thì phi chứng chẳng thể rõ.

  “Là bởi, ngộ vắng thì không vắng, thực biết thì không biết. Do biết và vắng là cái nhứt tâm chẳng hai, tức khế ngộ cái trung đạo bằng cách không, hữu đôi mất”.

Nghe thanh thấy sắc, số là tầm thường.

 Câu trên nhĩ căn nhãn căn đối nhau với thanh trần sắc trần. Câu dưới rõ thấu tâm cảnh. Tình quên cho và tạ, như cái gương đối ảnh tượng mà gương nó không có cái tâm thủ xả gì, nên nói là tầm thường.

 Ngài Đâu Suất Duyệt nói tụng rằng: “Thong thả mà đi, mỗi bước đều như; dù đối sắc thanh, đâu xa không có, nhứt tâm phi lạ, muôn pháp không khác”.

 Tổ Qui San nói: “Trong tất cả giờ, thấy nghe tầm thường, lại không chìu vạy, cũng chả nhắm mắt bít tai; chỉ tình chẳng nương nơi vật, thì tức nhiên là được”.

 Từ trước, các đức Thánh, chỉ nói những điều quá hoạn bên ngũ trược; nếu chẳng có bao nhiêu sự ác giác, phàm tình, thành kiến, vọng tưởng, tập quán, thì tỷ như hồ nước mùa thu lóng đứng, trong sạch, không gì xao bợn, im lặng không chi ngần ngại, với người được thế, kêu là Đạo nhân, cũng tên là Vô sự nhân.

 : Giác quan nghe, thấy là thuộc về căn; cảnh tượng thanh sắc là thuộc về trần, trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp là sáu cảnh trần; còn cái mà tri giác là tâm.

 Nhưng, biết tâm nó lìa niệm, rõ cảnh vốn không. Tai nghe, mắt thấy, mà chẳng khởi cái nghe thấy là chân hay vọng gì hết, nên nói là tầm thường.

 ông Bàng Uẩn cư sĩ nói: “Chỉ ta vô tâm với vạn vật, ngại chi vạn vật thường vây buộc; trâu sắt chẳng sợ sư tử rống, in tuồng người gỗ xem chim vẽ (67): chim vẽ gặp người cũng chẳng sợ, người gỗ thể nó vốn vô tình. Tâm, cảnh như như chỉ thế ấy, lo gì quả đạo Phật không thành”.

Bên đây bên kia, ứng dụng chẳng thiếu.

 Câu trên đắc cái thể. Câu dưới đắc cái dụng. Trước kia đề cử lên căn: thấy, nghe; trần: thanh sắc thì đã trùm nốt tất cả các pháp. Pháp nào pháp nấy trọn hòa, sự nọ lý kia lẫn suốt; cả thân ta ứng đối với sự vật, thể, dụng trọn bày; co, vòng, cúi, ngửa, ngang, dọc tự thong dong, chạm mắt đều chân, gặp duyên thụ dụng.

 Chỗ gọi rằng tùy gặp đến cơ duyên cũng bất ngại, ứng đối với sự vật vẫn bất câu. Tình hết phân biệt thị phi, lòng không chán ham phàm thánh. Ai đâu đắc, ai đâu thất? Người nào thân, người nào sơ? (vô phân biệt trí)

 Đem đầu làm đuôi, chỉ chắc làm ớp, dấn thân cõi ma quỷ, nêu gót đường tà sư. Rõ phi thuận nghịch, chả phạm công phu.

 Nên ngài Đại Châu nói: “Người mà đã hiểu đạo rồi, đi, ở, ngồi, nằm, không đâu chẳng là đạo; kẻ nào đã ngộ pháp rồi dọc, ngang tự tại, không đâu là chẳng phải pháp.

 Đức Tứ Tổ nói: “Rỗng rang không chi ngần ngại, mặc ý đi dọc đi ngang, chẳng làm hữu lậu thiện, không tạo hữu tình ác, khi đi, lúc ở, hồi ngồi, thuở nằm, chạm thấy đến mắt, gặp gỡ nơi duyên, chi chi cũng đều là những tác dụng vi diệu của Phật sự cả”.

 Chỗ gọi là (Hoa Nghiêm hiệp luận): niệm nào, niệm nào cũng đều như Thích -ca xuất thế, mỗi bước mỗi bước cũng dường thể Di -lặc hạ sanh. Phân biệt là hiện cái trí (sai biệt trí) của đức Văn -thù; động dụng là vận cái hạnh (đại hạnh nguyện) của đức Phổ Hiền.

 Môn nào môn đều đưa ra niệm cam lộ, vị nào vị toàn vẫn là mùi đề hồ. Chưa ra khỏi rừng Bồ -ñeà, vẫn ở biển Hoa tạng. Rỡ rỡ không trần nào chẳng thấu suốt; mơi mơi mặt nhựt lên sáng soi. Há cần lời diệu biện để rao bày; nào mượn phép thần thông để chỉ rõ.

 Đấy là bực vô sự đạo nhân (68), mới xử dụng được đại tự tại như thế đó, mà phi cái tâm thức cảnh giới của hạng phàm phu có thể biết được đâu, chỉ người nào đã đắc, tức là như như Phật đấy.

 : Chính nơi toàn thể tánh chân như pháp giới, phát khởi ra tất cả các pháp của thế gianxuất thế gian. Thế thì, cả các pháp toàndo nơi tự tánh ấy sanh khởi. Nhưng, sanh khởi mà không do cái chi khác để sanh khởi, chỉ do nơi toàn thể của tự tánh ấy mà sanh khởi, nên toàn thể tức là dụng, toàn dụng tức là thể. Thể dụng trọn bày, sự lý lẫn suốt.

 Nên mới được mặc ý phơi phới, thể giáp dụng khắp, bởi vậy nên được thông thân ứng vật.

 Từ trên đến đây, là nói hiểu thấu sự lý thể dụng; dưới này chính là nói rõ cái đức dụng ra. Do vì cái đức đại dụng vô cùng, cơ hóa độ trùm tất cả.

 Người mà được như thế, mới có thể với trên, đáp đền bốn ân với dưới, cứu giúp ba hữu, nên nói: “Qua lại ba giới, vì làm pháp tắc cho chúng (69)”.

II.A.2.b1b- Tán miễn (khen gắng).

Thực hành chỉ, tác như thế, hẳn không uổng bận pháp phục, cũng là đều được tứ ân, cứu vớt tam hữu.

 Hai câu trên nói rõ phần tự ích. Hai câu dưới nói rõ về tha ích. Nghĩa là, tu và hành được như trên đã nói thì, thực là chẳng luống uổng ở trong đoàn thể tri môn.

 Đã thế mà lại đức hạnh đầy đủ, tứ ân tự nhiên nhờ lợi ích. Truyền xướng khắp nêu chánh pháp ra, cả tam giới đều được thấm nhuần lợi lạc!

 : Pháp phục tức là Ca -sa. Đọc đủ tiếng Phạn là KaÅya (ca-sa-dệ), dịch là: màu không chính, màu đã hoại, nghĩa là dùng hoặc xanh, đen và mộc lan, ba màu ấy nhuộm đúng như màu pháp (là thâm thâm, ửng đỏ), vì các đức Như Lai cả ba đời, đồng bận y đây, nên nói là pháp phục; kẻ mà bận nó, có thể dứt được phiền não, nên lại tên là Ly trần phục; chúng long được đeo một rẻo liền khỏi cái nạn chim đại bàng bắt ăn, nên tên là Cứu long y; cũng tên là Nhẫn nhục khải; cũng tên Liên hoa phục; cũng tên Giải thoát phục; cũng tên là Phước điền y. Vì nó có mỗi mỗi công năng, thành thử có những danh nghĩa như thế, nên Phật ngài chế tác ra, dạy phải mang theo thân, chẳng đặng rời cách nó mà đi nghỉ chỗ khác.

 Sự Sao nói: “Phật dạy phải kính cẩn hộ giữ ba pháp y như cưng giữ da mỏng nơi thân của ta; giữ bình bát như giữ tròng con mắt; đều chung kính như ngồi tháp, thường phải đem theo bên thân, tỷ như cái cánh mà khi bay lúc chạy, con chim nó thường cũng chẳng lìa nhau”.

 Mỗi văn trong các bộ luật, đều dạy phải đem theo thân; ngày nay, nhiều tăng chỉ hộ khi ngủ nghỉ không rời mà thôi, thế chẳng hợp pháp. Đã nói: thời đại ngày nay, hiếm có hộ trong lúc ngủ, huống chi thường mang theo thân. Phần nhiều có kẻ trọn đời, thân không pháp phục! Thế thì, với đời mạt pháp, chỉ hộ trong khi ngủ nghỉ, cũng còn có phần hơn.

 Chỉn bởi, người thiếu đức tin thanh tịnh, lờn pháp khinh y, nên hiện tiền đến lúc đau ốm, thân thể lìa ca -sa, đời sau đọa địa ngục phải mang cái y bằng sắt! Đó, kẻ chân chánh xuất gia, nên kính thuận lời thánh huấn, chớ tự khinh thường!

Mỗi đời đều có thể chẳng lui, thì với ngôi Phật quyết định khá hẹn, qua lại làm khách tam giới, ra vào vì làm qui tắc cho kẻ khác.

 Hai câu trên là tự làm, hai câu dưới là dạy người. Nghĩa là mặc dù đã đốn ngộ được tự tâm rồi, nhưng, với phiền não quá nhiều như vi trần, hà sa, hơi hám thói quen (chủng tử) từ vô thỉ, phi chỉ nội trong một ngày nay mà có thể đào thải hết được; nên cần phải gội lòng, nuôi đức, tập trung lại những tinh thần sẵn, mới chẳng bị cái mê mờ của thân ngũ ấm gián cách (70), và có thể mỗi đời chỉ tiến không thối, hoặc tập hết, trí đức tròn, pháp thân hiển lộ, mà quả Phật tự chứng.

 Từ đây, không bị trụ nơi sanh tử của lục phàm, không trụ nơi Niết -bàn của tứ quả Thanh văn, dùng đại bi phụ giúp lẫn nhau với đại trí, vận đức từ vô duyên (71), độ thế giới hữu tình. Tùy loại chúng sanh, chia mỗi thân ứng hóa, vào chốn triền phược (72) (phiền não) mà như thả tay tự tại, hòa đồng cảnh trần, để nhen ánh đạo, khỏi vòng sáu thú (lục đạo), cùng chúng sanh làm kẻ bạn chẳng đợi mời, để khai thị quỉ tắc cho nhân thừa, thiên thừa cả tam thừa.

 : Khoa trước mở tỏ nguồn chân, là để khế ngộ cái “tánh chân như nhân địa Phật” của tự tâm; khoa đây nói Phật giai đồng chính là chứng “cứu cánh quả vị Phật” vậy.

 Muốn cho chẳng bị cái mê mờ về thân ngũ ấm sau cách với thân ngũ ấm trước, thì cầu cho được cái tâm đây thường thường đừng mê muội, mới có thể ra vào (sanh diệt) mặc ý mình, tự do qua lại nơi tam giới.

 Hoặc có người hỏi: Đã chứng Phật giai là đắc quả Vô sanh, cớ sao lại còn có xuất một (sanh diệt) ư?

 Đáp: Chư Phật chứng đắc cái cảnh giới Vô trụ xứ Niết -bàn, phi đồng với sở chứng của Nhị thừa là khôi thân đoạn trí, vô dư Niết -bàn (73), nên chư Phật không bị trụ nơi sanh tử của lục phàm, cũng bất trụ nơi Niết -bàn của tứ quả Thanh văn, suốt cả đời vị lai thường làm lợi lạc cho chúng hữu tình.

 Vì nếu trụ nơi Niết -bàn thì, chẳng có cái đức dụng độ sanh; còn trụ nơi sanh tử thì, chẳng có cái công dụng đoạn trừ các chướng. Do đó hay đoạn chướng, lại hay độ sanh, nên gọi là “vô trụ xứ”, dù ở đời vị lai, đủ vô lượng cái đại dụng lợi sanh, mà thể tánh vẫn vắng lặng, nên gọi là “Niết -bàn”.

 Lại, trong Phật giáo có đôi pháp môn là quyền và thực, chân và tục. Trong môn Chân đế (đạo), thì đều bặt hẳn những cái tâm phân biệt là thánh phàm là vô hữu; trong môn tục đế (đời) thì, chẳng không cái tâm nào Thánh phàm nào duyên sanh. Thành thử, hễ có cảm là theo ứng, để làm qui tắc cho kẻ khác.

 Rằng hòa quang đồng trần ấy; Hòa là xen lẫn; quang là trí dụng; trần là cái cảnh bụi bặm ô nhiễm giữa tam giới lục đạo mà các đấng thánh nhân xen lẫn vào trong, lấy cái trí quang giáo pháp, để mở mang dắt dẫn, như “tứ nhiếp pháp”.

 Châu triền: giáp vòng, tức là vãng lai xuất mộc vậy.

Một pháp thiền học đây, rất nhiệm rất mầu, nhưng tỏ khứng lòng, ắt chẳng lừa (đánh lừa) nhau.

 Hai câu trên là tán thán đạo vô thượng. Hai câu dưới là khuyên gắng tiến tới.

 Rằng: Một tông ngoài tam tạng giáo pháp đây, nó là cái tướng văn tự, tu học bằng cách tuyệt hẳn nơi lòng, không sa nơi giai cấpquả vị của tam thừa, vì là chỉ ngay nơi nhân tâm, để thấy tự tánh thành Phật mà thôi, thế là tối diệu tối huyền! Chỉ e người đương sự lòng tin chẳng kịp! Nếu mà thâm tín không nghi, khứng lòng quyết chí, sấn sướt tiến tới ắt không lừa dối lầm nhau.

II.A.2.b2- Giáo lý
 Chia làm hai:

b2a- Thị giáo
b2b - Giới miễn.

II.A.2.b2a- Thị giáo.

Nhược bằng có tu sĩ bậc trung lưu, chưa có thể đốn siêu được như thiền học trên thì nên để tâm nơi giáo pháp, đặng ôn tìm bối diệp.

Hai câu trên nói rõ căn cơ. Hai câu dưới là rõ giáo pháp. Do đức Như Lai Ngài tùy nơi trình độ mà lập thành giáo khoa, quán sát căn cơ truyền trao pháp yếu, nên mới có phân ra tam thừa, mười hai phần giáo - và có một môn khác lạ là “giáo ngoại biệt truyền” như niêm hoa vi tiếu.

 Thoảng hoặc như kẻ tu Phật mà chưa có thể chóng vượt khỏi môn phương tiện thì, ắt phải để lòng nghiên cứu cho thuần thục giáo điển. Vì hễ văn tự đã thuần thục thì nghĩa lý tự nhiên rõ bày. Tỷ như nhân ngón tay (kinh) của người chỉ (thầy) mà ta thấy được mặt nguyệt (lý). Chính chỗ gọi “tìm theo dòng mà thấu tận đến nguồn” là thế.

 Ký:  ở đây chẳng nói đến trung sĩhạ sĩ là, với hạng người bực trung, có thể dùng nói đến bực thượng. Còn kẻ hạ sĩ, hễ họ nghe đến câu chuyện đạo thì họ lại chê cười, thành thử đây chẳng chép dùng đến!

 Lại phải để lòng nơi giáo pháp ấy, là e chẳng phải chính con (nhứt niệm bất sanh) của Sư tử (Phật) thì chẳng thể từ nơi chỗ không (bất lập văn tự) để day trở mình (chuyển uẩn thân y Pháp thân), nên lại phải đi men dọc theo khe (pháp lưu), dò lần bên vệ đường (giao đạo), mới khỏi bị cái hoạn nạn tán thân thất mạng (74). Thành thử khiến phải vừa ôn lại bài cũ, vừa tìm học bài mới (ôn tầm bối diệp), để đặng từ nơi giáo lý mà ngộ vào chân lý.

 Bối diệp tức là kinh điển cả tam tạng. Đọc đủ tiếng Phạm là Pattra (Bối-đa-la), dịch là ngạn ảnh: bóng ngàn, nghĩa là, thân cây ngay tót vượt khỏi lên cao. Thân cây nó hơi giống cây tông lư (cây kè) ở xứ này (nước Tàu), đã ngay lại cao. Lá nó khá dài và rộng, màu nó sáng và mướt. Bên nước Tây Trúc biên chép kinh sách đều dùng lá bối.

 Bối-đa-la, tiếng người Việt gốc Miên kêu là cây thốt lốt; mà có cả ba thứ thốt lốt; ở tại miền tây nam Nam Việt, người Miên có trồng được một thứ. Kinh bằng lá thốt lốt, khéo giữ thì năm, sáu trăm năm nó mới hoại (mục).

Ròng xét nghĩa lý, để truyền xướng khắp nơi, tiếp dẫn hậu lai, để đền trả ân đức của Phật.

 Câu đầu là tự học hành; hai câu kế là giáo hóa người; câu rốt là trả đức.

 Muốn trả ân của Phật, ắt phải truyền giáo dẫn dắt người. Nên có bài kệ rằng:

Dẫu đầu đội Phật trải trần kiếp, 
Thân làm giường, tọa khắp ba ngàn, 
Nếu chẳng truyền pháp độ chúng sanh
Rốt đều không thể trả ân được.

 Vả chăng, người mà muốn nêu truyền chánh pháp thì cần phải trước lo ôn tầm bối diệp, dò thấu chỗ thẳm mầu, nghiền xét cả tánh tông, tướng tông, tột hết nghĩa lý, chẳng sa trệ nơi thuyên đề (75) (nơm, rập) vẹt bày tông thú (76) mở dạy lớp sơ cơ, khiến chúng giác ngộ vào chân lý, thế mới là báo đáp ân đức của Phật.

 Ký: Khoa trên dạy phải xét thuộc giáo văn, khoa đây khiến phải tìm tột nghĩa lý. Vì nghĩa là chỗ sở hiểu của giáo pháp, lý là chỗ sở qui của sự nghĩa.

 Thuyên đề: với cái nơm là cốt để bắt con cá, rập là dùng để gài được con thỏ. Nghĩa là tạm dùng hai vật ấy là cốt để bắt cá thỏ, chứ phi hai vật ấy là cá thỏ. Cũng như ngón tay là vì để chỉ mặt trăng, người biết phải nhân ngón tay để thấy mặt trăng, chứ phi chấp ngón tay là mặt trăng, tức kinh sách là để nêu cái thâm ý của Phật chỉ rõ chân tâm, người học phải hiểu thâm ý để ngộ chân tâm, chớự nên chấp nơi ngữ ngôn văn tự, nên nói là đắc ý vong ngôn. Được thế, mới không sa trệ nơi nơm rập, ngón tay và ngữ ngôn.

 Nên Kinh nói “Giáo pháp khế kinh, tỷ như nêu ngón tay chỉ mặt nguyệt, nếu nhận thấy được mặt trăng (Bồ-đề nguyệt là giác tánh) thì rõ biết chỗ ngón tay nêu kia là phi nguyệt. Người mà biết được như thế, mới có thể nhân giáo tỏ tâm, chả mê mờ nơi ý chỉ của kinh để rồi làm việc tự lợi lợi tha, trả ân đức Phật. Người học tu Phật muốn được như vậy, thực là Tăng bảo trong đạo Phật của nước nhà vậy.”

Với giờ, phút cũng chẳng luống bỏ, ắt phải lấy đó giúp đỡ, giữ gìn, đi, đứng, nằm, ngồi đủ uy nghi, chính là pháp khí giữa chúng tăng.

 Câu đầu ngợi khen cái đức cố gắng tinh tấn. Câu thứ phú chúc chống chỏi chánh pháp. Hai câu dưới nói sự hành trì xứng đáng. Hoàn toàn như trên: trí hiểu, sự làm, trả ân đức Phật, thì là chẳng bỏ mất qua tấc bóng giờ phút vậy.

 Nay cách với thuở Phật Thánh đã xa, vắng tiếng thuyết pháp đã lâu, nếu chúng ta chẳng gắng sức phù trì thì, ngày Pháp diệt ở gần đây, thế rốt cuộc phi báo đức được.

 ắt phải trung kiên chí khí, đội giữ chánh pháp, tu mình, độ người, giác ngộhành trì dần dần viên mãn, gọi là chân chính báo ân.

 Đã thế, đức đầy hạnh đủ, trong lý tánh, ngoài sự tướng hiệp dấu (in nhau), tôn nghiêm ngôi Tăng bảo, bực thầy, thợ giữa nhân gianthiên thượng, tức sứ giả của Như Lai, vì thực hành pháp sự của Như Lai.

 Nên ngài Trường Lô Trách thiền sư nói “Bực thượng thượng cơ, chỉ một đời là đức và hành dùng xong; còn kẻ sĩ bực trung lưu cần phải trưởng dưỡng thánh thai (77); chí như người chưa giác ngộ được tự tâm nguyên, thì trong mỗi giờ cũng chẳng bỏ trống qua sự học lý tu, để rồi, với gần thì làm tân lương (78) cho đời mạt pháp, với chỗ rốt sau thì, chứng đến cực quả nhị nghiêm (79)”.

 Ký: Như Lai sứ: Tăng mà ban truyền tông chỉ của Phật nên gọi là sứ. Sứ tức là chỗ sai khiến, nghĩa là đem luật nhân quả của Phật ra để tuyên truyền, nên tên là Như Lai sứ hành Như Lai sự.

 Đức sung túc, hành đầy đủ, trong ngoài hiệp dấu, thế là đi đứng uy nghi vậy. Ngôi Tăng bảo tôn nghiêm, làm thầy thợ chốn nhân thiên nên nói là Tăng trung pháp khí (80).

 Kinh Hoa Nghiêm nói “Tăng mà thụ trì uy nghigiáo pháp được đầy đủ hoàn toàn thì, hay làm cho ngôi Tam bảo chẳng gián đoạn”; số là hai ngôi Phật bảoPháp bảo đều do nhờ ngôi Tăng bảo hoằng truyền. Còn chỗ tồn tại của ngôi Tăng Bảo, phi giới luật thì bất thành lập! Nên nói “Hễ Tăng mà thuận theo giới hạnh uy nghi thì, Tam Bảo được thường trụ cửu trì, trái lại, hễ vi phạm đến thì, chánh pháp bị lật úp tiêu diệt! Thế, biết rằng với uy nghi, chẳng khá chẳng giữ cho đủ ru.”

Há chẳng thấy dây cỏ các nương cây tùng, lên cao ngàn tầm; nương tựa thắng nhân, mới hay rộng ích.

 Hai câu trên là lời dụ. Hai câu dưới là chỉ thị phương pháp. Tùng là dụ cái thắng nhân. Cỏ các là dụ nương tựa. Ngàn tầm (81) là dụ ích lợi rất rộng rãi. Thắng nhân tức giáo lý. Phụ thác là nương tựa, tức là quán trí. Nghĩa là lấy trí để quán xét cái lý, hầu chứng ngộ vào quả vô sanh, chỗ thấy biết tày bằng với bực Phật. Có cái huệ biện luận vô cùng, khắp nên hoằng pháp lợi ích nhân sanh, thực là chân pháp khí.

 Ký: Lại, cây tùng dụ lý; cỏ các dụ trí; dùng trí quán xét lý, đặng thắng đệ nhất nghĩa đế của Pháp thân.

 Dẫu chưa thân chứng đệ nhất nghĩa đế của Pháp thân, mà pháp nhãn đã sáng, chẳng bị thanh, sắc đánh lừa, mới có thể truyền xướng phu dương để giúp ích cho mọi loài.

 Có hai cách rộng ích: 1-Rộng ích cho phần mình, vì thấy tày bực Phật. 2-Rộng ích cho người, vì khắp nêu lợi vật.

 Rằng đệ nhứt nghĩa đế là cái lý “tối thượng thậm thâm” thể nó lóng sạch, vắng lặng, tánh nó rỗng trống, dung hòa, không danh, không tướng, tuyệt bàn tuyệt nghĩ, chân tục phi hai, không hữu đều chẳng phải vì chỉ hiển rõ nghĩa trung đạo, nên nói là đệ nhất nghĩa đế. Lại, chẳng sa vào các con số và lượng nào hết, nên nói là đệ nhất.

 Như Kinh nói “Tuy nhứt, cũng chẳng phải là nhứt, vì để ngoài các số kia.”

Gắng tu trì trai, giữ giới, chớ gian trá mà bỏ thiếu, vượt lớp qua, mỗi kiếp mỗi đời, nhân quả tốt lạ.

 Hai câu trên nói cái nhân tốt của giới; hai câu dưới nói cái quả đẹp của giới. Khẩn: khẩn thiết, cố gắng. Tu: tu trì, chữ trai là nói “tày”, do mỗi bữa ăn cứ tày một chừng mực giữa ngày sánh đồng với chư Phật, nghĩa là thực hành sự như lý của trung đạo.

 Lại, Phật ngài muốn ngăn dứt cái tập nhân của sáu thú (đạo) nên khiến chư tăng bữa ăn phải đồng với chư Phật. Như Kinh nói “Các trời ăn bữa sớm mai; chư Phật ăn bữa giữa ngày; có một loại bàng sanh ăn lúc mặt nhựt đã xế về tây; quỷ thần ăn lúc mặt trời sắp lặn tối. Chúng tăng đã học theo Phật, nên bữa ăn phải từ nơi nhựt trung.”

 Song, lúc trước giữa giờ ngọ được ăn ấy, là để tiêu biểu rằng tiền phương tiện được cái nghĩa có chứng; còn sau giữa giờ ngọ chẳng đặng ăn đó là, để nên tỏ rằng ngoài cái tánh pháp giới, lại không còn pháp gì riêng khác nữa.

 Hoặc có kẻ hỏi: Với bữa ngọ thực như trên thì, bực trung sĩ vì hộ trì giới điều là phải như thế, chứ bực thượng sĩ làm ra chẳng hạn ở nơi luận ấy.

 Đáp: Thượng sĩ tức Đại sĩ là Bồ -tát thì, các ngài hộ giới còn cần cấp hơn Thanh văn; các Ngài sợ cái tội nhỏ cũng như sợ lỗi to. Với Lịch Đại Tổ Sư, chúng tôi chưa nghe có một Tổ nào phá trai phạm giới.

 Như ngài Thanh Lương quốc sư (82) tức Hoa Nghiêm Bồ -tát tự lấy mười điều luật (83) để nghiêm chỉnh thân nghiệp, ngài Vĩnh Gia chẳng chịu ăn thứ rau do dưới lưỡi cuốc của người xới trồng; ngài Trung Phong chẳng rời cái đãy lược nước; đức Ca -diếp tôn giả, là đầu tiên được Phật truyền tâm ấn, làm vị Tổ trước nhứt giữ tu hạnh đầu đà đến trọn đời. Giữa ngày ăn một bữa, trước giờ ngọ không ăn, phần nửa sau của giờ ngọ chẳng uốõng nước của trái cây ép ra.

 Sự ăn của các Ngài như thế là, chính vì để dứt cái tập nhân (84) của chúng sanh trong tam giới, chẳng mắc vào cái quấy lỗi của hai bên, thực hành cái chính đích của trung đạo, cũng là để tiêu biểu rằng đốn siêu pháp phương tiện, chẳng do nơi môn hộ (lớp lang của tam thừa) mà để chứng nhập ngay nơi Như Lai thất.

 Hỏi: Việc tu trong Phật giáo, có bốn cách:
1-Thừa (kinh luận) cấp giới (giới) huởn. 2-Giới cấp thừa huởn. 3-Thừa giới câu cấp. 4-Thừa giới câu huởn; mà ở đây (85), thì với giới, tựa hồ như khá huởn mà, với thừa phải khá cấp chăng?

 Đáp: thừa là lý, giới là sự. Sự do lý mà thành lập; lý nhân sự để sanh hiển. Người mà có sự tu, có lý chứng, đều viên dung, mới gọi là thượng sĩ (Bồ-tát).

 Tỷ như với con chim đủ cả hai cánh, nếu thiếu một nào giữa hai cánh ấy thì, mất cái bay lượn nơi muôn dặm. Như người sẵn đủ hai con mắt, nếu hư một con nào giữa đôi ngươi, tức không có cái quán chiếu lẫn dùng nhau.

