Tiết 2: Nói Về Giới Điều Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

29/06/201012:00 SA(Xem: 9109)
Tiết 2: Nói Về Giới Điều Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

BỒ TÁT GIỚI
Hòa thượng Thích Trí Quang dịch giải

Tiết 2: Nói Về Giới Điều 
Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

I. Mục 1 : Nói Về 10 Giới Nặng Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 
A. Đoạn 1 : Mở Đầu Nói Về 10 Giới Nặng Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 
B. Đoạn 2 : Nói Về 10 Giới Nặng Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 

 

1. Số 1 : Không Được Tàn Sát 

2. Số 2 : Không Được Trộm Cướp 

3. Số 3 : Không Được Dâm Dục 

4. Số 4 : Không Được Vọng Ngữ 

5. Số 5 : Không Được Buôn Rượu 

6. Số 6 : Không Được Nói Xấu Đồng Đạo 

7. Số 7 : Không Được Khen Mình Chê Người 

8. Số 8 : Không Được Tiếc Lẫn Tài Pháp 

9. Số 9 : Không Được Giận Dữ Không Nguôi 

10. Số 10 : Không Được Phỉ Báng Tam Bảo 

C. Đoạn 3 : Kết Thúc Về 10 Giới Nặng Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 

II. Mục 2 : Nói Về 48 Giới Nhẹ Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 

A. Đoạn 1 : Mở Đầu Nói Về 48 Giới Nhẹ Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 

B. Đoạn 2 : Nói Về 48 Giới Nhẹ Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 

1. Số 1 : Không Được Bất Kính Thầy Bạn 

2. Số 2 : Không Được Uống Các Thứ Rượu 

3. Số 3 : Không Được Ăn Các Thứ Thịt 

4. Số 4 : Không Được Ăn Đồ Cay Nồng 

5. Số 5 : Không Được Không Khuyên Sám Hối 

6. Số 6 : Không Được Không Cầu Chánh Pháp 

7. Số 7 : Không Được Không Đi Nghe Pháp 

8. Số 8 : Không Được Phản Đại Thừa Giới 

9. Số 9 : Không Được Không Giúp Bịnh Tật 

10. Số 10 : Không Được Tàng Trữ Khí Cụ 

11. Số 11 : Không Được Làm Kẻ Quốc Tặc 

12. Số 12 : Không Được Buôn Bán Tàn Nhẫn 

13. Số 13 : Không Được Phỉ Báng Không Thật 

14. Số 14 : Không Được Cố Ý Thiêu Đốt 

15. Số 15 : Không Được Chỉ Dạy Sai Lệch 

16. Số 16 : Không Được Nói Pháp Rối Loạn 

17. Số 17 : Không Được Ỷ Thế Ham Cầu 

18. Số 18 : Không Được Mù Mờ Làm Thầy 

19. Số 19 : Không Được Phỉ Báng Giữ Giới 

20. Số 20 : Không Được Không Cứu Phóng Sinh 

21. Số 21 : Không Được Giận Dữ Báo Thù 

22. Số 22 : Không Được Kiêu Ngạo Không Học 

23. Số 23 : Không Được Không Truyền Kinh Giới 

24. Số 24 : Không Được Học Các Sách Khác 

25. Số 25 : Không Được Lạm Dụng Gây Rối 

26. Số 26 : Không Được Không Đãi Khách Tăng 

27. Số 27 : Không Được Thọ Thỉnh Riêng Biệt 

28. Số 28 : Không Được Thỉnh Tăng Riêng Biệt 

29. Số 29 : Không Được Sống Bằng Tà Mạng 

30. Số 30 : Không Được Bất Kính Hảo Thời 

31. Số 31 : Không Được Không Cứu Không Chuộc 

32. Số 32 : Không Được Tổn Hại Chúng Sinh 

33. Số 33 : Không Được Tà Dâm Làm Quấy 

34. Số 34 : Không Được Rời Bồ Đề Tâm 

35. Số 35 : Không Được Không Phát Đại Nguyện 

36. Số 36 : Không Được Không Phát Đại Thệ 

37. Số 37 : Không Được Mạo Hiểm Tai Nạn 

38. Số 38 : Không Được Ngồi Không Thứ Tự 

39. Số 39 : Không Được Không Làm Lợi Lạc 

40. Số 40 : Không Được Chọn Lựa Truyền Giới 

41. Số 41 : Không Được Vụ Lợi Làm Thầy 

42. Số 42 : Không Được Thuyết Giới Ác Nhân 

43. Số 43 : Không Được Cố Tâm Phạm Giới 

44. Số 44 : Không Được Không Trọng Kinh Luật 

45. Số 45 : Không Được Không Có Giáo Hóa 

46. Số 46 : Không Được Thuyết Không Đúng Phép 

47. Số 47 : Không Được Kềm Chế Phi Lý 

48. Số 48 : Không Được Phá Hoại Đạo Pháp 

 C. Đoạn 3 : Kết Thúc Về 48 Giới Nhẹ Của Bồ Tát Giới Phạn Võng 

 
Đoạn 1: Mở Đầu Nói Về Giới Nặng Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

Đức Thế tôn dạy, các Phật tử, giới pháp nặng có mười điều. Nếu thọ Bồ tát giới mà không tụng mười giới pháp nặng ấy thì không phải Bồ tát, không phải hạt giống làm Phật. Vì chính Như lai cũng tụng như vậy, hết thảy Bồ tát thì đã học sẽ học và đang học. Và như vậy là Như lai đã vắn tắt nói đến tướng mạo Bồ tát giới. Các người phải học, kính cẩn mà phụng trì. 

Như đã nói, nói 10 giới nặng là nói về Bồ tát giới. Vì lẽ 10 giới nặng là phần căn bản của Bồ tát giới, còn 48 giới nhẹ chỉ là phần đẳng lưu của phần căn bản ấy. Tướng mạo Bồ tát giớithọ giới ấy rồi thì phải nửa tháng 1 lần bố tát tụng giới ấy: hình thức của giới ấy, trước tiên, là điều này.

Số 1: Không Được Tàn Sát

Phật tử nếu tự mình tàn sát, bảo người tàn sát, tàn sát bằng phương tiện, bằng cách tán dương sự tàn sát, bằng sự tán đồng khi thấy kẻ khác tàn sát, cho đến tàn sát bằng chú thuật - tàn sát với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự tàn sát; nhưng, đối với bất cứ loài nào, hễ có sinh mạng thì không được cố ý tàn sát. Là Bồ tát thì phải phát khởi lòng từ bi và lòng hiếu thuận thường trú, phương tiện cứu giúp và che chở cho hết thảy mọi loài sinh vật, vậy mà đảo ngược lại, mặc sức khoái ý mà tàn sát, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Bảo người tàn sát, chữ bảo ở đây, và những chỗ khác sau đây, tùy trường hợpđịa vị người sử dụng mà có nghĩa là hạ lịnh, chỉ thị, sai khiến, khuyên bảo, xúi dục, xúc sử, bày vẻ, huấn luyện, gợi ý, nói khích ... Tàn sát bằng phương tiện, bằng cách tán dương sự tàn sát , Chính 24/1004 chép khác, theo đó thì phải dịch "tàn sát bằng cách dùng mọi phương tiệntán dương sự tàn sát". Nếu nói tàn sát bằng phương tiện, thì phương tiện ấy là mưu mô, khí giới, và những việc làm trước khi giết chết. Nếu nói dùng mọi phương tiệntán dương sự tàn sát, thì phương tiện ấy là mọi sách lược, thể thức, khen thưởng ... Tàn sát bằng sự tán đồng khi thấy kẻ khác tàn sát, sự tán đồng, chính văn là tùy hỷ, nghĩa đen là mừng theo, là sự thích thú thỏa mãn như chính mình làm. Tàn sát với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự tàn sát , nguyên nhân của sự tàn sát là ý muốn tàn sát, trợ duyên của sự tàn sát là những yếu tố làm cho ý muốn tàn sát được liên tục, phương pháp của sự tàn sát là sự sử dụng các phương tiện, động tác của sự tàn sát là ý muốn tàn sát được thực hiện. Giải thích này làm mẫu để hiểu các giới sau. Hễ có sinh mạng là cơ thể tổ chức thế nào, hay trình độ tri thức ra sao đi nữa, hễ có sự sống mà giết chết sự sống ấy đi là tàn sát. Cố ý tàn sát là tàn sát một cách có ý thức, không phải chỉ do bản năng, thác loạn, lầm lẫn ... Lòng từ bi và lòng hiếu thuận thường trú, thường trú ở đây vừa có nghĩa bất biến vừa có nghĩa thường trực. Ba la di, ngài La thập dịch ý là đọa bất như ý xứ, ngài Huyền tráng dịch ý là tha thắng xứ, đều có nghĩa là sự bị thua, bị cái khác chiến thắng; cái khác ấy là tội ác, cái bị thua là giới thể.

Số 2: Không Được Trộm Cướp

Phật tử nếu tự mình trộm cướp, bảo người trộm cướp, trộm cướp bằng phương tiện, bằng chú thuật - trộm cướp với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự trộm cướp; nhưng, cho đến tài vật quỉ thần, tài vật có chủ, tài vật đạo tặc, tài vật công cọng, dẫu bằng cây kim ngọn cỏ mà thôi, cũng không được cố ý trộm cướp. Là Bồ tát thì phải phát sinh tâm hiếu thuậntâm từ bi của Phật tánh, thường xuyên giúp người làm phước đức và được yên vui, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn trộm cướp tài vật của người, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Cho đến tài vật quỉ thần, tài vật có chủ, tài vật đạo tặc, tài vật công cọng, chính văn câu này có lắm cách giải thích; tôi dịch như vậy là theo ý Vạn 59/359B, ý này sát hơn cả. "Cho đến" là nói lược tài vật thuộc Tam bảo, tài vật của loài người, của các loài khác. Giúp người làm phước đức và được yên vui, như vậy trộm cướp là trộm cướp phước đức và yên vui của người.

Số 3: Không Được Dâm Dục

Phật tử nếu tự mình dâm dục, bảo người dâm dục ; nhưng, đối với bất cứ nữ nhân nào, cho đến giống cái trong súc vật, phái nữ trong chư thiênquỉ thần, hoặc những chỗ không phải bộ phận sinh thực, đều không được cố ý dâm dục - dâm dục với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự dâm dục. Là Bồ tát thì phải sinh tâm hiếu thuận, cứu độ tất cả, bằng cách đem pháp thanh tịnh mà cho người, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn nổi dậy sự dâm dục đối với mọi người, không chừa cả súc vật, đến nỗi đối với mẹ, con gái, chị, em gái, bà con nội ngoại, cũng hành dâm cả, không còn gì gọi là lòng từ bi, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Chính văn này lấy người nam làm điển hình mà nói, nên đối tượng dâm dục là nữ, như vậy nói người nữ thì đối tượng phải đổi ra nam cả. Lại nữa, vấn đề phải nêu lên trước, ấy là giới này đối với người xuất gia thọ Bồ tát giới thì đúng - Đối với người xuất gia, nói tổng quát, tất cả động tác gây nhục cảm và nhục dục đều cấm chỉ. Nhưng đối với người tại gia thọ Bồ tát giới, thì giới này cũng không nói chỉ cấm tà dâm. Như vậy, đối với họ, chỉ còn đem ngũ giới ra mà nói họ chỉ bị cấm chỉ tà dâm, và ở Bồ tát giới thì họ nên mong ước và cố mà đi đến sự cấm chỉ dâm dục. Trong sự cấm chỉ tà dâm, dâm với người khác đã đành cấm chỉ, và không cần phải nói đến. Điều phải nói đến, là đối với bản thân và đối với vợ chồng, cũng có những sự cấm chỉ nghiêm ngặt. Đối với bản thân mà ý dâm, thủ dâm, cho dâm, thì không những là tà dâm mà còn chính là dâm dục. Đối với vợ chồng mà dâm dục không phải bộ phận (là ngoài bộ phận sinh thực) không phải nơi chỗ (là ngoài phòng ngủ) không phải thì gian (là những ngày đáng kính, nên làm phước, những lúc trai giới, bị bịnh, có thai ...) không phải chừng mực (là ham dâm) đều là tà dâm cả. Luyến áidâm dục với 5 loại bất nam, hay đồng tính luyến ái, lại càng bị coi là tà dâmdâm dục nặng nề.

Không phải bộ phận sinh thực , chính văn là phi đạo (không phải đường tiểu), nhưng dịch đúng hơn nữa là phi chi (không phải bộ phận sinh thực). Pháp thanh tịnh là phạn hạnh, trái lại, dâm dục là phi phạn hạnh, và danh từ này mới thật là điển ngữ của sự dâm dục. Nổi dậy sự dâm dục đối với mọi người , nếu sát chính văn hơn, và nếu đối chiếu với chính văn các giới thứ 4 và thứ 5 sau đây mà dịch, thì phải là "làm nổi dậy sự dâm dục nơi mọi người": đã không cho mọi người pháp thanh tịnh mà lại làm cho mọi người nổi thói ô nhiễm. Như vậy, làm nổi dậy sự dâm dục nơi mọi người là không những làm những cách khiêu dâm khác, mà trước hết là đem ngay thói dâm dục của mình khích động thói ấy nơi mọi người, bất kể người đó là người nào, loài nào. Mọi cách khiêu dâm khác là tình ca, tình sử, nhạc loạn, tranh ảnh, hóa chất, dược phẩm ...

Số 4: Không Được Vọng Ngữ

Phật tử nếu tự mình vọng ngữ, bảo người vọng ngữ, vọng ngữ bằng phương tiện - vọng ngữ với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự vọng ngữ, cho đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, vọng ngữ cả thân thể lẫn tâm trí; nhưng Bồ tát thì phải thường tự phát sinh ngôn ngữ chân chínhkiến thức chân chính, lại phát sinh cho người hai thứ ngôn ngữ chân chínhkiến thức chân chính ấy, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn làm nổi dậy nơi mọi người những thứ ngôn ngữ bất chính, kiến thức bất chính và hành động bất chính, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Vọng ngữ ở đây bao gồm cả 4 khẩu nghiệpvọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu. Lại bao gồm những ngôn ngữ bất chính, là trong mọi sự thấy nghe hay biết của 6 giác quan, có nói không, không nói có. Không thấy nói thấy, thấy nói không thấy là nói 1 sự thấy để làm tiêu biểu; đủ và tắt thì phải nói không thấy nghe hay biết mà nói có, có thấy nghe hay biết mà nói không. Ngoài ra, vọng ngữ ở đây còn bao gồm cả sự đại vọng ngữdối trá rằng mình hiện đã tu chứng. Cái nhân gây vọng ngữ (ngôn ngữ bất chính) là kiến thức bất chính, cái quả vọng ngữ là hành động bất chính, và mình vọng ngữ chính là một trong những nguyên nhân mạnh nhất tạo ra 3 thứ bất chính ấy nơi kẻ khác. Vọng ngữ cả thân thể lẫn tâm trítừ ý nghĩ cho đến cử động không có gì thành thực cả.

Số 5: Không Được Buôn Rượu

Phật tử nếu tự mình buôn rượu, bảo người buôn rượu - buôn rượu với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự buôn rượu; nhưng hết thảy loại rượu đều không được mua bán, vì lẽ rượu là yếu tố gây ra mọi thứ tội lỗi. Là Bồ tát thì phải phát sinh cho chúng sinh cái tuệ minh đạt, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn phát sinh cho người cái tâm thác loạn, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Buôn rượu , chính văn là cô tửu, cô nghĩa là mua bán.

Số 6: Không Được Nói Xấu Đồng Đạo

Phật tử nếu tự mình nói xấu những sự lầm lỡ của những người xuất gia tại gia thọ Bồ tát giới, hay của các vị tỷ kheo tỷ kheo ni, lại bảo người khác nói xấu - nói xấu với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự nói xấu; nhưng Bồ tát nghe những kẻ ác tâm trong hàng ngũ ngoại đạonhị thừa công kích sự phi giáo pháp và phi giới luật trong tổ chức Phật giáo, thì thường sinh tâm từ bi, giáo hóa những kẻ ác tâm ấy, làm cho họ có được đức tin đại thừa, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn tự mình nói xấu những sự lầm lỡ của trong tổ chức Phật giáo, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Nói xấu là huyên truyền, tố giác. Nói không đúng là giới vọng ngữ, không phải giới này. Giới này nói có phần đúng sự thực, nhưng sự thực ấy chỉ được cử tội đúng luật, chứ không được nói với cách nói xuyên tạc, bừa bãi, nói với dụng ý triệt hạ cá nhân, gây hậu quả tổn thương đạo pháp. Nói như vậy không phải là cử tội đúng luật. Cử tội đúng luật là nếu mình thấy, nghe hay nghi đồng đạo có lỗi, thì phải nghiêm chỉnh nói ra, nhắm mục đích bảo tồn giới đức cho đồng đạobảo trì mạng sống của đạo pháp. Nhưng, nói ra với hảo ý như vậy mà nói ở chỗ nào, nói với người nào, nói bằng cách nào, nói vào lúc nào, nhất nhất phải đúng luật. Không nói ra thì phạm giới nhẹ thứ 5, mà nói không đúng luật thì phạm tội nói xấu này.

Tiểu thừa công kích đại thừa, ngoại đạo công kích cả hai, sự công kích ấy dẫu vì bất đồng lý thuyết, vì tranh thủ danh lợi, hay vì bất mãn cá nhân, cũng tan biến cả khi có đức tin đại thừa, tin rằng mình sẽ làm Phật, nhất là khi đức tin ấy được giúp cho phát sinh bởi lòng từ bi chân thành.

Số 7: Không Được Khen Mình Chê Người

Phật tử nếu tự tán dương mình mà phỉ báng người khác, lại bảo kẻ khác phỉ báng - phỉ báng với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự phỉ báng; nhưng Bồ tát thì phải thay thế hết thảy chúng sinh mà chịu lấy bao nhiêu sự phỉ báng và tủi nhục, việc xấu thì xoay về nơi mình, việc tốt thì đưa cho người khác, vậy mà đảo ngược lại, tự khoe cái hay của mình, dấu cái tốt của người, làm cho họ phải chịu mọi sự phỉ báng, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Tổn đức và giết chết chí tiến thủ của người nhất chính là sự phỉ báng. Không có cái đức nào hơn cái đức chịu nhục cho người, không có sự nâng đỡ nào hơn sự tán dương ưu điểm của họ.

Số 8: Không Được Tiếc Lẫn Tài Pháp

Phật tử nếu tự mình tiếc lẫn, bảo người tiếc lẫn - tiếc lẫn với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự tiếc lẫn; nhưng Bồ tát thì bất cứ người nghèo thiếu nào đến cầu xin, cũng phải tùy nhu cầu của họ mà cung cấp những thứ mình có, vậy mà đảo ngược lại, vì tâm địa không tốt, tâm lý hờn giận, nên đến nỗi một đồng tiền, một cây kim, một ngọn cỏ, cũng không cho ai; có ai đến cầu xin Phật pháp, đã không nói cho họ được một câu đủ nghĩa, một bài chỉnh cú, một chút bằng hạt bụi, lại còn nhục mạ họ nữa, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

"Không được tiếc lẫn tài pháp" là răn sự tiếc lẫn tài vật và tiếc lẫn Phật pháp mà còn nhục mạ những người cầu xin. Làm mất giống Phật là do sự tiếc lẫn Phật pháp, làm đứt thiện duyên đối với chúng sinh là do sự tiếc lẫn tài vật. Một câu đủ nghĩa , chính văn là nhất cú, là 1 câu có nghĩa, đủ nghĩa, như câu ai cũng có Phật tánh. Một bài chỉnh cú , chính văn là nhất kệ, chỉ cho bất cứ 1 bài 4 câu nào trong thể loại chỉnh cú của các kinh, lại chỉ cho bất cứ 4 câu 8 chữ (thành 32 chữ) nào liên tiếp với nhau, thuộc mọi thể loại trong các kinh. Một chút như hạt bụi là nói mà không đủ 1 câu hay 1 bài như trên, hoặc chỉ lộ 1 ý niệm hay phác 1 cử chỉ tốt đẹp, ý nghĩa.

Số 9: Không Được Giận Dữ Không Nguôi

Phật tử nếu tự mình giận dữ, bảo người giận dữ - giận dữ với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự giận dữ; nhưng Bồ tát thì phải phát sinh cho người mọi thứ thiện căn, nhất là đức tính hòa bình, thường phát sinh nơi mình tâm từ bi và tâm hiếu thuận, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên mà, đối với chúng sinh, thậm chí đối với phi chúng sinh, còn nhục mạ bằng miệng tiếng độc dữ, da thêm sự đánh đập bằng tay chân và khí cụ, lòng vẫn chưa nguôi, người ta cầu xin sám hối, tạ tội bằng ngôn ngữ khả ái, cũng vẫn giận dữ không thôi, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

"Không được giận dữ không nguôi", rõ thì phải thêm không cho sám hối. Đức tính hòa bình , chính văn là vô tránh: không tranh cãi, đấu đá. Phi chúng sinh là cảnh vật, là người và vật do biến hóa hay ảo thuật mà có, là các vị đã giải thoát. Đánh đập bằng tay chân và khí cụ , dịch sát là đánh đập bằng tay, bằng dao, gậy, nói tóm là sự hành hung.

Số 10: Không Được Phỉ Báng Tam Bảo

Phật tử nếu tự mình phỉ báng Tam bảo, bảo người phỉ báng - phỉ báng với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự phỉ báng; nhưng Bồ tát nghe cái tiếng của những kẻ ngoại đạo hay những người ác tâm buông một lời phỉ báng đến Phật thì đã thấy như tim mình bị ba trăm mũi nhọn đâm vào, huống chi chính miệng mình phỉ báng; đã không phát sinh sự tín ngưỡng và lòng hiếu thuận cho mọi người mà còn đảo ngược lại, giúp thêm vào sự phỉ báng của những kẻ ác tâm, những người tà kiến, thì đó là tội ba la di của Bồ tát

Phật tửphỉ báng Tam bảo là hết lẽ rồi, nhất là sự phỉ báng bằng cách qui y Tam bảo rồi lại theo phe phái hay thủ lãnh khác. Vậy mà việc này vẫn thấy xảy ra, không những nơi tín đồ mà nơi tăng sĩ cũng có, và lỗi không phải chỉ ở đệ tử, mà ở chính vị bổn sư thiếu kiến thức, thiếu giáo huấn, thiếu cả gương mẫu.

Đoạn 3: Kết Thúc Về 10 Giới Nặng Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

Các nhân giả khéo học, như thế đó là mười giới pháp nặng của Bồ tát, các nhân giả phải học. Trong đó nhất nhất không được phạm vào bằng một hạt bụi, huống chi phạm đủ cả mười giới pháp. Ai phạm thì người đó thân hiện tại không thể phát bồ đề tâm, phẩm vị quốc vươngluân vương đã mất, lại mất phẩm vị tỷ kheo tỷ kheo ni, mất các Bồ tát vị mười phát thú mười trưởng dưỡng mười kim cang và mười địa, bao nhiêu thành quả vi diệu và thường trú của Phật tánh cũng mất tất cả, sa vào ba đường dữ, đến nỗi hai kiếp ba kiếp không nghe được cái tiếng Cha Mẹ hay danh hiệu Phật Pháp Tăng. Vì lẽ ấy, nhất nhất không nên phạm. Bồ tát các người đang học bây giờ, sẽ học về sau, đã học trong quá khứ, đối với mười giới pháp nặng như vậy phải cung kính phụng trì, như Như lai sẽ nói rộng rãi trong phẩm Tám vạn uy nghi

Đây là kết thúc 10 giới nặng, tức là kết thúc Bồ tát giới phần căn bản. Kinh Anh lạc nói, phạm 10 giới này thì 10 trú, 10 hạnh, 10 hướng và 10 địa đều mất cả. Nên 10 giới này là căn bản của hết thảy Phật đà, Bồ tát. Hết thảy Phật đà, Bồ tát không do 10 giới này mà thu hoạch đạo quả hiền thánh là điều không thể có được. Mười giới này ở sơ trú rồi lần lên 9 trú thì dần dần rộng thêm ra, cho đến lần lên 10 hạnh, 10 hướng và 10 địa thì dần dần rộng thêm ra nữa cho đến trên cả tầm nghĩ bàn (Chính 24/1012). Rộng thêm ra là đẳng lưu ra, thành phần đẳng lưu của Bồ tát giới. Như vậy phần ấy, ở đây, nói 48 giới nhẹ chỉ là rộng thêm ra ở địa vị phàm phu mà thôi.

Chính văn nói mất phẩm vị quốc vương luân vương và phẩm vị tỷ kheo tỷ kheo ni, là nói phạm 10 giới nặng thì không còn tư cách để đảm nhận những nghĩa vụ cầm quyền hay làm người xuất gia. Không nghe được cái tiếng Cha Mẹ hay danh hiệu Phật Pháp Tăng: cái tiếng khêu gợi cảm tình cuối cùng là tiếng Cha hay tiếng Mẹ, cái tiếng khêu gợi lòng hướng thiện nhất là các tiếng Phật Pháp Tăng. Quả báo mà đến 2 hay 3 kiếp không được nghe các tiếng như vậy mới nặng đến tột bực. Khổ nhiều chưa nặng; cái yếu tố khêu gợi cảm tình tốt đẹp và lòng hướng thiện mà mất đi, đến nỗi những danh từ cuối cùng của các tác dụng ấy cũng không còn được nghe đến, ấy mới thật quá vô phước. Qui định "hiếu là giới", rồi nói quả báo cực nặng của sự phạm giới là không được nghe đến các tiếng Cha mẹ, lại đưa các tiếng ấy lên ngang danh hiệu Phật pháp tăng, điều này quả thật là đặc thù của Bồ tát giới Phạn võng.

Đoạn 1: Mở Đầu Nói Về 48 Giới Nhẹ Của Bồ Tát Giới Phạn Võng

Đức Thế tôn dạy các vị Bồ tát, Như lai đã nói mười giới pháp nặng rồi, bốn mươi tám giới pháp nhẹ bây giờ Như lai sẽ nói. 

Đã nói 10 giới nặng là nói phần căn bản của Bồ tát giới Phạn võng rồi, bây giờ nói 48 giới nhẹ là nói phần đẳng lưu của phần căn bản ấy. Nói bằng cách chia ra 3 lần 10 và 2 lần 9, chỉ để dễ nhớ mà thôi.

Số 1: Không Được Bất Kính Thầy Bạn

Phật tử nếu sắp nhận địa vị quốc vương, địa vị luân vương, địa vị bách quan, thì trước đó phải lãnh thọ Bồ tát giới. Những người như vậy sẽ được quỉ thần hộ trì, được chư Phật hoan hỷ. Lãnh thọ Bồ tát giới rồi, phải sinh tâm hiếu thuận và tâm tôn kính; khi thấy các vị thượng tọa, hòa thượng, xà lê, các vị đại đức, thấy các người cùng một sở học, cùng một kiến giải, cùng một sở hành, thì hãy đứng lên, đón tiếp, thi lễ, hỏi han. Là Bồ tátđảo ngược lại, sinh tâm kiêu ngạo, tâm khinh lờn, tâm ngoan cố, tâm giận dữ, không chịu đứng lên, đón tiếp, thi lễ, hỏi han, mọi sự nhu cầu cũng không cung phụng đúng với chánh pháp; trong khi lẽ đáng nên hy sinh cả bản thân, địa vị, con cái, của báu và tài vật linh tinh mà hiến cúng các ngài. Nếu không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu. 

Trước khi đảm nhận địa vị cầm quyền mà phải thọ giới là vì địa vị cầm quyền dễ phạm tội ác. Địa vị ấy càng cao thì tội ác càng dễ có và có nhiều, nên phải thọ giới để răn mình cho xã hội và dân chúng khỏi tai họa. Trong những sự răn mình ấy có sự lễ độ.

Trong khi lẽ đáng nên hy sinh cả bản thân, địa vị, con cái, của báutài sản linh tinh mà hiến cúng các ngài, câu này nên chú ý 3 điều. Một, câu này tôi chuyển văn mà dịch cho rõ như vậy. Dịch sát là "tự bán thân thể, quốc thành, con trai, con gái, 7 thứ quí báu, trăm vật, mà cung cấp các ngài". Hai, ý câu này là nói lẽ đáng như vậy, chứ không phải sự việc phải đến như vậy. Sau này, những cách nói như vậy, hay tương tự như vậy, thì cũng phải hiểu như vậy. Ba, tự bán là hy sinh. Hy sinh bản thân là đem tư tưởngsức lực của mình mà hiến cúng. Hy sinh địa vị, chính văn là quốc thành, là vương quốc và hoàng thành, nhưng ý chính là hy sinh địa vị vua chúa quan quyền đối với quốc thành, chứ không phải hy sinh quốc thành. Ở đây chỉ có nghĩa nếu phải hy sinh địa vị mới hiến cúng được thì cũng không từ nan. Sự hy sinh con cái cũng chỉ có nghĩa như vậy. Nhưng sự hiến cúng phải đúng chánh pháp. Một trong sự đúng chánh pháp ấy là chỉ hiến cúng những thứ và những số lượng theo nhu cầu đúng chánh pháp.

Số 2: Không Được Uống Các Thứ Rượu

Phật tử nếu cố ý uống rượu, mà rượu thì dẫn ra vô số lầm lỗi; tự tay mình trao rượu cho người khác uống mà năm trăm đời kiếp cánh tay không có, huống chi chính mình tự uống. Cũng không được chỉ bảo cho mọi người uống rượu hay luyện tập cho các sinh vật khác uống, huống chi chính mình uống lấy. Nên bất cứ rượu gì cũng không được uống. Nếu cố ý tự uống hay bảo người khác uống thì phạm tội khinh cấu. 

Đưa rượu cho người khác uống, quá hơn nữa, chỉ cách cho người khác uống, luyện tập cho sinh vật uống, thì tội còn nặng hơn chính mình tự uống lấy.

Số 3: Không Được Ăn Các Thứ Thịt

Phật tử nếu cố ý ăn thịt, nhưng thịt nào cũng không được ăn. Ăn thịt thì hỏng mất hạt giống Phật tánh vốn rất từ bi, mọi loài sinh vật thấy thì bỏ chạy. Vì lý do ấy, tất cả Bồ tát không được ăn dùng bất cứ thứ thịt gì của sinh vật nào. Ăn thịt thì tội lỗi vô lượng. Nếu cố ý ăn thì phạm tội khinh cấu. 

Không được ăn thịt là vì ăn thịt thì mất giống Phật tánh từ bichúng sinh kinh sợ, ác cảm. Tất cả Bồ tát không được ăn dùng bất cứ thịt gì của sinh vật nào thì không còn phân biệt tại gia xuất gia, không còn nói đến không thấy không nghe không nghi.

Số 4: Không Được Ăn Đồ Cay Nồng

Phật tử thì không được ăn năm loại cay nồng là tỏi, kiệu, hành, nén, hẹ. Năm loại ấy, trong bất cứ thức ăn nào cũng không được ăn. Nếu cố ý ăn thì phạm tội khinh cấu. 

Đồ cay nồng là 5 thứ thường gọi là ngũ vị tân. Ăn 5 thứ này thì tụng kinh trì chú không linh nghiệm mà còn tai họa. Nhưng 5 thứ này có lắm giải thích, và rốt cuộc có người cho là tế toái, không đáng bàn kyծ Giải thích thì có 2 ý kiến đáng ghi. Một, trong 5 thứ, thứ hưng cừ ở Tàu không có, còn 4 thứ kia là tỏi, hành, hẹ, nén. Hai, 5 thứ là tỏi, kiệu, hành, nén và hẹ. Xét cách dùng chữ của ngài La thập thì ngoài thứ đầu là đại toán (tỏi) và thứ cuối là hưng cừ (?), 3 thứ giữa toàn là thông: các thông, từ thông, lan thông. Thông là hành, và như vậy thì tất cả loại hành, và cùng loại với hành, đều cấm dùng. Hưng cừ có hay không có ở Tàu, không quan trọng, quan trọng là trong 5 thứ tất phải có kiệu như giải thích thứ hai đã kể. Kiệu không những cay nồng, mà còn tệ là sinh đàm chứ không có giá trị dược liệu. Dịch tỏi, kiệu, hành, nén và hẹ, là theo ý kiến Vạn 59/207B.

Số 5: Không Được Không Khuyên Sám Hối

Phật tử nếu thấy ai phạm tám giới, năm giới, mười giới, các giới khác, bảy tội nghịch, và những tôểi ác bị tám tai nạn, thấy tất cả tội phạm giới như vậy đều phải khuyên và chỉ cho họ cách thức sám hối. Là Bồ tát mà không khuyên và chỉ cho họ cách thức sám hối, lại cùng họ cư trú, cùng họ nhận đồ hiến cúng, cùng họ bố tát và đồng chúng thuyết giới mà không cử tội để khuyên và chỉ cách cho họ sám hối, thì phạm tội khinh cấu. 

Sám hối, nguyên nghĩa là xin sự chịu đựng, sự tha thứ ở người mình phạm lỗi, diễn thành nghĩa tự ghét việc mình làm, nghĩa ăn năn chừa bỏ. Sám hối có cách thức mà luật đã ấn định. Nếu thấy ai phạm giới, đã không khuyên và chỉ cách sám hối, lại còn ở chung, hưởng chung đồ hiến cúng, chung nhau bố tát mà không cử tội, thì đó là nguyên nhân làm bại hoại Tam bảo. Nhưng cử tội phải đúng luật, nếu không thì phạm giới nặng thứ 6.

Số 6: Không Được Không Cầu Chánh Pháp

Phật tử nếu thấy các vị pháp sư đại thừa, các vị cùng học cùng hiểu và cùng làm về đại thừa, đến tăng phường, đến nhà cửa, thành thị, thôn ấp của mình, và dẫu ở xa cách trăm dặm ngàn dặm mà đến đi nữa, cũng tức thì đứng lên, đón rước, tiễn đưa, kính lạy, hiến cúng. Mỗi ngày hiến cúng ba lần, và giả sử tốn đến vài ba lạng vàng đi nữa, hết thảy đồ uống đồ ăn, đồ nằm, đồ ngồi, đồ mặc, thầy thuốc, thuốc, đều cung đốn cho vị pháp sư. Mọi sự nhu cầu của vị ấy cung phụng đủ cả. Mỗi ngày ba lần, phải thường thỉnh cầu vị pháp sư thuyết pháp cho. Mỗi ngày kính lạy ba lần mà vẫn không nỗi dậy trong lòng sự giận dữ, phiền bực. Vì pháp mà mất mạng đi nữa cũng vẫn cầu pháp không chán. Nếu không như vậy thì phạm tội khinh cấu. 

"Không được không cầu chánh pháp", có người thêm không cúng pháp sư, nhưng xét cốt ý và kết thúc thì thấy giới này cốt răn sự không thỉnh cầu chánh pháp. Trong chính văn nói sự hiến cúng vị pháp sư, chỉ là nói giả sử, không phải nói thật sự hay nói bắt buộc. Tinh thần giới này là "vì pháp mà mất mạng" cũng không từ, huống chi từ chối vì mệt nhọc và hao tốn. Tinh thần như vậy là tinh tiếncầu pháp. Nhưng đó là nói người hiến cúng và cầu pháp, còn vị pháp sư thì thế nào ? Pháp sư ở đây là pháp sư đại thừa. Pháp sư đại thừa ở đây, xét ra, là chỉ cho vị có thể làm 2 nhiệm vụ hòa thượnggiáo thọ trong việc truyền thọ Bồ tát giới. Vị pháp sư đại thừa này phải có tư cách đúng với Bồ tát giới, nhất là các giới 15, 16, 17, 18, 23, 30, 40 và 41 sau đây, liên quan đến tư cách ấy. Nói tối thiểu, vị pháp sư đại thừa cũng phải biết tinh tiến chỉ dạy chánh pháp và biết thiểu dục tri túc. Nhác, xa hoa, hoặc làm khó trong việc chỉ dạy chánh pháp, thì không còn là pháp sư, huống chi là pháp sư đại thừa, pháp sư đáng hiến cúng.

Tăng phường: khu vức cư trú của chư Tăng, nói hẹp lại thì Tăng phường là Tăng xá, tự viện.

Số 7: Không Được Không Đi Nghe Pháp

Phật tử thì bất cứ chỗ nào có diễn giảng kinh luật nói về giới pháp, chỗ ấy dầu là nhà to cửa lớn mà có đặt chỗ diễn giảng, các vị Bồ tát mới học cũng phải đem kinh luật đến mà lắng nghe, tiếp nhận và thưa hỏi nơi vị pháp sư. Trong núi rừng, dưới đại thọ, nơi tăng địa, trong tăng phường, bất cứ chỗ nào có giảng thuyết giới pháp thì càng đến để lắng nghe, tiếp nhận. Nếu không đến thì phạm tội khinh cấu. 

Nhà to cửa lớn là nhà cửa giàu sang của thế gian. Kinh luật nói về giới pháp, chính yếuBồ tát giới Phạn võng. Không có chỗ nào diễn giảng giới pháp đại thừa thì phải vận động tổ chức cho có, huống chi có chỗ như vậy mà không đến để nghe, học.

Câu "kinh luật nói về giới pháp" có bản chép hơi khác, theo đó thì phải dịch kinh luật nói về giáo phápgiới luật. Câu "chỗ nào giảng thuyết giới pháp" cũng phải dịch theo, rằng chỗ nào giảng thuyết giáo phápgiới luật. Nhưng tôi chọn cách chép như đã dịch, vì rõ ràng ở đây kinh luật là kinh mà nội dung nói về luật.

Số 8: Không Được Phản Đại Thừa Giới

Phật tử nếu tư tưởng phản bội kinh luật thường trú của đại thừa, cho rằng kinh luật ấy không do Như lai tuyên thuyết, và đảo ngược lại, thọ trì những kinh luật của nhị thừa thanh vănngoại đạo ác kiến mà nội dung gồm có giới pháplý thuyết phủ nhận Phật tánh, thì phạm tội khinh cấu. 

Kinh luật thường trú của đại thừaBồ tát giới Phạn võng mà bản nguyênPhật tánh thường trú, nên gọi là kinh luật thường trú. Nhị thừa thanh văn, ở đây thanh văn là cỗ xe cấp hai, thứ yếu, nên gọi là nhị thừa thanh văn, chứ không phải như ở chỗ khác nhị thừaDuyên giácThanh văn.