 Nên chi, người mà tu về thừa thì cấp (chuyên cần tụng kinh, nghiên cứu luận) mà với giới luật thì huởn đãi, kiếp sau đọa làm thân A -tu-la hoặc ngạ quỷ, nhưng, còn được nghe pháp.

 Người mà do đều cần cấp cả thừa lẫn giới, kiếp sau được sanh hoặc làm người, hay làm trời, rồi đặng ngộ đạo. Thế, đối với học tu kinh luật luận hay giới định huệ, huởn cấp ưu liệt thế nào, đây khá thấy hẳn.

 Giới là ngừa điều phi, dứt việc ác, diệt trừ cả tam độc.

 Khuy du: Khuy: khuy khuyết là, đối với giới, có vi phạm. Du: du việt, tức vượt bỏ giới luật mà chẳng học.

 Thù diệu nhân quả: nhân quả tốt đẹp, do vì giữ giới được nghiêm tịnh, nên hiện đời thì thân tâm trong sạch, về sau đời đời được trả lại cho cái thân thể đoan trang, nghiêm chỉnh, nhẫn đến cái mình vóc đủ ba mươi hai tướng tốt, muôn đức rực rỡ là thân Phật, đâu chẳng lấy giới luật làm nhân. Nhân do vì cái nhân tốt lạ, nên chi cái quả phải nhiệm mầu. Nếu mà, chẳng giữ giới, hãy còn chẳng đắc phục nhân thân thay, huống nữa đâu đặng cái quí thể đầy đủ công đức là, hoàng kim mãn nguyệt tướng ư!

 Lại, thụ giới mà không giữ cho được thanh tịnh, vả chẳng có lòng chánh tín, dù có cái khoa ngôn ngữ, tài hùng biện, lời lẽ trôi chảy thao thao bất tuyệt như sông treo suối đổ đi nữa mà, sự làm, lý hiểu đều trái thì, đâu có thể “truyền xướng phu dương báo Phật ân đức” được ư?

 Các nhà thiền học ngày nay, đã khinh lờn giới luật của Phật, lại trái lời dạy răn của Tổ, hãy phi là người tín ngưỡng, đâu gọi là bực thượng sĩ, thì làm gì có thể phu dương lợi vật, ban truyền tâm ấn của Phật được ru!?

 Ký: Quả tương: nước nhựa của trái cây, là lấy các thứ trái cây ép ra nước, lược xác, nước lóng trong, gạn lấy phần trong sạch để uống.

 Các đức Phật cả ba đời, bữa ăn chẳng qua giữa giờ ngọ ấy, là tánh của chư Phật thường xử nơi trung đạo. Thế nên, đức Như Lai từ lúc giáng đản nơi cung vua, cho đến khi nhập Niết -bàn, với trong thời gian đó, chưa hề có ăn bữa phi thời. Nên Luận nói “Đức Như Lai là tánh Ngài xa lìa bữa ăn phi thời”.

 Nên Phật dạy “Sau giữa giờ ngọ, chẳng ăn nữa, có năm phước: 1-ít ham dâm dục. 2-ít buồn ngủ.
3-Được nhứt tâm. 4-Không hạ phong. 5-Thân được an ổn cũng chẳng sanh bệnh lặt vặt.”

 Mạn: chữ mạn này thuộc bộ “ngôn”, nghĩa là lời nói khinh khi, lại cùng đồng với chữ mạn bộ “tâm”, nghĩa là đãi đọa, hốt lược và bất kính.

 Luận Khởi Tín nói “Nhẫn đến với tội nhỏ, lòng còn sanh quan niệm bố úy, tàm quí, lo ăn năn đổi lỗi, chẳng dám coi rẻ lời cấm giới của Như Lai chế sắc, phải gìn giữ đừng để người ta chê trách, đừng để cho chúng sanh gây cái tội hủy báng vì mình phá giới!”

 Người xuất gia mà trai giới, nhân quả thù diệu được thế, đấy thực là tự lợi lợi tha, đội giữ chánh pháp, phu dương lợi vật, báo Phật ân đức, ấy thế.

II.A.2.b2b- Giới miễn (răn gắng).

Chẳng khá lơ láo qua ngày, ngồi trơ trơ qua giờ, khá tiếc sáng bóng! Chẳng cầu tiến lên?

 Hai câu trên là răn chớự bỏ luống qua. Hai câu dưới là thương chẳng tiến lên. Với ngày đã rảnh rang qua, với giờ lại bỏ luống mất! Chẳng toan tiến bộ, ngồi mất quang âm, thực là khá tiếc! Hẳn là “sanh vô ích ư thời, tử vô văn ư hậu”.

 Quang âm: Quang: sáng, là ánh sáng của mặt nhựt, tức là bỏ qua ngày. âm: bóng là ánh sáng của mặt nguyệt, tức là bỏ qua cả đêm. Tọa táng quang âm: ngồi không bỏ mất qua thì giờ!

 Ký: Vua Đại Võ ngài tiếc từ tấc bóng, ông Đào Khảng tiếc từ phân bóng; huống chi kẻ vì thoát đường sanh tử đi xuất gia, phải cần hơn nữa, như chữa lửa cháy trên đầu, mà nên bỏ trống qua giờ phút ru!?

 Ngột ngột: trơ trơ, là cái dạng chẳng cục cựa. Chính là lơ lơ qua ngày, không dụng tâm lo vào việc gì, chẳng tìm cách tiến lên, như người bị đau bệnh bại xụi! Bệnh ngủ ngồi và bệnh ngồi tịnh!!!

 Luống tiêu (ăn bận) của tín thí mười phương, cũng là phụ phàng cả bốn ân; chứa chất càng sâu, lòng trần dễ lấp, chạm đường (sự lý) nên ngăn (bất thông), người ta khinh dể!

 Hai câu đầu là nói chẳng có đức chi để báo ân. Hai câu kế: tội sâu chướng nặng. Hai câu sau nói do những hoặc chướng đó mà mất trí huệ!

 Nếu không lo tiến tới thì, chẳng những chẳng có công lao gì để đáng tiêu của tín thí, mà cũng chả có đức hạnh chi để báo đáp tứ ân!

 Vì với công, đã chả thi hành điều chi, thì với đức không do đâu thành lập. Tức nhiên, chứa gốc tội càng ngày càng thâm căn! Nghiệp hoặc bít lấp nơi tâm nguyên, chẳng có cái kiến thức bực đại nhân, mất cái trí sáng suốt của thánh nhân.

 Hành động thì trái với chân giác, mà hợp với vọng trần nên chi chạm đến sự hay lý gì đều thành ra sa trệ cả. Cái huệ giải (sáng biết) đã bị niêm phong rồi thì, đâu có thể mở dạy lớp hậu lai, ví dẫu tuổi sanh đã cao, tuổi xuất gia thụ giới lạp cũng đã nhiều năm đi nữa, cũng nào khỏi bị chúng khinh khi!?

 Ký: Chướng tức là phiền não vọng hoặc. Do những cái trần cấu là tham, sân, si, nó ủng tế trong lòng, thì cái tâm quang đâu có thể sáng suốt ra ngoài được! Đã chẳng có phần tự lợi, lại khuyết phần lợi tha, nên bị kẻ hậu học khi dể.

 Lại, từ vô thỉ đến nay, cái tâm ấy đã bị những duyên sự chủng tử ác tập nó bao phủ nhiều lớp quá sâu sắc, bây giờ lại huân tập tô bồi nữa, há chẳng dễ bít lấp đó ru!?

 Xúc: chạm gặp, đối chọi. Đồ: đường sá, tức sự lý. Trệ: trệ ngại, nghĩa là bất thông thấu. Do vì cái tâm nguyên bị trần vọng ủng tắt, thành thử gặp sự gì đã bất thông, đối với lý chi cũng bất đạt nữa!

Xưa nói “Kia đã trượng phu (nam tử) ta cũng thế, chả nên khinh mình chịu lui sụt”.

 Câu trên là khiến bắt chước bực tiên triết. Câu dưới khuyên mình gắng tới.

 Thánh trước Hiền sau, người nào người nấy, ai cũng có phần. Người kia đã thế, ta sao chẳng thế? Há nên tự khinh lấy mình mà, chịu lui sụt cái chí khí của mình sao?

 Phật răn dạy “La -hầu-la-đa! Mười phương thế giới các Bồ -tát, mỗi niệm đã chứng quả Thiện Thệ (86), kia đã trượng phu ta cũng rứa, chẳng nên khinh mình chịu sút lui”.

 Kinh Niết -bàn nói “Nếu nam tử mà không tự biết mìnhPhật tánh thì, tức là nữ nhân, vì phi trượng phu (87) (đàn ông)!

 Ký: Diệc nhiên, tức diệc nhĩ: cũng thế, cũng vậy và cũng rứa.

 Trượng phu: trí nhân, kia đã trượng phu, ta cũng trí nhân, không nên đề cao cho kia, mà tự thấp tánh linh của mình; phải biết tất cả chúng sanh bản lai vẫn sẵn có Phật tánh. Thế nên, cả lục phàm, tứ thánh, đồng một tâm nguyên, hễ mê muội tâm ấy tức là phàm, còn giác ngộ tâm ấy là thành Thánh. Nên chi, với tâm ấy, hễ nhứt niệm được tương ưng là, liền đồng với chư Phật.

 Ai mà chưa được như thế, cần phải lấy giới nơi thân, huệ nơi tâm, trong ngoài huân tu thì, mỗi bước mỗi ly khai nơi phàm, mỗi niệm mỗi tiến lên bực Thánh. Nếu được như vậy, thì, chỉ một đời dùng xong, cũng nào có nhượng bộ cho ai ru.

 Thiện Thệ: khéo qua, nghĩa là, lên trên bực đệ nhứt là quả Phật, vẫn chẳng trở lại làm chúng sanh. Cũng nói hảo khứ: đi tốt, là với đi, thì đi trong mỗi mỗi các tam muội, và vô lượng trí huệ mà đi; Thiện Thệ là một trong mười hiệu của Phật.

 Thánh Hiền: Người trong tam thừa, từ ngôi chưa “kiến đạo” (88) về trước, gọi là Hiền, vì tu tập “phước, trí” đủ cái đức bực hiền. Từ ngôi kiến đạo về sau, gọi là thánh, như “Thập Địa Bồ -tát”. Thánh chánh, lấy cái trí vô lậu, chính họp với lý, nên gọi là Thánh.

Nếu chẳng như thế, luống ở cửa chùa! Húng hính qua đời không ích chi cả!

 Hai câu trên là trái với giáo. Hai câu dưới là mất sự lợi cho mình và người!

 Nếu chả tu hành như lời dạy trên, thực là lộn xộn một đời giữa chúng tăng, luống uổng bận pháp phục, vì chả có chút công gì khá ghi, chẳng có cái đức chi khá chép! Nên nói “thù vô sở ích”: chỉn không chỗ ích!?

 Ký: Đồ: luống trống. Truy môn: do lấy màu sắc đồ bận của tăng chúngxưng hô luôn pháp môn.

II.A.2.c- Kiết khuyến.
Chia làm năm phần:

 c1- Khải phát

 c2- Thị giáo

 c3- Khuyến miễn

 c4- Hiển thị nhân quả

 c5- Tự hành hóa tha

II.A.2.c1- Khải phát.

Nép trông: dấy cái chí quyết liệt (sấn sướt) mở cái lòng đặc đạt (trổi hơn), cử động, phải xem theo bực thượng lưu kia, chớ tự chuyên theo với kẻ tầm thường. Đời nay cần phải quyết đoạn, tự liệu lấy chẳng do ai khác (89).

 Hai câu trên là nói ý khí rỗng rang. Hai câu kế là nói tôn bực Hiền, ngăn kẻ ngu. Hai câu sau là sự giác ngộ phi do ai khác.

 Phục vọng: Nép trông, tức là lời khẩn đảo.

 Dấy chí sấn sướt: Phát cái tâm dũng mãnh, cầm vững cái chánh khí trượng phu.

 Mở lòng đặc đạt: Nới rộng lòng dạ, lập chí hướng thượng.

 Cử động xem kia thượng lưu: lúc hành động, lúc yên tịnh, khi noi bước chân đi, phải tôn chuộng bực thượng đức.

 Chớ chuyên theo với kẻ hèn: Chẳng khá tự chuyên, theo học đòi bọn thường lưu đương thời.

 Nên ông Phạm Thục Công, đưa ngài Viên Ngộ thiền sư đi hành khước, mà nói lời tỷ huống như vầy “Xem nước thì chớ nên xem nước chỗ ao nhơ, vì nước chỗ ao nhơ bởi loài cá, cua đinh là những vật thấp hèn; lên núi thời chớ nên lên đồi núi đà lý (lúp xúp), vì núi đà lý cỏ, cây mọc thưa thớt (tức chỗ sơn bất cao, thủy bất thâm). Thế nên, hễ xem nước, cần xem nước nơi biển khơi, vì sâu rộng hơn; lên núi, nên lên trên núi Thái, vì cao lớn hơn. Như vậy là sở đắc chẳng cận, chỗ thấy cũng cao”. ấy là văn đây cũng gọi thế.

 Đời nay liền phải quyết đoạn: Như “Nhứt đao lưỡng đoạn”. Chặt một dao đứt hai khúc, lập tức quyết xong; nay mà nếu chẳng rồi, lại còn phải đợi chừng nào nữa!? (Thử thân bất hướng kim sanh độ, cánh hướng hà sanh độ thử thân?).

 Chẳng bởi người khác: tự tâm mình lại tự quyết lấy, hễ tự tu tức tự ngộ, tỷ như mình ăn thì tự nhiên bụng mình no, không quan hệ với người khác. Ví dẫu tình thân thiết như cha con đi nữa, cũng khó mà thay thế cho nhau đặng! Chính chỗ gọi rằng “mượn cái lỗ mũi của người để thở hơi của mình ra, không thể được” thực vậy.

 Ký: Dung bỉ tức là hạng người dung ngu bỉ lậu. Quyết là quyết xong. Lại, là lời quả quyết không do dự. Đoạn là phán quyết. Đà lý là núi đồi thấp nhỏ mà liên tiếp, người ta thường đi dẫm đạp lên đảnh nó vậy.

II.A.2.c2- Thị giáo.

Dứt ý quên duyên, chẳng cho làm đối đãi với các trần (90). Tâm không cảnh vắng, chỉ vì bị bít lấp chẳng thông đã lâu.

 Hai câu trên là khiển trừ cái vọng. Hai câu dưới là nguyên (91) lại cái chân.

 Dứt ý quên duyên là dứt cái ý niệm, quên cái duyên trần. ý là phần chủ quan của sáu căn, hễ chủ mà đã thôi dứt rồi thì cái tâm phan duyên (duyên lự tâm) nó tự quên mất vậy.

 Chẳng cùng tác đối với chư trần: đứa phàm chẳng rõ được tự tâm, thành thử mỗi mỗi vọng hoặc chấp trước, tùy theo sự gì phan duyên lấy sự nấy, mà phân biệt cả cảnh giới lục trần; chứ nếu như cái ý thức chẳng sanh một niệm gì hết, tức nhiên lìa được tất cả quan niệm phân biệt thì, cái ý nghĩ dứt, cái duyên quên mất, với lục trần ai cùng làm đối đãi. Thế là sáu căn chẳng duyên với sáu trầntrần cảnh tự nhiên vắng lặng cả.

 Tâm không cảnh tịch: Chân tâm vốn rỗng trống, trần cảnh nguyên lặng im; chỉn bởi tự quên chân tâm, chấp lấy vọng cảnh (bóng duyên của sáu trần), thành thử mới có các cảnh trần nó xôn xao lăng xăng. Chớ tâm (ýự) ta không chấp thì, dù trọn ngày đối cảnh mà, cảnh hằng vắng lặng, cũng phi bặt dứt tâm cảnh, trừ sạch vạn vật, nhiên hậu mới là tịch tịnh đâu. Chỉ có một điều là chẳng quên chân tâm thì, cảnh nó tự nhiên im lặng.

 Nên Kinh nói “Thấy hết các pháp (vũ trụ vạn vật), mà không chỗ thấy”, nghĩa là không trụ trước chỗ thấy, thực thế.

 Cửu trệ bất thông: đã lâu bị bít chẳng thông, là từ lúc vô thỉ, tâm sanh một niệm bất giác (mê: tức tham, sân, si), thì đến cả vạn kiếp cái vọng tình ấy nó sanh khởi luôn, thành thử chẳng hiểu thấu cái tâm vốn không, lại chấp đó cho là có, thế rồi cái chấp có đó nó che lấp cái chân tâm, bị ngưng trệ chẳng thông.

 Đến đỗi khiến cho cái tánh bổn giác viên minh, biến làm cái vọng kiến của năng kiến; cái vô tướng chân thể, biến làm cái vọng cảnh của sở kiến. Cái vọng làm ngần ngại cho cái chân, nên nói là bất thông.

 Ngày nay, nếu chẳng hồi quang phản chiếu, để phá những vọng căn vọng trần kia, thì không thể khôi phục lại ánh sáng suốt của bổn tâm.

 Ký: Khiển vọng là lìa các căn, cảnh hư vọng, vì cái vọng tâmnguyên không có tự thể của nó, mà nó xáo lẫn với trần để thành cái thể của nó, nên chitùy theo cảnh mà có và không, nghĩa là hễ có cảnh đến thì cái thể của nó liền sanh, cảnh đi thì cái thể của nó liền diệt; đấy, đã nhân cảnh mà sanh, thì toàn cảnh đó tức là tâm. Lại, nhân nơi tâm để chiếu nơi cảnh thì, toàn tâm đó là cảnh, mà tâm cảnh ấy đều không có tự tánh của nó, mà chỉ là tâm với cảnh duyên lẫn nhau rồi sanh ra tự tánh ấy thôi; nếu tâm lìa vọng niệm thì, căn và cảnh đều vắng lặng.

 Nguyên chân ấy: Suy xét cho đến nơi đến chốn thì, chỉ có nhứt chân tâm mà thôi, cái tánh thể nó là sạch sáng, xa tuyệt căn trần, linh biết vắng soi, trong ngần không ngần mé, giáp khắp pháp giới, ngục Thiết Vi chẳng thể ngăn che ánh sáng của nó, bầu trời xanh không thể trùm đậy cái thể của nó, muôn pháp (sự vật) không thể ẩn khuất cái chân thực của nó, cho đến cả trần lao phiền não chẳng hay đổi cái chân tánh của nó.

 Do từ trước bị mê mờ nhứt pháp giới (chân tâm) bất giác vọng động nổi lên mà có cái niệm, tùy theo cái duyên hoặc tịnh hoặc nhiễm rồi tâm cảnh lẫn sanh nhau, trở lại che ngăn cái bổn tánh linh minh, mãi đến ngày nay, chưa hề tỉnh ngộ lại được, nên nói là “cửu trệ bất thông”.

 Thấy hết cả các pháp ấy: tâm, cảnh rõ ràng, sờ sờ vậy; mà không chỗ thấy đó: là cái chân tâm nó không biết, cái chân cảnhkhông tướng, vì không biết nên vẫn không, vì vô tướng nên vẫn vắng. Không biết là phi đồng như cái không biết của cây đá, mà chính là tâm nó không khởi cái niệm phân biệt, chỉ vắng lặng mà thường tỏ soi. Vô tướng là phi như cái vô tướng bằng cách dẹp hết vạn vật, mà ngay nơi tướng không trụ nơi tướng, mà chỉ soi nhưng thường vắng. Nên nói là “tâm không cảnh tịch”.

 Tâm phan duyên tức là cái tâm vọng tưởng. Với cái tâm đây phân biệt ra mà nói thì có ba là tâm, ý và thức. Nghĩa là cái tâm đối cảnh có tri giác, khác với cây đá, nên tên là tâm. Kế đó, cái tâm tính lường nên tên là ý. Đến cái tâm mà lảu lảu riêng biết, nên tên là thức. Đấy, cái vọng tưởng nếu dứt được rồi thì, ba cái kia đều quên mất, cảnh giới cũng tiêu diệt luôn, duy chỉ có nhứt chân tâm, rỗng thông chẳng ngăn ngại, không chỗ nào nó chả phổ biến mà, còn có sự vật gì làm trệ ngại ru!?

II.A.2.c3- Khuyến miễn.

Đọc thuộc văn Cảnh Sách đây, mỗi giờ răn gắng. Cố gắng làm chủ lấy mình, chớ theo nhân tình (vọng niệm).

 Hai câu trên là y nơi pháp để tự cảnh tỉnh lấy mình. Hai câu dưới là gắng chí sấn sướt lên.

 Thuộc lãm…: xem đọc cho chín…. Nghĩa là cần đọc thuộc văn này, chứa vào lòng dạ, để thường thường tự nhắc thức lấy mình, với nghĩa, nhớ cho sâu (92), để rồi sách lệ tiến tu. Chứ chẳng nên chỉ một lần trải qua nơi tai mắt rồi liền gác cất lên gác cao, hoặc trong tủ kín (93).

 Gượng làm chủ tể…: Đứa phàm bị cái vô minh hoặc nó xông ướp, hằng lâu thành tánh quen, nên xúc đối với cảnh nào liền tùy theo duyên nấy. Nếu chẳng tự cố gắng lấy mình, lập cái chí quyết liệt, mở cái bụng đặc đạt, cầm cái cung trí huệ, nắm cái tên kiên cố, thì e, hễ hớ hênh một chút theo vọng lưu, tất phải bị quần tà nó phỉnh dỗ, bốn ma (94) nó làm hại, mà chớ!

 Ký: Tứ ma: 1-Ngũ ấm ma. 2-Phiền não ma. 3-Tử ma. 4-Thiên ma.

II.A.2.c4- Hiển thị nhân quả (chỉ rõ lý nhân quả).

Nghiệp quả lôi cuốn, thực khó trốn tránh (95)! Tiếng hòa vang thuận (96), hình thẳng bóng ngay (97), nhân quả rõ ràng (98), há không lo sợ!?

 Hai câu trên nghiệp báo. Hai câu thứ lập lời dụ. Câu thứ năm chẳng mờ quên. Câu thứ sáu khiến cho biết, để mà gắng dè!

 Nghiệp quả kéo lôi…. Nghiệp: tức là, hễ tạo cái nhân chẳng lành, thì sự kết quả cũng do cái nhân ấy đưa đến. Nhân dời quả chín, nó kéo trả khó trốn! (Nghiệp: tỷ như cái chứng ghiền).

 Như kinh Pháp Cú chép “Có dòng Phạm Chí, anh em bốn người, đều tu chứng đặng năm phép thần thông, nên mỗi người tự biết sau bảy ngày, sanh mạng ắt cuối cùng, đến bảo nhau rằng “Chúng ta đều có thần thông tự tại, pháp lực cao cường như thế ni, há chẳng thể lánh được cái tử nạn như thế nớ ư!?

 Người anh cả đưa ra cái kế hoạch để trốn chết như thế nầy “Ta xuống nơi biển cả, trốn ở nơi lưng chừng chính giữa, nghĩa là với trên chẳng gần mặt nước, với dưới chẳng sát nơi đáy biển. Thế, con vô thường sát quỷ, làm gì biết được chỗ ta ở, mà hòng tìm bắt chết đặng ư?”

 Người em thứ hai trình bày diệu kế rằng “Ta vạch hở núi Tu -di ra, chun vô giữa lòng núi, rồi cho núi hiệp kín liền lại. Thế, vô thường sát quỷ đâu có biết chỗ ta ở mà kiếm bắt chết đặng ư?”

 Người em thứ ba tự hào cái pháp thuật rằng “Ta nhảy vọt lên giữa chốn hư không, rồi ẩn hình không để lộ dấu tích chi cả. Thế vô thường sát quỷ mần răng biết được chỗ ta ở mà bắt chết đặng ư?”

 Người em út tán thành rằng “Ba ca -ca có ba phương pháp rất thần diệu, vì lên cao, xuống sâu và vào chỗ kín đáo; đây, em không cần cao xa huyền bí chi hơn là, chỉ có lợi dụng giữa chốn huyên náo, tức ẩn lẫn nơi chợ lớn đông người, ai chả biết ai, vô thường sát quỷ có đến thì nó tùy ý bắt một người nào đó không tiện hơn à, chứ hơi mô phải đi điều tra kiếm cho ra tôi phí thời giờ!?”

 Bốn vị tiên ông họp nghị tham mưu kế hoạch trốn chết xong rồi đâu đều đến vào đấy, tức cũng như “dĩ đào vi thượng sách”. Tới ngày thứ bảy kỳ hạn đã mãn, than ôi! Bốn tiên ông ở đâu cũng mạng chung tại đó. Nghĩa là ở biển tử thi như chổng nổi lên, sóng đưa tấp vào bờ; ở núi lòi ra như đất lở đá lòi lăn tuốt xuống chân núi; ở trên thiên không như phi cơ ngộ nạn sa xuống mặt đất; ở giữa chợ đông như kẻ cảm đại phong ngã ngửa ra chết, thị trưởng sai dân chúng đem tử thi ra đồng chôn.

 Phật dùng đạo nhãn xem thấy bốn ông lão hóa phép tiên để trốn tay tử thần mà, rốt cuộc chẳng thể tránh đặng, nên nói bài kệ rằng:

Phi trốn trên không, cùng giữa biển, 
Và chun lòng núi, giữa người đông. 
Không đâu nơi, chỗ, phương nào nhá? 
Trốn chết, phép tiên hết ngõ mong!

(Phi không, phi hải trung 
Phi nhập sơn thạch gian 
Vô hữu địa phương sở? 
Thoát chi bất thụ tử.)

 Đấy, chính chỗ gọi là “thành nan đào tỵ” ấy thế.

 Tiếng hòa … hình ngay … là tỷ dụ cái thiện nhân. Vang thuận … bóng thẳng là tỷ dụ thiện quả. Nếu mà, tiếng bạo thì vang xẵng. Hình vạy thì bóng xiên, là lẽ tất nhiên phải như thế. Chứ có lý nào có tiếng mà không vang, và trái với nhau như hình vạy lại bóng ngay, hình ngay lại bóng vạy bao giờ? Thì ra, tiếng chả khác vang, hình không soi bóng, nhân quả chẳng mất, nên nói “nhân quả lịch nhiên”.

 Đấy, nghiệp báo không sai chạy, há cho không tin, trả liền cái trước mắt, đâu không lo sợ ru!?

 Ký: Đức Như Lai còn chịu cái quả “mã mạch (99), kim thương” (100); La-hán chẳng khỏi xà thích (101), ngạ vong (102). Phương chi bọn phàm như chúng ta khá chẳng sợ ru!?

Nên kinh Nhân Quả nói “Dẫu trải về sau trăm ngàn kiếp, chỗ làm nghiệp trước vẫn chẳng mất, hễ khi nhân duyên gặp gỡ nhau, tất nhiên quả báo lại tự chịu”.

 Hai câu trên là rõ cái thời tạo nhân. Hai câu dưới là rõ về thời chịu quả.

 Kinh Nhân Quả nói đó là dẫn lời của đức Như Lai thuyếỏt ra.

 Giả sử: ví dẫu, là lập lời tỷ huống.

 Trăm ngàn kiếp là cử lên cái số lớn, để trùm cả đến đời vô thỉ. Lại, cử lên chỗ gần để tỷ huống chỗ xa, biết chỗ xa để rõ chỗ gần.

 Chỗ làm nghiệp là những cái hành nghiệp do nơi thân, khẩu và ý đã tạo từ trước.

 Chẳng mất là dẫu ít nhất một hào một ly cũng không sai mất.

 Nhân duyên khi gặp gỡ nghiệp quả nó kéo nhau, hễ cái thời đến thì tức nhiên phải gặp lấy.

 Quả báo lại tự chịu: Quả là để đền cho nhân, lẫn nhau vay trả không lầm, nghĩa là tự tác huờn tự thụ, chứ người khác dẫu có thay thế cũng chẳng đặng.

 Ký: Trăm ngàn kiếp là thuộc về cái thời quá lâu xa. Sở tác nghiệp là thuộc về cái nhân cũng lâu xa. Gặp gỡ là cái thời gần đây. Tự chịu là cái quả cũng gần đây.