Không phản bội giới pháp đại thừa bằng cách thọ trì cấm giới và sách vở của ngoại đạo thì điều ấy khỏi phải nói đến. Điều phải nói đến là giới này bảo thọ trì cấm giới của thanh văn cũng là phản bội đại thừa giới. Cách nói này phải quyết trạch. Giới pháp thanh vănTỷ kheo giới. Giới pháp ấy là bản thể của Tăng bảo. Như vậy không thọ Tỷ kheo giới thì quyết định không phải là Tăng. Nhưng thọ Tỷ kheo giới mà cố chấp giới ấy mới là Phật chế và bài xích Bồ tát giới thì đó là điều mà giới thứ 8 này gọi là phản bội và cấm chỉ. Trái lại, thọ Tỷ kheo giới và thọ Bồ tát giới để thành Tỷ kheo bồ tát tăng, thì đó là điển hình mà Bồ tát giới Phạn võng cố tạo ra. Và đó là nói hàng xuất gia. Hàng tại gia mà thọ Bồ tát giới thì đối với tam qui ngũ giới cũng phải hiểu như vậy. Không thọ tam qui ngũ giới thì nhất định không phải Phật tử tại gia. Không có cái vụ thọ Bồ tát giới mà không thọ tam qui ngũ giới. Thọ tam qui ngũ giới mà thọ Bồ tát giới thì đó là Tại gia bồ tátBồ tát giới Phạn võng cố tác thành.

Số 9: Không Được Không Giúp Bịnh Tật

Phật tử nếu thấy bất cứ người bịnh tật nào cũng phải giúp đỡ thường xuyên y như phụng sự Phật đà. Bởi lẽ trong tám đám ruộng sinh trưởng phước đức, sự chăm sóc bịnh tật là đám ruộng tốt nhất. Nếu cha mẹ, đại sư, chư tăng, hay đệ tử bị bịnh tật, bị thiếu các bộ phận nơi cơ thể, bị hàng trăm thứ bịnh dày vò, thì mình phải chăm nuôi cho lành mạnh. Là Bồ tát mà vì tâm lý tàn nhẫn, tâm lý giận ghét, nên không chăm sóc bịnh tật cho người, đến nỗi nơi tăng phường, nơi thành thị, thôn ấp, nơi hoang dã, núi rừng, nơi đường sá, thấy bịnh nhân cũng không cứu giúp thì phạm tội khinh cấu. 

Nỗi khổ con người không chi phiền hơn bịnh tật, nên sự chăm sóc bịnh tật được giới này đưa lên ngang với sự phụng sự Phật. Thấy bịnh mà bỏ đi, nhất là đối với những người mình có bổn phận mà bịnh tật không chăm sóc cho lành mạnh, thì tâm địa tàn nhẫn đó còn chi gọi là người, huống chi gọi là người thọ Bồ tát giới.

Số 10: Không Được Tàng Trữ Khí Cụ

Phật tử thì không được tàng trữ dao, gậy, cung, tên, giáo, búa, và những khí giới chiến đấu khác. Bao nhiêu dụng cụ để bẫy lưới săn bắt, sát hại sinh vật, cũng không được tàng trữ. Là Bồ tát thì đến nỗi kẻ giết cha mẹ mình, mình cũng không giết lại để báo thù, huống chi đối với người khác và vật khác. Nên không được tàng trữ khí giới và dụng cụ tàn sát. Nếu cố ý tàng trữ thì phạm tội khinh cấu. 

Chữ tàng trữ, ngoài sự sắm cất còn có sự buôn bán. Tàng trữ khí giới chiến tranh và dụng cụ tàn sát, thì không những phạm tội sát sinh mà còn chính mình làm cho kẻ khác phạm vào tội ác này.

Sự trả thù không có giá trị đình chỉ tội ác. Nên phải thay vì sự trả thù bằng sự cảm hóa. Đó là giải thích vì sao không giết lại kẻ đã giết cha mẹ mình; chứ không phải không giết lại kẻ ấy là vì vô tình đối với cha mẹ.

Mười giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong sáu phẩm sau Như lai sẽ nói rõ. 

Kết thúc 10 giới nhẹ thứ nhất. Sáu phẩm sau, có bản chép khác, theo đó thì phải dịch phẩm Sáu ba la mật sau đây.

 

Tiết 2: Nói Về Giới Điều 
Của Bồ Tát Giới Phạn Võng
(tiếp theo)

Số 11: Không Được Làm Kẻ Quốc Tặc

Phật tử thì không được vì lợi lộc hay vì ác ý, làm sứ thần cho quốc gia mà liên minh quân sự, động binh đánh nhau, tàn hại vô số sinh mạng. Là Bồ tát thì sự qua lại trong quân binh còn không được có, huống chi cố ý làm tên quốc tặc. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu. 

Làm sứ thần gây chiến tranh là làm gián điệp ngoại giao, là làm sứ thần cho chính thể gây hấn: là làm quốc tặc. Chiến tranh do những tên quốc tặc này gây ra, dầu là giữa quốc gia mình với quốc gia khác, dầu là giữa các quốc gia khác, đều là những cuộc chiến tội ác. Và như vậy, những tên quốc tặc còn là những tên giặc quốc tế. Nhưng đó là nói sứ thần gây chiến. Sứ thần vận động hòa bình thì giới này không nói đến.

Số 12: Không Được Buôn Bán Tàn Nhẫn

Phật tử nếu cố ý buôn bán lương dân, buôn bán nô bộc tỳ thiếp, buôn bán súc vật, buôn bán quan quách và những dụng cụ tẩn liệm; nhưng mọi sự buôn bán ấy chính mình còn không được làm, huống chi chỉ bảo người khác. Nếu cố ý tự làm hay chỉ bảo người khác thì phạm tội khinh cấu. 

Buôn người, buôn súc vật, là sống trên sinh mạng. Buôn đồ tẩn liệm là sống trên cái chết.

Số 13: Không Được Phỉ Báng Không Thật

Phật tử nếu vì tâm địa độc ác mà, một cách không có sự thật, phỉ báng những người hiền lương, những vị thiện đức, những bậc pháp sư, đại sư hòa thượng, đại sư xà lê, quốc chúa, quí nhân, rằng phạm bảy tội nghịch, mười giới nặng ... Nhưng, đối với những người nên coi như cha mẹ chú bác anh em trong hàng lục thân ấy, mình phải phát sinh tâm hiếu thuận, tâm từ bi, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên, lại còn da thêm sự trái ý, sự tổn thương, khiến họ hảm vào tình trạng khổ tâm, thì phạm tội khinh cấu. 

Đã coi tất cả đều là bà con, nhất là "bà con Phật pháp", mà lại làm cho họ khổ tâm, thì còn gì gọi là từ bi, gọi là hiếu thuận. "Không thật" hay không có sự thật, là không có tội lỗi mình thấy, nghe hay nghi, mà vu khống, phỉ báng là có. Nếu thật có tội lỗi mà mình thấy, nghe hay nghi thì phải cử tội đúng luật, không được dung túng, cũng không được rêu rao.

Số 14: Không Được Cố Ý Thiêu Đốt

Phật tử nếu vì tâm địa tàn ác mà phóng lửa lớn, đốt cháy núi rừng, đồng nội; tháng tư đến tháng chín cũng phóng lửa; phóng lửa đến nỗi có thể cháy lan đến cả nhà cửa, phòng ốc, thành thị, thôn ấp, tăng phường, ruộng vườn và cây cối của người, cháy lan đến vật quỉ thần, vật công hữu. Nhưng hết thảy đều là vật có chủ, không được cố ý thiêu đốt. Nếu cố ý thiêu đốt thì phạm tội khinh cấu. 

Vật quỉ thần, vật công hữu. Nhưng hết thảy đều là vật có chủ , chính văn tôi chọn để dịch là "quỉ thần quan vật. Nhất thế hữu chủ vật". Trong cách dịch này, "hết thảy đều là vật có chủ", dịch sát là"hết thảy vâểt có chủ". Nếu nói hết thảy vật có chủ thì có nghĩa còn có vật vô chủ và có thể thiêu đốt vật ấy. Nhưng giới này đã kể vật quỉ thần và vật công hữu, thì không còn nhận có vật gì là vô chủ, nên phải dịch như đã dịch. Chưa hết, chính văn câu này có những bản chép hữu chủ vật ra hữu sinh vật, theo đó thì phải dịch "những chỗ có sinh vật"; lại có những bản chép quan vật ra cung vật, hữu chủ vật ra hữu sinh vật, theo đó thì phải dịch "cung miếu và tài vật của quỉ thần; nhưng tất cả những chỗ có sinh vật". Giới này, xét kyՠthì thấy răn sự đốt phá vô trách nhiệm nhiều hơn răn sự đốt phá tàn hại sinh mạng, nên Vạn 60/87B nói chữa hữu chủ ra hữu sinh là sai. Tinh thần giới văn cấm chỉ nhất là đốt rừng. Xét đến bao nhiêu tác dụng trọng đại không thể thay thế của rừng rú mới thấy sự quan trọng của giới này.

Tháng tư đến tháng chín là những tháng ở Ấn độ thảo mộc côn trùng sinh sản nhiều hơn và bị cấm thiêu đốt nhiều hơn, chứ không phải chỉ cấm những tháng ấy mà thôi. Sau hết, giới này là cấm đốt kẻo cháy lan đến của cải và tánh mạng của người và vật; nếu cốt đốt cháy của cải và tánh mạng của người và vật thì phạm tội trộm cướp và tàn sát.

Số 15: Không Được Chỉ Dạy Sai Lệch

Phật tử thì với những người cùng là Phật tử như mình, với ngoại đạo, với kẻ ác, với bà con, với những người quen biết tốt, với ai cũng hướng dẫn cho họ thọ trì kinh luật đại thừa, hướng dẫn cho họ lý giải được nghĩa ý của kinh luật ấy, làm cho họ phát bồ đề tâm; mười tâm phát thú, mười tâm trưởng dưỡng, mười tâm kim cang, ba mươi tâm ấy nhất nhất hướng dẫn cho họ hiểu rõ pháp dụng thứ tự. Nếu là Bồ tát mà vì tâm lý xấu xa, tâm lý hiềm ghét, một cách rất vô lý chỉ dạy cho người kinh luật của nhị thừa thanh vănhọc thuyết của ngoại đạo tà kiến thì phạm tội khinh cấu. 

"Không được chỉ dạy sai lệch", cũng có thể nói không được không dạy đại thừa. Đối với bất cứ ai, nhưng với sự cẩn trọng tuyệt đối, người thọ Bồ tát giới phải hướng dẫn cho họ 3 điều: học hiểu bồ tát giới, phát bồ đề tâm, học hiểu bồ tát vị. Dạy khác đi là sai lệch. Pháp dụng: cái dụng trừ mê lầm chứng chân lý của các pháp phải học ở trên.

Về việc dạy Tỷ kheo giới (kinh luật của nhị thừa thanh văn) hay tại gia giới, thì tinh thần và sự việc đã nói trong khi giải thích giới nhẹ số 8.

Số 16: Không Được Nói Pháp Rối Loạn

Phật tử thì bằng một tâm nguyện tốt đẹp, trước tiên học tập uy nghigiới pháp của kinh luật đại thừa, lý giải một cách sâu rộng nghĩa lýý vị của uy nghigiới pháp ấy. Rồi thấy các vị Bồ tát mới học mà có người từ trăm dặm ngàn dặm đến cầu học kinh luật đại thừa, thì phải nói cho họ, một cách đúng như chánh pháp, về những khổ hạnh như thiêu đốt thân phần, cánh tay, ngón tay. Nếu thấy họ tỏ ý e ngại sự thiêu đốt ấy, mặc dầu đã được bảo là thiêu đốt để hiến lên chư Phật đi nữa, thì biết không phải là Bồ tát xuất gia. Bồ tát xuất gia thì dẫu đến hổ lang, sư tửquỉ thần đang đói, cũng nên xả thịt hay tay chân của mình mà cung cấp. Sau khi nói những pháp khổ hạnh rồi, nhất nhất tuần tự nói cho họ về giới pháp chính yếu, làm cho tâm của họ mở rộng, ý của họ giải tỏa. Nếu là Bồ tát mà vì ý niệm lợi lộc nên điều đáng giải đáp không giải đáp, nói một cách rối loạn văn nghĩa của kinh luật đại thừa, không có thứ tự trước sau, nói tóm, nói một cách phỉ báng Tam bảo, thì phạm tội khinh cấu. 

"Không được nói pháp rối loạn" là phải nói một cách tuần tự. Trước hết phải thử nghiệm và nung nấu tâm chí cho người học đạo bằng cách trình bày các pháp khổ hạnh, sau đó ngó được mới dạy Bồ tát giới. Uy nghigiới pháp của kinh luật đại thừachi tiết và giới điều của Bồ tát giới Phạn võng. Thiêu đốt nằm trong nghĩa hy sinh, phóng xả. Thiêu đốt để hiến lên chư Phật là hiến lên chư Phật cái chí nguyện kiên cố như trong sự thiêu đốt. Nhưng đây là nói để thử. Thử coi nói đến hiến lên chư Phật mà họ có mạnh mẽ tâm chí không. Không thì phải dạy bảo từ từ, cốt sao cho họ có được tâm chí kiên cường để thọ trì Bồ tát giới. Đối với thân thể, nói tổng quát, Bồ tát giới Phạn võng bảo trọng (như giới 37 nói) hay khinh xả (như giới này nói) đều cốt để học tập Bồ tát giới.

Số 17: Không Được Ỷ Thế Ham Cầu

Phật tử nếu tự mình vì đồ ăn, vì thức uống, vì tiền của, vì quyền lợi, vì danh vọng, thân cận với quốc vương, vương tử, tể tướng, bách quan, rồi ỷ thế làm oai, yêu sách, hành hung, chiếm đoạt tiền tài sản vật của người một cách ngang ngược; nhưng mọi sự cầu lợi như vậy là ham cầu tàn ác, ham cầu quá đáng, vậy mà còn chỉ bảo kẻ khác ham cầu nữa, không còn gì là từ bi, là hiếu thuận, thì phạm tội khinh cấu. 

Trong những cách ham cầu mà giới này nói còn thiếu mấy sự thường thấy, nhất là đem kinh pháp ra nói sao cho vừa lòng phụ nữ và chính quyền. Yêu sách, hành hung, dịch sát là xin, đòi, đánh, tát, lôi, kéo.

Số 18: Không Được Mù Mờ Làm Thầy

Phật tử nếu học và tụng Bồ tát giới thì ngày đêm sáu buổi nắm giữ giới ấy trong trí, lý giải ý nghĩa giới ấy, nghĩa là lý giải về tánh của Phật tánh. Là Bồ tát mà không lý giải được một câu đủ nghĩa, một bài chỉnh cú, lý do của giới pháp cũng không rành, lại nói dối trá rằng lý giải được, như vậy là tự lừa đảo mình và lừa đảo người khác. Nên, nhất nhất mù mờ, giới pháp giáo pháp nào cũng không hiểu, vậy mà làm pháp sư truyền thọ giới pháp cho kẻ khác, thì phạm tội khinh cấu. 

Đầu giới này có bản chép thêm, theo đó thì phải dịch "nếu Phật tử thì phải học tập 12 thể loại khế kinh, hằng ngày 6 buổi trì tụng Bồ tát giới" ... Học và tụng Bồ tát giới là học hiểu và tụng thuộc lòng giới ấy. Ngày đêm sáu buổi: ở chỗ khác là cách nói 24 giờ trên 24 giờ, nhưng ở đây là buổi đầu, buổi giữa và buổi cuối, của ngày và đêm. Nắm giữ trong trí , chính văn là trì, là lấy 1 pháp hạnh để nói 5 pháp hạnh: thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm, giải nghĩa thú, như thuyết hành (hoặc: thọ trì, độc, tụng, giải thuyết, viết chép). Lý giải ý nghĩa giới ấy, nghĩa là lý giải về tánh của Phật tánh là lý giải Bồ tát giới, và sự lý giải Bồ tát giớinghĩa lý giải về bản nguyên của giới ấy là tánh của Phật tánh. Tánh của Phật tánh là những đức tính của Phật tánh, trong đó có từ bi hiếu thuận diễn thành Bồ tát giới. Lý do của giới phápnguyên nhân, trường hợp, chi tiết và tương quan của mỗi giới điều. Người thọ Bồ tát giới, khoan nói để làm thầy truyền giới ấy cho ai, mà chính mình phải học cho thật hiểu và thật thuộc về giới ấy.

Số 19: Không Được Phỉ Báng Giữ Giới

Phật tử nếu vì tâm lý xấu và ác, thấy vị tỷ kheo giữ giới tay nâng lư hương thực tập Bồ tát hạnh, mà đâm thọc bên này bên kia, phỉ báng vu khống người thánh thiện, không từ điều xấu nào mà không dựng đứng lên, thì phạm tội khinh cấu. 

"Không được phỉ báng giữ giới", rõ hơn thì phải thêm không được phỉ báng sự giữ giới bằng cách thực tập Bồ tát hạnh, nhất là sự phỉ báng ấy dùng lưỡng thiệt mà vu khống và ly gián. Tay nâng lư hương thực tập Bồ tát hạnh là nói tắt đến 2 lớp: nói tắt về sự hiến hương, lễ bái, trì niệm, và mọi sự này chỉ là nói một chút về sự thực tập Bồ tát hạnh. Thực tập Bồ tát hạnh là giữ Bồ tát giới. Ai thực tập như vậy mình cũng tùy hỷ cả, không nên đố kà tổn đức.

Số 20: Không Được Không Cứu Phóng Sinh

Phật tử thì phải đem tâm từ bi mà thực hành sự phóng sinh. Phải nghĩ như vầy: tất cả nam tính là cha ta, tất cả nữ tính là mẹ ta, ta đời đời kiếp kiếp không khi nào không sinh ra từ cha mẹ ấy. Nên sáu đường chúng sinh đều là cha mẹ của ta, ta giết mà ăn là giết mà ăn cha mẹ của mình. Lại cũng giết mà ăn chính thân cũ của mình, vì lẽ hết thảy thể cứng thể lỏng và sức nóng sức động toàn là thân thể cũ của ta. Vì nghĩ như vậy nên thường phóng sinh. Đời đời thọ sinh, đó cũng là một sự thực có tính cách bất biến, nên càng phải chỉ bảo khuyến khích mọi người phóng sinh. Khi thấy thế nhân tàn sát sinh vật thì phải tìm cách cứu hộ, giải thoát khổ nạn cho chúng. Rồi thời thường phải giáo hóa, giảng nói Bồ tát giới cho người để cứu hộ chúng sinh. Gặp ngày chết của cha mẹ anh em thì phải cung thỉnh pháp sư diễn giảng kinh luật của Bồ tát giới. Cái phước ấy giúp cho người chết được thấy chư Phật, hoặc sinh trong nhân loại hay trên chư thiên. Nếu không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu. 

"Không được không cứu phóng sinh" là phải cứu sinh (cứu thoát sinh vật) và phóng sinh (phóng thả sinh vật). Đời đời thọ sinh là chúng ta không phải chỉ có đời này mà đã có vô lượng đời kiếp, và đời kiếp nào cũng chịu sự sinh ra bởi cha mẹtứ đại. Do vậy mà sinh vật nào cũng đã là cha mẹ cũ của ta, và tứ đại nơi sinh vật nào cũng đã là thân cũ của ta. Tứ đại là 4 thể lực tạo ra cơ thể và vũ trụ vật lý, tức cứng, lỏng, nóng, động (kiên, thấp, noãn, động: cố thể, dịch thể, nhiệt lực, động lực); 4 thể lực này mới là tứ đại, còn đất nước lửa gió (địa thủy hỏa phong) chỉ là tứ đại tùy tăng: cứng nhiều hơn là đất, cho đến động nhiều hơn là gió, và mỗi thứ trong tứ đại tùy tăng ấy đều có đủ cả tứ đại.