 Nói lên trăm ngàn kiếp, là để cho biết từ vô thỉ, nên nói “cử cận hướng viễn”; nói lên trăm ngàn kiếp, là để cho biết hiện tiền, nên nói “tri viễn hiểu cận” (103).

Quyết biết sự hình phạt của tam giới, nó trăn trói giết người (thế phàm là người đã biết cái lý nhân quả, tâm cảnh không mất, thì phải), nỗ lực cần tu, chớ bỏ không qua ngày!

 Hai câu trên khiến cho biết cái cảnh khổ. Hai câu dưới khiến cho biết tu thiện đoạn ác. Nghĩa là bảo cho biết cái cảnh khổ mà phải cần tu phương pháp xuất ly cảnh ấy.

 Do vì chúng sanh cả tam giới, hễ có sanh ra là chẳng khỏi các điều khổ lão, bịnh và tử, nên nói “hình phạt”! (bốn cái khổ lớn ấy nó hành phạt cái thân ngũ uẩn).

 Các điều vọng hoặc như Cửu kiết (104), Thập sử (105) nó vấn trói chúng sanh, phải luân hồi trong tam giới, chẳng đặng ra khỏi, thế là “hoanh bạn: trăn trói”.

 Mọi điều phiền não là kẻ thù quân giặc, vì nó hay dứt đứt huệ mạng, nên nói là “sát nhân: giết người!”

 Nỗ lực cần tu là với cái đạo quả vi diệu, phi kẻ trễ nải biếng nhác mà có thể chứng được đâu.

 Chớ bỏ không qua ngày là chẳng nên ăn rồi ngồi không, bỏ mất qua những canh và khắc của quang âm, mà phải cần học và tu mưu cầu cho được tiến lên, mỗi ngày đều có phần thắng lợi.

 Ký: Cảnh khổ là chỗ của chúng sanh chịu quả báo trong lục đạo giữa tam giới.

 Song, cái quả báo ấy là, do trước kia đã chứa cái ác nhân nên sau nó mới có; nay mà muốn tránh khỏi cái khổ quả ấy thì, cần phải đoạn cái ác nhân đi, đừng tạo ra nữa; muốn đắc cái vui vắng lặng Niết -bàn sau này thì, nay cần phải tu cái đạo xuất ly vô thượng. Khổ quả là cái ác báo của thế gian, Niết-bàn là cái diệu quả của xuất thế gian. Vì gây nhân khổ thì gặt quả khổ, tạo nhân vui tất huởng quả vui!

 Tu đoạn là đoạn ác mà tu thiện. Mỗi ngày có phần thắng lợi. Chỗ gọi rằng “Học hỏi thì cái thiện mỗi ngày có chỗ ích lợi; hành đạo thì cái ác mỗi ngày có chỗ tổn giảm.” Hễ phần ác nó tổn giảm đi thì, đạo nghiệp càng lên cao; phần thiện nó tăng ích thì, công học càng tiến lên xa. Tổn ích, tức là tên khác của tu đoạn (106).

II.A.2.c5- Tự hành hóa tha

(Vừa tự tu vừa cảm hóa người).

Rất biết điều quá hoạn (107), nên mới khuyên nhau hành trì; nguyện trăm kiếp ngàn đời, mỗi chỗ đồng làm bạn pháp.

 Hai câu trên giác ngộ cho mình, rồi giác ngộ cho người. Hai câu dưới thệ đồng chúng sanh cả pháp giới.

 Thâm tri: biết rất sâu xa, là tự giác ngộ thấy biết một cách triệt để.

 Quá hoạn là ngũ dục lạc mà người bị mê say. Như vị mật ngọt có giấu chất độc, phi hạng người có trí thì chẳng dễ gì biết được! Tức như với “Tam giới hỏa trạch” chỉ có ông Trưởng giả (Phật) mới biết được mà thôi.

 Khuyên nhau là nghĩa giác tha, tức khiến cho biết cái khổ độc để giác ngộ cái hỏa trạch ấy! Hành trìy theo lời Phật với Tổ đã dạy mà phụng hành tu đoạn.

 Nguyện bách kiếp thiên sanh…. Đấy, chính là Tổ Qui Sơn ngài ngầm biết suốt cổ kim, phân tích kiếp lâu dài, hiểu sanh tử vốn không, Niết-bàn như chiêm bao, rõ tất cả pháp đều tức chân như, khí giới tức pháp giới, cho đến cả ba tâm, Phật và chúng sanh, không sai khác nhau. Nên Tổ ngài thệ nguyện rằng “Bách kiếp thiên sanh … đồng vi pháp lữ’ (108).

 Ký: Bách kiếp thiên sanh đó, là xướng lên nói con số lớn, để cho người hiểu thấu rằng sanh tử vốn không, Niết-bàn như mộng. Chẳng ly khai tam giới mà, vẫn thường ở nơi Hoa Tạng (109), đồng làm quyến thuộc với Pháp vương (110) trên con đường đạo Bồ -ñeà, và sẵn sàng vì làm thiện hữu mà chẳng đợi người rước mời, nên nói “đồng vi pháp lữ”.

 Nhẫn trước, phân khoa, thích cú và lời ký về văn trường hàng đã rồi; dưới đây, về văn trùng tụng

II.B- TRùNG TụNG. Chia ra làm 3 phần:

II.B.1- Phiêu tụng đề (nêu tụng lại đề mục)

Nãi vi minh viết (bèn - nghĩa là làm lời minh rằng):

 Lời minh (111) đây, chính là y theo những câu văn trong phần trường hàng trước kia, mà trùng tuyên nghĩa lại, để xâu kết làm thành bài tụng, khiến cho các học giả dễ bề ghi nhớ lấy, hầu trọn đời chẳng quên vậy.

 Song, với câu văn, thứ lớp trong phần trùng tụng đây, có hơi khác với phần trường hàng. Vậy, các học giả bất tất câu nệ theo câu văn mà để ý xuyên tạc (112), mà chỉ lấy ý hiểu thì, nghĩa lý đâu chẳng chu tất.

 Ký: Minh là cảnh giới (báo cáo) tức là lời bảo răn, chỗ gọi là khắc cốt minh tâm, như khắc vào đá để chẳng quên mất đi. Chừ đây, đề cử lên đại cương, thâu lấy cốt yếu, kết làm lời tụng, để cho học giả dễ bề nhớ đọc vậy.

II.B.2- Tụng giáo giới. Chia làm 11 phần.

 a- Hoán sắc

 b- Thời tiết

 c- Sanh diệt

 d- Lưu chuyển

 e- ái thủ hữu

 h- Hư sanh không lão

 k- Vô minh hoặc

 l- Khái thời mạng tốc

 m- Hiện nhân hậu quả

 n- Nhân quả sở do

 o- Tuần hoàn bất tức

II.B.2.a Hoán (huyễn, ảo, hoạn) sắc (sắc thân giả dối).

Thân hoán nhà mộng, vật sắc giữa không.

 Nhà mộng, vật sắc đều tỷ dụ cái thân hư hoán (giả dối). Song, cái nhà mộng là nhân ngủ mê mà có nhà mộng mị; vật sắc (hoa đốm) là bởi con mắt bịnh mà có thấy như hào quang, đom đóm.

 Bị nghiệp buộc, mượn tứ đại mà có ra cái thân vốn không thực, vì là hư vọng, nên kêu là hoán (ảo, dối). Như người thế gian làm trò hoán thuật (113): lấy các thứ cỏ, cây, khăn… hoán thuật biến làm thành người, vật, cầm thú cử động qua lại, hình tướng rõ ràng, khi mà phép hoán thuật thu rồi thì, người, súc ấy, toàn chẳng thể có. Thân này không thực, cũng lại như thế.

 Giữa trời đã không màu vật, trong mộng đâu có nhà hoa, chỉn bởi quên chân chấp vọng, nên ngủ mãi trường dạ (114) mà chẳng thức tỉnh (túy sanh mộng tử). Bị cái bịnh ái kiến (115) nó che con ngươi, nên thấy giữa khoảng không - có các cái hoa tướng (không hoa)(116)mặt trăng thứ hai(117).

 Ký: Mặt trăng thứ hai: Mặt trăng vốn chỉ có một, do con mắt bịnh của người nên thấy có trùng luôn, tựa hồ có hai mặt nguyệt.

 Hư không và mặt nguyệt chính, là tỷ dụ cái Pháp thân; hoa đốm và mặt nguyệt thứ hai là ví dụ hoán chất (xác huyễn).

 Chúng sanh chỉ một Pháp thân, nguyên không hoán chất, bởi mê mờ theo phần sắc và phần tâm, nên nhận lầm cái hoán khu bằng năm uẩn bốn đại làm cái sở hữu của mình. Tỷ như cái sở kiến trong chiêm bao (118) mãi kiếp luân hồi mà chưa tỉnh thức!

II.B.2.b- Thời tiết.

Đời trước không tột, đời sau đâu ngằn.

 Đời trước là vô thỉ. Đời sauvị lai. Trước đã không bắt đầu từ đâu, nên nói là không tột (vô cùng); sau cũng không cuối, nên nói là đâu ngằn.

 Nghĩa là tất cả chúng sanh, với sanh tử từ trước, bỏ thân nọ thụ thân kia, chẳng thể cùng tột được biện lượng của những thân và đời ấy; thì với sanh tử của những đời sau, làm gì hạn định bìa mé. Chỉ có chừng nào tâm chẳng sanh một niệm vọng (chính định vô lậu), thì mới đoạn hẳn được bìa mé trước sau (bất sanh bất diệt).

II.B.2.c- Sanh diệt.

Mọc đây lặn kia, lên xuống mỏi mệt!

 Mọc là sanh. Lặn là diệt. Tức là chết thân kia, sanh thân đây. Lên là siêu thăng sanh lên tam thiện đạo, tức làm thân người, thân trời và thân a -tu-la. Xuống là trầm luân đọa xuống tam ác đạo, tức làm thân ở địa ngục, thân ở ngạ quỷ và thân súc sanh (súc sanh là sanh vật bị nuôi, như gia súclục súc).

 Rất mỏi mệt là cái tâm thần bị nghiệp (mười thiện mười ác của hữu lậu) lực xua khiến, mà phải trôi lăn không dứt nghỉ, thế, đâu chẳng nhọc nhằn quá ư mỏi mệt ru!?

II.B.2.d- Lưu chuyển.

Chưa khỏi ba vòng, giờ nào thôi nghỉ.

 Ba vòng là tam giới luân hồi. Giờ nào thôi nghỉ là do cái nhân trước, chịu cái quả nay. Với quả nay, lại tạo thêm cái nhân cho sau nữa. Cứ mãi như thế, hễ bỏ thân nọ, thụ thân kia, tỷ như con trâu phá hư cái ách (119). Kiếp sanh tử đã không biên tế, thì nào có thôi nghỉ! Duy có hạng người nào đã phá được cái cảnh không hoa tam giới, trò ảo thuật hai mươi lăm hữu, mới có thể thôi nghỉ không luân hồi.

II.B.2.e- ái, thủ, hữu.

Tham luyến thế gian, ấm, duyên nên chất.

 Tham luyến tức là ái, thủ (yêu, lấy). Lấy ấm và duyên để làm nên xác thân, đó là nghĩa của chữ hữu. Thế gian là tình thế gian và khí thế gian. Tình tức hữu tình, vì có tri giác (tân dịch là hữu tình, cựu dịchchúng sanh). Khí tức khí giới (120) như vũ trụ, quốc độ là vật vô tri giác, Kinh gọi là cõi vô tình, vì không có tình thức; gần là nhà cửa, vật dụng, vườn ruộng, xa là cõi nước và cả thế giới.

 ấm tức là ngũ ấm. Duyên tức là mười hai nhân duyên. Do vì chúng sanh khởi lòng tham lam, thương yêu, luyến tiếc đắm trước lấy hai cõi thế gian là tình và khí, thành thử phải bẩm thụ lấy phụ tinh, mẫu huyết để tạo nên thân thể, mà nguyên ra cái thân đây vốn không bởi mượn cả năm uẩn, mười hai duyên họp tổ mới có, nên nói là thành chất.

 Ký: Khí thế gianthế giới hình nó như món đồ, mà chúng sanh an trụ trong đó, tức tam thiên đại thiên thế giới.

 Tình thế gian là những chúng do ngũ ấm hòa hợp thành thân có tình thức tri giác, thực thế.

 Kinh Lăng Nghiêm nói “Do đấy, từ vô thỉ, đối với thế giới (thế gian), chúng sanh nảy lòng ràng buộc (tham luyến), nên với khí thế gian, không thể siêu việt (giải thoát), thực thế”.

 Thế, nghĩa là riêng cách, cũng là hiện tại, quá khứ và vị lai. Gian là xăn hở, sai khác, nghĩa là mỗi mỗi sai khác mà chẳng lầm loạn nhau (vì tùy phước, tùy nghiệp thụ dụng khác nhau).

 Song, hai cõi tình, khí bổn lai không có, do vì vọng tưởng mà kiến thiết thành lập ra. Kinh Lăng Nghiêm nói “Tưởng trừng thành quốc độ”. Kinh Tịnh Danh nói “Từ nơi các gốc vô trụ (tâm), thành lập ra tất cả pháp – Tam giới duy tâm”. Ngài Thiên Thai giải thích rằng “Nếu mê quên vô trụ thì, tam giới, lục đạo, hiện có lăng xăng, nhân đó mà lập thành tất cả các pháp của thế gianxuất thế gian, còn nếu mà hiểu chứng được vô trụ, tức là cả vô thỉ và vô minh đều phản bổn huờn nguyên, để phát minh chân tâmthành Thánh quả”.

 Kinh Lăng Nghiêm nói “Người mà phát minh được chân tâm, trở về nguồn gốc thì, mười phương thế giới, thảy đều tiêu tan (121)”. Đấy là hai cõi tình, khí thế gian, đều bị phá tan, mà cái huyễn chất cũng không thể còn nữa. Đó là nghĩa “tình dữ vô tình cọng thành Phật đạo”.

II.B.2.h- Hư sanh không lão (122)

(luống sanh uổng già)

Từ sanh đến lão, không đặng một chi!?

 Đây là nói cái sanh và cái lão, vì sanh mà không ích được sự gì, gọi là hư sanh; già mà chẳng đắc được chỗ chi, nên gọi là không lão.

 Ký: Một không chỗ đắc là đối với môn giới, định, huệ và cả các pháp xuất thế gian, chẳng được một nào là chỗ để chơn đứng.

II.B.2.k- Vô minh hoặc.

Căn bản vô minh, nhân đó bị lầm.

 Tất cả chúng sanh vốn đủ có cái thực tướng chân như, tức là minh tâm diệu tịnh. Chỉn bởi rốt đầu một niệm (điên đảo: tức nhân ái vi chủng, nạp tưởng thành thai) biết chẳng đúng như thực, cái tâm bất giác (mê) dấy động, thoạt nhiên vọng niệm nổi lên, mơ thấy cảnh giới tên là vô minh. Đấy tức là cái sanh trước nhất của vô minh, nó làm cái nhân cho gốc khổ sanh tử (cái thân) và các nhiễm pháp (mười ác).

 Do vì cái nhân (sanh tướng vô minh) đó, nó huân tập vào cái tâm thể chân như, cái nhân tăng trưởng mà thành ra sáu pháp:

 a-Tham (tánh cách nó hay nhiễm trước).

 b-Sân (nó lấy những ghét giận làm tánh).

 c-Mạn (tánh cách nó ưa ỷ mình lướt người).

 d-Vô minh (cái tánh của nó là mê mờ u ám).

 đ-Nghi (tánh nó là đối với các đế lý, dụ dự chẳng quyết).

 e-Bất chánh kiến (với các đế lý, tánh nó hay điên đảo xét so, phân ra có cả năm kiến: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ).

 Sáu pháp ấy, lại sanh ra cả các phiền não như: đại tùy, trung tùy và tiểu tùy. Vì cái “sanh tướng vô minh” nó năng sanh ra các chi mạt vô minh, nên gọi nó là căn bản vô minh.

 Do vì cái “căn” đó, làm mê mờ mất cái tánh viên minh xưa đi, che tối luôn chân tâm, thành thử, đối với các pháp của thế gianxuất thế gian, không thể sáng suốt đặng, nên bảo nó là vô minh.

 Hết thảy mọi loài, nhân bị cái vô minh ấy, làm mê lầm chân tánh đi, chẳng thể thấy đạo (chân tâm). Rồi ra, chỉ tạo tác những cái nhân hữu lậu (như thập ác và mười thiện hữu lậu), nên nói là “bị hoặc”.

 Nếu người mà có thể một niệm hồi quang phản chiếu lại, thì với trong vô minh ấy bị chân như un đúc, mà phát khởi cái chánh tín tu hành, để thành cái nhân tịnh nghiệp. Do cái tịnh nhân ấy, nó trở lại huân tập vào chân như, để tỏ rõ được tự tâm, liền đồng với chư Phật. Đấy, là chỗ gọi rằng “nhứt niệm tịnh tâm thành chánh”, tức là Phật vậy.

 Ký:  Do chẳng rõ chân như thực tướng, nên vọng niệm chợt dấy lên, gọi là vô minh. Đã mê mờ chân thực, nên xưng là hoặc; mê mờ vọng hoặc đã thâm sâu, thành thử tam nghiệp tưng bừng, nên tạo cả thiện lẫn ác. Do thiện nghiệp ác nghiệp đó, nó lôi cuốn đến lục đạo, để thụ sanh tử bằng mê vọng.

 Sở dĩ, tất cả mọi loài, mê mất chân tâm, rượt theo vọng niệm, nên với trên cái cảnh chẳng dời mà luống chịu luân hồi, đến trong pháp vô thoát mà quấy chịu trói buộc.

 Tỷ như: Con tằm mùa xuân làm ổ kén, để tự buộc giam mình, con bướm mùa thu nhào vô đèn, để tự liều cháy xác; lấy hai sợi tơ năng kiến, sở kiến để vấn ràng cái ổ kén vô minh, dùng hai cái cánh vô minh (vi phụ) tham ái (vi mẫu) để quạt bánh xe lửa sanh tử luân hồi!

 Mãi từ đời nọ đến đời kia, niệm nào niệm nấy tiếp tục nhau, nên chịu sanh tử luân hồi, không có lúc nào thôi nghỉ!

 Nếu người mà có thể lìa được vọng niệm thì, tất cả phiền não, sanh tử thảy đều hết nốt.

II.B.2.l- Khái thời mạng tốc

(Thương thời, mạng chóng).

Quang âm khá tiếc (123), sát-na chẳng lường!

 Bỏ trống qua một đời, thế là khả tích! Cơn vô thường xảy đến, phi nhân lực có thể xét lường đặng! Chánh chỗ bảo “nhứt sát -na gian, chuyển tức tức thị lai sanh”, thực thế.

II.B.2.m- Hiện nhân hậu quả.

Đời nay trống qua, đời sau bít lấp!

 Nếu đời nay mà chẳng trồng cái nhân minh huệ, thì làm gì gặt được cái quả thông đạt ở tương lai.

 Ký:  Sất tắt là lấp che, tức là nghĩa bất thông vậy.

II.B.2.n- Nhân quả sở do.

Từ mê đến mê, đều bởi sáu giặc.

 Từ mê là bỏ trống qua. Đến mê là bị bít lấp. Đấy, cũng là với ba đời lẫn nhau nói lên vậy. Bởi vì đời trước đã chẳng giác ngộ, đến đời nay lại vẫn cũng hôn mê nữa. Mà chừ nếu chẳng hiểu rõ thì, cái mê nó lại càng thâm căn cố đế thêm!

 Song, cái mê ấy, phi có cái gì riêng biệt, mà đều bởi lục tặc khiến nên; tuy rằng sáu giặc khó đề phòng, nhưng cái ý nó làm chủ, hễ bắt được chủ rồi (đắc Diệt tận định) thì năm kia đều mất nốt.

 Ký: Chẳng rõ tức là mê. Càng sâu (chuyển thêm) tức là đời sau, mãi cho đến sau đời sau nữa.

 Tặc là kẻ làm giặc cướp, nghĩa là sáu căn chúng nó thường thường trú trước lấy cảnh giới sáu trần, làm cho nhiễm nhơ chân tâm, để rồi cướp của công đức, là tan mất trí huệ.

 Của công đức (124), lược kể có bảy món: 1-Tín, 2-Giới, 3-Văn, 4-Xả, 5-Huệ, 6-Tàm, 7-Quý. Nhẫn đến các pháp vô lậu như ngũ căn, ngũ lực, thiền định…

II.B.2.o- Tuần huờn bất tức

Qua về sáu đường, trườn tuột ba cõi.

 Nhân quả lần lựa chiêu cảm nhau chẳng nghỉ, nên nói là vãng hoàn (qua về). Quá mỏi mệt vì thăng lên ba thiện đạo và trầm xuống ba ác đạo, nên nói là bồ -bặt (trườn lên tuột xuống), đều bởi bị sáu giặc xua khiến, mà phải trôi lăn sáu ngả, lên chìm ba cõi, mãi không thôi nghỉ!

 Ký: Bồ-bặt: bò lết, tức là bò lên lết xuống, nghĩa là thăng trầm. Lại, là hình dung cái cơn kíp vội, lấy ý mà hiểu khá biết.

II.B.3- Tụng thị pháp. Chia ra làm bảy phần:

(Trùng tụng lại khoa thị pháp).

 a- Y sư.

 b- Trạch pháp

 c- Liễu vọng.

 d- Qui chân.

 e- Tương vong.

 h- Tịch chiếu.

 k- Song dẫn.

II.B.3.a- Y sư (nương thầy)

Sớm hỏi minh sư, gần gũi cao đức.

 Minh sư: Thầy sáng suốt, người có thể khiến cho pháp nhãn của ta được minh chánh. Cao đức: Người có đức cao, hay khiến cho giới đức của ta được thanh cao. Sớm hỏi là chẳng nên chần chờ kéo dài thời gian. Gần gũi là nương theo thầy mà ở cho được lâu lâu.

 Ký: Đấng minh sư, hay khiến cái huệ quang của mình được phát minh, nên mới đặng pháp nhãn minh chánh. Bực cao đức hay khiến giới cấm của ta sạch sáng, nên đặng giới đức thanh cao.

 Bởi thế, nên các người học Phật xưa, chẳng nệ đường xa nghìn dặm, cũng phải đi tìm hỏi bực thiện tri thức, sau khi được gặp tai mắt của đấng tác gia (125) rồi, liền đem cái bồ đoàn (126) máng lên cao, bẻ dẹp cây gậy (127), như các Tổ: Nam Nhạc (128), Kính Sơn (129) …Nếu rủi mà không gặp được bực thiện tri thức giúp dạy cho, lại không may mà bị tà sư làm mê hoặc, đảo loạn thì, trong tâm dấy tà nhân ngoài thân hành tà nghiệp, đâu có thể quyết chọn điều phải (chánh thiện), bỏ những chông gai (tà vọng) được ru!?

 Vĩnh Gia thiền sư nói “May mà gặp đặng bực chân chánh đạo sưV, rất phải cần tâm thân cận, đời nay, ví dẫu tham thiền mà chưa triệt ngộ, học giáo mà chưa thành tài, chứ đã nghe lọt vào lỗ tai, vẫn làm hột giống đạo rồi, về sau mỗi đời không sa đọa xuống ba ác thú, mỗi kiếp chẳng mất cái nhân thân, đến cái thời đầy đủ nhân duyên, vừa ló đầu ra, nghe một mà giác ngộ đến cả ngàn, thực lợi ích phi nhỏ”.

II.B.3.b- Trạch pháp

Quyết chọn thân tâm, bỏ đồ kinh cức (130).

 Quyết lấy tại tâm, chọn lấy cái huệ. Hành giả! Phải dùng lấy cái huệ vô lậu, để chọn lựa lấy cái thân tâm thanh tịnh, bỏ điều bất thiện, chọn lấy điều thiện mà tu. Tỷ như con ngỗng chúa nó lựa sữa mà uống.

 Kinh cức là vô minh vọng tưởng, ngũ cái, thập tập, với các điều bất thiện.

 Ký: Nước hòa chung với sữa, con ngỗng chúa nó uống vào miệng, thì tự nhiên nước ra nước, sữa ra sữa, nó uống sữa mà bỏ nước đi.

 Kẻ phàm phu ai cũng vậy, đều bị hai điều thiện và ác nó tham họp lẫn nhau, chung chứa trong ruộng bát thức (131). Hành giả là kẻ tu hành, cần phải đủ con mắt huệ (132), để chọn điều thiện mà bỏ điều bất thiện, khiến cho thâm tâm được sáng sạch thì, với đạo cách nhau không xa, đấy là cái “trạch pháp giác (133)” trong thất giác ý vậy.

 Ngũ cái (134): 1. Tham dục, 2. Sân khuể, 3. Thùy miên, 4. Điều hối, 5. Nghi cái.

 Thập tập (135): 1.Dâm, 2.Tham, 3.Mạn, 4.Sân, 5. Trá, 6.Cuống, 7.Oán, 8.Kiến, tức tà kiến, 9.Uổng: ép đè kẻ lương thiện, 10.Tụng: tranh luận với nhau về điều đắc thất.

II.B.3.c- Liễu vọng (Rõ những điều quấy dối).

Đời nó nổi phều, các duyên đâu ép.

 Giữa cõi đời, tất cả các pháp hữu vi, dường như chiêm bao, hoán thuật và mây bay trên không. Pháp hữu vi kia đều do nơi vọng hoặc mà sanh hiện, toàn không có tánh chân thực.

 Các duyên: Tức thế gian chư pháp (vũ trụ vạn hữu); nó đã tự nổi phều (phập phều: vô căn) thì, đâu có thể làm ép bức. Song, các duyên sự pháp của đời, đều từ nơi chân tánh tùy duyênhiện thành. Tỷ như nước (chân tánh) tùy theo đồ đựng hoặc vuông hoặc tròn (nước chứa: hồ vuông, ao tròn, sông dài, bể rộng… sự pháp), gặp gió (duyên) thì sóng dợn (sự pháp) hiện sanh ra.

 Đứa phàm, bị gió vọng tưởng làm xao động nơi tánh bổn nguyên, mà sóng dợn vọt trào, đó rồi thành kiến theo sóng mà lửng quên nguồn nước, cho nên chấp lấy sự phápbỏ quên chân nguyên, phải bị mỗi mỗi sự duyên làm áp bức. Chứ nếu như người mà chẳng bỏ quên chân tâm thì, tức nhiên chẳng bị chúng duyên sự pháp kia nó che tròng lừa khi đặng.

 Ký: Nước là tỷ dụ chân tánh. Các đồ sóng dợn là ví chúng duyên. Sự pháp tức là cảnh vật. Gió là dụ vọng tưởng.

 Người mà biết sự sự vật vật, tức toàn là chân, như biết sóng toàn là nước, tức liễu vọng quy chân, là nói “bất thụ kỳ man: chẳng bị nó giấu tình khi nhau”.

II.B.3d- Quy chân (Trở về chân tâm).

Xét tột pháp lý, lấy ngộ làm chừng.

 Nghiên cứu cốt sao cho đến vô nghi điền địa là, cái chỗ mà tâm không còn một sự ngờ gì nữa. Chưa được thế, thì mãi cần đi cho đến thủy cùng sơn tận là, đoạn hoặc đã cùng, chứng chân đã tận, tức đã đến bực vô học, vô tu, vô chứng, đến đó, mới thôi nghỉ việc cứu xét, vì đã cùng tận.

 Ký: Pháp tức là pháp sở hữu của tự tâm; chỗ rõ của pháp là lý. Xét tột như lau bụi trên mặt gương, hễ bụi bặm hết thì ánh sáng hiện, nên nói là “lấy ngộ làm chừng”.

 Song, Pháp là nghĩa quỹ trì – Quỹ nghĩa là mặc ý giữ (trì) tự tánh, để làm cách (quỹ) sanh hiểu cho người. Tỷ như sách đây nó tự giữ tánh cách giấy trắng mực đen, để làm cách kiểu cho người thấy mà hiểu là giấy trắng mực đen, chớ không thể hiểu bằng thứ gì khác.

 Mặc ý giữ tự tánh: Tất cả chúng sanh, đều có cái chân tánh bổn giác diệu minh, mặc dù lưu chuyển trong sáu ngả, thụ mỗi mỗi thân hình mà, cái giác tánh ấy chẳng hề mất diệt.

 Sanh hiểu: Chúng sanh được giác ngộ vào cái tri kiến của Phật, tuy là nhân nhờ thiện hữu tri thức dạy bảo khai thị cho, nhưng mà thực ra thì cái trí hiểu biết là từ nơi giác tánh phát minh ra. Tỷ như đất nước nó hay nhuần thấm cho ngũ cốc, cây cỏ để nảy nở ra mộng, chồi, rễ, đọt, nhưng mà thực ra thì, những mộng kia đều do nơi hột giống ấy phát sanh, chứ phi từ nơi đất nước sanh ra. Vì hột giống là chánh nhân, đất nước là trợ duyên. Cũng như trí giải là chánh nhân, thiện hữutrợ duyên.

II.B.3.e- Tương vong (Tâm quên nhau với cảnh)

Tâm cảnh đều quên, chớ ghi chớ nhớ (136)

 Tâm tức là nhân; Cảnh tức là pháp. Chớ ghi chớ nhớ tức là nhân pháp đều quên (137) nốt.

 Đức Tứ Tổ nói “Tất cả chẳng lưu lại, không thể ghi và nhớ, rỗng sáng tự soi, chẳng nhọc sức lòng”.

 Ngài Bàn Sơn nói “Tâm nguyệt riêng tròn, sáng nuốt muôn tượng. Sáng phi chiếu cảnh, cảnh cũng phi tồn. Quang cảnh đều quên, lại là vật chi?”

 “Thí như luyện cây gươm huơ trên hư không, bất luận đến đâu hay chẳng đến. Đấy là chốn không chẳng để dấu, lưỡi kiếm cũng không khờn mẻ”

 “Nếu người mà có thể được như thỏ, mỗi tâm niệm (tư tưởng) đều chẳng trụ nơi cái biết, thì toàn tâm tức Phật, toàn Phật tức nhân, nhân Phật không lạ nhau (139), mới là đạo vậy”.

 Ký: Tâm là năng, Cảnh là sở, nếu biết năng sở đều chẳng có thực thểĐốn ngộ được nhân không pháp không, chợt rõ vật và ta không nương nhau, mới tin được cảnh vắng tâm không.

 Vô tri (140): Chẳng trụ nơi cái biết, Kinh nói “Tâm của Thánh không chỗ biết, mà không chỗ nào chẳng biết, tức là cái bổn giác tâm thể.

 Bổn giác chân tâm: Là tâm tánh nó vẫn tịch diệt, vì vốn không trụ trước nơi cái tri giác, nên mới năng tri năng kiến; tỷ như mặt gương nó không lưu những bóng tượng, nên mới có thể soi vật tượng được. Dẫu rằng hay chiếu giám, nhưng chiếu giám mà không trụ nơi cái chiếu giám.

 Cái chân tâm khôn thiêng sáng biết mà vẫn vốn vắng lặng, nên trọn ngày dù biết mà chưa hề trụ nơi cái biết. Nếu có trụ nơi cái biết thì, tức là vô minh rồi, nếu có trụ nơi cái thấy thì, tức là vọng tưởng rồi. Vì cái trí thể nó không có cái vô minhvọng tưởng. Do vì vô tri, nên nói “Trí là dù có cái sáng soi cùng tột đến u vi, mà không chấp lấy cái biết”

II.B.3.h- Tịch chiếu (Vắng soi).

Sáu căn hòa vui, đi ở vắng lặng.

 Tâm cảnh đều quên, giải thoát hai chướng. Chiếu cái thể nó độc lập, dứt hẳn điều biết điều hiểu, quên cái năng cái sở. Đặng nơi trong, ứng nơi ngoài, thế nên được sáu căn tự nhiên hòa thuận, siêu thoát chỗ tiển tiển (141), há chả hòa vui!

 Đi, đứng, ngồi, nằm, khi hành động, khi chỉ tịnh, đều là như như, nên nói là vắng lặng (tịch mặc).

 Tổ Vĩnh Gia nói “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói, nín, động, tịnh thể vẫn yên” thực thế.

 Ký: Mắt đối ngàn non, lòng nhàn một cảnh, bởi thế sáu căn tự thuận, tiêu diêu tam giới, giải thoát tứ sanh, không bị trò thanh sắc, cảnh trần lao làm lụy, tâm thần rảnh rỗi ngoài sự vật, nên nói là duy nhiên (hòa vui).

 Tổ Vĩnh Gia nói: Với diệu ngộ (142)huyền tông (143), lòng rỗng ám họp, động, tịnh, ngữ mặc vẫn thường quy củ (144 (pháp tắc)). Điềm đạm (145) (lợt lạt) yên nghỉ trong tánh tình, thênh thang lộ bày ngoài thân thể”.

 Hoa Nghiêm Luận nói “Chỉ vắng lặng, nín thinh, tâm tạo ra cái bộ dạng của đức Như Lai chẳng chấp trước quyến luyến, là cái lề lối vào đạo hợp pháp” thực thế.

 Rằng Tịch chiếu. Tịch là thể; Chiếu là dụng. Chỗ tích cực của đạo, là cùng cực ở đấy vậy.

II.B.3.k- Song dẫn 
 (Đôi mất, tức đôi bên đều mất hẳn)

Một tâm chẳng sanh, muôn pháp đều nghỉ.

 Chẳng cùng làm bạn với vạn pháp, người mà đã tiến đến địa vị ấy thì, với cả biên tế trước sau, trong ngoài và trên dưới đều dứt sạch, nên nói là câu tức (đều nghỉ, là vô sự đạo nhân).

 Ký: Với vạn pháp ấy, là chỉ con số tổng quát mà, thực ra thì đã bao trùm tất cả.

 Nay đây, nói lên trước sau là đã bao quát cả thập phương, tam thế, tất cả sự lý, nội ngoại các pháp, đều gom nằm gọn trong hai tiếng trước sau. Vì vạn pháp dù đông nhiều, nhưng không ngoài tâm cảnh mà, tâm đã không, cảnh đã tịch riêng bày sờ sờ. Chẳng vướng mảy tơ, nên nói là “Bất dữ vạn pháp vi lữ”.

 Nhứt tâm: Là chân tâm (146) bổn giác (147) diệu minh (148). Luận Khởi Tín nói “Chỉ là nhứt tâm, nên gọi chân như, tâm thể nó lìa niệm (tư tưởng), nên nói bất sanh”.

 Kinh Lăng Già nói “Hễ tâm sanh thì mỗi mỗi pháp đều sanh, tâm diệt thì mỗi mỗi pháp đều diệt”.

 Chỗ gọi rằng “Tâm lạ thì ngàn điều sai khác đều đua dấy lên, tâm dứt thì muôn pháp đều phẳng bặt; tâm nhiễm thì có lục đạo, tứ sanh, tâm không thì nhứt đạo thanh tịnh”.

 Tông Cảnh nói: Sao gọi là nhứt tâm? - Là cái pháp tánh không hai, đối với tất cả các pháp, không còn có phân biệt tương đối như chân vọng (thực dối), nhiễm tịnh (dơ sạch) … nên gọi là nhứt. Cái pháp tánh không hai chỗ đây, nó thực chẳng đồng với cái không, vì tánh nó tự nhiên rất thần tình sáng hiểu, nên gọi là tâm.

 Cái thể của nhứt tâm, dù lại dù đi, vẫn đều vắng dứt, nên chẳng thể lấy những hữu vô, xứ sở, để xét tột được cái dấu vết thiêng u của nó, chẳng khá lấy những biết, khôn, nói, lường để bàn luận đến cái thể mầu của nó.

 Chỉ có người nào đã chứng nhập đến nó thì, chỉ tại ở tâm mình tự biết lấy thôi. Người mà chỉn có thể với nội tâm mình tự quan sát nhứt niệm bất sanh thì, cả tam giới dường hoa đốm giữa hư không như bị gió cuốn khói đi mất, sáu trần dường cái bóng huyễn hóa, như nước sôi tưới lên băng tuyết tiêu tan.

 Chẳng còn tam giới lục trần thì, rỗng rang không bờ mé, chỉ một chân tâm mà thôi; tâm ấy vốn tự viên minh, nguyên là thanh tịnh thể, không khởi không sanh, thể nó bất động, chẳng bị cái sanh tử của lục phàm làm nhiễm nhơ, không phải cái Niết -bàn của tứ quả (Thanh văn) làm tịnh sạch. Đây, Tâm Kinh nói “Bất cấu bất tịnh…”.

 Hỏi: Tâm đã duy nhứt, vọng từ đâu sanh?

 Đáp: Số là, bởi ban đầu lửng quên nhứt pháp giới (chân tâm) chẳng ngờ vọng động nổi lên mà có ra cái niệm (vọng tưởng). Tỷ như con người quá lao lự mà thấy giữa hư khônghoa đốm hiện ra, lại như ngủ quá mê mà sanh ra chiêm bao thấy có cảnh này vật nọ. Tức cái mà “Thấy hoa đốm – Thấy chiêm bao” đó, gọi là vọng tâm.

 Cái vọng tâm ấy, nguyên không có cái tự thể, chỉ nhân cái cảnh tiền trần, tùy theo cảnh mà vọng tâm hoặc có hoặc không. Vì khi mà có cảnh để đối trước, tức nhiên vọng tâm sanh ra, khi mà cảnh ấy đi rồi không còn đối trước thì vọng tâm tức diệt mất. Mà tâm ấy cảnh ấy, đều chả có tự tánh, nó chỉ theo nhân duyên dối hợp để sanh ra.

 Tỷ vọng tâm ấy như bóng tượng trong gương, bóng trăng dưới nước, kẻ ngu phu nhận lầm cái bóng ấy cho là thực.

 Với cái tâm ấy, đức Nhị Tổ chẳng an, mà cầu cái pháp an tâm đối với dưới một lời nói của Sơ Tổ, liền hiểu rõ cái “tâm bất sanh” ấy, nên Nhị Tổ thốt lời trình rằng “Mích tâm liễu bất khả đắc”. Liền tự biết cái chân tâm: Rỗng trống, khôn thiêng, sáng suốt, nhiệm mầu, phổ biến tất cả chỗ nơi, bao hàm cả mười phương giới.

 Đã là tâm nhân cảnh khởi, nếu cái vọng tâm ấy bất sanh thì, trước cảnh liền diệt mất, nên nói là câu tức (đều nghỉ).

 Trước kia nói “tịch chiếu: vắng soi” thì cũng còn là cảnh trí đều lập; chừ đây cả trí cảnh suốt lẫn mà đều mất, nên nói “song dẫn: đôi mất”.

 Cả trí lẫn cảnh đều bặt mất, chỉ còn một cái bổn giác chân tâm vắng diệt không hình tướng, thể nó đồng với chư Phật, Tổ Vĩnh Gia nói “Cảnh trí ám họp làm một, muôn đều lụy điều mất, chỉ còn cái tông chỉ huyền diệu”.

 Hỏi: Trí mà dẫn (bặt mất) thì lấy gì để ứng cơ tiếp vật, cảnh mà vong (chả tồn tại) thì làm sao để cảm kia đến ứng?

 Đáp: Trí Bát -nhã là không biết (vì thể nó là chân không vô tướng); Luận nói “Trí càng mờ mà soi càng sáng, thần càng lặng mà ứng càng động, cảnh càng vắng mà ứng càng cảm”.

 Biệt Hành Sao nói “Do lý ám họp với trí, nên đắc tất cả vạn pháp đâu chẳng là Pháp thân (mà thể của pháp thânphổ biến cả sơn hà và đại địa), thế thì, hễ chúng sanh ở cả mười phương, có phát Bồ -đề tâm, với tâm thức thanh tịnh ấy, đâu chẳng vì ứng hiện để mà thuyết pháp ư!”

 Thế nên, cái thể tánh chân như đây, dường như viên ngọc ma -ni (như ý) tùy màu nào hiện sắc nấy. Sao bảo là vô cảm ứng ru!

Chú Thích

 1. Đoạn vọng chứng chân: Lấy chân trí đoạn vọng hoặc. Đoạn một phần hoặc (vô minh hoặc) thì tâm nó hiển ra một phần chân lý (Pháp thân hay Chân như), gọi là chứng lý. Chứng lý là cái quả đoạn hoặc. Các tu sĩ của tam thừa từ ngôi kiến đạo nhẫn lên, mới bắt đầu đoạn một phần hoặc, từ đó về sau là bực Thánh giả, còn về trước là nội phàm phu. Kiến đạo: Một trong ba đạo là ngôi mà, bắt đầu sanh ra cái trí vô lậu chiếu thấy cái lý chân đế. Đạo là đạo lộ, tức đạo lộ của học giả tiến thủ. Lại, Bồ-tát bên Đại thừa, với cuối sơ A -tăng-kỳ, rốt tứ thiện căn là Thế đệ nhứt pháp Gia hạnh, liền đoạn được hai cái chướng phiền nãosở tri do phân biệt sanh khởi gọi là ngôi kiến đạo. Tam đạo: 1-Kiến đạo vị; 2-Tu đạo vị; 3- Vô học đạo vị. Ngôi kiến đạo Là từ vô thỉ lại, ban sơ phát sanh cái trí chân vô lậu mà quán cái đế lậu để đoạn tất cả kiến hoặc. Tại nơi Thanh Văn thừa là ngôi Dự -lưu hướng ở sau ngôi Thế đệ nhứt pháp gia hạnh; tại nơi Bồ -tát thừa là ngôi nhập tâm của Sơ địa. Thấy cái lý chân đế: Kiến đếchứng ngộ chân lý. Về Thanh Văn thì quả Dự lưu thấy lý chân đế; về Bồ -tát thì Sơ địa thấy lý chân đế. Chân đế: Chân là chân thực không vọng, chữ Đế cũng như chữ Nghĩa. Đối với tục đế nên nói là chân đế. Như bảo pháp thế giantục đế, pháp xuất thế gianchân đế. Lại, chân đế là thực nghĩa trên chân lý; thấy đế là thực nghĩa của Thánh giả quán thấy; Tục đế là thực nghĩa trên tục sự và là thực nghĩa của phàm phu xét biết (với thực nghĩa, Duy vật gọi thực tế).

 2. Chấn chiệp. Chấn: sợ; Chiệp: khiếp mất hơi thở, là bị uy thế hiếp đáp. Chấn chiệp ma quân: Làm cho ma quân sợ khiếp!

 3. Thiên ma: Tức là Thiên tử ma, vị ma vương ở trên cung trời thứ 6 của Dục giới, tên là Ba Tuần, có quyến thuộc nhiều đến vô lượng, chúng thường làm chướng ngại cho người hành Phật đạo, vì cực thiện hay bị cực ác làm đối phương thử thách! Kêu rằng “Đạo cao nhứt xích ma cao nhứt trượng”. Huyên ứng âm nghĩa 23 nói “Phạm ngữ Mara (Ma-la), dịch chướng, là ưa làm chướng ngại cho kẻ hành đạo; cũng dịch là Sát, thường làm cho hành giả tự buông lung mà phải tự hại lấy thân mạng. Ba Tuần dịch ác ái, là tên của ma vương đương thời Phật Thích -ca xuất thế. Thời Phật Ca -diếp thì, ma vương tên là Đầu sư, dịch ác sân… Thế, biết rằng kêu tắt là ma, gọi đủ là Ma -la. Nguyên chữ Ma bằng chữ Thủ là tay ở dưới, như các chữ Ma ở các câu Ma -ha-tát, Ma-ha Bát -nhã… Vũ Đế đời Lương, đem chữ Quỷ thay vì chữ Thủ, bởi cho là ma cũng như quỷ hay làm nhiễu hại người, mà thành ra chữ Ma của Vũ Đế chế, chứ phi chữ Ma của tiếng Phạm.

 4. á Dương tăng: (sãi dê câm). Trí Độ Luận nói “Vị Tỳ -kheo mà ngu si, nghĩa là, chi là thiện ác, gì là trì phạm đều chẳng biết, theo cái tội mình đã phạm, mà chẳng biết sám hối, dường như con dê câm, vì từ nhỏ mãi đến già chết, vẫn không biết kêu một tiếng be he!”

 5. Điểu thử tăng: (thầy chim chuột, tức con dơi). Con Dơi là một vật phi cầm, vì có bốn cái cẳng, phi thú, vì có hai cái cánh. Khi mà nó lên trên để kiếm ăn, bị thượng cầm kẽ vạch là thú thì, nó cãi rằng: - Tôi cũng thượng cầm như các anh, vì có hai cánh thế này; khi mà xuống dưới kiếm ăn bị hạ thú phủ nhận thì, nó cãi rằng: - Tôi cũng hạ thú như các anh, vì có bốn cái giò. Còn nhà sư mà không giữ giới luật, Phật quở là Điểu thử tăng tức phi tục, vì đầu tròn áo vuông, phi tăng, vì hành động như kẻ tục. Bởi thân ở trong chùa mà, tâm rông ngoài thế. Điểu thử tăng tức Biến bức tăng…

 6. Thốc cư sĩ (cư sĩ sói đầu): Là Tỳ -kheo phá giới chẳng hộ chánh pháp, nên bị mỉa mai rằng Thốc cư sĩ. Lại, Thốc nhân, Thốc cư sĩ, Thốc nô… đều là lời quở mắng tăng nhân, vì bên ngoài thì tương tợ tăng nhân mà, bên trong thì tâm hạnh phi tăng. Lâm Tế Lục chép “Có một hạng Thốc nô, chả biết tốt xấu, liêm sĩ gì ráo!” Thuyết Văn Tự Điển nói “Thốc là không tóc”. Trong kinh, Phật quở Tỳ -kheo phá giới, vô hạnh kiểm là thốc nhân, hoặc thốc cư sĩ, do vì tuy cạo tóc mà chẳng có cái hạnh xuất gia Sa -môn thì, chỉ là người tục sói đầu thế thôi. Kinh Niết -bàn cuốn 3 nói “Phá giới, chẳng hộ chánh pháp, gọi là Thốc cư sĩ”.

 7. Làm sự buôn bán: Kinh Lăng Nghiêm nói “Bi phán Như Lai chánh pháp” nghĩa là nương tựa trong giáo pháp của ta, hóa Phật pháp thành ra mối hàng, để tham lấy lợi dưỡng. Như thầy cúng, thầy đám lãnh sát đàn tràng, đem Phật tượng treo lên, bày kinh, sám, chuông, mõ, có giá ăn tiền, vì một ngọ là bao nhiêu bạc, tụng một phẩm là mấy chục tiền… Nên bị đời gọi các sư ứng phú là các ông thợ tụng, vì nghề tụng tán chuyên nghiệp. Bi: Phụ tá, phụ thuộc, tức nương dựa, hay nhảy dù. Phán: mua một giá rẻ, bán lại bằng giá mắc. Tấc bước chẳng dời, như những lời thành ngữ “đánh cho chết cái nết cũng không chừa!”, “ngựa quen đường cũ không chừa!”

 8- Bích lập thiên nhẫn (vách đứng ngàn nhẫn): Bờ vực đứng dựng, nói là vách. Tùy thư nói “Núi dựng như vách nghìn tầm”. Theo Kinh chú rằng “Thân núi chỉ toàn bằng đá, như vách đứng ngàn nhẫn”. Nhẫn: Xưa dùng thước nhà Châu, tám thước là một nhẫn. Kinh điển thư nghĩa nói: một nhẫn là bảy thước. Tiểu Nhĩ Nhã nói: một nhẫn bốn thước. Tại đây nói “vách đứng ngàn nhẫn” tỏ ý nghĩa là lập chí kiên cố độc lập, như vách cao đứng sựng giữa hoàn cảnh lục trần, đừng cho nó ngã trụ vào đâu, cảnh trần cũng không duyên vào, như người không leo lên vách đá nghìn nhẫn được.

 9. Vịnh ngâm: Tuồng tập về hoa nguyệt, hay là tiểu thuyết ái tình, sách vở khiêu dâm, không đặng vịnh ngâm.

 10. Tửu sắc tài khí: Sách Thông Tục biên “ông Dương Bĩnh thường nói: Ta có ba điều chẳng làm, là tửu, sắc và tài”. Đời nay người ta thêm cái “khí” thành “tửu sắc tài khí” là tứ đổ tường: bốn vách, đã thành lời thường nói, bắt đầu từ đời nhà Minh. Khí: làm hơi, làm bộ, tức khí khái, phách lối, kiêu căng, cống cao, ngã mạn đều là khí cả.

 11. Ngũ quan. Quan: thể; tai, mắt, miệng, mũi và thân là ngũ giác quan của nhân thân, nghĩa là đều có chức chưởng chủ biết. Ty: chủ. Như nhãn ty thị giác: mắt chủ biết xem, tai chủ biết nghe, mũi chủ biết hửi, lưỡi chủ biết mùi, da thứa chủ biết đụng chạm, cả năm đều có dây thần kinh liên thông lên não hảỷi, đều có chức chưởng chủ truyền bảo với hiện tượng bên ngoài. Nhà Phật gọi là ngũ căn: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt và thân.

 12. Truy điền: Tức là truy điền y, Truy là Truy y, đồ bận của Tăng gia. Truy điền tức như tăng viên. Tăng Sử Lược chép rằng “Xứ Tinh Bộ U Châu người ta ưa chuộng màu đen, nếu Tăng mà bận quần áo đen rất là phi pháp! Sao vậy? Vì hắc là nhuộm thực đen, một trong năm màu chính của ngũ phươnghắc sắc thuộc về phương bắc, Phật không cho chư Tăng bận chính sắc của năm màu ấy, chỉ nên dùng hoại sắc, nghĩa là làm cho hư hoại cái màu chính để mà, dùng bằng phi màu, như thâm thâm, lem lem chẳng hạn. Hỏi: Thế thì Truy y là trạng mạo nó như thế nào? Đáp: Đỏ mà hơi ửng đen thâm thâm.

 13. Một ky đất: Kinh Thư chép “Đắp hòn núi cao chín nhẫn, còn kém một ky đất”. Chú: đắp núi tuy đến chín nhẫn, nếu thiếu một ky mà bỏ đi thì cũng chẳng thành núi. Đấy là ví dụ công lao bị thất bại vào lúc sắp thành.

 14. Đốn ngộ: Có một hạng đại tâm chúng sanh (Đại Bồ -tát) chỉ nghe ngay pháp Đại thừa, tu ngay pháp Đại thừa, chứng ngay quả Phật, thế là đốn ngộ; ban đầu học tu đắc quả Tiểu thừa, sau hồi đầu vào học tu Đại thừa cho đến quả Phật, ấy là tiệm ngộ.

 15. Siêu hẳn giai cấp. Giai cấp: thềm, bậc, cái thềm chung quanh nhà, mà xây có từ cấp tức bậc bước từ bậc mà lên, là thập cấp. Phàm sự vật quan phẩm, tu chứng, cũng đều có từ đẳng từ cấp. Người phát tâm xuất gia tu Phật, dần dần chứng quả, như trải qua mười tín, mười trụ, mười hạnh, mười hồi hướng, mười địa, Đẳng giác, Diệu giác, Viên giác tức Phật học tu chứng quả như thế, gọi là tiến lên từ giai cấp. Trái lại, chỉ nhứt văn thủ ngộ, tức đốn ngộ, như trên đã dẫn, nên nói siêu hẳn giai cấp.

 16. Tình thức: Tình: cái tánh nó phát lộ ra ngoài hình sắc, nói là tình, như kinh Lễ nói “Hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và muốn, gọi là thất tình”. Lại, ngũ tình tức năm thức trước. Thức: cả thức, ở đây nói “tình thức quên hết” là đã chuyển thức thành trí, thì tình thức đều không còn, vì đã hoàn toàn bị thành trí, nên nói “tức đồng với Phật”.

 17. Sáu kinh: Sáu bộ kinh sách tức kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Xuân Thu, kinh Lễ và kinh Nhạc. Kinh Nhạc bị tiêu mất từ nhà Tần (vì Tần Thỉ Hoàng, phần thư khanh nho), nên kinh Nhạc không còn truyền nữa.

 18. Rừng nhu: Sách Lễ Nhu Hành Thích Văn nói “Nhu là ưu tú, là hòa nhã”. Là nói có thể làm an cho người, có thể phục vụ với người. Nhu Lâm: Chỗ các nhà Nho tụ hội đông đảo như lùm rừng nên nói nhu lâm. Sử ký Thái Sử Công tự rằng “Từ Khổng Tử mất, tại kinh sư không còn chuộng nhà tường nhà tự nữa; duy trong khoảng niên hiệu Kiến Nguyên nguơn thú, nghề văn chương từ cú rất rỡ ràng, trứ tác được bộ Nhu Lâm truyện 61 quyển”. Từ đó về sau Sử, Thư đều có truyền Nhu Lâm là đầu từ đây.

 19. Hương trầm thủy: gọi tắt là trầm hương. Lời chú sách Bản Thảo, dẫn lời của Thời Trân nói: Cây hương này trong lõi có đốt, (mắt), cái đốt ấy để vào nước thì chìm, nên gọi là trầm thủy hương, chìm chừng phân nửa là sạn mộc hương, không chìm là hoàng thục hương.

 20. Xạ hương, hoắc hương. Xạ hương: Con xạ, giống con nai mà không có gạc, lông dài, màu xám tro. Con đực răng như răng chó mà ló ra ngoài mép. Dưới bụng có cục da lớn bằng trứng gà do mỡ kết tinh mà thành, mùi nó thơm rất xẳng. Hoắc hương: Cộng vuông, có lóng, trong tồng phổng, lá cộng đều có hơi thơm, được nhập với thuốc bắc.

 21. Thầy ác tục: Là các ông sư mà tập theo ác tục, phóng túng tửu nhục, thê thất lại tự cho là không chướng ngại đạo, nên ví các ông như các ông Tỳ -kheo ở xứ Bắc sông Hà cũng tập tục theo nghề bắt rắn để sống. Không nhân: a-Người ở trong không môn tức cửa chùa, là chỉ cho các Tỳ -kheo xứ Bắc sông Hà… b -Người chấp cái không lý của Đại thừa rồi nói càn làm bướng, nên gọi là không nhân. Thế là không lý của Đại thừa trở thành ra cái tà không của ngoại đạo hóa. Vô cấm tróc xà. Cấm: cấm chế, bắt rắn độc nhờ có cái phép hạn chế, nghĩa là, dùng củ nén thoa hai tay, lấy cây gậy sắt, trước đè nơi cổ, kế lấy tay nắm cái đầu của nó, thế, gọi là “hữu cấm tróc xà” có cái cách cấm chế để bắt rắn. Trái lại, nếu chẳng y pháp thuật ấy, chỉ vội vàng chụp bắt bằng tay không, tất bị nó cắn, nọc (nọc độc ở tại hai cái răng cấm của nó) độc chạy lên trào bọt ra miệng mà chết. Thế, gọi là “vô cấm tróc xà”. Đây, là thí dụ Tỳ -kheo không có các chế pháp bằng quán trí, lại nói bướng cái không ly (vô cấm tróc xà) buông lung ngũ dục (độc xà cắn)! Rút ở kinh A -lê-tra. Sách Chỉ Quán quyển 2 nói “Hai xứ miền Bắc sông Hoài sông Hà, có người tà không, hành pháp Đại thừa, tỷ như không có cái thuật cấm chế mà, chỉ hai tay không dám bắt rắn độc”. Sách Phụ Hạnh nói: Hai xứ Hà Bắc, Hoài Bắc, có người tà không (Hà Bắc không nhân) lệch về không lý, lạm xưng là tu Đại thừa, không có cái quán trí mà vào nơi ác không (chấp không lý mà chẳng có quán trí, nên gọi là ác không), nên lấy dụ “Không thuật cấm chế mà bắt rắn bằng tay không để thí tỷ đó. Lòng tham dục tỷ là độc xà, quán pháp ví như cấm chế lấy phép quán để quán xét lòng tham dục như bắt rắn, bốn câu bất thiện như về cấm”.