đời đời thọ sinh nên phải cứu sinh và phóng sinh. Cứu sinh có 2 cách: tìm cách mà cứu khi sinh vật bị bắt (cách đó, phóng sinh là một) và tìm cách khuyên người đừng bắt sinh vật nữa (cách đó, giảng Bồ tát giới là một). Cách sau cứu được cả người bắt và sinh vật bị bắt, nên gọi là cứu hộ chúng sinh.

Gặp ngày chết của cha mẹ anh em , ngày chết là ngày mới chết và ngày kﮠViệc giảng Bồ tát giớiích lợi lớn lao trong việc cứu hộ chúng sinh, nên gặp ngày chết mà giảng Bồ tát giới thì người chết phi sinh tịnh độ (thấy Phật) cũng sinh nhân thiên. Giảng Bồ tát giới là giảng giới ấy với những cách thức thích nghi, chứ không phải chỉ giảng giải chính văn.

Thông thường Phật tử phóng sinh chỉ vì thương sinh vật theo lời Phật dạy và muốn được phước như lời Phật dạy. Nhưng lý thuyết phóng sinh nói trong giới này còn bác bỏ cái thuyết cho sinh vật với người đều do thượng đế tạo ra, và thượng đế tạo ra sinh vật là để cho người ăn.

Mười giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong phẩm Diệt trừ tội lỗi Như lai sẽ nói rộng rãi về mỗi một giới pháp ấy. 

Kết thúc 10 giới pháp nhẹ thứ hai.

Số 21: Không Được Giận Dữ Báo Thù

Phật tử thì không được đem sự giận dữ trả lại sự giận dữ, không được đem sự đánh đập trả lại sự đánh đập, cũng không được giữ tâm niệm trả thù những kẻ tàn sát cha mẹ anh em bà con của mình hay những kẻ sát hại quốc chúa. Tàn sát sự sống để trả thù sự sống là điều không thuận với đạo hiếu. Không nuôi nô bộc tỳ thiếp mà đánh đập mắng chưởi, ngày ngày ba nghiệp bùng dậy, nhất là tội lỗi khẩu nghiệp lại càng vô lượng, huống chi cố làm đến bảy tội nghịch. Là Bồ tát xuất gia mà không có tâm từ bi, cố giữ ý niệm trả thù đến nỗi trong hàng bà con cũng quyết không tha, thì phạm tội khinh cấu. 

Cái khác của người học đạo với người thế gian là ở chỗ trả thù hay cảm hóa. Câu chót hết, chính văn là "nhi xuất gia bồ táttừ tâm, báo thù, nãi chí lục thân trung cố báo giả, phạm khinh cấu tội". Chính văn này có một cách hiểu mà theo đó thì phải dịch "nếu bồ tát xuất gia mà không có từ tâm, cố ý báo thù, cho đếnlục thâncố ý báo thù, thì phạm tội khinh cấu". Hiểu như vậy là cố ép chính văn cho đúng với đoạn trên đã nói không được trả thù kẻ giết cha mẹ thân nhân. Nhưng chính văn này rõ ràng muốn nói, là Bồ tát, lại là Bồ tát xuất gia, mà quyết tâm trả thù (bất cứ trả thù cho ai) đến nỗi không những đối với người ngoài mà đối với bà con cũng không tha, thì phạm giới này. Về chữ Bồ tát xuất gia, có bản chép và có người nói không có, nhưng tìm xét thì có đúng hơn (Chính 62/202). Có điều nói như vậy không có nghĩa giới này chỉ răn cấm người xuất gia, mà là có nghĩa răn cấm người xuất gia hơn.

Số 22: Không Được Kiêu Ngạo Không Học

Phật tử nếu mới xuất gia, chưa lý giải gì, mà tự thị thông minh, tự thị cao sang, tự thị tuổi tác, tự thị dòng họ, tự thị giai cấp, kiến thức to lớn, phước đức to lớn, giàu có to lớn, đủ cả thất bảo, ỷ thị những thứ ấy mà kiêu ngạo, không chịu học hỏi kinh luật với các vị pháp sư đã học hỏi trước mình. Các vị pháp sư ấy có thể có người dòng họ nhỏ, tuổi tác nhỏ, giai cấp nhỏ, nghèo nàn, thấp thỏi, các giác quan không hoàn chỉnh, nhưng thật là người có đức, lý giải thấu đáo hết thảy kinh luật. Nếu các vị Bồ tát mới học mà dòm ngó dòng họgiai cấp, không chịu đến học hỏi đệ nhất nghĩa nơi vị pháp sư ấy, thì phạm tội khinh cấu. 

Đệ nhất nghĩachân lý tuyệt đối, tức Phật tánh thường trú. Nếu kiêu ngạo mà không thỉnh cầu học hỏi giáo phápgiới pháp Phật tánh, thì thế là để sự kiêu ngạo vùi lấp cả một kiếp làm người.

Số 23: Không Được Không Truyền Kinh Giới

Phật tử nếu, sau khi Như lai nhập niết bàn rồi, muốn đem tâm nguyện tốt đẹp lãnh thọ Bồ tát giới mà bằng cách tự nguyện lãnh thọ giới ấy trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, thì phải bảy ngày sám hối trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, hễ thấy được tướng tốt thì thọ giới là được giới. Nếu chưa thấy được tướng tốt, thì phải hai lần hay ba lần bảy ngày, cho đến một năm, phải sám hối cho thấy được tướng tốt. Thấy được tướng tốt rồi thì có thể thọ giới trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát. Nếu không thấy được tướng tốt, thì dẫu thọ giới trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, cũng không thể gọi là được giới. Nếu lãnh thọ Bồ tát giới bằng cách hiện diện đối trước vị pháp sư đã thọ giới ấy trước mình, thì không cần phải thấy được tướng tốt, tại sao, vì vị pháp sư ấy đã do các vị pháp sư trước nữa truyền giới cho nhau, và nay truyền lại cho mình, nên không bắt buộc phải thấy tướng tốt. Và thọ giới trước vị pháp sư như vậy thì được giới liền, được bởi cái tâm cùng cực cẩn trọng phát sinh trong lúc ấy. Nếu trong vòng ngàn dặm, không ai có thể làm vị pháp sư truyền thọ Bồ tát giới, thì người muốn thọ giới ấy có thể tự nguyện mà lãnh thọ trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, nhưng với điều kiện phải sám hối thấy được tướng tốt. Nếu là vị pháp sưtự thị sự lý giải của mình đối với kinh luật và giới pháp đại thừa, chỉ làm bạn với quốc vương, vương tử và bách quan, còn các vị Bồ tát mới học đến xin hỏi hoặc nghĩa ý của khế kinh, hoặc nghĩa ý của giới luật, vị pháp sư ấy vì tâm lý khinh miệt, tâm lý xấu xa, tâm lý kiêu ngạo, không nhất nhất giải đáp một cách tốt đẹp những câu của họ thưa hỏi, thì phạm tội khinh cấu. 

Không truyền kinh giới là không truyền dạy và truyền thọ cho hậu học về khế kinhgiới luật, chủ yếu là Bồ tát giới Phạn võng; và như vậy là chính mình làm cho giống Phật đứt đoạn. Giới văn công kích sự xu phụ quyền quí mà khinh miệt hậu học, không chu toàn nhiệm vụ của mình. Nhiệm vụ ấy, như vừa nói, là truyền dạy và truyền thọ Bồ tát giới. Phần người thọ giới, nếu trong vòng ngàn dặm không có vị thầy xứng đáng thì có thể tự nguyện thọ Bồ tát giới trước tượng Phật và cũng có thể được giới, với điều kiện trước đó phải sám hối cho đến lúc thấy được tướng tốt mà giới 41 sẽ nói. Còn nếu thọ Bồ tát giới với thầy truyền giới thì phải là vị thầy đã do các vị thầy trước truyền lần, và nay làm cả 2 nhiệm vụ đại sư Hòa thượngđại sư Xà lêtruyền giới cho mình, nhưng mình chỉ được giới nếu có cái tâm cùng cực cẩn trọng trong lúc thọ giới (và tiếp sau đó trong lúc trì giới). Vị thầy tự nguyện thọ giới dĩ nhiên không được truyền giới, nhưng vị thầy do các vị thầy trước truyền lần cũng chỉ được truyền giới với điều kiện ít nhất là biết quí trọng tương lai của Phật pháp mà không xu phụ quyền quí, là lãnh thọ và truyền trao đúng với sự qui định của Bồ tát giới Phạn võng.

Kinh Anh lạc nói thọ Bồ tát giới có 3: đối trước Phật đà Bồ tát mà thọ là thượng phẩm, đối trước pháp sư thọ trước mà thọ là trung phẩm, nếu trong vòng ngàn dặm không có vị pháp sư ấy nên đối trước tượng Phật đà và Bồ tát mà thọ là hạ phẩm (Chính 24/1020). Vì sao thọ giới trước vị pháp sư hơn thọ giới trước tượng Phật thì xét thấy (a) trong hình thức, thọ giới với vị pháp sư thì có vị thầy không hiện diện là Phật, có vị thầy hiện diệnpháp sư, (b) trong sự việc, thọ giới với vị pháp sư thì trước, trong và sau khi thọ giới, vị pháp sư thường dạy bảo, khuyến khích, nhất là kiểm tra.

Số 24: Không Được Học Các Sách Khác

Phật tử nếu có chánh pháp đại thừa trong kinh luật Như lai đã dạy, chánh pháp đủ cả chánh kiến, chánh tánh, chánh pháp thân, mà không nỗ lực học hỏi tu tập, lại bỏ chánh pháp quí báu như thất bảo ấy mà học tập sách vở phủ nhận Phật tánh của nhị thừa, ngoại đạothế tục, như các bộ a tỳ đàm, các luận thuyết hỗn tạp, những thi văn truyện ký, thì thế là làm mất Phật tánh, làm cản đạo nghiệp, chứ không phải thực hành Bồ tát đạo. Nếu cố ý học tập thì phạm tội khinh cấu. 

Chánh pháp đại thừa trong kinh luật Như lai đã dạy là trong kinh luật Phật dạy có kinh luật đại thừa. Các kinh luật Phật dạy khác cũng có chánh pháp đại thừa ít nhiều trong đó. Chánh pháp đại thừachánh kiến: kiến giải về Phật tánh, là chánh tánh: thực hành đức tánh của Phật tánh, và là chánh pháp thân: thành tựu Phật tánh (thành tựu pháp thân: thực hiện bản thể đầy đủ đức tánh). Ba điều này bao gồm tất cả nội dung về lý, hạnh và quả của đại thừa. So với sách vở của tiểu thừa, ngoại đạo, và thế tục, thì đại thừa như vậy quí như thất bảo, nhưng thông đạt đại thừa rồi, muốn biết những sách vở ấy để tiện việc hóa độ, thì lại là việc khác. Sách vở phủ nhận Phật tánh , chính văn là tà kiến, chữ ấy ở đây có nghĩa là những kiến thức phủ nhận Phật tánh, không có căn bản Phật tánh ấy. Tà kiến như vậy bao gồm cả nhị thừa, ngoại đạothế tục. Nhưng nhị thừa ở đây, là các bộ a tỳ đàm, nói như vậy là chỉ nói thời kỳ bộ phái, không nói thời kỳ nguyên thỉ, lại càng không nói về giới luật. Do vậy mà người xuất gia thọ Bồ tát giới càng phải lãnh thọ, học hỏi và tuân giữ cho nghiêm về Tỷ kheo giới. Còn ngoại đạo ở đây là các chủ thuyết phức tạp và hỗn tạp của hết thảy học phái cùng tôn giáo khác. Thế tục là những thi văn truyện ký của thế tục, nhưng có người chú giải ký là toán học, bao gồm cả toán pháp, lý số và thiên văn, có người còn dẫn luận Du dà mà chứng minh cho chú giải ấy.

Số 25: Không Được Lạm Dụng Gây Rối

Phật tử nếu, khi Như lai nhập niết bàn rồi, làm chủ sự thuyết pháp, làm chủ sự hành đạo, làm chủ nơi tăng phường, làm chủ sự giáo hóa, làm chủ sự tọa thiền, làm chủ sự đi lại, thì phải phát sinh tâm từ bi, khéo hòa giải mọi sự mâu thuẫn, khéo hộ vệ vật của Tam bảo, đừng sử dụng vô độ như là của riêng. Nếu trái lại, làm cho Tăng chúng rối loạn vì sự tranh chấp, mặc sức sử dụng của Tam bảo, thì phạm tội khinh cấu. 

Các chức vị làm chủ trong giới văn này, tùy qui chế và định nghĩa mà xưa nay gọi bằng những tên hoặc đồng hoặc khác, như làm chủ sự thuyết pháp gọi là pháp sư, cho đến làm chủ sự đi lại gọi là tri khách. Nhưng làm pháp sư hay làm trú trì, bất cứ chức vị gì mà nắm trọn phần hay nắm một phần quyền hành trong Tăng chúng, thì phần tự lợi không được lạm dụng, phần lợi tha phải khéo điều giải mâu thuẫn. Nếu lạm dụng và gây rối thì chính mình là tên giặc phá hoại Tăng chúng.

Số 26: Không Được Không Đãi Khách Tăng

Phật tử nếu đã ở trước trong tăng phường, sau thấy các vị tỷ kheo hay tỷ kheo bồ tát, đến nơi tăng phường, đến nơi nhà cửa, thành thị hay thôn ấp của mình, đến nơi nhà của quốc vương thiết lập, đến nơi chỗ đang kiết hạ an cư, hay nơi chỗ đang thiết lập đại hội cầu phước, thì mình là chư tăng ở trước, phải đón rước, tiễn đưa, và hiến cúng ẩm thực; phòng ở, đồ nằm, giường giây hay giường cây, mọi sự đều cung cấp. Nếu không có sẵn, thì dẫu phải bán mình, bán cả con cái, cũng gắng mà cung phụng những thứ các vị ấy cần dùng. Rồi nếu có thí chủ đến thỉnh chư tăng, thì các vị khách tăng ấy cũng có đồng phần, nên vị chủ tăng phường phải y theo thứ tự mà mời các vị khách tăng ấy thọ thỉnh. Nếu chư tăng ở trước chỉ thọ thỉnh riêng, không mời các vị khách tăng, thì vị chủ tăng phường tội lỗi vô lượng, không khác gì loài vật, không phải sa môn, không phải dòng giống họ Thích. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu. 

Giới này cốt nói cho người xuất gia thọ Bồ tát giới, nhất là các vị tri sự hay trú trì mà trong giới văn gọi là vị chủ tăng xá. Nhưng trong chi tiết lại có vài chỗ nói chung hoặc nói riêng cho cả người tại gia thọ Bồ tát giới. Nhà cửa, thành thị hay thôn ấp của mình là nói chung cho cả xuất gia tại gia mà nói cho tại gia nhiều hơn. Nhà của quốc vương thiết lậpthời xưa ở Ấn, vua chúa hay làm những nhà cửa nghỉ chân cho tu sĩ, du khách. Phòng ở, đồ nằm, giường cây hay giường giây, toàn là nói về đồ nằm, nhưng sự hiến cúng thường có 4, là đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm và dược phẩm. Bán mình, bán cả con cái, có bản chép thêm cắt thịt thân mình mà bán, nhưng nhiều bản không có, và không có thì đúng hơn. Câu này nói riêng cho người tại gia thọ Bồ tát giới, và đó là nói cái tình đãi sư tăngđồng đạo cực kỳ chí thiết, nên nói như vậy có nghĩa giả sử nhiều hơn. Tuy nhiên, cách nói ấy cũng nên hiểu. Nói bán mình và bán con như kiểu đi ở thì xưa và nay hay có. Nói bán mình và bán con là bán sức lao động chân tay và trí thức thì ở đâu và thời nào cũng có và có dưới nhiều hình thức. Nhưng nói bán thịt mình, nếu thật giới này có nói, thì chỉ là giả sử, trừ ra bán thịt có nghĩa như bán mình. Y theo thứ tự mà mời các vị khách tăng ấy thọ thỉnh , cách thức này quan trọng, sẽ được giải thích trong giới 28 sau đây. Nếu khách tăng bị kỳ thị, không được tiếp đãi chu tất, không được lợi hòa đồng quân đúng luật, thì sự kỳ thị ấy bị Phật kết án gần như chưa từng thấy.

Số 27: Không Được Thọ Thỉnh Riêng Biệt

Phật tử thì trường hợp nào cũng không được thọ thỉnh riêng biệt, thu đồ hiến cúng về cả nơi mình. Đồ hiến cúng là thuộc về chư tăng mười phương. Nếu thọ thỉnh riêng biệt thì ấy là lấy vật của chư tăng mười phương thu về nơi mình; lại xâm phạm đến vật của Phật đà, thánh giả, đại sư, chư tăng, cha mẹ và bịnh nhân trong tám ruộng phước, vì lẽ mình chỉ dùng cho mình mà thôi, nên phạm tội khinh cấu. 

Đồ hiến cúng là thuộc về chư tăng mười phương, chư tăng mười phương là các vị tỷ kheotỷ kheo thọ Bồ tát giới trong mọi phương hướng, bất cứ ở đâu. Đồ hiến cúng, theo luật, là của chung chư tăng như vậy. Nói nôm na, theo luật, không có chùa riêng và đồ riêng của chư tăng ở trước trong mỗi chùa, mà tất cả chùa chiền, và đồ vật được hiến cúng đã lâu hay mới có, trong đó có sự trai tăng, đều là của chư tăng 10 phương mà chư tăng ở trước chỉ là một bộ phận, một số đại diện. Tám ruộng phướcPhật đà, thánh giả (Bồ tát, Duyên giác, La hán), đại sư Hòa thượng (vị truyền giới), đại sư Xà lê (vị dạy cách thọ giới), chư tăng, cha, mẹ và bịnh nhân; 8 bậc và người này là những đám ruộng tốt mọc lên và nuôi lớn phước đức cho người, nên gọi là 8 ruộng phước. Đồ hiến cúng, theo luật, cũng là của chung 8 ruộng phước như vậy. Nếu không thọ thỉnh theo thứ tự như giới 28 sau đây nói, mà thọ thỉnh riêng biệt, lại sử dụng một mình, thì thế là chiếm đoạt 2 lớp: chiếm đoạt của chư tăng 10 phương và của 8 ruộng phước. Thọ thỉnh riêng biệt, nói nôm na, là nhận lời mời trai tăng riêng, nhận đồ hiến cúng riêng, chứ không lợi hòa đồng quân cho chư tăng, nhất là cho khách tăng. Thu đồ hiến cúng về nơi mình, mình chỉ dùng riêng cho mình, những chữ mình trong 2 câu này chỉ cho vị trú trì hay tri sự, lại chỉ cho chư tăng ở trước trong mỗi ngôi chùa. Nếu người thỉnh tăng mà thỉnh riêng, nếu tăng thọ thỉnh mà thọ riêng, thì không được gọi là thỉnh tăng hiến cúng và không được cái phước ấy. Hãy coi kyՠgiới 28 dưới đây.