 22. A--tra: Tên của một Tỳ -kheo. A-lê-tra, dịch Vô Tướng. Luận Tát Bà Đa nói “Người này trước là đệ tử của ngoại đạo, vâng lời thầy dạy vào trong Phật pháp, đem Phật pháp nói đảo loạn. Người này bẩm tính thông minh, chẳng bao lâu, học suốt tam tạng, rồi nói đảo loạn rằng “Sơ quả, Nhị quả, đều có thê tử, cũng chẳng chướng đạo”. Bịa lời ấy để tự tỷ đề cao mình, và ác ngôn rằng “Tuy hành dâm dục, cũng không ngần ngại gì với đạo đức”. Song, y tự hành chướng đạo mà chẳng thể chướng đạo, vì chúng nhân ai cũng chẳng nghe theo…

 23. ác giác: Là tư tưởng ác. Sách Đại thừa nghĩa chương cuối quyển 5 nói “Cái tâm tư tưởng gọi là giác; trái với chánh lý, nên gọi là ác. Song, ác giác nó có những tánh cách bất đồng với nhau nên riêng rời có tám thứ”. Sách Chỉ Quán cuốn 5 nói “Tám gió ác giác, là chỗ chẳng thể vào”. Bát phong: Tám gió, tức: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ và lạc. Sách Đại Tạng Pháp Số chép: Tám điều ấy, người trong thế gian chỗ ưa chỗ ghét mà, nó hay phiến hoặc lòng người, nên gọi là gió.

 24. Uẩn tố tinh thần: Chứa tinh thần sẵn. Tố: cố hữu, sẵn có. Sách Trang Tử chép “Tháo tuyết tinh thần”: gội rửa tinh thần. Linh khí của con người gọi là tinh thần. Đời nay, người ta gọi chung chỗ tinh vi của sự vật là tinh thần. Sách Phật gọi tinh thầntư tưởng mà, tư tưởng có chánh có tà… ở đây nói “chứa tinh thần sẵn” thì, tinh thần này chính là cái năng lực của chánh niệm, tức là “chánh tư duy”.

 25. Hối: Mờ tối, tự giấu thanh danh, như ở ẩn chẳng cầu ai đồn đãi, nói là dưỡng hối.

 26. Thần khuất mặt: Kẻ khuất mặt là vị thần Bổn Cảnh, vì con mắt thịt của nhân gian không thể trông thấy được, nên gọi là khuất mặt. Còn con mắt của quỷ thần thì chỉ thấy cái tâm niệm (tư tưởng) của người chứ không thể thấy được hình tướng của người. Xưa có vị Tổ xuống nhà trù, thấy món đồ bị bể, khởi niệm lên quở ông thủ khố… chợt có vị thần Bổn Cảnh quỳ gối chắp tay trước mặt; Tổ hỏi: - Ngài có việc chi? Thưa rằng: - Đến đây đã mấy năm, chực mãi hằng ngày, để trông thấy Tổ cầu quy y mà không được thấy, vì Tổ tâm thường ở trong định; nay nhờ Tổ khởi niệm quở viên thủ khố, nên tôi mới được nhân thây tâm niệm mà thấy luôn pháp tướng của Tổ, và nhân cơ duyên cảm ứng nên Tổ cũng thấy được thân căn của tôi…

 27. Trưởng dưỡng Thánh thai: Trưởng dưỡng: là với công đức thiện căn, cần sanh trưởng dưỡng dục vậy. Kinh Hoa Nghiêm cuốn 14 nói “Lòng tin là mẹ công đức ở đầu đạo, vì hay trưởng dưỡng cả các thiện căn”. Thánh thaiLà ba ngôi Hiền tức mười trú, mười hành, mười hồi hướng đồng gọi là bực được trưởng dưỡng Thánh thai. Bởi vì lấy tự chủng tánh làm nhân, thiện hữu làm duyên, nghe chánh pháp rồi, lo tu tập trưởng dưỡng, mãi đến bực Sơ địa mới thấy đạo, được sanh vào Phật gia.

 Kinh Nhân Vương nói “Thế là Bồ -tát, cái tâm sơ trưởng dưỡng là Thánh thai”. Lương Bí làm lời sớ rằng “Cả ngôi tam HiềnThánh thai. Thánh thai là tự chủng tánh làm nhân, thiện hữu làm duyên, nghe cái chánh pháp tịnh pháp giới đẳng lưu, rồi tu tập trưởng dưỡng, bực Sơ địa thấy đạo, sanh làm con trong nhà Phật”.

 28. Đơn đao trực nhập: Ví dụ, là học Phật phải dũng mãnh tinh tiến, trong Truyền Đăng Lục, Tổ Linh Hựu nói “Người mà đơn đao trực nhập thì, phàm Thánh đều hết, lộ ngay tánh chân thường”. Mân Đức nói “ Nếu một đấng tác gia chiến tướng, liền cầm đơn đao trực nhập, chứ lại còn như hà nhược hà gì!” Tam Quốc Chí nói “Lưu Bị sai Quan Vũ đi giành Tân Quận; Lỗ Túc trú binh tại ích Dương, cùng cự nhau với Quan Vũ. Lỗ Túc vời Quan Vũ để thấy nhau. Đều dồn binh ngoài trăm bộ, chỉ các viên tướng quân đơn đao phú hội mà thôi. Nghĩa là mỗi người chỉ mang một lưỡi kiếm vào hội nghị.

 29. Là tinh, là thần: Tinh thần đây là cái diệu thể tác dụng của tâm.

 30. Thái hư: Là cái cảnh không hư tịch mịch (trống rỗng vắng bặt). Sách Trang Tử nói “Đạo chẳng ưu du nơi thái hư”. Thái hưtrên trời trống không. Sách Phật gọi là cõi hư không. Thi của Lý Quần Ngọc câu “Tâm tợ nhàn vân tợ thái hư”.

 31. Tinh yếu: Là cái chí lý của tự tâm vậy.

 32. Huyền tân: Bến mầu, tức là Vô thượng đạo. Lòng hợp bến mầu là cái tâm nó khế hợp với đạo Vô thượng vậy.

 33. Phương tiện. Phương: pháp, Tiện: dụng. Tiện dụng là cái phương pháp thích hợp với căn cơ của tất cả chúng sanh. Sách Vãng Sanh Luận nói “Chánh trực là phương, ngoài mình là tiện… Bát -nhã là cái huệ danh đạt đến Như, phương tiện là cái trí xưng thông với Quyền. Đã Như thì tâm hành tịch diệt, thông quyền thì đủ xét chúng cơ”.

 34. Quyền thừa: Thừa pháp của Quyền phương tiện. Bên Chân Ngôn Tông, các Bồ -tát trong Thập trú tâm, với chín trú tâm trước, gọi là Quyền thừa, bực trú tâm Bồ -tát thứ mười là thực quả. Với Duy Thức tông, Tam Luận tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông đều là thuộc về pháp Quyền thừa, Phật ngài làm Quyền Phật nơi nhân vị, và Phật quả về chân thực, chỉ làm Pháp thân mật Phật đối với Bồ -tát bực Trú tâm thứ mười.

 35. Mỗi giai cấp: Là những quả vị của các Thanh Văn, Duyên Giác và các Bồ -tát củaTrú, Hành, Hướng, Địa… vì con đường tu chứng trải qua từ địa vị dưới tiến lên dần dần như Tam Hiền Thập Thánh trong ba A -tăng-kỳ kiếp, mới đến quả vị Phật, nên gọi là giai cấp.

 36. A-tăng-kỳ kiếp: Đọc đủ là ba A -tăng-kỳ kiếp là số năm học, tu và chứng quả của Bồ -tát. Phạm ngữ Asamkhya (a-tăng-sí-da), cựu dịch A -tăng-kỳ, dịch nghĩa vô số, tên số mục của ấn Độ. Trí Độ Luận nói “Tăng -kỳ đời Tần dịch Số, A, Tần dịch Vô”. Lớp tân dịch đọc A -tăng-sí-da, dịch nghĩa là vô ương số. Huyền ứng Aõm Nghĩa 24 nói “A -tăng-sí-da, đây rằng vô ương số. Cựu dịch A -tăng-kỳ là sai”. Xét A -tăng-kỳ là con số chí cực. Lấy vạn vạn làm một ức, vạn lần ức như thế kể làm một triệu. Một a -tăng-kỳ kể là 1000 vạn. vạn. vạn. vạn. vạn. vạn. vạn. vạn triệu.. Đấy là rút trong Phật Học Đại Từ Điển; sách Thống Tôn Toán Pháp thì số A -tăng-kỳ như thế này 100.000.000.000.000.000.000.000.000.

 37. Chánh tánh: Luận Duy Thức nói là Thánh tánh, luận Câu Xá nói là chánh tánh mà, vẫn một ý nghĩa. Duy Thức lấy cái chủng tử vô lậu trí làm cái thể Thánh tánh. Câu - xá lấy lìa phiền não làm chánh tánh. Duy Thức Thuật Ký rốt cuốn 9 nói “Tức nương nơi vô lậu trí, phân biệt trí câu hành ngũ uẩn chủng tử làm cái thể Thánh tánh”. Câu Xá Luận quyển 10 nói “Sao gọi là chánh tánh? Là khế kinh nói nếu đoạn hết cái tham không còn, đoạn hết cái sân không còn, đoạn hết cái si không còn, đoạn hết tất cả phiền não không còn, gọi là chánh tánh”. Các pháp: Là pháp nhân quả của thập giới (tứ Thánh lục phàm), Thiên Thai ước lược cả tam thế gian, thập giới, thập như mà, gọi là tam thiên chư pháp.

 38. Như huyễn: Là một trong mười thí dụ của kinh Đại Phẩm Bát Nhã. Cái tục của Tây Vực nhiều nghề khéo lấy mỗi mỗi pháp thuật hiện ra các thứ voi, ngựa, người, vật không thực, làm cho người thấy nghe như là thực tế, nên gọi là “huyễn”, với sự huyễn dù thấy nghe như thực mà phi thực vậy, nên dùng để ví dụ tất cả các pháp (sự sự vật vật) đều không thực cả. Trí Độ Luận cuốn 6 nói “Tất cả chư hạnh như huyễn, chỉ đánh lừa tiểu nhi, vì thuộc về nhân duyên chẳng tự tại, chẳng còn lâu, nên nói các Bồ -tát biết chư pháp như huyễn”.

 39. Huyễn hoặc: Cái thể của “hoặc” là hư vọng không thực nên gọi là huyễn. Sách Thích Tiên nói “Bồ -tát dùng cái huyễn pháp môn để phá cái huyễn thuật kia”. Vì đem huyễn thuật làm mê hoặc lòng người.

 Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói “Huyễn hoặc chú thuật”.

 40. Huyễn lý: Cái lý như huyễn. Lý đây là đạo lý, đến cái việc cần phải làm mà nói, thì gọi là đạo; đến cái cớ sở dĩ phải như thế mà nói, thì gọi là lý. Lý tức là cái đạo tự nhiên. Nghĩa là cái đạo lý sẵn có. Như bổn giác Phật của mỗi người (như thế chúng sanh đều có Phật tánh), nhưng trước bị mê, nay mới giác ngộ trở lại, gọi là Thỉ giác Phật, nên nói là chứng cái huyễn lý, vì bất tăng bất giảm, thế thì cái muốn kêu rằng Phật, chúng sanh, đều là giả danh, và tự, tha, cũng là huyễn tướng.

 41. Huyễn hạnh: Cái hạnh như huyễn, với lục độ vạn hạnh, chẳng phải tu hành như thế mà thành Phật, nhưng phải tu hành cho đủ công hạnh để tự lợi lợi tha, còn thành Phật thì cốt nơi tâm ta tự giác ngộ lấy, vì mê tức chúng sanh, giác ngộ tức là Phật. Thế thì cái tu hành ấy bổn phận cần phải làm vậy thôi, nên nói là tu cái hạnh như huyễn.

 42. Huyễn vị: Cái quả vị như huyễn. Cũng như trên cái số 33 là huyễn lý đã nói, thì những ngôi thứ Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát cho đến quả vị Phật đều là hư huyễn cả, vì cái danh vị là văn tự tướng, ngữ ngôn tướng, do nơi pháp đặt để ra mà kêu vậy thôi, chứ đâu có chân thực gì. Mà sở dĩ có như thế là để cho có cái thích đặng lo mà tiến thủ, nên nói cầu cái huyễn vị.

 43, 44. Người mà quá chán: Vì cái ý thức tán loạn của hạ giới tức Dục giới mà, phát tâm tu pháp Tứ thiền của Sắc giới, bởi ham cái thanh tịnh địa kêu là “ly sanh hỷ lạc địa”, đã lìa được cái loạn ý của dục giới mà sanh lòng hỷ lạc, nên nói chán dưới ham trên… Ngoại đạo thiền.

 45. Phàm phu thiền: Cả Tứ thiền thiên, các trời ấy đều cũng cho sự kém của bực dưới, ham cái hơn của bực trên. Như định sanh hỷ lạc địa của đệ Nhị thiền đã không tầm từ, do nơi định mà sanh hỷ lạc; ly hỷ diệu lạc địa của đệ Tam thiền lìa cái hỷ lạc trước, tâm đẹp yên tịnh, có cái vui thắng diệu; Xả niệm thanh tịnh địa của đệ Tứ thiền lìa các cái hỷ lạc trước, tâm thanh tịnh bình đẳng, trụ nơi xả thọ chư niệm… Đấy cả bốn Thiền thiên và bốn Không thiên, dù đều ở trên hạ giới, phước lạc hơn nhân gian dục giới nhiều, chứ cũng đồng lục đạo chúng sanh, nên nói là Phàm phu thiền.

 46. Ngã không thiên chân: Ngã không, lại nói sanh không nhân không. Chúng sanh, ai ai dầu đều có thân và tâm, mà đều là cái giả hòa hợp của ngũ uẩn, chứ phi cái ngã thể thường nhứt, nên gọi là ngã không. Tam Tạng Pháp Sớ quyển 10 nói “Ngã không năm uẩn pháp, cưỡng lập làm chủ tể, gọi là ngã chấp, nếu tìm xét cả năm uẩn thì, đều chả có tự tánh chả thấy cái ngã thể ở đâu, nên gọi là ngã không”. Lại nói “Phàm phu quấy chấp ngũ uẩn là ngã, cưỡng lập chủ tể làm ngã, dẫn sanh ra phiền não, tạo tác ác nghiệp; Phật vì phá cái chấp ấy, nên nói ngũ uẩn vô ngã, bực Nhị thừa nghe rồi giác ngộ chứng vào cái lý vô ngã, nên gọi là ngã không thiên chân là chứng cái chân lý lệch về bên không. Ngã không chân như: Là cái chân lý vô ngã chân như, là để gọi cái chân lý thường trú. Nay cái chân lý đây, là cái vô ngã chân thể, vì lìa được cái ngã chấp, nên nói là ngã không chân như, cái chân lý của các Thánh Nhị thừa chứng ngộ, chỉ là một chân lý đây. Nhưng, với chân như, Nhị thừachứng ngộ mà thiên về bên nhân không tức ngã không, nên gọi là thiên chân, vì chưa lìa được pháp không. Đến các Thánh Bồ -tát vừa lìa ngã chấp vừa lìa pháp chấp, mới chứng ngộ được toàn chân như.

 47. Bát định: Tứ thiền bát định. Tứ thiềnTứ thiền của Sắc giới. Bát định: Tứ thiền của Sắc giớiTứ vô sắc định của Vô sắc giới, vì đối với tâm tán loạn của Dục giới, nên chung gọi Tứ thiền của Sắc giớiTứ vô sắc định của Vô sắc giớiBát định. Phụ Hạnh nói “Rằng Tứ thiền Bát định là, Tứ thiền ở trong số Bát định, mà đã nói Tứ thiền lại nói Bát định là, lặp gồm mà kể ra vậy. Nếu đem cõi sắc đối nhau với cõi Vô sắc thì, Sắc thiền là Thiền, còn Vô sắc là Định”. Thiền: Tiếng Phạm là Dhyana (Thiền-na) cựu dịch khí ác, công đức tòng lâm, tư duy tu… Tân dịch tịnh lự, là cái phương pháp để định tâm địa thuộc về cõi Sắc giới. Người ở Dục giới đây mà phát minh cái cảnh thiền này ra được (chứng) thì gọi là “tu đắc”; người sanh ở Sắc giới mà phát minh ra định thì gọi là “sanh đắc”; hoặc người nhân tư duy mà tu phát được thì gọi là “tư duy tu”. Người mà cái tâm thể tự nhiên thành tựu được thì tức là “tịch tịnh”. Vì có những diệu dụng có thể như thực nghĩ biết cảnh sở đối, nên gọi là “tịnh lự”. Với cái danh khí ác, công đức tòng lâm, là do dùng cái công năng kết quả mà gọi ra thế, thì chỉ là một món pháp để định tâm, nên tuy khi thời dịch là định, mà tiếng Phạm của định thì, hoặc Samadhi (Tam-muội), hoặc Samadhi (Tam-ma-địa), gọi chung là cái danh phụ thuộc của “tâm nhứt tánh cảnh”. Lại, thiền của Thiền tông thì, với danh từ tuy thủ lấy nghĩa tư duy, tịnh lự mà cái thể của nó là cái diệu tâm của Niết -bàn, chớ phi như nghĩa thiền sở thuộc của Sắc giới kia.

 48. Hai mươi lăm loại hữu: Dục giới có mười bốn hữu, tức là bốn ác thú, bốn châu và sáu dục thiên; Sắc giới có bảy hữu, tức là Tứ thiềnĐại Phạm thiên trong Sơ thiền, với Tịnh cư thiên cùng Vô tưởng thiên trong Đệ tứ thiền; Vô sắc giới có bốn hữu, tức là bốn không xứ. Suốt tam giới mà có quả báo của hai mươi lăm loài.

 49. Mười hai loại hữu: Nhân động có thanh, nhân thanh có sắc, nhân sắc có hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị có pháp. Sáu thứ ấy rối loạn vọng tưởng tạo thành nghiệp tánh. Nên có mười hai loại riêng biệt. Do đó lăn tròn, thế nên mười hai biến thành một cái vòng tròn giáp lại với nhau. Nương theo cái vòng tròn ấy mà lăn. Nên có Noãn sanh, thấp sanh, thai sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, nhược phi hữu sắc, nhược phi vô sắc, nhược phi hữu tưởng, nhược phi vô tưởng, gọi là mười hai loại hữu, xuất Lăng Nghiêm Kinh. Với hai mươi lăm và mười hữu. Kinh nói “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” mà, tâm, thức đã là vô sanh thì, Giới pháp kia làm gì có; thế nên hễ nhứt niệm ngộ được vô sanh thì, hai mươi lăm hữu, mười hai hữu, cả đến tam giới đều bị phá tan, như sương mù bị ánh nắng đốt tiêu sạch.

 50. Đại địa không còn tấc đất: Kinh nói: Tưởng trừng thành quốc độ (vô tình) trí giác nải chúng sanh (hữu tình). Lại nói “Thập phương thế giới tận thành tiêu vẫn, mười phương thế giới đều tiêu diệt ráo”. Thế biết rằng tất cả sự vật vô tình, hữu tình đều do cộng nghiệp, biệt nghiệp tạo ra bằng một cách hư vọng, nên con người mà đã minh tâm kiến tánh, phản vọng quy chơn (phát chân quy nguơn) rồi, thì vô tình là đại địa không còn tấc đất. Nên câu “Tình dữ vô tình cộng thành Phật đạo” là nghĩa trên đó. Vì nhứt căn đã hoàn nguyên rồi thì, lục trần đều giải thoát. Người xưa cũng nói “Vô địa lập chùy” ý nghĩa là “Năm nay tôi nghèo quá, vì không còn một tấc đất để cắm cái dùi”. Khi còn thấy có chúng hữu tình là ngã nhân bỉ thử, vì còn chấp ngã; còn thấy có chúng vô tình là sự vật quốc độ, vì còn chấp pháp. Đấy, đều là đương mê như ngủ thấy chiêm bao có người này cảnh nọ; khi đã chuyển mê khải ngộ rồi thì, không còn thấy có tấc đất, như đã thức giấc tỉnh dậy rồi, đâu còn nhân vật trong mê mộng nữa.

 51. Liễu bất khả đắc: Trọn không thể còn. Nghĩa là chúng sanh tuy nhiều, nhưng gom lại chỉ là mười hai loại mà, luận mỗi cách sanh thì, bất quá bốn sanh, luận về hình tướng thì chẳng ngoài hữu sắcvô sắc, luận về tâm không ngoài hữu tưởng vô tưởng; thế thì, mặc dầu lắm chúng sanh, nhiều hình tướng, nhưng chỉ gốc nhứt tâm, vì tâm sanh chủng chủng pháp sanh. Song, tâm vẫn không, cảnh vẫn tịch, tâm tướng đã không thì, chúng sanh đâu có. Đây, chính chỗ gọi da đã không còn, lông gá vào đâu để mọc? Nên nói: Liễu bất khả đắc

 BA BIểU Đồ TAM GIớI (Trang sau)

 HữU LậU THIệN ác Cả: Hạ GiớiBa biểu đồ tam giới:

Hữu Lậu Thiện ác Cả: TRUNG Giới, Thượng Giới.

 

Ba

Thiện Đạo 










Ba

ác 

Đạo

 
Thiên

 Đạo 

Nhân

Đạo 

Tu-la

Đạo 

Súc 

Sanh

Đạo 

Ngạ 

Quỷ

Đạo 

Địa

Ngục

Đạo

 Cả các trời ở ba giới: Dục giới có sáu Trời đều có nam nữ ân ái thai sanh; Sắc giới có 18 Trời: chỉ Nam không Nữ, toàn là Hóa sanh; Vô sắc có bốn Trời: không có sắc thân, có thức tâm; đều tu hữu lậu thập thiện bực thượng.

 Cả bốn châu thiên hạ: Có giàu sang, nghèo hèn, trí ngu, hiền gian, hình nam tướng nữ, thân tốt thân xấu, sống lâu chết yểu; hoặc tu nhân nghĩa lễ trí tín giữa năm thương, hoặc giữ ít nhiều giữa ngũ giới. Đều tu hữu lậu bằng thập thiện bực trung.

 Giữa đạo thần A -tu-la: Thần nam thì thân thể xấu, thần nữ dung mạo đẹp; với sự hưởng phước, tợ hồ giống trời, với đức hạnh, thì phi trời, vì ôm lòng ganh ghét, thường ưa chiến đấu với trời Đế -thích, để giành quyền hơn. Mỗi khi dù bại trận, bị thương tàn, nhưng tự hoàn phục lại thân thể như cũ. Thần A -tu-la này đều có ở lẫn giữa bốn loại: Trời, người, quỷ, súc, tu hữu lậu thập thiện bực hạ.

 Cả ba chỗ: Nước, đất, trên không, đều có các loài: phi cầm, tẩu thú, biết bò, biết máy, biết bay, biết cựa, đến tất cả côn trùng vi tế, chúng đều có bị cái khổ mạnh ăn thịt yếu, ăn tươi nuốt sống lẫn nhau, vì cưu cái lòng tham dục, cái tâm bệnh ái kiến, bởi tạo ngũ nghịch thập ác bực trung phẩm.

 Cả 3 phẩm 9 loại, loại có phước như các thần nơi đình, miễu, vì có người thờ cúng cho ăn: loại vô phước là không ai phụng tự, với máu mủ của nhân gian, hãy còn chẳng đặng mà ăn, huống nữa là gì! Hoặc khát thấy nước lại biến thành lửa, thường chịu đói khát! Bởi gây ngũ nghịch thập ác bực hạ.

 8 ngục lạnh, 8 ngục nóng, 16 ngục lớn, hoặc trong núi, giữa nước, giữa đồng hoang; địa ngục lớn, khổ hành không thôi nghỉ! Địa ngục nhỏ, sự hành tội có khi tạm nghỉ, rồi liền tra khảo lại nữa! Vì tạo ngũ nghịch thập ác bằng bực thượng phẩm! 

 

 Chúng sanh tạo những phiền não về sự thấy, nghĩ lầm lạc nên chịu luân hồi giữa lục đạo

 bằng cái thân phận đoạn sanh tử, cũng gọi là lục phàm, vì hữu lậu sanh tử.

 52. Thảy đều giả danh: Kiến văn như huyễn ế, tam giới như không hoa, thấy nghe dường huyễn ế, ba cõi tợ không hoa. Huyễn là người, vật do huyễn thuật biến hiện ra. ế là con mắt bị bịnh nhặm hay có cườm mà trông thấy trong hư không có những hoa đốm đủ màu sắc. Cả sự vật mà ta thấy nghe và cả đến tam giới tỷ như hoa đốm kia, nên nói là giả danh. Chính chỗ gọi “Tất cả pháp hữu vi, tỷ như mộng (thấy chiêm bao), huyễn (ảo thuật), phao (bọt trên mặt nước), ảnh (cái bóng dạng), lộ (sương đọng trên lá cây), điển (làn điển chớp).

 53. Lục trần duyên ảnh: Cái bóng duyên của lục trần. ấy là trong phần (kiến, tướng, tự chứng, chứng tự chứng) của tâm thức, cái kiến phần nó duyên qua ngoại sắc trần rồi tư lự với ngoại sắc trần mà sanh ra cái ảnh tượng của ngoại trần, nên gọi là duyên ảnh. Cái tánh phân biệt nó hay phân biệt những thấy, nghe, hiểu, biết ấy, là nó duyên qua lục trần bên ngoài mà sanh ra nó (tánh phân biệt), nên cũng gọi nó là duyên ảnh. Duyên lự tâm Là cái tâm phan duyên (vín leo) với cảnh giới, rồi tư lự sự này vật nọ, gọi là tâm duyên lự. Tức là tám món thức của nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý, mạt-na và a -lại-da. Danh Nghĩa Tập cuốn 6 chép “Chất -đa-da, hoặc tên là Chất -ñeá, hoặc tên Ba -ñoà, dịch là duyên lự tâm. Hoàng Đế kinh Ngũ Tạng Luận, đặt tên là Thần (duyên lự tâm). Ngoại đạo bên Tây Vực, chấp là ngã. Cái tâm duyên lự đây thông cả bát thức”.

 54. Bổn lai tâm tánh: Tâm tánh bấy nay. Bổn lai tâm tánh cũng là bổn địa phong quang, cũng là tự kỷ bổn phận… Là lời chỉ thị Cái đạo pháp đã tiến đến mức cực độ của Thiền môn. Bên Hiển giáo gọi là Bổn giác; bên Mật giáo gọi là Bổn sơ, cũng bất ngoại với Bổn lai tâm tánh. Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ chỉ thị rằng “Cái mà trong lúc chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, chính với lúc đó, cái ấy tức là cái bổn lai diện mục của Thượng tọa Minh đấy”. Thế, thì bổn lai tâm tánh cũng tức là chân tâm, Phật tánh… Bổn lai Là tiền tiền vô thỉ, mà hậu hậu cũng vô chung vậy. Vì bất sanh bất diệt, vô khứ vô lai, phi cổ phi kim, vô danh vô tướng.

 55. Hồi rốt trước: Là khi mà cái thân trung ấm sắp đầu thai, nếu nữ tánh thì nó khởi niệm yêu cha ghét mẹ, trái lại thì yêu mẹ ghét cha. Vì lúc đầu tiên tạo thân hậu ấm, nên nói là rốt trước. Cái mà khởi niệm yêu, ghét như thế là, chỗ tối sơ của tất cả phàm phu. Vì cái tâm bất giác khởi niệm yêu ghét, nên tạo cái nghiệp luân hồi, chịu cái quả sanh tử.

 Luận Khởi Tín nói “Chỗ nói nghĩa bất giác ấy, nghĩa là chẳng như thực biết chân như pháp nhứt, nên cái tâm bất giác khởi lên mà có cái niệm (yêu ghét).

 56. Vọng niệm điên đảo: Kế với cái niệm yêu ghét đó, liền sanh cái niệm điên đảo. Nghĩa là cái thân trung ấm sắp đầu thai đó, nếu là nam tánh thì, nó khởi cái niệm chính nó hành dâm với người sắp là mẹ nó, trái lại, nữ tánh thì khởi niệm chính nó hành dâm với người sắp là cha nó. Vì đối với người sắp là cha mẹ, mà nó tưởng là chính nó hành dâm như thế, nên nói là vọng niệm điên đảo. “Nhân ái vi chủng, nạp tưởng thành thai” là đây vậy. Kinh Lăng Nghiêm nói “Nhứt thế chúng sanh giai dĩ dâm dục nhi chứng tánh mạng”.