Số 28: Không Được Thỉnh Tăng Riêng Biệt

Phật tử thì dầu xuất gia thọ Bồ tát giới, dầu tại gia thọ Bồ tát giới, hay vị trí thí chủ nào, khi muốn thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện, cũng phải đến tăng phường, hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn theo thứ tự thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện. Như vậy là thỉnh được Hiền thánh tăng mười phương. Nếu thỉnh riêng biệt như thế nhân, thì thỉnh năm trăm vị tăng La hánBồ tát, cũng không bằng thỉnh một vị tăng phàm phu trong thứ tự của chư tăng. Thỉnh riêng là nề nếp của ngoại đạo, bảy đức Phật không có qui chế thỉnh riêng. Sự ấy không thuận với đạo hiếu. Nếu cố ý thỉnh riêng thì phạm tội khinh cấu. 

Thỉnh tăng riêng biệt , nói nôm na là mời các Thầy ăn riêng, cho riêng; ý riêng thích ai thì mời thì cho người ấy. Như vậy không được gọi là thỉnh tăng và không có cái phước thỉnh tăng. Do đó, giới 27 trên đã cấm tăng thọ thỉnh riêng biệt, giới 28 này lại cấm người thỉnh tăng riêng biệt, mà thỉnh và thọ thỉnh đều phải theo thứ tự của chư tăng. Thỉnh và thọ thỉnh theo thứ tự của chư tăng là thế này. Chư tăng cùng ở 1 trú xứ, vốn phải phân thứ tự theo năm thọ Tỷ kheo giới mà giới 38 sẽ nói. Có thể phân thứ tự ấy bằng 1 bảng danh sách. Và thứ tự phân theo năm thọ giới như vậy gọi là thứ tự của chư tăng . Các vị khách tăng cũng vậy, ngay khi mới đến, sẽ ở lại mau hay lâu, hay vô hạn định, vị trú trì hay tri sự phải hỏi năm thọ Tỷ kheo giới của các vị ấy mà đưa vào thứ tự của chư tăng trong trú xứ. Rồi ai muốn thỉnh thì hãy đến trú xứ ấy mà bạch với vị trú trì hay tri sự, rằng xin thỉnh tăng theo thứ tự , lại phải bạch rõ thỉnh cúng được mấy vị. Nếu người thỉnh không biết cách thỉnh tăng theo thứ tự thì vị trú trì hay tri sự phải hỏi và phải chỉ cho họ. Đến lượt chư tăng thọ thỉnh theo thứ tự là vị trú trì hay tri sự bạch chư tăngý nguyện của người thỉnh, và chư tăng cùng thọ thỉnh theo ý nguyện ấy. Vị trú trì hay tri sự lại coi cái số mà người thỉnh có thể cúng, nếu đủ cả chư tăng thì bạch chư tăng đi dự cả, nếu không đủ thì vị trú trì hay tri sự theo thứ tự của chư tăng mà cử đi. Cử số này cho lần này rồi cử đến số khác cho lần khác, khi chư tăng ai cũng đi rồi thì bắt đầu trở lại mà cử. Như vậy, không kể thỉnh và thọ thỉnh là bao nhiêu vị, mà ý nguyện người thỉnh là thỉnh Hiền thánh tăng mười phương, còn tăng thọ thỉnh thì một hay mấy vị, và là phàm phu tăng đi nữa, cũng là thay mặt Hiền thánh tăng mười phương mà thọ thỉnh. Do đó mà người thỉnh dầu chỉ thỉnh cúng được một vị, và là một vị phàm phu tăng mà thôi, cũng vẫn gọi là thỉnh tăng, và vẫn được cái phước thỉnh tăng ấy. Nếu người thỉnh tăng cũng như tăng thọ thỉnh mà không theo sự thỉnh và thọ thỉnh thứ tự, lại thỉnh và thọ thỉnh riêng biệt, thì đó là ngoại đạo, không phải qui chế của Phật, và người thỉnh dầu thỉnh hàng trăm vị, và toàn là thánh tăng cả, cũng vẫn không được gọi là thỉnh tăng, và không có cái phước của sự thỉnh tăng. Tuy nhiên, trên đây là nói thỉnh và thọ thỉnh trong sự hiến cúng cầu nguyện, ngoài sự đó thì không phải là điều mà giới này nói đến.

Câu phải đến tăng phường, hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn theo thứ tự thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện, như vậy là thỉnh được Hiền thánh tăng mười phương, có bản chép thêm mấy chữ mà theo đó thì phải chuyển văn nhiều hơn một chút mới dịch rõ được: Phải đến tăng phường, hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện; vị tri sự trả lời hãy thỉnh theo thứ tự. Người ấy y lời mà thỉnh theo thứ tự. Như vậy là thỉnh được Hiền thánh tăng mười phương. Cách chép này kém, nhưng rõ hơn được chút nữa cho giới này, lại làm cho giới này dạy được cả người thí chủ và vị tri sự.

Số 29: Không Được Sống Bằng Tà Mạng

Phật tử nếu vì độc ác và vụ lợi mà buôn bán dâm nam dâm nữ, tự tay làm đồ ăn, tự xay tự giã, coi tướng nam nữ, đoán mộng tốt xấu, đoán thai trai gái, làm các chú thuật, xảo thuật, luyện tập chim săn thú săn như luyện chim ưng, pha chế thuốc độc bằng trăm thứ ngàn thứ độc hợp lại, độc rắn, độc vàng bạc sống, độc sâu cổ, không còn gì là từ bi, hiếu thuận. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu. 

Tà mạng, là sống bằng những cách sống thiếu uy nghi, thiếu tư cách, thiếu từ tâm. Người xuất gia thì "hoằng pháp thị gia vụ, lợi sinh vi sự nghiệp" nên phải sống bằng sự giúp đỡ của tín đồ, còn người tại gia thì "như lý cầu tài" kiếm của một cách hợp lý mà sống, ngoài ra đều là tà mạng cả. Tự tay làm đồ ăn, tự xay tự giã là nói sự thiếu uy nghi của vị tỷ kheo. Độc sâu cổ là bắt cả trăm thứ sâu bỏ vào 1 cái hộp cho chúng ăn nhau, con nào còn sống gọi là sâu cổ. Đem phân sâu cổ ấy tán ra mà đầu độc thì phát điên cuồng hay bị cổ trướng. Lấy phân cả trăm thứ sâu nuôi chung mà đầu độc, cũng gọi là độc sâu cổ.

Số 30: Không Được Bất Kính Hảo Thời

Phật tử nếu vì tâm lý bất lương, chính mình phỉ báng Tam bảo bằng cách tỏ ra thiết cốt với Tam bảo, nhưng, mở miệng ra là nói về không mà việc làm thì toàn ở trong có: kinh lý cho thế nhân, vì thế nhân mà mai mối nam nữ, kết hợp sắc dục, tạo ra đủ thứ hệ lụy; sáu ngày chay trong mỗi tháng, hay ba tháng chay trong mỗi năm, cũng sát sinh, trộm cướp, phá trai, phạm giới, thì phạm tội khinh cấu. 

Hảo thời là những thì gian quí báu, cần phải da tăng sự cẩn trọng, như những ngày lục trai hàng tháng (8, 14, 15, 23, 29 và 30) và ba tháng trường trai hàng năm (giêng, năm và chín), hay các ngày kỷ niệm Phật đà, Bồ tát. Những thì gian quí báu như vậy mà phá giới phạm trai, thì đã phạm những tội phá giới phạm trai mà còn phạm giới này nữa. Giới này răn sự xảo trá đối với Tam bảo, răn sự nói và làm nghịch nhau, sự kinh lý cho thế nhân, và như vậy là răn tà nghiệp, răn thêm tà mạng, nhất là răn cấm đích thân phỉ báng Tam bảo bằng những sự ấy, nên các bản chú thích đặt tên khác nhau theo những sự răn như vậy. Kinh lý cho thế nhân, ngoài sự mai mối nam nữ còn có lắm việc, như kinh tài, môi giới chính trị ...

Mười giới pháp nhẹ như vậy, các người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong phẩm Thiết chế giới luật Như lai đã giải thích đầy đủ. 

Kết thúc 10 giới nhẹ thứ ba.

Số 31: Không Được Không Cứu Không Chuộc

Phật tử nếu, sau khi Như lai nhập niết bàn, trong thời kỳ dữ dội, thấy ngoại đạo và những kẻ tàn ác, những kẻ đạo tặc, chiếm đoạt và đem bán hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, những hình tượng mà mình tôn thờ như cha mẹ, bán kinh bán luật, bán các vị tỷ kheo, tỷ kheo ni, bán bồ tát mới phát bồ đề tâm, cho quan lại sai sử hay cho kẻ khác làm nô bộc tỳ thiếp - Nếu là Bồ tát thì thấy những sự tình ấy phải phát sinh tâm từ bi, tìm mọi phương cáchcứu hộ, đi khắp nơi khuyến hóa mọi người để kiếm tiền của mà chuộc hình tượng của Phật đàBồ tát, chuộc các vị tỷ kheo, tỷ kheo nibồ tát mới phát tâm, chuộc kinh chuộc luật. Nếu không chuộc như vậy thì phạm tội khinh cấu. 

Giới văn này nói đã quá rõ về tình trạng đau buồn của đạo pháp, đã xảy ra và chắc chắn còn xảy ra. Bổn phận của người thọ Bồ tát giới là phải duy trì ngôi Trú trì tam bảo, nên tự mình vô lực thì phải cực lực khuyến hóa mọi người, cùng nhau cứu chuộc về cho đạo pháp những vật và những người đã bị bức đoạt một cách bất lương và bẩn thỉu. Bán các vị tỷ kheo, tỷ kheo nibồ tát mới phát tâm, cho quan lại sai sử hay cho kẻ khác làm nô bộc tỳ thiếp, câu này ngày xưa có thể là nghĩa đen cả, nhưng ngày nay thì sự thể biến ảo vô lường, ý nghĩa đen đúa hơn mà danh từ lại rất bóng nhoáng, và chẳng phải chỉ bán Phật tử, lại cũng chẳng phải chỉ bán cho kẻ khác làm lao công mà thôi. Hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, những hình tượng mà mình tôn thờ như cha mẹ, Vạn 60/57A giải thíchhình tượng của Phật đà, của Bồ tát và của cha mẹ, nhưng xét ra không đúng với câu kết của giới này. Tuy nhiên, nói như vậy không phải bảo Phật tử đừng quan tâm đến cha mẹ, thân nhânân nhân.

Số 32: Không Được Tổn Hại Chúng Sinh

Phật tử thì không được cất chứa buôn bán dao gậy cung tên, buôn bán bình thường mà dùng dụng cụ cân lường nhẹ và nhỏ, dựa vào uy thế của quan quyền mà chiếm đoạt tài vật của người, giam cầm và phá hoại sự thành công của người bằng tâm địa độc hại, nuôi lớn những loài mèo chồn heo chó. Nếu cố ý làm những việc như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Tổn hại chúng sinh bằng cách với người thì buôn bán bất lương, ỷ thế cướp của, giam cầm và phá hoại sự thành công; với vật thì nuôi để ăn để bán, nuôi những vật săn bắt tàn hại vật khác. Đến như buôn bán vũ khí thì khỏi nói.

Số 33: Không Được Tà Dâm Làm Quấy

Phật tử thì không được bằng tâm lý đen tối mà xem sự đấu sức nam nữ, của quân trận, của tướng sĩ, của giặc cướp ... Không được xem nghe ca vũ, không được cờ bạc, không được bói toán, không được làm liên lạc cho đạo tặc. Những việc như vậy nhất nhất không được làm. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.

Ngoại trừ đam mê thanh sắc, cờ bạc, du hý, là các thứ mới răn ở đây, ở đây vẫn còn răn thêm về tà mạngtà nghiệp (bói toán và làm việc cho giặc).

Xem nghe ca vũ là dịch tắt cho rõ và đủ hơn. Dịch sát là nghe thổi ốc, đánh trống, đánh mõ sừng (chính văn là giác, có người nói thổi còi sừng), đàn cầm, đàn sắt, đàn tranh, thổi sáo (có bản tiếp đây chép thêm thổi sanh), đàn không hầu, nam nữ ca hát, ngâm vịnh (chính văn là kiếu, có sự giải thích đó là huân, một nhạc khí bằng đất, hay đi đôi với trì, một nhạc khí khác bằng tre), và mọi thứ tiếng diễn tấu các nhạc khí khác.

Cờ bạc cũng là dịch tắt cho rõ và đủ. Dịch sát là đánh sư bồ (cờ ngũ mộc), cờ vây, cờ tướng (ba la tắc hý), cờ đạn (vật tròn chọi vào lỗ hay chọi vào nhau), lục bác, phách cúc (hay cầu, là đánh bóng, đá bóng), ném đá, gieo hồ, và khiên đạo bát đạo hành thành (còn gọi là bát đạo hành thành, chỉ có ở Ấn).

Bói toán, chính văn là bốc thệ (bốc: bói bằng mai rùa, thệ: bói bằng cỏ thi), nhưng ở đây tôi dùng chữ này để dịch tắt cho đủ và rõ về mọi sự bói toán. Dịch sát là móng kính (luyện thuốc bôi vào móng tay hay ngón tay cho bóng như kính, làm hiện lên điềm tốt xấu, bôi trên kính trên vách cũng vậy, nên Tàu gọi là phép bói sáng ngời), cỏ thi (như bói dịch), nhánh dương (bói bằng nhánh dương liễu), bát bồn (bát phải viết trên chữ hữu là bạn, dưới chữ mãnh là đồ sành, bát bồn là bói nước đựng trong chén bát), đầu lâu (lấy đầu lâu luyện cho linh rồi nghe mách thầm bên tai về sự tốt xấu). Trong loại bói toán này, kinh Niết bàn còn cấm coi tướng tay, chân, mặt, mắt.

Các loại ca vũ, cờ bạc và bói toán trên đây, nếu dịch sát thì Ấn khác Tàu khác, xưa khác nay khác, xưa nay ở nước ta với các nước lại càng khác hơn nữa, nên dịch sát và cắt nghĩa chỉ như nói chuyện đồ cổ của một địa phương, chỉ làm cho khó hiểu, và loảng đi về ca vũ, cờ bạc và bói toán hiện hành tại mỗi xứ mà chủ ý giới này răn cấm.

Số 34: Không Được Rời Bồ Đề Tâm

Phật tử thì phải nghiêm trì giới pháp, bằng cách trong mọi cử động đi đứng nằm ngồi và ngày đêm sáu buổi đều phải đọc tụng giới pháp ấy, và giữ với lòng bền chắc như ngọc kim cương, giữ như giữ chiếc phao nổi khi bơi qua biển cả, giữ với quyết chí của vị tỷ kheo bị buộc bằng cỏ, vĩnh viễn phát sinh nơi mình đức tin cao đẹp của đại thừa, là tự biết chắc mình là Phật sẽ thành như chư Phật là Phật đã thành, tâm bồ đề không một thoáng nào rời khỏi tâm trí. Như vậy mà nếu nổi lên một ý niệm của tâm lý nhị thừa hay ngoại đạo thì phạm tội khinh cấu.

Không rời bồ đề tâmthể hiện thường xuyên đức tin đại thừahành trì thường xuyên giới pháp đại thừa. Nếu tâm lýý niệm tự lợi hay nghi hoặc xen vào là rời bồ đề tâm, là tiểu thừangoại đạo. Bằng cách mọi cử động đi đứng nằm ngồi, và ngày đêm sáu buổi, đều phải đọc tụng giới pháp, đọc tụng ở đây không phải là bố tát tụng giới, mà là nói tắt về 5 pháp hạnh đối với Bồ tát giới: thọ trì, độc tụng, chánh ức niệm, giải nghĩa thú, như thuyết hành (hoặc thọ trì, độc, tụng, giải thuyết, sao chép). Vị tỷ kheo bị buộc bằng cỏ, sự tích nằm trong Đại trang nghiêm kinh luận, nói vị tỷ kheo vì tuân lời Phật dạy không được bứt cỏ, nên bị giặc trói bằng cỏ mà vẫn cố chịu chứ không chịu làm trái lời Phật.

Số 35: Không Được Không Phát Đại Nguyện

Phật tử thì phải thường phát khởi mọi lời nguyện, như nguyện hiếu thuận cha mẹ, đại sư, chư tăng, Tam bảo; nguyện gặp được vị pháp sư tuyệt hảo và các vị thiện tri thức đồng một sở học, để luôn luôn dạy cho mình kinh luật đại thừa và các bồ tát vị là mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười kim cang và mười địa, làm cho mình lý giải và thực hành chính xác; nguyện kiên trì giới pháp của Phật, dầu phải mất tánh mạng đi nữa, một thoáng cũng không để rơi mất khỏi tâm trí cái niệm kiên trì ấy. Nếu là Bồ tát mà không phát khởi mọi lời nguyện như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Mọi lời nguyện ở đây là nguyện được hiếu thuận với cha mẹTam bảo, nguyện được thầy bạn tuyệt hảo để học và hành bồ tát giớibồ tát vị, và căn bản là nguyện được cái chí kiên trì giới pháp của Phật. Tóm tắt thì như vậy, kê ra thì có 10 lời nguyện như sau: nguyện hiếu thuận với cha mẹ, đại sư, chư tăngTam bảo, nguyện được thầy tuyệt hảo, nguyện được bạn đồng sở học, nguyện được chỉ dạy cho kinh luật đại thừaBồ tát giới Phạn võng, nguyện được hiểu thập trú, nguyện được hiểu thập hạnh, nguyện được hiểu thập hướng, nguyện được hiểu thập địa, nguyện được thực hành chính xác, nguyện kiên trì giới pháp.

Số 36: Không Được Không Phát Đại Thệ

Phật tử thì phát khởi mười lời nguyện rộng lớn rồi, để kiên trì giới pháp của Phật, lại có những lời thề như sau. Thà đem thân này gieo xuống hố lửa, núi dao, quyết không phá hủy giới pháp của tam thế chư Phật bằng cách làm sự bất tịnh với bất cứ nữ nhân nào. Lại thề rằng thà bị lưới sắt nóng ngàn lớp quấn lấy thân thể, quyết không đem cái thân phá giới mà mặc y phục của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà miệng phải nuốt viên sắt nóng hay dòng lửa dữ đến cả trăm ngàn đời, quyết không đem cái miệng phá giới mà ăn thực phẩm của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này phải nằm trong lưới sắt đỏ hay trên đất sắt nóng, quyết không đem cái thân phá giới mà nằm ngồi giường ghế của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này một đời vài đời chịu hàng trăm mũi giáo đâm vào, quyết không đem cái thân phá giới mà dùng dược phẩm của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này gieo vào vạc sắt nóng đến cả trăm ngàn đời, quyết không đem cái thân phá giới mà ở phòng ốc, nhà cửa, vườn tược và đất đai của tín đồ hiến cúng. Lại thề rằng thà thân này bị chùy sắt giáng đập từ đầu đến chân nát như bụi nhỏ, quyết không đem cái thân phá giới mà nhận sự cung kính lễ bái của tín đồ. Lại thề rằng thà bị cả trăm cả ngàn khí cụ bằng sắt nóng móc mất đôi mắt đi, quyết không đem đôi mắt ấy với tâm phá giới mà nhìn vào sắc đẹp; thề rằng thà một đời hai đời bị cả trăm cả ngàn dùi sắt đâm vào hai tai, quyết không đem hai tai ấy với tâm phá giới mà nghe đến tiếng hay; thề rằng thà bị cả trăm cả ngàn dao bén cắt mất mũi đi, quyết không đem cái mũi ấy với tâm phá giới mà ngửi đến hơi thơm; thề rằng thà cái lưỡi bị cả trăm cả ngàn dao bén cắt đứt, quyết không đem cái lưỡi ấy với tâm phá giới mà nếm vào mùi ngon; thề rằng thà thân này bị chặt bị xả bởi búa sắc, quyết không đem cái thân ấy với tâm phá giới mà chạm vào chỗ ưa thích. Lại phát khởi lời thề như sau, thề làm cho hết thảy chúng sinh đều thành Phật đà. Nếu là Bồ tát mà không phát khởi những lời thề như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Để hoàn thành 10 lời nguyện mà quan trọng là nguyện kiên trì giới pháp của Phật, phải có những lời thề như sau. Thứ nhất, thề không làm sự bất tịnh; giới này lấy nam làm điển hình mà nói đến nên đối tượng là nữ, như vậy nữ thì đối tượng là nam, và chứng tỏ sinh lý làm cho phá giới hơn cả. Thứ hai, thề nếu phá giới thì không nhận đồ mặc, đồ ăn, đồ nằm, dược phẩm và chỗ ở, chứng tỏ nhu cầu hay làm cho phá giới. Thứ ba, thề nếu phá giới thì không nhận sự tôn kính lễ bái, chứng tỏ sự không biết hổ thẹn hay làm cho phá giới. Thứ tư, thề 5 căn không tiếp xúc 5 cảnh bằng tâm phá giới, chứng tỏ giác quan hay làm cho phá giới. Thứ năm, thề làm cho chúng sinh được làm Phật cả, lời thề này là tổng quát và căn bản, chứng tỏ thệ nguyện lớn lao thì khó mà có sự phá giới. Mười lời nguyện rộng lớn, ai cũng nói là 10 lời nguyện nói trong giới nhẹ 35 ở trên, nhưng có người dẫn kinh Phát bồ đề tâm mà đưa ra pháp số khác, và không ai đồng ý (Vạn 60/96A và 231A). Dòng lửa dữ, chính văn là đại lưu mãnh hỏa, là nhỏ thì như nước đồng sôi mà rót ra, lớn thì như thác lửa tuôn ra khi hỏa diệm sơn phun lửa.

Số 37: Không Được Mạo Hiểm Tai Nạn

Phật tử thì thường mỗi năm phải có hai kỳ thực hành đầu đà, mùa đông mùa hạ phải tọa thiền an cư. Thực hành đầu đà thì thường dùng nhánh dương để làm tăm, đậu để rửa, ba pháp y, bình, bát, tọa cụ, tích trượng, lư hương, đãy lọc nước, khăn tay, con dao, đồ lấy lửa, nhíp, giường giây, kinh luật Bồ tát giớitượng Phật bồ tát. Là Bồ tát thì khi thực hành đầu đà và khi đi du hóa, dầu đi lại cả trăm dặm ngàn dặm đi nữa, mười tám vật ấy vẫn thường mang theo mình. Hai kỳ đầu đà là từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba, từ rằm tháng tám đến rằm tháng mười, trong hai kỳ ấy, mười tám vật cũng thường mang theo mình như hai cái cánh với con chim. Bố tát tụng giới thì các vị Bồ tát mới học đã phải nửa tháng nửa tháng bố tát, tụng mười giới nặng và bốn mươi tám giới nhẹ; khi tụng thì đối trước tượng Phật Bồ tát mà tụng; một người bố tát thì một người tụng, mà hai ba cho đến hàng trăm hàng ngàn người cũng chỉ một người tụng; người tụng ngồi cao, người nghe ngồi thấp, ai cũng mang pháp y chín điều bảy điều hay năm điều. Kiết hạ an cư thì nhất nhất phải làm cho đúng phép. Khi thực hành đầu đà thì đừng đến chỗ tai nạn; chỗ nguy hiểm, chỗ quốc chúa tàn bạo, chỗ đất quá cao thấp, chỗ cây cỏ rậm rạp, chỗ cọp beo sư tử, chỗ hay bị nạn nước lửa gió, chỗ có đạo tặc, chỗ đường sá đầy rắn độc, những chỗ tai nạn như vậy đều không được đến đó. Thực hành đầu đà, cho đến kiết hạ an cư, đều không được đến ở những chỗ tai nạn như vậy. Nếu cố ý đến thì phạm tội khinh cấu.

Trừ ra sự du hóa phải tìm hết cách mà thâm nhập quần chúng, với sự đề phòng càng cẩn thận càng tốt ; lại trừ ra sự bố tát tụng giới chỉ cần thì gian ngắn và luật đã dạy cách ứng phó ; còn 2 sự này không được đến ở những chỗ tai nạn: đầu đàan cư. Giới văn dạy các hạnh du hóa, đầu đà, bố tát, an cư, nhưng đầu đàbố tát được nói đến nhiều hơn.

Về đầu đà (đập rủ sự tham lam về ăn, mặc, ở) có 12 hạnh và 18 vật. Mười hai hạnh như sau, kê theo Đại bát nhã mà Vạn 60/231B và 438B trích dẫn và tôi xếp lại thứ lớp: ăn có 5 hạnh, là thường khất thực chứ không thọ thỉnh, khất thực theo thứ tự không lựa chọn giàu nghèo quen lạ hay cùng đạo khác đạo, mỗi ngày ăn 1 bữa và ngồi ăn 1 lần, ăn chừng mực là đáng ăn 3 phần mới no thì ăn 2 phần thôi, và sau đứng bóng thì nước vắt trái cây cũng không dùng ; mặc có 2 hạnh, là mặc 3 pháp y thứ vải thô mà chắp vá, và chỉ mặc 3 pháp y mà thôi; ở có 5 hạnh, là ở chỗ thanh vắng mà cách làng xóm bò rống lớn mới nghe, chỗ tha ma để dễ quán bất tịnh và sự chết, chỗ dưới gốc cây chứ không che cất chòi thất, chỗ đất trống để đêm trăng thanh dễ nhập Không tam muội, và thường ngồi mà ngồi ngay thẳng chứ không nằm. Du dà luận nói sự tham lam về ăn mặc ở không thuận lợi cho phạn hạnh; như lông không đập thì không thể làm thảm, đầu đà đập rủ sự tham lam ấy để thành tựu phạn hạnh. Trí độ luận nói, Phật pháp chỉ lấy tuệ giác làm căn bản, không lấy khổ hạnh làm ưu tiên, nhưng 12 hạnh đầu đà giúp cho tuệ giác nên Phật thường ca tụng. Còn 18 vật của hạnh đầu đà thì cũng là của hạnh du hóa, và chính văn kê đã rõ. Tựu trung, bát là nói về sự ăn, 3 pháp y là nói về sự mặc, và tọa cụliên quan sự ở. Ngoài ra, nhánh dương để làm tăm mà xỉa răng và nhấm, nay là tăm và đồ đánh răng; đậu để rửa vốn dùng các thứ đậu và hạt, hoặc nước tro, bồ kết, bồ hòn, nay là xà phòng; tích trượng phòng rắn và thú dữ, lại để báo hiệu trong khi đi khất thực; đồ lấy lửa là dùng cây, đá, thủy tinh mà lấy lửa, nay là diêm, quẹt; giường giây là lòng giường đan mây, đan giây, là võng ; nhíp để nhổ gai vì đi chân trần.

Về du hóa, càng đi xa càng phải mang theo 18 vật như đầu đà. Về an cư, nói nhất nhất phải làm cho đúng phép là đúng như trong Luật đã qui định. Về bố tát, nói ai cũng mang pháp y 9 điều 7 điều hay 5 điều là nói cho người xuất gia thọ Bồ tát giới. Nói bồ tát mới học là nói ngay các vị này đã phải tụng giới, không phải nói chỉ các vị này mới phải tụng giới còn các vị trên nữa thì khỏi. Trong sự bố tát tụng giới, điều quan trọng là phải ngồi theo thứ tự mà giới 38 sau đây sẽ nói; còn người tụng giới thì cũng theo thứ tự ấy mà chọn người có khả năng nhất trong chúng cao nhất của các chúng đồng bố tát. Không có cái phép trong chúng cao mà không có người có khả năng tụng giới đến nỗi phải chọn người trong chúng dưới; nói cách khác, bất cứ ai thọ Bồ tát giới rồi, không có cái phép không thể tụng giới ấy : đoạn 2 mục 3 của tiết 1 Phật đã qui định như vậy.

Thực hành đầu đà cho đến kiết hạ an cư đều không được đến ở những chỗ tai nạn, "cho đến" là nói lược về du hóabố tát. Du hóa thì cần thâm nhập mọi nơi, bố tát thì chỉ cần thì gian ngắn, nên có thể không cần tránh những chỗ tai nạn; nhưng chỉ có thể, không phải hoàn toàn không cần. Còn đầu đàan cư thì phải tránh. Trong những chỗ tai nạn phải tránh, chỗ nguy hiểm, chính văn là ác quốc giới: nước dữ, có bản chép quốc nạn: tai nạn cả nước, như vậy cũng có nghĩa là chỗ đang bị tai nạn như chiến tranh, khủng hoảng ... , nhưng Vạn 60/440A nói ác quốc giới là chỗ mà người và cảnh đều không hiền, vậy thì chỗ nguy hiểm còn là nơi nhân tâm hung dữ. Nghĩa này đủ và quan trọng hơn. Sự cấm mạo hiểm tai nạn của giới này cho thấy đối với thân người, Phật pháp khinh là khinh như thế nào mà quí là quí như thế nào.

Sau hết, bố tát thì các vị Bồ tát mới học đã phải nửa tháng nửa tháng thường bố tát, tụng 10 giới nặng và 48 giới nhẹ; khi tụng thì đối trước tượng Phật Bồ tát mà tụng; một người bố tát thì một người tụng ..., có bản chép gọn hơn, theo đó thì phải dịch: ngày bố tát, khi các vị Bồ tát mới học nửa tháng nửa tháng bố tát tụng 10 giới nặng và 48 giới nhẹ, thì đối trước Phật Bồ tát, 1 người bố tát 1 người tụng ... Những chỗ tai nạn như vậy không được đến đó. Thực hành đầu đà cho đến kiết hạ an cư đều không được đến ở những chỗ tai nạn như vậy. Nếu cố ý đến thì phạm tội khinh cấu, có bản chép hơi khác, theo đó thì phải dịch : những chỗ tai nạn như vậy đều không được đến đó. Vì đó là những chỗ tai nạn cho hạnh đầu đà. Kiết hạ an cư mà những chỗ tai nạn ấy cũng không được đến, huống chi thực hành đầu đà. Thấy chỗ tai nạn mà có ý đến thì phạm tội khinh cấu.

Số 38: Không Được Ngồi Không Thứ Tự

Phật tử thì sự ngồi phải có thứ tự đúng như chánh pháp, nghĩa là ai thọ giới trước thì ngồi trước, ai thọ giới sau thì ngồi sau. Không kể già trẻ, tỷ kheo tỷ kheo ni, quí nhân quốc vương vương tử, cho đến hoàng môn nô bộc tỳ thiếp, tất cả đều nên ai thọ giới trước thì ngồi trước, ai thọ giới sau thì tuần tự mà ngồi. Đừng như ngoại đạo ngu si, già cũng như trẻ không trước không sau, ngồi hỗn tạp như binh nô. Trong chánh pháp của Như lai, người trước ngồi trước, người sau ngồi sau. Nếu là Bồ tátai nấy không ngồi theo thứ tự đúng như chánh pháp, thì phạm tội khinh cấu.

Không phải chỉ một sự ngồi, mà mọi sự cư xử, bình thường cũng như nghi lễ, đều phải căn cứ thứ tự. Thứ tự ấy có 2, tóm tắt theo Vạn 60/373B-376B, như sau.

Một là thứ tự giữa các chúng. Các chúng có 9, chia ra 2 bộ. Khi 2 bộ ngồi riêng, thì bên tăng bộ thứ tự như sau: tỷ kheo đứng đầu, kế đến sa di, đến cận trú nam, đến cận sự nam; bên ni bộ thứ tự như sau: tỷ kheo ni đứng đầu, kế đến thức xoa, đến sa di ni, đến cận trú nữ, đến cận sự nữ. Khi 2 bộ ngồi chung thì thứ tự như sau: hết tỷ kheo đến tỷ kheo ni, hết tỷ kheo ni đến thức xoa, hết thức xoa đến sa di, hết sa di đến sa di ni, hết sa di ni đến cận trú nam, hết cận trú nam đến cận trú nữ, hết cận trú nữ đến cận sự nam, hết cận sự nam đến cận sự nữ.

Hai là thứ tự trong các chúng. Thứ tự này cũng có 2. Thứ nhất, 2 chúng tỷ kheotỷ kheo ni phải lấy tuổi tỷ kheo giới làm thứ tự, vì giới ấy là bản thể của Tăng bảo. Thọ bồ tát giới trước tỷ kheo giới mấy năm cũng không kể, vì giới ấy không biến thành tỷ kheo giới; nhưng thọ bồ tát giới sau tỷ kheo giới thì tỷ kheo giới biến thành bồ tát giới, nên tuổi bồ tát giới bấy giờ được kể theo tuổi tỷ kheo giới. Thứ 2, 7 chúng còn lại thì y theo tuổi bồ tát giới mà làm thứ tự (khi tụng Bồ tát giới).

Riêng thứ tự lấy theo tuổi tỷ kheo giới thì gọi là "thứ tự của chư tăng" mà các giới nhẹ 26, 27 và 28 đã nói.

Thứ tự như trên đây là ý niệm bình đẳng có lý: ý niệm bình đẳng theo tư cách giới pháp. Nếu thứ tự kể theo giai cấp và tuổi tác, nếu bình đẳng một cách hỗn tạp, thì đó là binh nô: chỉ lấy sức mạnh mà giành phần.

Nếu là bồ tátai nấy không ngồi theo thứ tự đúng như chánh pháp, có bản chép gọn hơn, theo đó thì chỉ dịch: Nếu là Bồ tát mà không ngồi theo thứ tự ...

Số 39: Không Được Không Làm Lợi Lạc

Phật tử thì thường khuyến hóa mọi người kiến thiết tăng phường, tạo lập núi rừng, ruộng vườn, xây dựng tháp Phật, thiết lập những chỗ để mùa đông mùa hạ tọa thiền an cư, nói tóm, tất cả những cơ sở hành đạo đều nên kiến thiết. Là Bồ tát thì lại phải diễn giảng cho mọi người về kinh luật đại thừa. Nhưng lúc tật bịnh, quốc nạn, giặc giã, những ngày mạng vong của cha mẹ, anh em, của đại sư hoà thượngđại sư xà lê thì từ ngày ấy cho đến ngày tam thất và chung thất, cũng nên trì tụng và diễn giảng kinh luật đại thừa. Những lúc làm chay cầu phước, đi lại làm ăn mà có thể bị lửa dữ thiêu đốt, nước lớn trôi chìm, gió bão thổi bạt thuyền bè nguy khốn trong sông to biển cả đầy nạn la sát, thì trước đó cũng nên đọc tụng giảng nói kinh luật đại thừa. Cho đến hết thảy khổ báo là ba ác, bảy nghịch, tám nạn, gông cùm, xiềng xích, trói buộc, đa dâm, đa sân, đa si, đa bịnh, đều nên giảng nói kinh luật đại thừa. Nếu vị Bồ tát mới học không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Thường khuyến hóa mọi người kiến thiết, nếu là tại gia thọ Bồ tát giới thì phải thêm: thường tự mình và khuyến hóa ... Ngoài việc tạo lập các cơ sở hành đạo, giới pháp này đặc biệt khuyến khích tụng và giảng Bồ tát giới Phạn võng trong mọi trường hợp cầu an, cầu siêu, cầu nguyện, cầu diệt khổ nhân, cầu trừ khổ báo. Như vậy Bồ tát giới Phạn võng có thể bao gồm hết thảy công năng các kinh Dược sư, Phổ môn, Di đà, Bát nhã. Tạo lập núi rừng, là tạo lập những khu vườn lớn, cây có nước có, có đủ tăng xá. Từ ngày mạng vong cho đến ngày tam thất và chung thất, nói như vậy không phải các ngày và các tuần khác không cần cầu siêu, mà chỉ nói quan trọng nhất là ngày mới chết, ngày tam thất và ngày chung thất, chứ không phải chỉ ngày chung thất mới quan trọng như ta thường làm. Gió bão, chính văn là hắc phong (gió đen), là cuồng phong vùng tâm bão, vùng gió mưa mây nước tạo thành bầu trời đen tối. Khổ báo 3 ác là 3 đường dữ địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh; nhưng có người thấy có bản chép 3 báo nên giải thích là khổ báo chịu trong đời này (hiện báo) đời sau (sinh báo) hay những đời sau nữa (hậu báo). Khổ báo 7 nghịch là vô gián ngục.

Chín giới pháp nhẹ như vậy các người phải học, phải cung kính phụng trì, như Như lai sẽ nói rõ trong phẩm Phạn đàn.

Kết thúc 9 giới nhẹ thứ nhất.

 

Tiết 2: Nói Về Giới Điều 
Của Bồ Tát Giới Phạn Võng
(tiếp theo)

Số 40: Không Được Chọn Lựa Truyền Giới

Phật tử thì khi cho người thọ Bồ tát giới không được chọn lựa. Hết thảy quốc vương vương tử, tể tướng bách quan, tỷ kheo tỷ kheo ni, thiện nam tín nữ, dâm nam dâm nữ, phạn thiên mười tám tầng trời cõi Sắc, thiên nhân sáu tầng trời cõi Dục, những kẻ vô căn, hai căn, hoàng môn, nô bộc, tỳ thiếp, tất cả quỉ thần, ai cũng được thọ Bồ tát giới cả. Phải dạy người thọ Bồ tát giới nhuộm pháp y bằng hoại sắc cho hợp với chánh pháp. Hoại sắc là nhuộm tất cả pháp yngọa cụ bằng màu sắc phá hủy các màu sắc chính là xanh vàng đỏ trắng đen tía. Mọi thứ y phục khác cũng nhuộm hoại sắc như vậy. Nói tổng quát, tại bất cứ quốc độ nào, dân chúng ở đó ăn mặc ra sao thì vị tỷ kheo ăn mặc phải khác với lối ăn mặc ấy. Khi sắp thọ Bồ tát giới, vị pháp sư bồ tát phải xét hỏi người ấy, rằng thân hiện tại có làm bảy tội nghịch không? Vị pháp sư bồ tát không được cho những người thân hiện tại làm bảy tội nghịch được thọ Bồ tát giới. Bảy tội nghịch là làm cho thân Phật xuất huyết, giết cha, giết mẹ, giết hòa thượng, giết xà lê, phá kiết ma tăng và pháp luân tăng, giết thánh giả. Nếu có bảy tội nghịch thì kẻ ấy thân hiện tại không thể được Bồ tát giới. Ngoài ra, ai cũng có thể thọ và được giới ấy. Cái phép của người xuất gia là không lạy quốc vương, không lạy cha mẹ, không lạy bà con, không lạy quỉ thần, nên không thiên vị hoặc khước từ ai hết, hễ ai hiểu được tiếng nói của vị pháp sư bồ tát, từ trăm dặm ngàn dặm vẫn đến cầu Bồ tát giới, mà vị pháp sư ấy vì tâm lý xấu xa, tâm lý ghét giận, không truyền ngay cho họ giới pháp mà tất cả chúng sinh đều có phần thì phạm tội khinh cấu.