 57. Chấp kiến phần làm ngãừ: Lúc thân tiền ấm sắp chết thì năm thức trước chết trước, quy tàng về chủng tử của nó chứa trong a -lại-da thức, lúc hơi thở tắt dứt hẳn, là ý thức chết, cũng quy tàng về chủng tử của nó chứa trong thức thứ tám; kế đến thức thứ bảy chết rồi cũng thế; đến chừng thi thể hoàn toàn lạnh hẳn, thức a -lại-da mới lìa khỏi xác, để hóa sanh ra thân trung ấm, thân trung ấm sắp đầu thai, khởi niệm yêu ghét, niệm hành dâm, ba cái điện dục tưởng của ba người đồng thời hít nhau, a-lại-da của trung ấm bị hút vào lẫn lộn với tinh cha huyết mẹ trong thai bào, bấy giờ a -lại-da thức trước diệt, để sanh ra a -lại-da thức sau cho thân hậu ấm. Thức thứ tám trước mặc dù diệt, sanh thức thứ tám sau, chứ chủng tử của cả tám thức vẫn tồn tại như hột giống. Bấy giờ trong bào thai, thức thứ tám nó dần dần nảy nở sanh ra bảy thức trước, là vì thức thứ bảy nó chấp cái kiến phần của thức thứ tám làm ngã yêu giữ khư khư, kêu là ngã ái chấp trùng. Thức thứ tám chuyển sanh ra bảy thức trước, tỷ như hột lúa giống nó nảy nở ra nào mộng, rễ, cọng, cây, lá, bông và kết quả là hột nữa.

 58. Chuyển sanh bảy thức kia: Coi lại bài chú thích trên.

 Đối với hột lúa giống, ta bóc vỏ ra coi thì chỉ thấy vẫn hột gạo thôi, thế mà hội gặp đủ nhân duyên, như nước, đất, ánh sáng, nhân công thì nó tự nhiên hiện ra đủ các bộ phận của cây lúa. Chủng tử a -lại-da thức cũng như thế hễ gặp đủ nhân duyên là tinh cha huyết mẹ, kết thành một điểm như sữa đặc. Thế, chỉ điểm sữa đặc đó, mà dần dần tượng hình ra nào mũi, mắt, tim, gan, tay, chơn, đủ cả bộ phận của nhân thân. Nên nói “Chuyển khởi dư thất thức, hiệp thành bát chủng thức”.

 59. Biệt, cộng nghiệp, tự thân, khí giới: Biệt nghiệp là cái nghiệp riêng của tự thân cá nhân; cộng nghiệp là nghiệp chung của đoàn thể xứ sở. Như mỗi người giữ toàn ngũ giới, hành toàn thập thiện, sẽ đưa đến cái kết quả là, nội cảm được cái thân thể tuấn tú, phú quý, ngoại cảm được quốc thổ phú cường, thái bình an lạc. Nếu với năm điều răn không giữ, hoặc giữ không đủ với mười lành không hành, hoặc hành thiện ác lộn xộn, thì nội cảm cái thân xú lậu, trược phú, bần hàn, ngoại cảm lấy cái quốc độ nhược tiểu, thiên tai, nhân họa. Khí giớithế giới như món đồ, tức như có thế giới hình tròn, thế giới hình vuông, hình ngửa, hình úp, hình nghiêng, có thế giới ở trên đất bằng mây, có thế giới ở trên đất bằng vàng, có thế giới ở trên đất bùn sình cát đá gai góc, có thế giới ở trên núi gươm cây dao, có thế giới ở trên nhơ nhớp phân uế, có thế giới ở chỗ không có ánh sáng nhật nguyệt… là do tùy phước thụ dụng, tùy nghiệp thụ dụng, vì tạo nhân nào phải hưởng quả nấy.

 60. Pháp tánh cảnh vật: Ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không tâm, nên nói “Pháp tánh tức là cảnh vật”. Pháp tánh cũng tên là thực tướng, chân như, pháp giới, Niết-bàn… Tánh nói là thể, là chẳng đổi, chân như làm thể của vạn pháp, vì nó ở nơi nhiễm, nơi tịnh, nơi số hữu tình, nơi số phi hữu tình mà, cái tánh nó chẳng đổi chẳng biến, nên nói là pháp tánh. Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thăng Tu - di Sơn nói “Pháp tánh vốn không tịch, vô thủ cũng vô kiến”. Pháp tánh có hai thứ; pháp giới có hai thứ sự và lý. Pháp tánh cũng thế:
1-Sự pháp tánh, như đất có tánh chắc, nước có tánh ướt…
2-Lý pháp tánh, là cái thực tánh bình đẳng của các pháp. Sách Chỉ Quán nói “Luận Địa Trì chỉ rõ hai pháp tánh: 1-Sự pháp tánh, vì là tánh sai biệt; 2-Lý pháp tánh, vì là tánh chân thực”.

 61. hiện lượng: Hiện lượng là một trong ba lượng của Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận thường dùng. Hiện lượng: hiện thực lượng biết. Hướng với các pháp: sắc, thanh, hương, vị, xúc, hiện thực lượng biết tự tướng của nó, không mảy may qua niệm phân biệt xét tìm. Luận Nhân Minh Nhập Chánh Lý nói “Hiện lượng, nghĩa là không phân biệt… Hiện hiện riêng chuyển, nên gọi hiện lượng”. Nhân Minh Đại Sớ thượng bổn nói “Năng duyên hành tướng, chẳng động chẳng diêu, tự chỉ chiếu cảnh, chẳng tính chẳng đo, lìa tâm phân biệt, chiếu hợp với cảnh hiện tiền, rõ cuộc nơi tự thể, nên gọi là hiện lượng”. Lại nói “Năm căn mỗi mỗi đều chiếu lấy tự cảnh, gọi là hiện lượng”. Sắc, thanh, … các pháp như thế mứ, năm thức trước và ý thức trụ trước phân biệt, thủ xả, nên nói là “mê hiện lượng”, vì năm căn đối năm trần, ngũ câu ý thức phân biệt, ái ố,…

 62. Chân tánh không minh. Chân tánh: chẳng vọng là chân, chẳng biến là tánh; chân tánh ấy là cái tâm thể sẳn đủ của ta và người. Kinh Lăng Nghiêm cuốn nhứt nói “Tiền trần hư vọng tướng tưởng, hoặc nhữ chân tánh” vì tư tưởng phân biệt chấp lấy hiện tượng của sáu trần đối mà, làm mê hoặc chân tánh của ngươi (A-nan). Không minh: Trống sáng, các pháp (sự vật) đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh, xét cứu cánh ra thì, các pháp đều chẳng có thực thể, nên nói là không. Kinh Duy Ma phẩm Đệ Tử nói “Với các pháp, xét cứu cánh, nó không có thực, ấy là cái nghĩa không”. Sách Vạn Thiện Đồng Quy tập cuốn 5 nói “Không là cái tên riêng của lý, do vì chẳng khá đặng, do vì không thực tánh, là cái không chẳng đoạn diệt”. Đối với các pháp, tâm không phân biệt thủ xả, tức là giải thoát, sáng suốt, nên gọi là không minh khoách triệt.

 63. Huệ nhật: Tỷ dụ trí của Phật hay chiếu lâm đến tận chỗ đui mờ của thế gian, nên tỷ với mặt nhật. Kinh Vô Lượng Thọ cuốn hạ nói “Huệ nhật soi trong đời, trừ sạch mây sanh tử”. Kinh Pháp Hoa phẩm Phương Tiện nói “Huệ nhật đại Thánh tôn”. Phẩm Phổ Môn nói “Huệ nhật phá chư ám”. Huệ nhật ở đây tỷ là Phật tánh mà, bị hành giả chấp có chứng có biết, nên Phật tánh phải mai một nơi hữu pháp.

 64. Hữu địa: Chỗ có, chấp rằng có tu, có chứng, có thấy, có biết, thế là trước danh trước tướng. Sách nói “Phàm phu chấp hữu”.

 65. Không môn: Cửa trống, là phá trừ cái kiến giải chấp rằng thường có, tức là cái pháp môn của các “không tướng” ngã không, pháp không, hữu vi không, vô vi không… Luận Trí Độ cuốn 18 nói “Không môn là sanh không pháp không”. Trong kinh Pháp Cổ, lấy không môn làm thỉ, lấy bất không môn làm chung. Lại, giáo pháp nhà Phật, lấy không pháp làm môn Niết -bàn. Trí Độ Luận 20 nói “Thành Niết -bàn có ba môn là không môn, vô tướng môn, vô tác môn”. Thế mà tu sĩ bị chấp không đó trở thành ra chướng ngại, nên nói “Không chiếu không ngộ thì, mây mờ che bít nơi không môn”.

 66. Huyền vi: Đen nhỏ, mầu nhiệm. Tối sâu gọi là huyền, lẽ mầu gọi là vi. Thành Công Tuy Phú chép “Huyền diệu đủ để suốt thần tỏ linh, vi tinh đủ để tột tối xét sâu”.

 67. Mộc nhân khán hoa điểu: Người gỗ xem chim vẽ. Người gỗ là chạm khắc cây gỗ thành hình tượng con người. Sách Tam Quốc Chí lời chú rằng “ông Mã Quân có cái tứ khéo tuyệt vời, là ông lấy gỗ chạm khắc thành hình tượng người, trong có kết cấu đặt máy, sắp làm những tượng nào ca hát, nào đánh nhạc, nào múa nhảy, đến đỗi khiến người gỗ thổi ống sáo. Lấy vài danh từ ở bài kệ của ông Bàng cư sĩ làm thành đôi câu đối, để tả “thanh sắc tầm thường” rằng:

 Hoa điểu tứ mộc nhân khan, ngũ uẩn giai không, hành thâm bát -nhã.

 Thiết ngưu khi sư tử hẩu, bát phong bất động, tọa kháo Tu -di.

 Thiết ngưu: Con trâu bằng sắt. Thiết ngưu là ví dụ rằng chẳng thể lay động. Lại, ví dụ cái chỗ mà không cho chót mỏ thốt lời. Bích Nham tắc 38 nói “Cái tâm ấn của Tổ sư, in tuồng cái cơ thiết ngưu”. Đồng Trứ Ngữ nói “hằng ngàn cả muôn người lay lắc chẳng động”. Ngũ Đăng Hội Nguơn Dược Sơn chương nói “Mỗ giáp này ở trên đầu hòn đá, như con muỗi ở trên con trâu sắt”.

 68. Vô sự đạo nhân. Voõ sự: phạm ngữ rằng A, dịch vô, phi, bất. Dùng nghĩa của thế tụcgiải thích thì chỉ là lời chẳng có sự vật tồn tại, tức nghĩa là “không” nên nói là vô sự. Đạo nhân: Người đắc đạo, và người tu đạo. Trí Độ Luận nói “Kẻ đắc đạo gọi là đạo nhân. Các người xuất gia, dù chưa đắc đạo, cũng phổ thông gọi là đạo nhân. Người đắc đạo quả A -la-hán, không còn sự đoạn kiến hoặc, tư hoặc nữa nên tên là Vô sự đạo nhân.

 69. Làm phép cho chúng: Làm mô phạm cho đời. Người học tu Phậttâm cảnh như thế thì việc gì chẳng xong, chẳng những làm nhân thiên nhãn mục, cũng chính là Phật pháp đống lương.

 70. Ngũ ấm gián cách: Cách với thân trung ấm, vì đã thụ cái thân hậu ấm rồi, nghĩa là thân trung ấm nó ở trung gian, nên thân hậu ấm là cách ấm. Rất đỗi, La-hán còn có cái mê mờ vì cách ấm, Thanh văn cũng có cái tối vì xuất thai, huống là sáu phàm phu là thiên, nhân, Tu-la, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.

 71. Đức từ vô duyên: Tức vô duyên từ bi. Cái từ bi đây, duy có ở nơi chư Phật, số là cái tâm của chư Phật là, chẳng trụ nơi trong tánh hữu vi vô vi, không trụ nơi trong đời quá khứ, hiện tạivị lai, biết các duyên chẳng thực, vì điên đảo hư vọng, nên tâm không duyên vào đâu cả. Chỉ Phật nghĩ vì chúng sanh chẳng biết được cái thực tướng của chư pháp, nên chúng sanh bị lại qua năm ngả, lòng chấp trước chư pháp, thủ xả phân biệt, nên tâm của chư Phật dù không duyên hệ với chúng sanh mà, khiến tất cả chúng sanh tự nhiên được cái ích bạt khổ dữ lạc, nên gọi là Vô duyên từ bi tâm.

 72. Vào chốn triền phược: Chính rằng tại triền chân như, tức là cái lý chân như pháp tánh, nó ẩn ở trong chốn phiền não triền phược. Khởi Tín Luận Nghĩa Ký rốt cuốn trung, bảo là “Tại triền giả tánh tịnh bất không Như Lai tạng”. Thế thì, chữ triền nói trên là triền phược, tức tên khác của phiền não trong tam giới; còn chữ triền ở trong văn Cảnh Sách đây là chữ triền của thị triền, vì chẳng có “bộ mịch” ở bên, nghĩa là cái lều chợ. Nguyên tiếng Phạm Avacara (a-phước-cha-la) dịch là thị triền, nghĩa là cái lều bán hóa vật tại chợ. Sách Huyền ứng âm nghĩaLễ Ký, với Trịnh Huyền, đều nói như thế. Tại Cảnh Sách đây nói “Nhập triền thùy thủ” vào nhà chợ xuôi tay. Thì chữ triền là nhà chợ, với chữ triền là tam giới phiền não, cũng đồng là cảnh huyên náo phức tạp, mà các Như Lai Bồ -tát vào trong cảnh ấy, vẫn tự tại giải thoát, lại còn độ chúng sanh xuất triền nữa.

 73. Vô dư Niết -bàn: Lại nói Vô dư y Niết -bàn, tân dịch Y: nương, cái thân thể là chỗ của các điều thống khổ nương dựa. Niết -bàn có hai thứ: 1-Hữu dư y Niết -bàn: có khổ còn nương nơi thân, 2-Vô dư y Niết -bàn: không có khổ nương nơi thân nữa, vào cảnh Niết -bàn này thân và trí đều dứt hẳn như tro lạnh vì người Nhị thừa chứng cảnh giới Vô dư Niết -bàn mà, quy vào cõi tịch diệt.

 74. Tán thân mất mạng: Với phép tu “Trực chỉ Thiền” hễ đắc ngộ là liền siêu lên Phật quả, nếu thất ngộ thì đọa ngay xuống ma đạo. Sách Tổ Đình Sự Uyển quyển 5 nói “Các Tổ trước truyền pháp, ban sơ tu hành kiêm cả tam tạng giáo thừa; sau đến Tổ Đạt -ma, riêng truyền tâm ấn là, để phá cái chấp văn tự, hiển cái tâm tông, chỗ gọi là Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Song, với bất lập văn tự, nhiều người bị thất ý (đọa ma đạo), thường thường bảo rằng dẹp bỏ văn tự, chỉ cốt lấy cái điều ngồi làm thinh”. Đó, thực là con dê câm trong tông môn của ta! Vả chăng, cả với vạn pháp còn lăng xăng, hà tất gì chỉ một cái “bất lập văn tự” ư? Chứ có biết đâu chữ Đạo là đường, cũng như chữ Thông là suốt vậy, há nào phải chỉ câu chấp chi một góc? Nên, tức nơi văn tựvăn tự bất khả đắc, với văn tự đã thế, thì với vạn pháp cũng vậy, đều là kiến tánh thành Phật, đâu có đợi dẹp văn tự rồi sau mới đắc? Thích Môn Chánh Thống cuốn 3 nói “Ban sơ không có cái thuyết bất lập văn tự, đến các nhà Tổ Nam Tuyền, Phổ Nguyện mới bắt đầu đề xướng “Bất lập văn tư, ù giáo ngoại đơn truyền, kiến tánh thành Phật”.

 75. Thuyên đề: Với kinh văn năng thuyên, thí như cái thuyên là Nơm; với nghĩa lý sở thuyên, tỷ như con cá. Thuyên đề là dụng cụ, dùng tỷ dụ phương tiện pháp mônngữ ngôn văn tự mà, để chứng lấy hiện thực, thụ nghĩa (cá thỏ). Pháp Hoa Văn Cú quyển 1 nói “Hoặc kín nhiệm (mật), hoặc rõ ràng (hiển) hay là quyền, hay là thực, đều vì Phật đạo mà làm thuyên đề”. Luận Khởi Tín, Nghĩa Ký Tự nói “Chân tâm vắng rỗng, dứt nói năng nơi thuyên đề”. Sách Trang Tử nói “Đắc ngư vong thuyên” đặng cá quên nơm.

 76. Tông thú. Tông: chủ, tức tông yếu. Thú: đến, tức chỉ thú. Nghĩa là cái chỉ thú chủ yếu của các kinh sở thuyết.

 77. Trưởng dưỡng Thánh thai: Các vị Bồ -tát đương tu chứng ở các ngôi tam HiềnThập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, đều gọi là đương trưởng dưỡng Thánh thai. Bởi vì, lấy tự chủng làm nhân, thiện hữu làm duyên, nghe chánh pháptu tập trưởng dưỡng, đến chừng tiến lên bực Sơ địa Bồ -tát mà thấy đạo, là được sanh làm con chính thức trong nhà Phật. Kinh Nhân Vương nói “Thế là Bồ -tát bắt đầu trưởng dưỡng cái tâm (Phật tánh) gọi là Thánh thai”. ông Lương Bí chú sớ rằng “Thai là tự chủng (Phật tánh) làm nhân, thiện hữu làm duyên, nghe thanh tịnh chánh pháp rồi là tu tập, là trưởng dưỡng, bậc Sơ địa thấy đạo (tự thấy được Phật tánh), đản sanh vào Phật gia”.

 78. Tân lương: Cầu bè để qua sông bến. Dùng để ví dụ cái Đạo đế. Trí Độ Luận 11 nói “Niết -bàn chi tân lương”. Tân: bến, là chỗ để tế độ qua, như quan tân, tân lương, đều là chỗ yếu địa giao thông. Lương: cầu, với sự vật mà chỗ ách yếu, gọi là tân lương, nghĩa là như kiều lương để nhờ tế độ qua vậy.

 79. Nhị nghiêm: 1-Trí huệ trang nghiêm: Nghiên cứu trí huệ mà làm cho cái trí được trang nghiêm. 2-Phước đức trang nghiêm: Chứa phước đức mà làm cho cái thân được trang nghiêm. Trong Lục độ, tu năm độ trước, là phước đức trang nghiêm; tu trí huệ độtrí huệ trang nghiêm. Kinh Niết Bàn 27 nói “Hai món trang nghiêm, một là trí huệ, hai là phước đức. Nếu Bồ -tát, tu trọn đủ hai món trang nghiêm như thế, thì thấy được Phật tánh”. Duy Thức Thuật Ký rốt cuốn 7 nói “Thiện tư lương giả, phước trí nhị nghiêm”.

 80. Pháp khí: Chữ Khí ở đây nghĩa là tài năng, vì nhân cái tài năng có thể sử dụng được; nghĩa là độ lượng, là khí trọng. Người mà xiết hành được Phật đạo, gọi là pháp khí. Kinh Pháp Hoa phẩm Đề -bà-đạt-đa nói “Nữ nhân cấu uế phi thị pháp khí”. Sách San Đường Tứ Khảo nói “ông Huệ Khả phụng sự Tổ Đạt -ma đã lâu chẳng được nghe lời dạy bảo, ông chặt cánh tay cầu pháp. Tổ sư biết là pháp khí, trao y bát, làm Đệ nhị Tổ sư” (nước Tàu).

 81. Ngàn tầm: Một tầm là tám thước.

 82. Thanh Lương quốc sư: Họ là Hạ Hầu Thị, pháp húy là Trừng Quán, xuất thân huyện Cối Kê, tỉnh Chiết Giang. Ngài tạo bộ Hoa Nghiêm Đại Sớ. Đời Đường, vua Đức Tôn làm lễ khánh tiết đản sanh, vời Ngài vào nội điện đối đáp, Ngài dùng diệu pháp thanh lương được lòng vua, thành thử nhà vua phong tặng là Thanh Lương Quốc Sư. Vua Hiến Tôn hỏi ý chỉ kinh Hoa Nghiêm, thoạt nhiên hữu sở đắc, lại gia hiệu là Đại Thống Thanh Lương Quốc Sư. Trải qua chín triều, làm thầy bảy vua. Chín triều Là Huyền Tôn, Túc Tôn, Đại Tôn, Đức Tôn, Thuận Tôn, Hiến Tôn, Mục Tôn, Kính Tôn, Văn Tôn. Bảy vua Là từ Đại Tôn nhẫn xuống.

 83. Mười điều luật: 1-Cái thân chẳng tổn giảm dung biểu (uy nghi) của Sa -môn, 2-Tâm chẳng trái với luật chế của Như Lai, 3-Ngồi chẳng sái lối trực cảnh của pháp giới, 4-Tánh chẳng nhiễm với cảnh tình si, 5-Chơn chẳng đi trên bụi trần của Ni tự, 6-Sườn chẳng chạm đến cái giường của cư sĩ, 7-Mắt chẳng ngó đến cái vẻ đẹp phi lễ nghi, 8-Lưỡi chẳng nếm đến món ăn quá giờ ngọ, 9-Tay chẳng rời hột chuỗi Bồ -ñeà, 10-Ngủ chẳng lìa bên y bát.

 84. Tập nhân: Như tập tham dục thì, cái lòng tham dục càng ngày càng tăng trưởng. Cựu dịch là Tập nhân. Tân dịchĐồng loại nhân, tập là cái hơi dư thừa của phiền não, nên gọi là Tập, cũng gọi là Tập khí. Tân dịch Đẳng lưu quả. Cựu dịch là Tập quả. Trí Độ Luận gọi là Tập nhân tập quả. Tập nghĩa là tập tục (hằng hằng tiếp tục), tập tục với cái niệm thiện trước mà, phát sanh cái thiện của niệm sau. Nhẫn đến, tập tục với cái vô ký của niệm trướcsanh khởi cái vô ký của niệm sau. Trước là tập nhân, sau là tập quả. Tập khí: Với vọng hoặc của Đại thừa, phân làm ba thứ là hiện hành, chủng tửtập khí. Tập khí là như đã dẹp rồi cái hiện hành của vọng hoặc, đã di rồi cái chủng tử của vọng hoặc, mà còn có cái phần hơi hám của vọng hoặc, nó hiện cái tướng vọng hoặc ra, gọi là Tập khí. Đây, ngài Xá -lợi-Phất đã đoạn hết cái chủng tử của sân hoặc rồi mà, bị Bà -la-môn xin tròng con mắt lại ném xuống đất chà đạp, thế làm động đến tâm của ông, ông nổi hơi giận lên, đó là cái bằng chứng rằng tập khí của sân hoặc hãy còn. Với cái tập khí, các Thánh Thanh văn còn hoàn toàn chưa đoạn; Duyên giác chỉ mới hạn chế được phần nào thôi; duy có Phật là hoàn toàn đoạn hết. Như Xá -lợi-Phất ôm con chim vào lòng mà nó kêu la sợ hãi, đó là vì cái tập khí sân sát hãy còn; Phật ôm nó, nó đã chẳng la mà lại còn cạ kề vào mình Phật, đó là bằng chứng Phật đã hoàn toàn sạch hết cái tập khí sân sát, nên chim không sợ không kêu. Những người đã trường trai diệt dục, bạch nghiệp chân tu, mà kiến sắc còn động tâm, đó là cái tập khí của dâm dục hoặc hãy còn; kẻ đã xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo rồi, mà hễ nghe thấy danh lợi cũng nổi lên cái quan niệm ham vui, đó là cái tập khí của tham vọng hãy còn… Thế, biết rằng tập nhân là cái nhân của hoặc tập vẫn còn nguyên vẹn; tập khí là đã hết tập nhân mà chỉ còn cái hơi hám. Tỷ như dầu thơm hay hôi trong ve đã hết, nhưng chỉ còn cái hơi (tập khí).

 85. Mà ở đây: Do vì ở đây là khoa văn “thị giáo”, giáo là giáo thừa, bằng chứng là trên kia nói “Nhược hữu trung lưu chi sĩ, vị năng đốn siêu, thả ư giáo pháp lưu tâm, ôn tầm bối diệp” đấy. Thành thử phải chuyên bàn về giáo là cấp hơn mà, giới phải huỡn chớ sao.

 86. Quả Thiện Thệ: Tiếng Phạm là Sugata (Tu-già-ñaø) dịch là Thiện Thệ, lại dịch là Hảo Khứ, là một trong mười hiệu của chư Phật. Hiệu thứ nhứt là Như Lai, hiệu thứ năm là Thiện Thệ. Như Lai Là nương nơi đạo như thực mà thiện lai cõi Ta -bà. Thiện Thệ Là như thực đi tới bỉ ngạn, chẳng trở lại chìm vào biển sanh tử. Dùng hai danh từ đó, để rõ cái đức vãng lai đều tự tại. Trí Độ Luận 2 nói “Phật lấy nhứt thế trí làm đại xa, bát chánh đạo đi đến Niết -bàn, ấy tên Hảo Khứ”. Đại thừa nghĩa chương nói “Rằng thiện thệ đó, là do nơi đức nghĩa để lập cái danh. Thiện là hảo. Thệ là khứ. Như Lai hảo khứ nên gọi là Thiện Thệ”.

 87. Trượng phu: Người mà thân lực dũng kiện, có chí dũng tiến chánh đạo, tu hành chẳng lui sụt. Như nói “Thuấn hà nhân, ngã hà nhân, hữu vi tối nhược thị, nghi kiến hiền nhi tư tề”. Lại, Trượng phu là đàn ông, tiếng thông xưng của nam tử. Sách Mạnh Tử nói “Kia trượng phu, ta cũng trượng phu”. Lại, vợ gọi chồng là trượng phu.

 88. Ngôi chưa kiến đạo. Đạo: là đạo lộ, tức đạo lộ của học giả tiến thủ. Kiến là quán kiến cái lý chân đế. Ngôi kiến đạo là ngôi ban sơ mới phát sanh cái trí chân vô lậu, quán kiến lý chân đế, để dứt tất cả kiến hoặc. ở bên Thanh văn thừa, là ngôi Dự sau Thế đệ nhứt pháp; ở bên Bồ -tát thừa, là ngôi nhập tâm của Sơ địa, đều là ngôi kiến đạo. Mà ở đây gọi ngôi chưa kiến đạo, tức là hạng tu mà chưa tiến lên Dự lưu hướng, chưa tiến lên nhập tâm của Sơ địa.

 89. Chẳng do ai khác: Tự chính mình quyết đoạn cái tánh ươn hèn, cố gắng tiến thủ lấy, như nói “Hữu chí sự cánh thành” có chí cố gắng thì rốt rồi sự gì cũng nên. Tỷ như mình ăn mới no được bụng mình, chứ mượn cái lỗ mũi của kẻ khác để thở hơi của mình không thể được.

 90. Các trần: Là năm trần, tức sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vì năm món ấy nó hay làm ô nhiễm chân tánh, nên gọi là trần, như bụi trần ai bám dính vào nơi thân thể, đồ vật trong nhà. Kinh Phổ Hiền Quán nói “Do đắm sắc nên yêu các trần”.

 91. Nguyên: Suy nguyên, là xét cho tận đến gốc, tìm cho rõ cái cớ sở dĩ phải như thế, như nói “nguyên thỉ yếu chung”.

 92. Với nghĩa nhớ cho sâu: Là tinh nghĩa đã thâm nhập vào tinh thần. Sách lệ: Cố gắng, là như thiết như tha, như trác như ma, đã tinh mà còn cầu cho tinh nữa, nên nói là tiến tu.