Bồ tát giới là của chúng sinh; trừ những kẻ phạm 7 tội nghịch thì thân đời này của họ không thể thọ và được giới ấy, còn bất cứ ai hảo tâm cầu giới ấy cũng đáng được truyền ngay. Hãy coi lại và đối quán chính văn này với chính văn đoạn 3 mục 3 tiết 1.

Bảy tội nghịch là ngoài 5 tội nghịch còn thêm 2 tội giết hòa thượng và giết xà lê. Làm thân Phật xuất huyết là tội nghịch 1. Xưa kia, Đề bà lăn đá hại Phật, nhưng thân Phật không thể hại được, chỉ làm chảy máu ngón chân của ngài. Nay thì đốt phá kinh Phật tượng Phật là cùng loại. Giết cha, giết mẹ là tội nghịch 2 và 3. Ấy là giết 2 người sinh ra sinh thân của mình. Giết hòa thượng, giết xà lê là tội nghịch 4 và 5. Ấy là giết 2 vị sinh ra giới thân cho mình. Giết thánh giả, nói hẹp là giết La hán, là tội nghịch 6. Ấy là giết các vị giải thoát. Phá tăng là tội nghịch 7. Tội này phân ra có 2: phá kiết ma tăng và phá pháp luân tăng. Phá kiết ma tăng: mở đầu, Đề bà dụ dổ một số tỷ kheo tách ra kiết ma thuyết giới riêng; sau đó, chỉ cần tối thiểu 8 vị tỷ kheo cùng ở 1 chỗ, 1 kẻ trong đó dụ dổ 3 người cùng kẻ ấy là 4, tách ra làm 1 nhóm mà kiết ma thuyết giới hay làm những sự kiết ma khác, là cùng loại. Phá pháp luân tăng: mở đầu, Đề bà lập ra tam bảo giả trá để chống phá Tam bảo chân thật; sau đó chỉ cần tối thiểu 9 vị tỷ kheo không cần cùng ở 1 chỗ, 1 kẻ trong đó dụ được 4 người cùng kẻ ấy tách ra, kẻ ấy tự xưng giáo lãnh, lập giáo pháp và họp 4 kẻ kia làm giáo đoàn riêng, là cùng loại. Cả 2 tội trên đây chung lại gọi là phá tăng hay phá tăng hòa hợp, có nghĩa làm tan rã sự cùng sống với nhau bằng giới phápgiáo pháp của chư tăng. Nói cách khác là phá hoại Phật giáo. Do vậy mà nay bất cứ chủ trương và hành động nào phá hoại Phật giáo, là cùng loại. Tất cả 6 tội trước trong 7 tội nghịch là sát sinh cực nặng (dầu làm thân Phật xuất huyết chỉ là phần da hành của tội ấy), còn tội thứ bảy là vọng ngữ cực nặng. Bảy tội nghịch là tội đọa vô gián ngục, nhất là tội phá pháp luân tăng, vì làm thương tổn pháp thân của Phật (Câu xá, Chính 28/92-94).

Ở đây, đối với Bồ tát giới thì chỉ những kẻ phạm 7 tội nghịch mới không thể thọ và không thể được giới ấy. Do đó, 7 tội ấy có bản chép là 7 sự cản trở (thất giá). Ngoài những kẻ phạm 7 tội nghịch, mọi người ai cũng phải được cho thọ Bồ tát giới, không được lựa chọn, khước từ. Thế nhưng, những kẻ trà trộn hay mai phục để phá hoại Phật giáo thì đó cũng là 1 trong 6 loại tặc trú, không thể không tra xét cho kyՍ mà cứ cho thọ Bồ tát giới. Lại nữa, giới này cấm là cấm lựa chọn theo tà ý, còn vị truyền giới phải xét người cầu giới có xứng đáng không, người cầu giới phải xét vị truyền giới có xứng đáng không, thì lại là sự răn dạy phải làm của Bồ tát giới du dà (mà Vạn 60/378B trích dẫn). Cho nên lựa chọn hay không lựa chọn theo tà ý thì toàn là cung cách làm cho Phật pháp suy tàn.

Sau hết, đây là mấy chỗ cần giải thích. Vô căn: không có cả 2 bộ phận sinh thực. Hai căn: ngược với vô căn. Hoàng môn: gọi chung 5 loại người lại cái. Phải dạy người thọ Bồ tát giới nhuộm pháp y bằng hoại sắc: do chính văn liên tiếp dưới câu này nói rõ mà biết đây là dạy cho tỷ kheo (và mọi người xuất gia). Ngọa cụ ở đây là những thứ đồ nằm. Mọi thứ y phục khác là mọi thứ khác nữa thuộc về y phục, trong đó có các thứ khăn. Cái phép của người xuất gia là không lạy ..., câu này cho thấy rõ vị truyền Bồ tát giới phải là người xuất gia.

Số 41: Không Được Vụ Lợi Làm Thầy

Phật tử nếu giáo hóa cho người phát sinh đức tin đại thừa rồi, mình là Bồ tát làm vị pháp sư chỉ bảo cho người, thì thấy người ấy muốn thọ Bồ tát giới, mình phải chỉ bảo cách thỉnh hai vị đại sưhòa thượngxà lê. Hai vị đại sư phải hỏi người ấy có hay không có phạm bảy tội nghịch là bảy tội cản trở sự thọ và được Bồ tát giới. Nếu thân hiện tại phạm bảy tội nghịch thì vị pháp sư không được cho người ấy thọ Bồ tát giới; nếu không phạm bảy tội nghịch thì được cho họ thọ. Nếu người nào phạm mười giới pháp nặng thì phải chỉ bảo người ấy sám hối bằng cách đối trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, ngày đêm sáu buổi tụng mười giới pháp nặng và bốn mươi tám giới pháp nhẹ, cực kỳ khẩn thiết lễ bái ba ngàn đức Phật thuộc ba thì gian quá khứ hiện tạivị lai, cầu cho thấy được tướng tốt. Dầu một lần bảy ngày hay ba lần bảy ngày, cho đến một năm, cũng phải làm sao cho thấy được tướng tốt. Tướng tốt là thấy được Phật đến xoa trên đỉnh đầu, thấy ánh sáng của Phật, thấy hoa sen của Phật, hoặc thấy các tướng kỳ lạ khác, thì tội lỗi tức thì tan biến. Nếu không thấy được những tướng tốt như vậy thì dẫu sám hối cũng không có cái ích lợi làm cho người ấy thân hiện tại được lại giới pháp, nhưng có cái lợi ích thọ lại giới pháp ấy. Nếu ai phạm bốn mươi tám giới pháp nhẹ thì chỉ bảo người ấy sám hối bằng cách đối diệnphát lộ, thì tội lỗi tức thì tan biến. Phạm giới nặng hay nhẹ đều không như bảy tội nghịch. Làm pháp sư chỉ bảo thì trong các cách trên đây nhất nhất phải thấu hiểu. Nếu không thấu hiểu sự đúng sai và tội nặng nhẹ của giới pháp đại thừa, không lý giải đệ nhất nghĩa đế, tập chủng tánh, trưởng dưỡng tánh, bất hoại tánh, đạo chủng tánh, chánh pháp tánh, trong tất cả các tánh của Bồ tát vị như vậy không thấu rõ quán hạnh nhiều ít và ra vào như thế nào, cho đến mười thành phần thiền định và bao nhiêu quán hạnh khác, cũng nhất nhất không thấu hiểu nghĩa ý trong đó; mà, là Bồ tát, lại vì quyền lợi, vì danh vọng, vì ham hố đồ đệ với tâm lý ham cầu xấu xaquá đáng, làm ra như thấu hiểu tất cả, thì ấy là tự lừa dối mình lại lừa dối kẻ khác. Vậy mà cố ý truyền Bồ tát giới cho người thì phạm tội khinh cấu.

Giới này nối tiếp các giới 16, 40, nhất là giới 23, răn dạy cách làm pháp sư. Pháp sư này trước đây đã gọi là pháp sư đại thừa, pháp sư bồ tát, nay đây gọi là pháp sư chỉ bảo. Pháp sư chỉ bảođại sư giáo thọ. Nhưng sự chỉ bảo này không phải chỉ có lúc sắp thọ giới hay lúc thọ giới, mà là trước nữa, phải giáo hóa làm sao cho người có thể thọ và giữ Bồ tát giới. Giới 41 này gần như tổng hợp cách làm pháp sư như vậy. Cách ấy có 4: một, dạy cho người phát sinh đức tin đại thừa, hai, dạy cách thọ giới, ba, dạy cách sám hối phạm giới, bốn, thấu hiểu về Bồ tát giớiBồ tát vị.

Một, dạy cho người phát sinh đức tin đại thừa là tin mình sẽ làm Phật. Nhưng nói như vậy là nói tắt về những sự khác nữa, ấy là dạy cho người biết đại thể về Bồ tát giới, dạy cho người có chí nguyện và khả năng để thọ và giữ giới ấy, như đã nói trong các giới nhẹ trước liên quan đến những việc này.

Hai, dạy cách thọ Bồ tát giới. Là xét và không truyền giới ấy cho người phạm 7 tội nghịch, nhưng càng phải giáo hóa sao cho người này có những cái phước khác. Còn ai không phạm 7 tội nghịch thì cho thọ Bồ tát giới bằng cách dạy thỉnh 2 vị đại sư hòa thượngđại sư xà lê. Nhưng xét Phạn võng (giới 23) Anh lạc (Chính 24/1020) Thiện giới (Chính 30/1014) Du dà (Chính 24/1104) và Địa trì (Chính 30/912) đều thấy Bồ tát giới chỉ do 1 vị thầy truyền thọ. Chính 1 vị thầy ấy, trước khi truyền giới thì làm pháp sư chỉ bảo, khi truyền giới thì làm 2 nhiệm vụ đại sư hòa thượngđại sư xà lê. Giới văn nói chỉ bảo cách thỉnh 2 vị đại sưhòa thượngxà lê, là vị thầy chỉ bảo cho người xin thọ giới biết cách thức thỉnh mình làm cả 2 nhiệm vụ hòa thượngxà lêtruyền giới cho người ấy. Giới văn nói 2 vị đại sư phải hỏi người ấy có hay không có phạm 7 tội nghịch, là vị thầy ấy, bây giờ, với tư cách hòa thượngxà lê, hỏi để xác định người xin thọ giới có hay không có phạm vào những tội cản trở sự thọ giới và sự được giới. Việc này giới 40 đã hỏi, nhưng hỏi để tra xét, nay chỉ hỏi theo nghi thức. Nghi thức mà 1 vị thầy phải nói và phải làm trong việc kiết ma truyền Bồ tát giới thì Chính 24/1104 và 1105 chỉ dẫn rất rõ. Nhất là lời kiết ma, xin lược dịch như sau: Vị thầy truyền giới đối trước tượng Phật lạy và bạch, rằng kính bạch vô lượng Phật đàBồ tát hiện tại vô lượng thế giới, hiện thời ở đây có bồ tát tên XX, đối trước con là bồ tát XX, 3 lần nói thọ Bồ tát giới, con đã tác chứng cho. Con thỉnh cầu vô lượng Phật đàBồ tát cũng tác chứng cho bồ tát XX thọ Bồ tát giới. Bạch lần thứ 2 và lần thứ 3 cũng như vậy. Như vậy là kiết ma thọ Bồ tát giới được hoàn tất (chính 24/1105). Thế nhưng đối với câu "thỉnh 2 vị đại sư", các vị chú thích có nhiều ý kiến, xin tóm tắt ghi lại như sau. Có vài người lướt qua, rõ ràng có ý thận trọng; có vài ba người nói vị pháp sư chỉ cách thỉnh đức Thích ca làm hòa thượng, thỉnh mình làm xà lê; có người nói chỉ cách thỉnh mình làm hòa thương, thỉnh 1 vị khác là kiết ma xà lê; có người nói mình làm giáo thọ xà lê, chỉ cách thỉnh đức bổn sư Thích ca làm hòa thượng, chỉ cách thỉnh đức đương lai Di lạc làm xà lê. Ấy là chỉ kể những ý kiến đáng chú ý. Những ý kiến này gợi lên sự xét lại cách truyền Bồ tát giới. Cách ấy trong lý thuyếtthực tế thấy có 2. Thứ nhất là cách 1 thầy truyền cho 1 trò. Cách này nên lấy sự chỉ dẫn của luận Du dà làm chính (Chính 24/1104-1105). Tham khảo thì có thể coi thêm Vạn 59/197A và 198B. Đặc biệt nếu truyền cho cận sự nam và cận trú nam theo Ưu bà tắc giới kinh thì có thể làm theo kinh ấy (Chính 24/1047-1049). Thứ hai là cách tổ chức giới đàn truyền cho nhiều người như nghi thức hiện hành, thì có 2 lớp tam sư thấy được và không thấy. Lớp tam sư không thấy là đức Thích ca làm hòa thượng, đức Văn thù làm kiết ma, đức Di lạc làm giáo thọ; lớp này căn cứ kinh Thiện giớiPhổ hiền, và "từ lớp này mà được giới là do sức trợ phát của đức Phổ hiền" (Chính 62/246). Lớp tam sư thấy được là hòa thượng, kiết magiáo thọ trong giới đàn; lớp này dạy thỉnh và đứng thỉnh lớp trước kiết ma hoàn tất. Cách truyền giới 1 thầy 1 trò có cái ưu điểm là nghĩa vụ của vị thầy rất quan trọng cho người thọ giới, còn cách truyền giới trong giới đàn thì nhược điểm ở chỗ thọ giới rồi thầy trò hầu như chẳng còn biết gì đến nhau nữa.

Ba, dạy cách sám hối phạm giới. Trước hết, phạm 7 tội nghịch thì đời này không được thọ Bồ tát giới, còn gì nữa mà nói đến sám hối. Nếu thọ Bồ tát giới rồi mới phạm 7 tội nghiểch thì đời này mất giới pháp ấy, không thể sám hối để được lại hay thọ lại gì hết. Nhưng nói không thể sám hối là đối với giới pháp, chứ sự sám hối về 7 tội nghịch thì vẫn có. Đó là chuyện A xà thế vương sám hối tội giết cha, ngay trong thời Phật còn và được ngài chấp nhận (Chính 1/109). Làm vị pháp sư thì phải biết như vậy để đừng ruồng bỏ người phạm tội nghịch, làm họ tuyệt vọng, lại phủ nhận năng lực Phật pháp đối với tội ấy.

Ngoài kẻ phạm 7 tội nghịch, ai cũng có thể thọ và được Bồ tát giới. Nhưng thọ và được rồi, nếu phạm 10 giới nặng thì vị pháp sư dạy cho họ phải sám hối thấy tướng tốt mới được phục hồi giới pháp, khỏi phải thọ lại. Sám hối mà không thấy tướng tốt thì được thọ lại , vì người này không phạm 7 tội nghịch. Giới văn nói nếu không thấy được những tướng tốt như vậy thì dẫu sám hối cũng không có cái ích lợi làm cho người ấy thân hiện tại được lại giới pháp, nhưng có cái ích lợi thọ lại giới pháp ấy, chính văn là nhược vô tướng hảo, tuy sám vô ích, thị nhân hiện thân diệc bất đắc giới, nhi đắc tăng ích thọ giới. Tăng ích thọ giới, có bản chỉ chép tăng thọ giới, có nghĩa là thọ giới lại. Câu chính văn này có nhiều ý kiến. Ý kiến có nhiều nhất, điển hình như ngài Pháp tạng (Vạn 60/100A) là sám hối thấy tướng tốt thì phục hồi giới pháp, không cần thọ lại, còn sám hối không thấy tướng tốt thì không phục hồi giới pháp nhưng được thọ lại giới pháp ấy. Có vài ý kiến thêm chữ "sau này" vào trước chữ thọ lại, có 1 ý kiến thêm chữ "đời sau". Ý kiến như chính văn là đời này có thể thọ lại, ý kiến thêm chữ sau này là đời này hay đời sau có thể thọ lại, ý kiến thêm chữ đời sauđời sau mới thọ lại. Nay xét thọ Bồ tát giớixuất gia hay tại gia thọ giới ấy, vậy Bồ tát giới tùy thuộc Tỷ kheo giới và tại gia giới. Như vậy, sự phạm giới nặng, nhất là phạm cả 3 phần da hành, căn bản và hậu khởi của mỗi giới, thì dẫu nói Bồ tát giới có thể sám hốiphục hồi hay thọ lại đi nữa, tỷ kheo giới và tại gia giới cũng không có cái sự phục hồi hay thọ lại ấy. Trên lý thuyết, nếu có trường hợp chỉ thọ Bồ tát giới thì được thọ lại hay không, thọ lại trong đời này hay đời sau, phải hoàn toàn do vị pháp sư bồ tát, vị thầy rất xứng đáng, có trách nhiệm quyết định, như đã quyết định lúc mới cho họ thọ.

Sau hết, ai phạm 48 giới nhẹ thì dạy cho họ sám hối theo cách đối diện bộc bạch mà sám hối là được tiêu trừ. Cách này luận Du dà (Chính 24/1106) cũng dạy rất rõ. Đối diện, chính văn là đối thủ, có nghĩa đối diện, giáp đầu mặt mà bộc bạch sám hối. Có người đọc đối thú, có nghĩa đối diệnthú tội, ý nghĩa như đọc đối thủ. Phạm giới nặng hay nhẹ đều không như 7 tội nghịch, sát chính văn thì chỉ "không như 7 tội nghịch", nên phải bổ túc như trên.

Bốn, thấu hiểu về Bồ tát giớiBồ tát vị. Thấu hiểu về Bồ tát giới là hiểu làm như thế nào thì đúng, làm như thế nào thì sai, phạm như thế nào thì nặng, phạm như thế nào thì nhẹ, lại còn phải hiểu lý do và nội dung của Bồ tát giới, hiểu cách truyền thọ, cách lãnh thọ và cách sám hối. Thấu hiểu về Bồ tát vị là hiểu căn bản của Bồ tát vị, hiểu chủng tánh của Bồ tát vị, hiểu pháp hạnh của Bồ tát vị. Căn bản của Bồ tát vị là đệ nhất nghĩa đế, tức Phật tánh, cũng gọi là thật tướng bát nhã. Chủng tánh của Bồ tát vị thì kinh Anh lạc nói có 6, và phối hợp rõ như sau: 1, tập chủng tánh là 10 trú, 2, tánh chủng tánh là 10 hạnh, 3, đạo chủng tánh là 10 hướng, 4, thánh chủng tánh là 10 địa, 5, đẳng giác tánh là đẳng giác, 6, diệu giác tánh là diệu giác (Chính 24/1012). Còn ở đây, kinh Phạn võng nói thì ngài Pháp tạng chép có 5 và phối hợp như sau: 1, tập chủng tánh là 10 phát thú (10 trú), 2, trưởng dưỡng tánh là 10 trưởng dưỡng (10 hạnh), 3, bất hoại tánh là 10 kim cang (10 hướng), 4, đạo chủng tánh là 10 địa, 5, chánh pháp tánh là Phật địa (Vạn 60/99B-100B). Nay xét chính văn Phạn võng và Anh lạc, thấy 10 trú 10 hạnh và 10 hướng thì 2 kinh ấy và thông thường nói như nhau, "ý nghĩa thì đồng, danh từ thì khác" (Trí húc, Vạn 60/314A). Nhưng 10 địa thì Anh lạc cũng như thông thường tách đẳng giácdiệu giác ra làm 2 chủng tánh nữa; còn 10 địa trong Phạn võng thì xét thấy bao gồm cả 10 địa và 2 giác. Vậy nên phối hợp lại như sau: một, tập chủng tánh là 10 phát thú (10 trú), hai, trưởng dưỡng tánh là 10 trưởng dưỡng (10 hạnh), ba, bất hoại tánh là 10 kim cang (10 hướng), bốn, đạo chủng tánh và 5, chánh pháp tánh là 10 địa (10 địa và 2 giác). Ý nghĩa 5 danh từ Bồ tát tánh và 4 danh từ Bồ tát vị như trên có thể lược giải như sau. Một, tập chủng tánh: phẩm cách luyện tập, là xuất phát đi mau đến (phát thú), nghĩa là vững vàng trong Bồ tát vị (trú). Hai, trưởng dưỡng tánh: phẩm cách bồi dưỡng, là bồi dưỡng hơn lên nữa (trưởng dưỡng), nghĩa là đi tới về Bồ tát vị (hành). Ba, bất hoại tánh: phẩm cách kiên cố, là kiên cố như kim cương (kim cang), nghĩa là đã hướng đến chân như (hướng). Bốn, đạo chủng tánh: phẩm cách bát nhã, và Năm, chánh pháp tánh: phẩm cách chân như, là sinh trưởng mọi diệu dụng và đã gần như là Phật (địa và đẳng giác diệu giác). Cũng nên ghi chú thêm rằng có bản chép 6 chủng tánh: sau trưởng dưỡng tánh thêm tánh chủng tánh, nhưng xét thấy bất ổn không ít.