 93. Gác cao tủ kín: Chẳng gia công ôn lại bài vở cũ thì làm gì có ích lợi biết thêm nghĩa lý mới?

 94. Tứ ma: 1-Ngũ ấm ma tân dịchngũ uẩn ma, chữ ma có nghĩa là não hại, chướng nạn, vì năm ấm là sắc, thụ, tưởng, hành, thức nên ưa sanh ra mỗi mỗi điều khổ não, làm chướng ngại chánh đạo. 2-Phiền não ma: Các điều phiền não là tham, sân, si… nó hay làm não hại thân tâm, chướng ngại chánh đạo. 3-Tử ma: Cái thọ mạng của người hữu hạn, trở ngại việc tu đạo vì cướp hại huệ mạng. 4-Thiên ma: Là vị Tha Hóa Tự Tại thiên tử ma, tân dịchTự Tại thiên ma, tức là vị ma vương ở từng trời thứ sáu của dục giới hay làm não hại những người làm thiện sự, tu chánh đạo. Trí Độ Luận nói “Chỉ có tử ma hay cướp huệ mạng, còn ba ma kia chỉ là phụ thuộc, vì cũng có thể làm nhân duyên đoạt mạng. Nghĩa Lâm Chương nói “Ma -la dịch là nhiễu loạn chướng ngại, phá hoại nhiễu loạn thân tâm, chướng tế thiện pháp, phá hoại thắng sự. Hỏi: Thế nào gọi là ma? Đáp: Đoạt huệ mạng, hoại đạo pháp, hoại công đức thiện bổn, cho nên gọi là ma”. Phương pháp trị ma: Hoặc niệm tam quy ngũ giới, hoặc tụng Bát -nhã tâm kinh, hoặc tụng Bồ -tát giới bổn, hoặc niệm Phật để trị đó.

 95. Thực khó trốn tránh: Như nói: Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, cao phi viễn tẩu dã nan tàng (chữ Dã nó thế cho chữ Diệc là cũng).

 96. Tiếng hòa vang thuận: Tỷ như tiếng thanh lấy vô dĩa hát máy cũng thanh, tiếng trược lấy vô súc thinh cơ cũng trược.

 97. Hình thẳng bóng ngay: Ví tợ gương mặt người tốt xấu thế nào, chụp ra bóng hình cũng thế ấy.

 98. Nhân quả rõ ràng: Như kinh Lăng Già nói “Chủng qua đắc qua, chủng lý đắc lý” nghĩa là trồng dưa ra dưa, tỉa mận đặng mận, vì cái nhân là dưa thì, kết quả cũng là trái dưa, chứ không bao giờ ra trái bí được. Là nói “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác…”

 99. Mã mạch: Lúa mạch để nuôi ngựa. Đức Phật thụ lời thỉnh của vua A -kỳ-đạt Bà -la-môn mời về an cư một hạ ba tháng tại nước Tỳ -la. Bấy giờ Phật và năm trăm thầy Tỳ -kheo, cùng phải ăn lúa ngựa gần ba tháng, của người ở từ nước Ba -la-nại, lùa ngựa cả bầy cho đi ăn cỏ đến, thấy Phật và chúng tăng bị đói mà không dám đi khất thực, vì bị thụ thỉnh ở hạ ba tháng của nhà vua. Nhân vì nhà vua bị ma chướng ám ảnh làm mê hoặc nên vua vào cung đắm mê ngũ dục lạc với cung phi mỹ nữ, truyền người giữ cửa ba tháng không cho tâu nghe việc trong ngoài, thành thử quên cả sự thỉnh ở hạ cúng dường. Đấy là một trong mười nạn của Phật trả dư báo. Kinh Lăng Nghiêm cuốn 6 nói “Nếu chẳng vì chút nhân nhỏ xả thân đó, dẫu có thành bực vô vi đi nữa, ắt phải trở lại sanh làm người, để đền nợ đời trước, chính như ta (Phật) phải ăn lúa ngựa của người xay bột làm bánh hộ cho”. Phật bảo Xá -lợi-phất rằng “Đời quá khứ, có Phật hiệu là Tỳ -diệp-la Như Lai; trong thành Ma -bạt, có vua tên là Bàn -đầu, thỉnh Phậtchúng tăng để cúng dường. Bấy giờ có người dòng Bà -la-môn, tên là Nhân Đề -kỳ-lợi là bực thông minh nhứt đương thời, có năm trăm đồ đệ. Thấy vua thỉnh Phật chúng tăng cúng dường, sanh tâm ganh ghét, nói với năm trăm đệ tử rằng “Với bọn Sa -môn trọc đầu kia chỉ nên cho chúng nó ăn lúa ngựa đủ rồi, chứ trai soạn mỹ vị chi cho uổng!”. Đấy, Xá-lợi-phất! Hồi đó Nhân Đề -kỳ-lợi, tức nay là ta vậy, năm trăm đệ tử kia, tức nay là năm trăm A -la-hán đây vậy. Do vì nhân duyên xưa như thế, ta và các ngươi, đã trải qua tam ác đạo, chịu vô lượng tội khổ, vì đố Hiền tật năng, hủy báng Phật Thánh, thành thử nay dù là đã chứng quả Phật và A -la-hán mà, cũng còn dư ương chưa hết…

 100. Kim thương: Cây giáo mũi nhọn. Kinh Hưng Khởi Hạnh chép: Phật ở tại Trúc Lâm tinh xá, bấy giờ, có một cây giáo mũi nhọn hiện đứng trước mặt Phật, Phật biết cái quả báo đời trước, nay phải chịu trả… Phật duỗi chân hữu ra, cây giáo nhọn đâm vào chơn rồi nó huốt mất xuống đất! Đại chúng thỉnh nói nhân trước thế nào, mà nay quả báo như thế? Phật dạy chuyện: Thuở đời quá khứ, bấy giờ ta làm một chủ buôn, có giết một người ác tặc, để cứu một đoàn người buôn, vì người ấy mưu toan đến tối hắn giết hết cả bọn buôn để lấy tài sản, nên ta “kiến cơ nhi tác” hạ thủ trước. Thế, mặc dầunghĩa hiệp, nhưng nay đã thành Phật, cũng phải trả dư ương.

 101. Xà thích: Nọc độc của rắn cắn chết. Sự tích rắn cắn vị La -hán chết, xuất ở kinh Đại Khổng Tước, chuyện dài, đây chẳng chép hết.

 102. Ngạ vong: Chết đói. Kinh La Tuần chép rằng: Bấy giờ Phật ở tại núi Kê -túc. Có dòng Bà -la-môn sanh một đứa con trai, rước thầy tướng về xem, ông coi tướng rồi bảo “Bé này chẳng có tướng tốt, nên tên là A -bảo”. Tuy cha mẹ phải nuôi, nhưng chẳng cần thiết cưng thương! Đến năm bé đã mười hai tuổi, song thân đuổi, đi đâu thì đi. Từ đấy phải đi khất cái, lần hồi đi đến vườn Kỳ Hoàn, Phật thấy thương vì cùng khổ, độ cho xuất gia, đặt pháp danh là La -tuần-du. Bấy giờ trong ngũ bộ Tăng, phân đệ đi hóa trai, mà hễ La -tuần-du gia nhập vào bộ tăng nào thì, bữa đó các Tỳ -kheo đều mang bình bát không về chùa, ngày ấy phải nhịn đói cả, vì đến nhà nào, chủ nhà cũng đi đâu vắng cả. Phật bảo các Tỳ -kheo trong các bộ Tăng khác, chia cơm cho bộ Tăng có La -tuần-du gia nhập đi khất ấy ăn, như thế đã nhiều lần. Mục -kiền-liên nghĩ rằng: La-tuần-du tự đi khất chẳng có cơm thì bát không về đã đành, vì là nghiệp báo của ông, chứ các Tỳ -kheo trong Tăng bộ ấy, cớ sao lại cũng đều là bát không mà về, nếu cùng đi với ông, ta còn có chỗ khất được. Phật biết cái quan niệm ấy, bữa nọ, bảo hai ông Xá -lợi-phất và Mục -kiền-liên, cùng đi với La -tuần-du làm một bộ. Xá -lợi-phất bảo La -tuần-du rằng “Ngày mai nhà trưởng giả mời ta thụ trai, ông hãy theo ta dự trai”. Ba người cùng đi đến giữa đường, gặp vợ chồng trưởng giả, xin hẹn ngày khác, vì nay có việc cần phải đi, không rảnh làm trai phẩm. Ba người cùng đi mấy nhà khác để khất mà ai cũng đi vắng đâu cả. Đồng về đến chỗ Phật bạch rằng “Chúng con hôm nay đói lắm, vì cái biệt nghiệp của La -tuần-du mà, ảnh hưởng lây đến chúng con, cũng thành ra cộng nghiệp vì đồng đi với ông. Phật đem cơm còn dư trong bát, cho Mục -kiền-liên và Xá -lợi-phất ăn, cũng không hết; bạch Phật cho La -tuần-du ăn. Phật dạy “Ta chẳng tiếc chi, mà e ông ấy không thể ăn được, vì cái nghiệp của ông đã đến thời rồi!”. Hai ông đem cơm cho La -tuần-du ăn, nhưng than ôi! Vừa sắp ăn bát cơm dư ấy rơi lút sâu dưới đất! Xá-lợi-phất dùng đạo lực kéo lên đưa lại cho La -tuần-du, thì La-tuần-du lại làm sẩy tay, đánh úp bát cơm xuống, mỗi hột rải rơi cùng dưới nước. Bấy giờ, La-tuần-du ngồi định ý nghĩ rằng: Ta cùng các Tỳ -kheo khất thực, đều mang bát không về, rất đỗi Phật cho cơm dư mà cũng không ăn được, ấy là bởi nghiệp báo của ta, khiến nay phải trả! ông xét nghĩ như thế, kiết sử giải hoặc cấu trừ, đắc A -la-hán quả, phải ăn đất rồi nhập Niết -bàn. Các Tỳ -kheo bạch Phật xin hỏi túc nhân. Phật bảo “Thuở Phật Duy --- tiền thân ông là kẻ phàm phu, ôm lòng tật đố, chẳng ưa bố thí, lại còn khinh mạn vị sa -môn khất thực, vì lấy đất để vào bình bát của vị sa -môn ấy; sa-môn thấy biết, nhưng lấy làm thương, là cũng chú nguyện rằng “Ngươi là bị tánh ngu mạn sai khiến, khinh động đến ta, ta cũng hỷ xả, cầu cho ngươi sớm độ thoát”. Bởi thế, chịu nhiều kiếp tội khổ, vì sanh ra đời nào, cũng đều bị khổ đói khát, xin ăn cũng chẳng được! Đời nay gặp Phật, tội hết báo đền, còn phải ăn đất rồi mới nhập Niết -bàn. Đấy, Xá-lợi-phất và Mục -kiền-liên phải biết như thế. Và những ai ngu si, hành tội ác nghịch, xem đó làm nghiệm. Lại, ông Lê Quân Chi tỳ -kheo, đã đắc quả A -la-hán, bị đói đến đỗi phải ăn cát rồi chết…

 103. Biết xa hiểu gần: Như nói “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thụ giả thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị”.

 104. Chín kiết: chín gút buộc. Là gút buộc chúng sanh khiến cho chẳng đặng giải thoát ra khỏi phiền não sanh tử, có chín thứ: 1-ái: yêu. 2-Khueồ: có ý oán giận, là giận người chẳng theo ý mình. 3-Mạn: lờn, là ngã mạn, khinh mạn. 4-Vô minh kieỏt: vì nó hay trói buộc người, không cho ra khỏi tam giới, nên gọi là kiết. Vô minh: là cái lòng ám độn không chiếu rõ sáng suốt được các pháp và sự lý, tức là tên khác của cái si. 5-Tam kiết: a- Kiến kiết: tức là ngã kiến (thân kiến). b- Giới thủ kiết, là hành tà giới. c - Nghi kiết: là đối với chánh lý lòng nghi ngờ. Trong kiến hoặc ba kiết đây lỗi nó rất nặng, nên lấy ba kiết đây làm tiếng gọi chung cho kiến hoặc, người mà đoạn được tam kiết ấy là chứng quả Dự lưu. Kiết là hệ phược, tên khác của phiền não. 6/ Nhị thủ kiết: a- Kiến thủ, là với pháp ngũ uẩn mê vọng chấp trước lấy ngã kiến, biên kiến… b - Giới thủ, là như cẩu giới, ngưu giới của ngoại đạo, họ giữ lấy giới cấm phi lý ấy lại chấp trước để làm giới tu hành. 7-Biên kiến là với nhị biên như đoạn và thường mà chấp một bên nên gọi là biên kiến. Kiến: thấy, là nghĩ lo tìm xét gẫm rõ để quyết chọn sự lý, nên gọi là kiến, mà nó thông cả tà và chánh. 8-Tật: ganh, như đố hiền tật năng. Là thấy kẻ khác hơn mình mà ghét ganh. 9-Xan: rít, là bỏn sẻn.

 105. Mười sử: Lại gọi thập đại hoặc. Cũng gọi thập căn bản phiền não. Trong đây phân hai món: Lợi và độn. Năm món: Tham, sân, si, mạn và nghi, gọi là Ngũ độn sử. Năm món: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, và giới cấm thủ kiến, gọi là Ngũ lợi sử. Bốn sử: Tham sân si mạn, đều là mê chấp nơi sự vật của thế gian mà sanh ra vọng hoặc, tánh nó trì độn, nên gọi là độn sử; còn nghi sử là với chân lý của tứ đế, khởi ra cái hoặc nghi ngờ, tánh nó do dự chẳng quyết, nên cũng liệt vào độn sử. Lợi sửmê hoặc đối với chân lý, tánh nó nhanh lẹ bén sướt, nên gọi là lợi. Sử là sai khiến, hách dịch.

 106. Tu đoạn: Kinh Tạp A Hàm cuốn 31 chép “Năng tu làm chánh đạo, khiến cho chánh đạo thường sanh trưởng, để đoạn trừ các điều ác, nên gọi là tu đoạn.”

 107. Quá hoạn: Kinh Hoa Nghiêm Đại Sớ Sao 27 nói “1-Tham dục về tiền tài. 2-Tham dục về mỹ sắc. 3-Tham dục về cao lương mỹ vị. 4-Tham dục về danh vọng. 5/ Tham dục về ngủ nghỉ sang trọng”. Năm thứ ấy hay phát khởi lòng tham dục của người, nên nói là dục. Trí Độ Luận 17 nói “Thương thay cho chúng sanh, vì thường bị ngũ dục làm khổ nãochúng sanh cứ tìm cầu mãi chẳng thôi, với ngũ dục ấy, hể người ta có đắc đến lại càng hăng lên, tỷ như bịnh lác hơ vào lửa… ngũ dục hại người, như đạp nhằm con rắn độc! Người đời quá ham mê, đến chết cũng chẳng bỏ, làm cho đời sau chịu vô lượng khổ, nên nói là “quá hoạn của ngũ dục”.

 108. Pháp lữ: Là đồ lữ tôn trọng giáo pháp. Pháp lữ cũng như tăng lữ. Lương Vũ Đế Văn nói “Hằng sa chúng sanh, giai vi pháp lữ”.

 109. Vẫn ở Hoa Tạng: Tham Huyền Ký cuốn 3 chép “Hoa là liên hoa, Tạng là hàm nhiếp, là xuất sanh, là đủ đức. Thông luận có hai nghĩa: 1-Do cõi đây, bên trong hàm nhiếp tất cả nhân pháp các pháp môn. 2-Hàm nhiếp tất cả các cõi”. Gọi đủ là Liên Hoa Tạng thế giới, tức cõi tịnh độ của đức Tỳ -lô-xá-na Phật là chân thân của Thích -ca Như Lai ở. Vị trí rốt dưới là phong luân, trên phong luânhương thủy hải, giữa hương thủy hải, mọc lên đại liên hoa, trong liên hoa đây bao tàng vi trần số thế giới, nên gọi là Liên Hoa Tạng thế giới, gọi tắt là Hoa tạng thế giới, là tịnh độ của Báo thân Phật. Chí như, Cực Lạc Quốc trong Quán Kinh nói đó, là Hoa Tạng thế giới của Phật A -di-ñaø; kinh Đại Nhật nói Thai Tạng giới, kinh Mật Nghiêm nói Mật Nghiêm Quốc đều là Hoa Tạng thế giới của đức Đại Nhật Như Lai.

 110. Đồng làm quyến thuộc với pháp vương: Đối với các pháp Phật vẫn tự tại, lại còn chuyển biến các pháp, nên xưng là pháp vương. Tỷ như Đế vương (tự tại) tự tại trên các quan, dân (các pháp), lại còn chuyên khiến quần thần, quốc dân. Kinh Pháp Hoa phẩm Thí Dụ nói “Ngã vi pháp vương, ư pháp tự tại””.

 Pháp chủ, kinh Thắng Mạng Bửu Khốt nói “Phật phát minh có các pháp (tám vạn bốn ngàn pháp), nên người đời tôn xưng là pháp chủ”, là Phật làm chủ các pháp, vì phát minh và dạy.

 Pháp thần: Phật là pháp vương, nên Bồ -tát xưng là pháp thần. An Lạc Tập nói “Luận Đại Trí Độ có ba lần giải thích, lần thứ nhất Phật là Vô thượng pháp vương, Bồ-tát làm pháp thần”.

 Pháp huynh: Đồng thụ giáo một thầy, người sau gọi người trước làm pháp huynh; vì Phật pháp tu hành mà đến với Phật, hay là theo thầy để làm đệ tử, nên gọi là pháp đệ nghĩa là học ở sau thầy là đệ, hiểu do thầy sanh là tử.

 Pháp quyến: Tượng Khí Tiên cuốn 5 chép “Danh sách trong Thiền lâm, quyến thuộc trong pháp Phật, gọi là pháp quyến, hoặc xưng hô người đồng đạopháp quyến.

 Pháp chúng: Chúng tăng thuận theo Phật pháp gọi là pháp chúng, tức danh từ gọi chung cả năm chúng xuất gia. Kinh Viên Giác nói “Nguyện vì tất cả pháp chúng, để trùng tuyên lại cái tánh viên mãn giác của pháp vương”.

 Thế nên nói: Đồng làm quyến thuộc với pháp vương, tức như câu “Sanh sanh dữ Phật vi quyến thuộc”. Còn câu “Thế thế Bồ -đề kết thiện duyên” Đời đời cùng kết duyên lành với đạo Bồ -đề. Là như kinh Hoa Nghiêm nói “Chư phương tiện làm cha, Ba-la-mật là mẹ, Bát-nhã vi thê, Bồ-tát vi tử…”.

 111. Minh viết. Lời ghi rằng Làm ra thành bài văn, khắc vào món đồ gì đó, để: hoặc là tự cảnh tỉnh lấy mình, hoặc xưng thuật công đức, khiến có thể ghi danh tính đến lâu đời mà chẳng quên. Đời xưa, phần nhiều khắc nơi chung, đảnh và món đồ nào đó mà ta cần dùng hằng ngày, như vua Thành Thang khắc vào cái bồn tắm hay cái thau rửa mặt rằng “Cẩu nhật tân, hựu nhật tân, nhật nhật tân”. Đến đời Tần, đời Hán về sau, hoặc khắc nơi bia đá, bản đồng…

 112. Xuyên tạc: Xoi đục, là nói đối với nghĩa lý mà chỗ nào bất thông, lại cố gượng tìm cho ra mặt thông, để lấy le thông thạo, gọi là xuyên tạc. Hán Thư chép “Lấy ý xuyên tạc, đều dùng tất cả”. Tống Sử Vương An Thạch truyện chép “Tuổi già ở đất Kim Lăng, lại làm bài nói, phần nhiều xuyên tạc quơ quào rộng giáp, lưu nhập theo các sáng của Phật, Lão”. Như các sách Quảng Sự Loại, ấu Học Tầm Nguyên, Minh Tâm Bửu Giám…

 113. Làm trò hoán thuật. Hoán (huyễn, ảo): dối trá, hư mà phi thực, đem cái giả đánh tráo cái chân gọi là hoán, như hoán tượng, hoán thuật nghĩa là, với vật khá thấy được mà phi thực có, gọi là hoán tượng như không khí nơi bờ biển và bãi sa mạc nó huyễn hóa nên chợt thấy như thần lâu (lầu đài do hơi con ốc thở lên), hải thị (chợ biển). Hoán thuật: trò kỹ thuật làm cách biến hóa, như nuốt dao, hà lửa, …

 114. Trường dạ: Đêm dài là nói, cái cảnh tối tăm không có ánh sáng mặt nhật, nên tỷ như giữa ban đêm tháng mười dài dẵng. ông Ninh Thích cho trâu ăn ca rằng “Nam san xán, bạch thạch đán, trường dạ man man hà thời đản”. Lại, trường dạ là việc mai táng, chôn cất. Sách Tả Truyện chép “Duy thị xuân thu chuân tịch chi sự”. Chú: chuân là dày, tịch là đêm, tức là trường dạ, thi của Tô Thức có câu “Nguyện trúc trường dạ thất” (Xin đắp cái thất trường dạ), tức là cái phần mộ vậy. ở đây nói “Ngủ mãi trường dạ” tức là trường miên là cái chết. Sách Thái Bình Quảng Ký chép “ông Trịnh Dao đi qua sở gò mả, dừng ngựa lại mà ngâm… trong nghĩa trủng có người tiếp ngâm rằng “Hạ hữu bách niên nhân, trường miên bất tri hiểu (Dưới có người trăm năm ngủ mãi chẳng biết sáng).”

 115. ái kiến: yêu, thấy. ái và kiến là hai món phiền não, cái vọng hoặc mê về sự gọi là ái, cái vọng hoặc mê về lý gọi là kiến. Như tham dục sân khuể.. là cái hoặc (lầm) mê sự, ngã kiến tà kiến… là cái hoặc mê lý. ái là tư hoặc, kiến là kiến hoặc. Kinh Lăng Nghiêm cuốn 6 nói “Khiến cho chúng sanh sa xuống hầm ái kiến, mất đường Bồ -đề”. Trí Độ Luận cuốn 7 nói “Có hai thứ phiền não là ái và kiến”.

 116. Không hoa: hoa giữa hư không. Người mà con mắt bị bịnh tự ngó thấy trên không trung có những hoa đốm. Nguyên trên không đâu có hoa, chỉ vì sở kiến của người bịnh mắt, để thí tỷ cái vọng tâm kế chấp các tướng (hiện tượng) không thực có. Kinh Viên Giác nói “Vọng nhận tứ đại làm tự thân, bóng duyên sáu trần làm tâm tướng của mình. Ví như người bịnh mắt tự thấy hoa tướng trên không và mặt nguyệt thứ hai” Trùng luân.

 117. Đệ nhị nguyệt: Người mà con mắt bịnh, như vảy cá hay hột cườm, tự thấy có mặt nguyệt thứ hai (trùng luân), để ví sự vật tợ có mà phi có. Như kinh Viên Giác nói đã dẫn trên. Kinh Lăng Nghiêm cuốn hai nói “Cái thấy đó chẳng phải là cái thấy của diệu tinh minh tâm, cái thấy đó tỷ như đệ nhị nguyệt chớ chẳng phải là cái bóng của mặt nguyệt”.

 118. Chiêm bao: ý thức có bốn phần hành tướng, mà chiêm baohành tướng của một trong bốn phần, gọi là “mộng câu ý thức” Diễn Mật Sao cuốn 4 nói rằng “Chiêm bao ấy, là trong giấc ngủ tâm thần (ý thức) nó đi chơi. Người phàm nằm ngủ thần thức bất định”. Có bốn cách mộng, Luật Thiện Kiến cuốn 12 nói “1-Do tứ đại không điều hòa mà sanh ra mộng, hoặc thấy sơn băng, tự thân bay bổng lên hư không, thấy hổ, sói, kẻ cướp giặc nó rượt theo. Đấy là vì địa thủy hỏa phong không điều hòa, tâm thần tán dật. 2-Nhân thấy trước mà nằm mộng sau, tùy ban ngày thấy chi, tối mộng thấy nấy.
3-Mộng thấy người trời là như người tu thiện thì người trời vì cảm mà hiện ra thiện mộng, để khiến cho tăng trưởng thiện căn; người mà tác ác thì người trời vì hiện ác mộng khiến cho sợ ác mà sanh thiện.
4-Tưởng mộng, người mà thường tư tưởng, phần nhiều hiện trong giấc mộng, hễ tưởng thiện sự thì hiện thiện mộng, ác thì trái lại”. Ai có mộng, ai không mộng? – Các Thánh nhân thế gian đều có nằm mộng; các Thánh xuất thế gian từ quả Dự lưu, đến A -la-hán, Độc giác cũng đều có mộng, duy có đức Thế Tôn là vô mộng, sở dĩ là sao? – Vì mộng là nó tợ hồ điên đảo mà đối với tất cả điên đảo, tập khí Phật đều đã đoạn sạch rồi nên không có mộng, vì với khi thức (giác) tâm vươngtâm sở pháp đều chẳng có điên đảo, khi ngủ (Chuyển thụy miênnhập định, gọi là khi ngủ là cái ngủ của thiền định, chớ chẳng phải như cái ngủ của phiền não như chúng sanh, vì còn túy sanh mộng tử) cũng như thế, vì dẹp hết thụy ma, và chuyển ý thức thành Diệu quan sát trí rồi.

 119. Ngưu hoại ách: Con trâu phá hư cái ách. Có chỗ nói như ngưu hoại xa, nghĩa là con trâu nó tự nghĩ vì bị kéo cái cộ lúựa mà phải khổ nên nó làm cái cộ cho hư đi, để được khỏi khổ, chứ có biết đâu, hễ phá cái cộ đi thì chủ nó tạo cái cộ khác. Tỷ như con người mà tự chán cái thân mình là khổ rồi mau mau tự hủy diệt cái thân đi, hầu để khỏi khổ, chứ có biết đâu, hễ cái thân đó tuy hoại diệt, thì cái nghiệp thức là tổng bảo chủ lại tạo ra cái thân khác nữa để tiếp tục thọ khổ nếu chưa minh tâm kiến tánh.

 120. Khí giới: quốc độ (thổ) là thế giới như khí vật của để sanh vào ở, nên nói là khí giới. Nghĩa nó đồng nhau với khí thế gian và khí thế giới. Tam Tạng Pháp Số cuốn 20 nói “Khí giới ấy, là thế giới hình nó như món đồ, khí giới tức là quốc thố (thổ, độ)”. Đọc chính là thố, đọc sai là thổ và độ. Khí thế gian: Quốc độ thế giới mà tất cả chúng sanh có thể cư xử được gọi là khí thế gian. Danh từ khí thế gian là đối với chúng sanh thế gian, hoặc hữu tình thế gian.

 121. Thảy đều tiêu tan: - Hỏi: Như Kinh nói “Một người phát chân qui nguyên thì mười phương thế giới thảy đều tiêu tan mất”. Thế, từ xưa Phật, Tổ nhiều người đã phát minh chân tâm qui nguyên kiến tánh mà hiện nay thế giới vẫn còn y nguyên đây là sao vậy? – Đáp: Vì ông cũng như chúng tôi chẳng hạn, đều chưa phát chân qui nguyên, tức còn đương mê chưa giác ngộ, sở dĩ thấy thế giới còn nguyên hiện. Tỷ như hai người đồng nằm trên giường, một đương ngủ mê, thấy nhà cửa nào bị hỏa hoạn, nào là bị thủy tai, thiên hạ đều bị thiên tai nhân họa, đói khát, sanh tử biệt, kêu khóc, rên la! mà một kia đã thức giấc, chả thấy gì cả. Nay dẫn kinh Lăng Nghiêm, Phật Tổ là người tiên giác, dạy bảo như thế, mà ông không tin, là vì ông còn mê mộng, tỷ như hai câu của Tổ Vân Thê nói “Nhập lõa hình chi quốc, tuyên thị uy nghi, đối sanh manh chi nhân chỉ trần hắc bạch”. ôi quốc dân lõa thể kia, họ đâu có tin uy nghi lễ phục là chi, bọn sanh manh chúng nào có thấy màu sắc trắng đen là gì! thực là hoài công chỉ trần tuyên thị cũng như Phật, Tổ nếu đối với ông…! Vì ông còn đương chấp pháp đấy mà!

 122. sanh không lão: Tức là như câu “Sanh vô ích vu thời tử vô văn vu hậu”.

 123. Khá tiếc: Đời nhà Tấn, ông Đào Khảng răn nhắc viên tướng sĩ rằng “Rất đỗi đức Thánh nhân Ngài còn tiếc từ tấc bóng, thì chúng ta là kẻ phàm phải tiếc từ phân bóng mới được, há nên giong chơi hoang say, mà đến đỗi để rồi sanh vô ích vu thời, tử vô văn vu hậu ư!? Có bài cổ thi:

Nhứt thốn quang âm nhứt thốn câm, 
Thốn câm nan mãi thốn quang âm 
Thốn câm thất khước du tầm mích 
Thất khước quang âm bất khả tầm

 Nghĩa là Tấc bóng như tấc vàng, tấc vàng khó mua được tấc bóng, tấc vàng dầu mất còn tìm đặng, bỏ mất tấc bóng chẳng khá tìm! Nên nói là khá tiếc!

 124. Công đức tài: Cũng gọi là thất Thánh tài, là bảy món của Thánh, vì bảy món ấy hay giúp cho chúng sanh thành Phật, nên gọi là Thánh. Thánh đây là vị Thánh ở ngôi kiến đạo về sau. Kinh Bửu Tích 42 nói “ 1-Tín (tín thụ chánh pháp). 2-Giới (trì giới luật) 3-Văn (năng nghe chánh pháp) 4-Tàm (phần mình biết có xấu) 5-Quí (về người có biết hổ thẹn) 6-Xả (xả lìa tất cả mà không tham nhiễm) 7-Huệ (trí huệ soi sáng sự lý). Các chúng sanh kia, chẳng giữ được của ấy, gọi là rất bần cùng”. Kinh Duy -Ma, phẩm Phật đạo nói “Giàu có bảy của báu, dạy trao để sanh lợi”. Kinh Báo ân nói “Người ta ở đời, họa hay phúc cũng đều từ nơi miệng mà ra, cần giữ gìn cái miệng hơn giữ mảnh hỏa! Vì mảnh hỏa chỉ đốt một đời, ác khẩu đốt đến mấy đời. Mảnh hỏa thiêu chỉ một đời, ác khẩu thiêu đến vô số đời! Mãnh hỏa đốt cháy của thế gian, ác khẩu đốt cháy của bậc Thánh! Khẩu thiệt là cái búa đẽo thân”!

 Hỏi: Mãnh hỏa đốt cháy thì phải, ác khẩu sao lại cũng đốt? Đáp: Như câu “Tâm hỏa, thiêu tận Bồ -đề chi chủng, cảnh phong hạo hạo, tận công đức chi lâm”. Sân hỏa xông lên cửa miệng, thốt lời độc ác…

 125. Tác gia: Là cái danh từ xưng hô người đại hữu cơ dụng bên Thiền tông. Bích Nham Nhị Tắc bình xướng nói “Ngài Triệu Châu là bực tác gia”. Bích Nham Nhị Thập Tắc trước ngữ nói “Tác gia tông sư”.

 126. Bồ đoàn. Bồ: cỏ lát. Đoàn: tròn tròn như hình hột xoài. Tức lấy cỏ lát dệt làm đồ ngồi, các nhà sư dùng để tọa thiền và quỳ lạy. Chiếc bồ đoàn và gậy tích là bực đại sư sử dụng, nếu gặp được bực cao Tăng tôn tượng thì, hạ mình xuống, để đem thân làm kẻ hầu hạ, nên nói “đem bồ đoàn máng lên cao”. Nghĩa là dẹp cái thể thức làm thầy đi, để làm trò.

 127. Bẻ dẹp cây gậy: ý nghĩa sử dụng, lược nói như trên. Kinh Tích Trượng nói: “Phật bảo Tỳ -kheo: Các sư phải cầm gậy tích, sở dĩ là sao? Các Phật ba đời, đều có cầm gậy; lại tên là trí trượng, vì để tỏ rõ cái đức của Thánh. Cũng tên là đức trượng, vì để hành gốc công đức, để biểu hiện của Thánh nhân, để ghi rõ của hiền sĩ, cái chánh tràng của đạo pháp.”

 128. Nam Nhạc: Đời Đường, ngài Hoài NhượngQuan âm viện. Nam Nhạc được đức Lục Tổ Huệ Năng truyền pháp cho. Kinh Pháp Bảo Đàn, đây là rằng thiền sư Hoài Nhượng, con nhà họ Đỗ, ở đất Kim Châu. Ban đầu yết kiến ngài Tung Sơn An Quốc sư, An chỉ qua Tào Khê tham vấn Lục Tổ. Sau khi được khế ngộ rồi, luôn mười lăm năm giữ hầu hạ đức Lục Tổ. Sau ở Nam Nhạc, năm Thiên Bửu tam niên, tịch tại đấy, thọ được 64 tuổi. Truyền pháp cho Mã Tổ Đạo Nhứt. Thiền đạo của Ngài rất thạnh hành ở Giang Tây. Được vua nhà Đường phong hiệu là Đại Huệ thiền sư, thấy ghi trong Cao Tăng Truyện cuốn 9.

 129. Kỉnh Sơn: Là quả núi ở phủ Lâm An, Hàng Châu, gọi là Hưng Thái Vạn Thọ Thiền Tự. Ngài Kỉnh Sơn Đạo Khâm thiền sư, pháp tự của Ngài là Huyền Tố. Ban đầu ở Kỉnh Sơn. Năm Đại Lịch thứ 3, vua Đường Đại Tông vời vào triều, nghe đạo rồi tặng hiệu là Quốc Nhứt. Từ giã về bổn sơn. Đến năm thứ 8 trung nguơn vua Đức Tông, Ngài tịch, thọ được 79 tuổi. Vua Đường tặng hiệu là Đại Giác thiền sư. Thấy ghi trong truyện Tống Cao Tăng cuốn 9, cũng là bực thờ thầy chí hiếu trọn đạo. Nên nói dẹp bồ đoàn, bẻ gậy tích như Nam Nhạc, Kỉnh Sơn…

 130. Kinh cức: Gai mây, là dây mây gai nhiều lắm, nó mọc trên rừng rất nhiều, người ta trồng làm hàng rào. Hoặc dùng làm roi là roi mây, hoặc bỏ vỏ gai lấy dây cần dùng buộc, cột, đương, móc. Kinh cước là dụ kẻ sàm giặc. Sở Từ nói “Kinh cước nhóm thành rừng”. Hoặc lâm ở vào cảnh khốn cùng cũng dụ là kinh cước. Kinh cước cũng như kinh trăng, ở đây nói “Các pháp bất thiện, tỷ là kinh cước, như nói “Kinh trăng hung thú” (gai gốc đầy hông). Như tỷ các pháp bất thiện là kinh cước.

 131. Ruộng bát thức: thức thứ 8 nó hay chứa đựng các hột giống thiện, bất thiện do bảy thức trước thấy, nghe, nghĩ làm đưa vào, để rồi huân sanh tử, hành ra những kết quả lành, dữ, khổ, vui. Lại nữa, thức thứ 8 nó chuyển sanh ra bảy thức trước, vì bảy thức trước khi người ta chết thì cái thức ấy đều quy tàng chủng tử vào thức thứ 8, khi người ta sắp sanh thì, thức thứ 8 nó chuyển sanh ra (tượng hình) bảy thức trước, nên gọi thức thứ 8 tỷ như ruộng, vì ruộng thì hay làm chỗ cho hạt giống sanh thực ra các cỏ cây lúa nếp…

 132. Con mắt huệ. Huệ: là cái tác dụng rành rẽ sự lý, quyết đoán những nghi niệm. Duy Thức Luận cuốn 9 nói “Huệ là nghĩa thế nào? Tánh của huệ là với cái cảnh sở quán nó hay chọn lựa, sự làm việc của nó là hay đoạn nghi ngờ. Là huệ nó hay quán xét những cảnh đắc, cảnh thất, cảnh phi đắc, phi thất, do có huệ xét tìm, để đặng quyết định”. Đại Thừa Nghĩa Chương cuốn 20 nói “Chân tâm thể sáng tự tánh nó không mờ, nên tên nó là huệ”. Huệ mục là nhãn mụctrí huệ. Kinh Viên Giác nói “Mắt huệ thanh tịnh, vì soi sáng suốt, không chi làm huyễn ế”. Ký Quy Truyện cuốn 2 nói “Đã không mắt huệ, làm gì thấy được thị phi”. Trí và huệ dù là kêu chung, song, hai ấy thực nó tương đối thông suốt được sự tướng của pháp hữu vi là trí; thông suốt được cái không lý của pháp vô vi là huệ.

 133. Trạch pháp giác: Là một trong bảy giác chi: chữ giác có nghĩa giác liễu, giác sát. ấy là pháp khiến cho định nó quân bình nhau với huệ, nên gọi là Đẳng giác; pháp giác chia làm bảy phần, nên gọi là giác chi, là giác phần, là giác ý. 1-Trạch pháp giác: Dùng trí huệ để chọn lựa pháp nào chân (thiện) pháp nào ngụy (bất thiện).
2-Tinh tấn giác: Lấy tâm dũng mãnh để lìa tà hạnh, hành chân pháp. 3-Hỷ giác: Tâm đắc thiện pháp nảy lòng hoan hỷ. 4-Khinh an giác (chỉ quánpháp giới thứ đệ gọi là trừ giác): Trừ những điều thô trong nơi thân tâm, khiến cho thân tâm được khinh an thư thái.
5-Niệm giác: thường rõ ghi định huệ mà không quên, khiến cho được quân bình nhau. 6-Định giác: Khiến tâm trụ vào một cảnh nào đó (niệm Phật thì để tâm vào lục tự Di -ñaø) mà không cho tâm tán loạn. 7-Hành xả giác: xả bỏ các điều vọng mậu, xả bỏ tất cả pháp, để tâm hoài bình thản, lại chẳng vói nhớ, ấy là hành cái hành uẩn nó thâu nhiếp lấy cái tâm sở xả, nên gọi là hành xả. Với bảy pháp ấy, nếu hành giả mà trong khi tâm (ýự) nó phù động thì nên dùng ba giác trừ, xả, định để thâu nhiếp tâm lại hoặc khi mà tâm nó trầm một thì phải lấy ba giác trạch pháp, tinh tấn, hỷ để đề khởi lên. Niệm giác thì thường niệm định huệ chẳng bỏ lui. Thế nên, chừa cái niệm giác ra, còn sáu cái kia tùy theo hành giả có công mà dùng đấy. Lấy bảy pháp ấy tu, để đắc chứng quả vô học - xuất Cu -xá-luận. Chỉ Quán cuốn bảy nói “Khi mà ý thức phù động thì dùng cái tri giác để trừ cái thô của thân khẩu; lấy cái xả giác để xả cái quán trí, lấy cái định tâm vào thiền. Khi mà ý thứctrầm một thì, dùng cái tinh tấn, trạch pháp, hỉ để đề khởi lên. Còn cái niệm giác thì nó thông đồng duyên qua hai chỗ” – trầm, phù.

 134. Ngũ cái: cái là che đậy, năm món này đều hay che đậy cái tâm thanh tịnh và tâm thiện của hành giả, chẳng đặng khởi phát ra, nên gọi là cái. 1-Tham dục cái: Chấp đắm lấy những cảnh ngũ dục mà làm che đậy tâm tánh. 2-Sân nhuế cái: Đối với cảnh trái tai gai mắt, nghịch lòng, ôm ấp lòng hờn giậnche đậy tâm tánh. 3-Thùy miên cái: Tâm hôn ám, thân trầm trọng, làm cho tâm tánh bị che đậy mà chẳng dùng làm tỉnh giác gì đặng. 4-Điếu hối cái: Tâm ý nó tháo động, là nghĩa của chữ Điếu (lau chau); với sự chỗ làm tâm ưu não gọi là Hối, vì thế mà tâm tánh bị nó che đậy. 5-Nghi pháp cái: Đối với pháp, lòng do dự không quyết đoán làm cho tâm tánh bị che đậy.

 135. Thập tập: mười tập. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương cuốn 2 nói “Nhân, là cái rất gần sanh ra, tỷ như hột giống (nhân) nó tự sanh ra cái mộng”. Đọc đủ là thập tập nhân, tức là mười nhân mười quả. Tập nghĩa là hằng tiếp tục, là hằng tiếp tục cái niệm trước phát khởi ra cái niệm sau… Thập nhân thập quả: 1-Dâm tập nhân: cái thói dâm tập trực tiếp lẫn nhau cà nghiền xát (hành dâm) chẳng thôi, nên có ánh hỏa dục trong đó phát động hiện ra, hai cái tập của nam tánh, nữ tánh đốt lẫn nhau, nên có đưa đến cái quả báo giường sắt, cột đồng và địa ngục nóng. 2-Tham tập nhân: cái tham tập, kể tính đi, kể tính lại, phát sanh, hòa lẫn nhau, hút hoạy mãi chẳng thôi thì, chiêu cảm nước, chứa gió làm lạnh, kết nước lạnh giá, nên có đưa đến kết quả báođịa ngục hàn băng. 3-Mạn tập nhân: cái thói ngạo mạn lấn lướt lẫn nhau, rồi phát sanh ỷ thị, kiêu, lung, giong, ruổi, buông thả chẳng thôi, rồi gây chứa ác độc, nên có quả báo sông máu, biển độc, rót nuốt. 4- Sân tập nhân: cái thói sân tập xông lẫn mà phát sanh xung đột nhau, nên tâm nóng sanh lửa, đúc hơi làm vàng, vì nghiệp ấy sở cảm, thành thử có cái quả báo xử cung (con trai thì xử cắt mất dương vật, con gái thì xử cấm bế trong cung, xử cắt, xử chém, xử chặt, tức là xử tội ngũ hình). 5-Trá tập nhân: cái thói đánh lừa dụ phỉnh lẫn nhau mà phát sanh cái tập xảo ngụy cợt nhau, diên dẫn (kéo dài) chẳng thôi, nghiệp ấy chiêu cảm, nên có quả báo bị cùm, bị gông, xử đánh, xử trượng. 6-Cuống tập nhân: cái thói gạt gẫm khi lẫn mà sanh dối nhau, dối lừa chẳng thôi, cái tâm nó phơi phới lên, như gió thổi bụi, khiến người không thấy, nên có cái quả báo bị dồi lên, liệng xuống, bị bay, bị gạt xuống, trôi, chìm… 7-Oan tập nhân: cái thói oan gia hiềm lẫn mà sanh xung hờn nhau, như người âm hiểm mưu độc; ôm lòng độc ác, nghiệp ấy chiêu cảm, nên có quả báo bị chọi, bị liệng, bị thoi, bị bắn. 8-Kiến tập nhân: cái thói kiến tập lẫn sáng, các nghiệp tà ngộ, đều chấp sở kiến của mình, giành việc thị phi mà phát sanh ra trái ngăn, nên có quả báo bị khám xét, gạn hỏi, quyền trá, tra tấn. 9-Uổng tập nhân: cái thói uổng tập lẫn gia thêm nhau mà phát sanh sự phao vu, hủy báng, như người sàm tặc hiếp đáp kẻ lương thiện, do nghiệp ấy phát hiện, nên chiêu cảm những quả báo bắt giải giam cầm, ép đè thân thể, đẫm máu nhỏ giọt. 10-Tụng tập nhân: tranh tụng lẫn ồn, mà phát giác chỗ che giấu, như gương soi hiện không thể ẩn khuất, nên có các quả báo hỏa châu nghiệp cảnh đài đối chiếu rõ bày, chứng nghiệm cái nghiệp từ kiếp trước. Xuất kinh Lăng Nghiêm.

 136. Chớ ghi chớ nhớ: là nói tâm không cảnh tịch, nhân pháp đều quên, không thủ không xả.

 137. Nhân pháp đều quên: với phân biệt ngã chấp, phân biệt pháp chấp, cu sanh ngã chấp, cu sanh pháp chấp, thảy đều phá hết, nên nói đều quên. Phân biệt: là để ý đo lường biết riêng các sự lý, đó là những tác dụng nơi tự tánh của tâm vương, tâm sở, nên lấy cái phân biệt làm cái tên lạ của tâm, tâm sở. Duy Thức Thuật Ký rốt cuốn 7 nói “Rằng cái phân biệt ấy, là tâm, tâm sở pháp của hữu lậu tam giới. Vì tâm, tâm sở pháp đều lấy “vọng phân biệt” làm tự thể”. Câu Xá Quang Ký 20 nói “Tỳ -bà-xà gọi là phân biệt”. Cái tâm, tâm sở pháp của tam giới là cái phân biệt hư vọng làm tự tánh, tức hư vọng dựa trên vô ngã vô phápphân biệt là hữu ngã hữu pháp, nên gọi là cái “hoặc (vọng hoặc) phân biệt”, hành giả nếu đoạn được cái “hoặc phân biệt” ấy gọi là “vô phân biệt huệ”. Từ ân Tự Truyện 7 nói “Bồ -tát cho cái hoặc phân biệtphiền não, mà cái hoặc phân biệt thể nó kiên cường sánh đồng đá kim cang. Duy kinh đây có nói cái huệ vô phân, mới có thể trừ đoạn được cái vọng phân biệt. Nên nói “Năng đoạn Kim Cang Bát -nhã”. Tâm phân biệt: 1-Tự tánh phân biệt là cái tự tánh của tâm, tâm sở, đối với cảnh hiện tiền mà tìm cầu hành động, như cái biết của nhãn thức thì phân biệt sắc trần, cái biết của nhĩ thức thì phân biệt thanh trần… gọi là tự tánh phân biệt. Đấy là “hiện lượng”. 2-Kế đạt phân biệt là mỗi mỗi sự sai biệt, mà đo lường xét đoán rất mãnh lợi. 3-Tùy niệm phân biệt là vói ngược lại nhớ suy nghĩ những việc đã trải qua. Hai cái sau là chỉ hạn ở ý thức, tức là “tỷ lượng, phi lượng”. Phân biệt ngã chấp (cái ngã chấp thứ hai): là cái ngã chấp thuộc về hậu thiên, y nơi sức phân biệt của tự mình mà sanh ra cái ngã chấp này. Cu sanh ngã chấp (cái ngã chấp thứ nhất): là cái ngã chấp thuộc về tiêu thiên, vì sẵn đủ có từ trước, kèm theo đi thụ sanh ra thân này, nên gọi cu sanh. Tiên thiên: Tâm lý học nói là chẳng do nơi kinh nghiệm, vì là đều theo sanh ra. Nghĩa là, trong tri thức của người ta có một bộ phận nhứt định, vì vốn sẵn đủ trong tinh thần của mỗi người. Tức chưa đầu thai đã sẵn có từ trước, nên gọi là tiên thiên. Hậu thiên: thuộc về kinh nghiệm, nghĩa là chỗ khởi nguyên của tâm lý, do những cơ quan cảm giác và khi đầu sanh bẩm được tánh chất của trung khu thần kinh biến ra, lại gọi là sanh đắc, hay bẩm đắc, nên gọi là hậu thiên. Câu sanh pháp chấp (cái pháp chấp thứ nhất): là từ thuở vô thỉ lại, huân tập đã thành tánh, vì thường thường đối với tất cả pháp, vọng động sanh niệm chấp trước cái vọng chấp ấy, phi do nơi tâm phân biệt để sanh ra, mà nó chính cùng với tự thân đồng thời đều sanh ra, nên nói là câu sanh. Phân biệt pháp chấp (cái pháp chấp thứ hai): là bị tà giáo, tà sư cám dỗ dạy dẫn, nên phân biệt, kể đo, mà cố chấp thực có các pháp, thế là cái pháp chấp do sự phân biệtsanh khởi ra. Đối với cái pháp chấp phân biệt đây, thì Bồ -tát ở ngôi kiến đạo liền đoạn được nó; còn với cu sanh pháp chấp, thì Bồ -tát ở ngôi tu đạo chỉ đoạn dần dần từ phân từ phân. Với hai ngã chấp, hai pháp chấp thấy trong bộ Pháp Uyễn Nghĩa Lâm.

 138. Tâm Phật nhân không lạù nhau. Người xưa có tả bài:

Phật tức tâm hề tâm tức Phật 
Tâm Phật tòng lai vô nhị vật 
Phật do nhân giác ngộ nhi thành 
Các các nhãn hoành tinh tỷ trực.

Phật tức là tâm, tâm tức Phật 
Phật tâm xưa nay phi hai vật 
Phật do người giác ngộ mà thành 
Ai cũng mắt ngang và mũi dọc.

 139. Vô tri: Hữu bộ của Tiểu thừa nói “1-Nhiễm ô vô tri tức là tất cả phiền não. Thiên Thai gia bảokiến hoặctư hoặc. Cái nhiễm ô vô tri đây, nó lấy vô minh làm thể, vì vô minhchấp trước nơi pháp của sự lý, tánh phận nó là bất tịnh, nên nói là nhiễm ô, cái thể nó hôn ám, vì không biết cái chân thật của Tứ đế, nên nói là vô tri. Cái vô minh ấy cùng với tất cả các hoặc đều phát khởi, nên nói vô minh tức gồm tất cả phiền não. 2-Bất nhiễm ô vô tri: Cái vô tri này, nó lấy cái liệt huệ làm thể. Liệt huệ là sự kết quả do dần dần học hỏi nghiên cứu từ vô thỉ lại, tức là cái hạ liệt trí huệ, vì chẳng hiểu nghĩa lý của sự vật chớ phi cái tánh phận bất tịnh chấp trước nơi sự vật, nên gọi là bất nhiễm ô, tức chả biết tới nghĩa lý của sự vật làm gì, nên gọi là vô tri, Thiên Thai gia bảotrần sa hoặc. Bất nhiễm ô vô tri, là chả chấp trước nơi sự vật, chẳng thể làm cái chướng ngại ra khỏi sanh tử, nên các Thánh Nhị thừa như Thanh văn, Duyên giác, đều không thể đoạn được cái liệt huệ này, với việc tế độ chúng sanh, Phật ngài có cái bí yếu biết tất cả sự vật, nên Ngài đoạn cái liệt huệ ấy mà thành được Nhứt thế chủng trí. Câu Xá Quang Ký nói “Hỏi: Cái nhiễm ô vô tri nó lấy gì làm thể? Đáp: Nó lấy vô minh làm thể. Sở dĩ, chẳng nói các phiền não ấy, là cái vô minhthông đồng nhau với các hoặc cùng tương ưng, nên chỉ nói vô minh là kiêm rõ các hoặc… Cái bất nhiễm vô tri ấy, là do trước khi chưa thành Phật, sở hữu tất cả pháp hữu lậu mà được không nhiễm, là do liệt huệ làm thể”. Nay đây, cái vô tri trong câu “Trí hữu cùng u chi giám nhi vô tri” là cái chân trí vắng lặngbất động, tuyệt hẳn tất cả phân biệt, gọi là vô tri. Khởi Tín Luận nói “Nếu tâm khởi cái có thấy biết tất nhiên có cái tương ưng là cái tướng chẳng thấy biết. Tâm tánh mà lìa hẳn sự thấy biết, tức là nghĩa khắp soi cả pháp giới”. Tịnh Độ Luận Chú nói “Thực tướng là không chấp nơi tướng, chân trí chẳng trụ nơi tri (vô tri) … vì vô tri, nên có thể vô bất tri”. Kinh Lăng Nghiêm nói “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn, tri kiến vô kiến tu tức Niết -bàn” nên nói là vô tri.

 140. Siêu thoát chỗ tiển tiển (thoát tiển tiển địa). Tiển tiển là cái bộ dạng lạnh run. Sách Tổ Vấn chép rằng “Linh nhân tiển tiển thời hàn” (khiến người run run thuở lạnh). Tiển tiển địa là chỉ cho những chỗ sông mê biển khổ vì chúng sanh bị chìm đắm xuống ái hà, dục lãng mà tinh thần như run rét mà, cam chịu cơ hàn! Nay đây, đã tiến lên ngàn giác, đất Bồ -ñeà, sáu căn đều --- nhược, có phước quả no, có huệ nhựt ấm, nên nói “Thoát tiển tiển địa khởi bất duy ---.”

 141. Diệu ngộ: là giác ngộ lẽ thù diệu. Đường Hoa Nghiêm Kinh 12 nói “Diệu ngộ đều đầy, hai hành uẩn dứt”. Kinh Niết Bàn Vô Danh Luận nói “Huyền đạo ở nơi diệu ngộ, diệu ngộ ở nơi tức chân”. Hai hành: 1-Kiến hành, tức các thứ ngã kiến, tà kiến… là cái hoặc mê về lý, tức cái kiến hoặc trong hai hoặc là kiến và tu. 2-ái hành: là các thứ tham, dục, sân, nhuế… là cái hoặc mê mờ về sự. Với giữa đó, lấy cái ái hoặc làm chủ yếu, nên nói lên một ái hoặc là gồm các cái hoặc kia, tức tất cả cái hoặc thuộc về cái tu. Hành tức là tâm hành, nghĩa là những hành động của tâm thức.

 142. Huyền tông: là tông chỉ huyền diệu. Huyền tông là cái danh từ chung của Phật giáo. Chú Duy Ma Kinh Tự nói “Thường e huyền tông bị hạ xuống bởi người dịch”. Duy Thức Khu Yếu thượng bổn nói “Văn uẩn huyền tông”.

 143. Qui củ: Cái mà để lấy mực tròn gọi là Qui, tức cái nhíp quay lấy mực tròn. Cái mà để lấy mực vuông gọi là Củ, tức cái thước nách. Qui nghĩa là pháp thức, mô phạm. Sách Mạnh Tử nói “Bất dĩ qui củ, bất năng thành phương viên’.

 144. Điềm đạm: yên lặng, nghĩa là với lợi lộc, lòng vẫn lợt lạt, mà vẫn an nhiên tự thích, không rộn rực xao động đối với quyền lợi bổng lộc.

 145. Chân tâm: Là cái tâm chân thực không vọng, lại là cái tâm chánh trực vô nghi. Tịnh Độ tôngChân Ngôn tông đều so về cái tín tâm đối với tha lực gọi là Kim Cang chân tâm. Vãng Sanh Lễ Tán nói “Mặc dầu không thể chảy nước mắt, chảy máu… nhưng có thể triệt để chân tâm tức cũng đồng với cái chân tâm Kim Cang”. Giáo Hành Tín Chứng Tín nói “Kim Cang bất hoại chi chân tâm”.

 146. Bổn giác: Cái tâm thể của chúng sanh, tánh nó vẫn thanh tịnh, tất cả vọng tướng, một thể chiếu chiếu linh linh mà có cái đức tri giác, phi tu thành mà được vậy, chính là cái tánh đức vốn sẵn có, nên nói là bổn giác, tức là cái pháp thân của Như Lai. Cũng tức như kinh Phạm Võng nói “Chúng sanh giai hữu Phật tánh”.

 147. Diệu minh: Là cái minh tâm chân diệu, để gọi cái chân trí vô sư. Kinh Lăng Nghiêm cuốn nhứt nói “Phát cái tâm diệu minh, mở đạo nhãn của con mắt”. 

 

Dịch xong ngày 17 tháng 11 Canh Tý, Phật lịch 2504 – 1960

Kỷ niệm ngày vía Phật A -di-đà. 

Tổ Vĩnh Minh Thọ thiền sư để lời răn

Nếu chẳng bỏ hành dâm, dứt tất cả giống thanh tịnh
Nếu chẳng bỏ uống rượu, dứt tất cả giống trí huệ
Nếu chẳng bỏ trộm cướp, dứt tất cả giống phước đức
Nếu chẳng bỏ ăn thịt, dứt tất cả giống từ bi.

 Vì các Phật ba đời, đồng miệng khắp rao, Thiền tông bốn phương vẫn tiếng diễn nói.

 Thế sao hậu học ngơ chẳng nghe theo? Tự phá chánh nhân! Phản làm ma thuyết!?

Phật dạy: Rất đỗi các vị Thiên ma và cả quyến thuộc của họ, còn chẳng ăn thịt, uống rượu thay, huống chi các Phật tử lại phạm mấy điều ấy! Thì đã phi đệ tử của Phật, lại chả bằng đệ tử của Ma vương!? Hèn lắm! Nhục lắm! ôi! Khốn khổ thay!

Hết Quyển Hạ

Tạo bài viết
01/07/2010(Xem: 45610)
29/06/2010(Xem: 41741)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.