Pháp hạnh của Bồ tát vị là các quán hạnhpháp hạnh. Quán hạnh có 3, là không quán, giả quántrung quán: 10 phát thú thì từ giả quán vào không quán, không quán còn ít; 10 trưởng dưỡng thì ra không quán vào giả quán, không quán thì nhiều mà giả quán còn ít; 10 kim cang thì xoay không quán giả quán vào trung quán, giả quán thì nhiều mà trung quán còn ít; 10 địa thì trung quán mới nhiều. Không quán là thể hội thật tướng, siêu việt các phạm trù tư duy; giả quán là hoạt dụng thật tướng, lợi ích cho hết thảy chúng sinh; trung quán là dung hóa thật tướng, vô công dụng hạnh đã nhiệm vận hiện tiền. Pháp hạnh thì ở đây đưa ra 10 thiền chi (10 thành phần thiền định). Pháp số này là 10 nhất thế xứ. Trí độ luận nói như sau, trong cuốn 21, "bội xả làm cửa đầu, thắng xứ là đi giữa, nhất thế xứ là hoàn thành, 3 loại này của thiền quán mà đầy đủ thì bản thể thiền quán thành tựu". Vậy là 10 thiền chi (nhất thế xứ, biến xứ) còn lược 2 pháp số nữa, đó là 8 bội xả (giải thoát) và 8 thắng xứ.

Vị pháp sư truyền Bồ tát giới thì căn bản là phải nghiêm trì giới ấy, lại phải hiểu rõ và chỉ dạy được 4 điều trên đây. Nhưng nếu truyền Bồ tát giới với tâm lý ham danh lợi và ham đồ đệ thì hiểu mà truyền cũng vẫn phạm giới này, huống chi không hiểu. Giới văn câu chót làm ra như thấu hiểu tất cả, có bản chép thêm "để được hiến cúng", thêm như vậy vừa thừa vừa thiếu.

Số 42: Không Được Thuyết Giới Ác Nhân

Phật tử thì không được vì quyền lợi mà nói giới pháp vĩ đại của hàng ngàn đức Phật trước những kẻ chưa thọ Bồ tát giới, những kẻ ngoại đạoác nhân. Trước những kẻ phủ nhận Phật tánh cũng không được nói. Trừ quốc vương, không được nói với ai cả. Những kẻ ngoại đạoác nhân không lãnh thọ giới pháp của chư Phật thì như loài vật, đời đời sinh ra ở đâu cũng không gặp được Phật pháp tăng, như cây như đá không có tâm hồn, nên gọi là ngoại đạoác nhân. Còn những kẻ phủ nhận Phật tánh thì khác gì đầu gỗ. Là Bồ tát mà trước những kẻ như vậy nói đến giáo phápgiới pháp của bảy đức Phật đà thì phạm tội khinh cấu.

Không phải lúc nào, ở đâu, với ai cũng thuyết Bồ tát giới một cách cẩu thả. Nhất là đối với những kẻ không có tâm hồn, những kẻ không có giống Phật, những kẻ ngoan cố, vô tín ngưỡng, nghe Bồ tát giới thì chỉ phỉ báng, không thể lãnh thọ mà cũng không chịu lãnh thọ. Còn đối với quốc vương, tức đối với các vị nguyên thủ quốc gia, thì không phải được nói mà là phải nói ; địa vị ấy, quyền sinh sát ở cả trong tay, không cố mà nói cho họ, bằng cách này hay cách khác, về Bồ tát giới, thì không còn sự răn đe nào khác nữa.

Giới 39 nói phải diễn giảng Bồ tát giới trong mọi trường hợp, vậy tránh sao cho khỏi có những kẻ mà giới này hạn chế? Nên người diễn giảng phải xét người nghe, để có khi có thể diễn giảng đủ cả, có khi chỉ nên trích giảng mà thôi.

Giới pháp vĩ đại của hàng ngàn đức Phật, nói rõ là của 3 ngàn đức Phật thuộc 3 thời kỳ quá khứ hiện tạivị lai. Ấy là lấy 3 ngàn đức Phật liên tiếp, gần gũi và của quốc độ này, trong đó có đức Bổn sư, mà nói sự trọng đại của Bồ tát giới. Của 7 đức Phật đà là lấy 7 đức Phật gần nhất trong số 3 ngàn đức Phậtđức Bổn sư là vị Phật hiện tại, để nói sự trọng đại của Bồ tát giới. Như loài vật, 1 nhà giải thích nói vì không thọ Bồ tát giới thì sống cũng như chết chỉ là sống chết vô ích.

Số 43: Không Được Cố Tâm Phạm Giới

Phật tử nếu đã đem đức tin đại thừaxuất gialãnh thọ giới pháp chính yếu của chư Phật rồi, lại cố ý sinh tâm vi phạm giới pháp phát sinh tuệ giác vô lậu như vậy, thì không nên nhận mọi sự hiến cúng của thí chủ, không đáng đi đất của quốc gia, uống nước của quốc gia. Cả năm ngàn quỉ dữ thường án trước mặt kẻ ấy mà bảo với nhau, rằng đó là tên giặc lớn. Vào phòng ốc, thành thị, thôn ấp, nhà cửa, thì bọn quỉ thường quét dấu chân của người ấy đi. Thế nhân ai cũng nhục mạ, rằng đó là tên giặc trong Phật pháp. Chúng sinh không ai muốn nhìn. Kẻ phạm giới có khác gì loài vật, đầu gỗ. Nếu cố ý vi phạm giới pháp chính yếu của chư Phật thì phạm tội khinh cấu.

Hoặc là vô ý, hoặc là phiền não quá nặng mà phạm giới, thì dầu sao cũng còn hơn kẻ phạm giới bằng sự cố ý. Lại còn không sám hối mà nhận lãnh của tín đồ hiến cúng, thì đó là kẻ không còn chút tàm quí nào trong lòng. Kẻ ấy đất tuy rộng cũng không đáng có một chỗ để đi, nước tuy nhiều cũng không đáng có một giọt để uống. Đất của quốc gia, nước của quốc gia, quốc gia, chính văn là quốc vương, chữ này không những có nghĩa là vua mà còn chỉ cho tất cả nguyên thủ quốc gia dưới những danh từ khác nữa. Nói đất nước của nguyên thủ quốc gia là nói của quốc gia, của cả nước. Quỉ án trước mặt thì vì vậy mà họa không ít và phước khó toàn.

Số 44: Không Được Không Trọng Kinh Luật

Phật tử thì thường phải nhất tâmthọ trì đọc tụng kinh luật đại thừa, lột da làm giấy, thích huyết làm mực, rút tủy làm nước, chẻ xương làm bút, để sao chép giới pháp của chư Phật. Lại sao chép mà giữ bằng giấy vỏ cây như giấy gió, giấy dạ, bằng lụa, lụa trắng, lụa tơ trần, bằng thẻ tre. Rồi thường đem bảy thứ quí báu, hay những thứ tạp ngọc vô giá, thơm và đẹp, làm hộp làm đãy mà tôn trí kinh luật đại thừa ấy. Nếu không hiến cúng đúng cách như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Kinh luật phải hiến cúng, phần chính vẫn là kinh luật đại thừa, tức Bồ tát giới Phạn võng. Hiến cúng bằng cách ấn hànhtruyền bá, trang sức mà thờ cất. Phật tánh nằm trong đó, nên phải hiến cúng như hiến cúng Phật. Lột da làm giấy, thích huyết làm mực, rút tủy làm nước, chẻ xương làm bút, là nói tinh thần vị pháp vong thân, không phải nói thực sự. Sao chép (thư tả) là xưa chỉ viết tay, chưa in. Nay thì in chứ không phải viết.

Số 45: Không Được Không Có Giáo Hóa

Phật tử thì tâm đại bi phải thường xuyên nổi dậy, khi vào những nơi thành thị, thôn ấp hay nhà cửa, thấy bất cứ ai cũng đều nói lên như thế này: các người nên lãnh thọ ba qui ymười giới pháp. Nếu thấy tất cả cầm thú thì bất cứ bò ngựa heo dê, đều nên tâm nghĩ miệng nói như sau: cầm thú các con, các con nên phát bồ đề tâm. Là Bồ tát thì đến bất cứ chỗ nào, dầu là núi non, rừng rú hay khe suối, đồng nội, cũng làm cho hết thảy chúng sinh phát bồ đề tâm. Nếu Bồ tátkhông giáo hóa chúng sinh như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Chủ đích của sự giáo hóa là làm cho tất cả phát bồ đề tâm. Cách giáo hóa mà giới này dạy chính là cái điển hình Thường bất khinh trong Pháp hoa. Cách này không mấy ai không cho là tầm thường, lố lăng, nên không mấy ai không phạm giới này. Nhưng cách này không những đem sức mạnh của tâm nguyện ảnh hưởng đến đối tượng, mà còn tự huân tậphiện hành thường xuyên nơi bản thân về tâm đại bi. Lãnh thọ ba qui ymười giới pháp là như truyền thọ Bồ tát giới rồi đó. Nhưng câu giới văn dạy nói lên khi gặp người thì không phải chỉ làm theo một cách máy móc và giản dị như vậy. Phải coi đó là đầu đề mà cách trình bày phải sao cho thích hợp, hiệu quả. Riêng câu giới văn dạy nói lên khi gặp vật thì làm theo dễ hơn: hãy luôn luôn chú nguyêển cho chúng như vậy. Nhưng phải chú ý chữ tâm nghĩ: phải vận dụng và tập trung tất cả sự chân thành của tâm đại bichú nguyện.

Số 46: Không Được Thuyết Không Đúng Phép

Phật tử thì thường đi giáo hóa với tâm niệm đại bi mà mình thường phát khởi. Nhưng, dẫu vào nhà tín đồ hay nhà quyền quí, đối với bất cứ tập thể nào, người xuất gia cũng không được đứng mà thuyết pháp cho người tại gia. Phải ngồi lên chỗ cao, ở trước mặt họ. Pháp sư tỷ kheo thì dẫu thuyết pháp cho cả bốn chúng, cũng không được đứng đất mà nói. Khi thuyết pháp thì vị pháp sư phải được mời ngồi chỗ cao, hương hoa hiến cúng; còn bốn chúng thính giả thì ngồi chỗ thấp, bằng ý niệm như hiếu thuận đối với cha mẹ mà kính thuận những lời giáo huấn của vị pháp sư, lại kính thuận liên tục như các đạo sĩ thờ lửa giữ lửa không tắt. Nếu người thuyết pháp mà thuyết không đúng phép như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Thuyết không đúng phép là thuyết pháp không đúng nghi lễ thuyết pháp. Dẫu phải giáo hóa mọi người phát bồ đề tâm, nhưng chính vì để họ quí trọng chánh phápphát bồ đề tâm, nên phải thuyết pháp cho đúng nghi lễ. Dầu thân như nhà tín đồ hay sang như nhà quyền quí, ở đâu cũng không được dễ dãi hay hạ mình, sao cũng nói được, bộc lộ tinh thần thị thường chánh pháp ngay khi chưa nói và khi đang nói. Như vậy thì phải ngồi, lại ngồi chỗ cao và trước mặt người nghe. Nhưng nếu trường hợp cũng theo nghi lễ, người nói phải đứng nói mới tôn nghiêm thì lại khác. Khi thuyết pháp thì vị pháp sư ... giữ lửa không tắt, dịch sát thì như sau, dầu không đúng ý và việc: Nếu khi thuyết pháp, pháp sư ngồi cao, hương hoa hiến cúng; bốn chúng thính giả ngồi thấp như hiếu thuận cha mẹ, kính thuận lời thầy như bà la môn thờ lửa.

Số 47: Không Được Kềm Chế Phi Lý

Phật tử như quốc vương, thái tử, bách quan hay bốn bộ, đã đem đức tin đại thừa lãnh thọ giới pháp của chư Phật rồi, lại tự thị quyền quí cao sang mà phá hoại giáo phápgiới pháp của Như lai, bằng cách đặt ra qui chế để kềm chế bốn bộ đệ tử của Như lai, không cho họ xuất gia, hành đạo, cũng không cho họ tạo lập hình tượng, chùa tháp, và truyền bá kinh luật. Lại đặt chức thống quản để chế ngự chư tăng, lập sách tịch để kiểm kê chư tăng. Tỷ kheo bồ tát thì để cho đứng đất, bạch y cư sĩ lại tự ngồi chỗ cao, làm nhiều điều phi chánh pháp, tạo thành tình trạng như bắt binh nô thờ chủ. Nhưng tỷ kheo bồ tát chính là bậc để cho mọi người kính trọng, có đâu lại bị đem làm kẻ sai sử của quan quyền một cách trái với giáo pháp, trái với giới pháp. Nếu hàng quốc vương bách quan đã đem tâm lý tốt đẹp lãnh thọ giới pháp của chư Phật rồi, thì đừng làm những tội lỗi phá hoại Tam bảo như vậy. Nếu cố ý làm những biện pháp phá hoại Tam bảo thì phạm tội khinh cấu.

Giới này tự nói đã rõ, một cách không ngờ, về những sự kềm chế phi pháp, và đã mệnh danh những sự ấy là phá hoại Tam bảo. Một quốc độ mà cường quyền lấn áp đạo đức, buộc đạo đức và những người tiêu biểu cho đạo đức phải phục dịch mình bằng những qui chế phi lý, nhất là qui chế ấy có tính cách kềm chế, giám sát người và việc của một tôn giáo như Phật pháp, thì đó là "nước của quỉ la sát". Nhưng cường quyền ở đây, ngoài chính quyền mà chính sách căn bản không dung Phật pháp, còn là chính quyền mà cầm đầu hoặc nội bộ có những kẻ bất trung của Phật pháp, tự làm hoặc chịu làm tay sai, lợi dụng ngay sự làm Phật tử mà làm những việc hại đạo của Phật, thì đó là điều mà giới này muốn nói đến : nói đến Phật tử tại gia phản bội Phật pháp. Bốn bộ, bốn bộ đệ tử, ở đây là ưu bà tắc, ưu bà di, đồng nam, đồng nữ. Câu lại đặt chức thống quản ... phá hoại Tam bảo như vậy, được biết có bản bị vua quan xưa đục bỏ.

Số 48: Không Được Phá Hoại Đạo Pháp

Phật tử nếu đã đem tâm lý tốt đẹpxuất gia rồi, lại vì danh vọngquyền lợi nên trước mặt quốc vươngbách quan, nói về giới pháp của chư Phật mà lại nói một cách rất phi lý, làm cho các vị tỷ kheo tỷ kheo ni và những người thọ Bồ tát giới bị trói buộc bằng những hình thức lao tù, những biện pháp quân dịch. Như thế đó là con sâu trong thân sư tử tự ăn thịt sư tử, không phải con sâu ở ngoài: chính những kẻ Phật tử như trên tự phá Phật pháp, không phải ngoại đạo ma vương mà phá được. Nên người lãnh thọ giới pháp của chư Phật thì phải ái hộ giới pháp ấy như người mẹ thương đứa con một, như người con thờ cha mẹ, không được vi phạm. Là Bồ tát thì khi nghe cái tiếng của ngoại đạoác nhân đem lời nói ác phỉ báng phá hoại giới pháp của chư Phật, lúc ấy khác nào tim mình bị ba trăm mũi nhọn đâm vào, thân mình bị ngàn lưỡi dao vạn cây gậy đánh đập chém chặt. Thà là chính mình vào trong địa ngục cả trăm kiếp, chứ không muốn một lần phải nghe cái tiếng của kẻ ác đem lời ác phỉ báng phá hoại giới pháp của chư Phật, huống chi chính mình tự phá hoại giới pháp của chư Phật bằng cách tạo điều kiện khuyến khích kẻ khác phá hoại Phật pháp, không còn gì gọi là tâm hiếu thuận. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Giới 47 phần nhiều nói Phật tử tại gia mà phản bội Phật pháp, giới 48 này phần nhiều nói sự phản bội ấy của Phật tử xuất gia. Sự phản bội tàn tệ nhất là chính mình giải thích giáo phápgiới pháp, đem ngay sự giải thích ấy mà gây ra hay công nhận sự bị nguy khốn đày ải cho đồng đạo, nhất là đồng đạo xuất gia. Cường quyền, tay sai của ma vương hay chính ma vương hiện thân, phá hoại Phật pháp được là do hành động này tạo cơ hội hay tạo điều kiện. Trong kinh Thắng man, bà hoàng này bạch đức Thế tôn, hằng sa đại nguyện đều nên nhập vào một đại nguyện, ấy là nguyện hộ trì chánh pháp. Hộ trì chánh phápđại nguyện cực kỳ lớn lao ... Đức Thế tôn dạy, Thắng man, đúng như vậy; chút ít của sự hộ trì chánh pháp cũng làm cho ma vương cả sợ. Như lai không thấy có một việc thiện nào làm cho ma vương cả sợ bằng một chút của sự hộ trì chánh pháp (Chính 12/218). Câu bằng những hình thức lao tù, những biện pháp quân dịch, được biết có bản cũng bị đục bỏ.

Chín giới pháp nhẹ như vậy, các người phải học, phải cung kính phụng trì.

Kết thúc 9 giới nhẹ thứ hai.

Đoạn 3: Kết Thúc 48 Giới Nhẹ Bồ Tát Giới Phạn Võng

Các Phật tử, bốn mươi tám giới pháp nhẹ như trên đây, các người hãy thọ trì như chư Bồ tát quá khứ đã tụng, chư Bồ tát vị lai sẽ tụng, chư Bồ tát hiện tại đang tụng.

Tổng kết 48 giới nhẹ đã nói bằng 3 lần 10 và 2 lần 9, tức kết thúc phần đẳng lưu của Bồ tát giới.

Tạo bài viết
01/07/2010(Xem: 45615)
29/06/2010(Xem: 41751)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.