Ngôn vọng hiển tri chơn

08/03/20186:07 SA(Xem: 3574)
Ngôn vọng hiển tri chơn

Hỏi: Trong một buổi trà đàm cùng với một số đồng đạo, chúng tôithảo luận đến đề tài Chơn và Vọng và có nên bỏ Vọng để cầu Chơn. Trong buổi thảo luận có một đồng đạo nhắc đến hai câu kệ “Ngôn vọng hiển tri chơn. Vọng chơn đồng nhị vọng”. Nghe qua hai câu này tôi lấy làm tâm đắc. Nhưng khi hỏi ra thì chẳng ai biết nguyên bài kệ. Tôi thử truy cập ở Google thì vẫn không tìm thấy bài kệ này. Mong đạo hữu cùng chia sẽ.

 

Đáp: Thưa đạo hữu, hai câu kệ mà đạo hữu nghe được là bản Hán Việt ở quyển 5 của Kinh Thủ Lăng Nghiêm. Dưới đây là Nguyên văn bài kệ Hán Việt:

Chơn tánh hữu vi không

Duyên sanh cố như huyễn

Vô vikhởi diệt

Bất thật như không hoa

Ngôn vọng hiển tri chơn

Vọng chơn đồng nhị vọng

Du phi chơn phi chơn

Vân hà kiến sở kiến

Trung gianthật tánh

Thị cố nhược giao lô

Mê hối tức vô minh

Thác minh tiện giải thoát

Giải kiết đồng sở nhơn

Thánh phàm vô nhị lộ

Nhử quán giao trung tánh

Không hữu nhị cung phi

Mê hối tức vô minh

Bất minh tiện giải thoát

Phược giải nhơn thứ đệ

Lục giải nhất diệt vong

Căng tuyển trạch viên thông

Nhập lưu thành Chánh Giác

Đà na vi tế thức

Tập khí như bọc lưu

Chơn phi chơn cũng mê

Ngã thường bất khai diễn

Tự tâm thủ tự tâm

Phi huyễn thành huyễn pháp

Bất thủ vô phi huyễn

Phi huyễn diệt bất sanh

Huyễn pháp vân hà lập

Hữu thị Diệu Liên Hoa

Kim cang vương bảo giác

Như huyễn tam ma đề

Đờn chỉ siêu vô học

Thử A Tì đạt ma

Thập phương bạt già phạm

Nhất lộ Niết Bàn môn

 

Dịch nghĩa:

 

Pháp hữu vi không có tự thể. Thật chất của nó là không

nhơn duyên sanh cho nên có. Có mà không thật có cho nên gọi nó là “như huyễn” (huyễn là cái bóng)

Vô Vi là nói để đối đãi với Hữu Vi. Tự tánh của Vô Vi vốn chẳng sanh chẳng diệt (vì nó là bảng thể của chơn như)

Pháp Hữu vi không thật có, giống như hoa đóm trong hư không. Vì anh bị bệnh mắt nên thấy có hoa đóm chứ nào có gì đâu. Pháp Hữu ViVô Vi cũng vậy. Vì anh bị bệnh chấp ngãchấp pháp nên mới thấy là có.

Vì anh còn chấp nên nói cái Vọng để hiển bày cái Chơn.

Nhưng nếu anh chấp là có cái Chơn, muốn bỏ Vọng để tìm Chơn thì anh đã sai rồi vì Vọng và Chơn cải hai đều là Vọng.

Tự thể của nó chẳng phải là Chơn cũng chẳng phải là Vọng. Nó là Như Vậy (Như Thị), muốn gán ghép cho cái gì cũng sai hết vì chấp có cái Chơn hay Vọng cũng đều lọt vào biến kế sở chấp.

Chơn và Vọng cũng chẳng phải thì làm sao có được cái gọi là năng kiến và sở kiến?

Thức ở giữa Căn và trần sanh ra sự phân biệt vốn không có thật tánh.

Vậy nên giống như hình 2 cây lau gác nhau.

Cột để sanh ra phiền não vô minh hay là mở để có được sự giải thoát cũng đồng dựa trên 6 căn.

Anh làm chủ được 6 căn thì anh là thánh. Anh không làm chủ được 6 căn thì anh là phàm phu.

Muốn mở 6 gút (tiêu biểu cho 6 căn) đã cột thì phải mở theo từng thứ lớp.

Nhưng khi 6 gút đã mở hết rồi thì cái một cũng chẳng còn (nào có 1, 2, 3, 4 gì nữa đâu)

Trong 6 căn của ông, chỉ cần chọn 1 căn nào nhẹ nhất để tu hành để sớm được viên thông.

Khi đã được quả Nhập Lưuxem như đã thành Phật.

Thức A đà na rất vi tế.

Tập khí chúng sanh lại quá sâu dày.

Ngại chúng sanh thường hay chấp Chơn và Vọng.

ý nghĩa thâm sâu khó hiểu, nên Như Lai ít nói đến thức này.

Tự tâm mình là Phật nhưng còn chấp lấy tìm cầu tâm, cầu Phật ở bên ngoài

Nên các pháp vốn chẳng phải huyễn (Chơn) điều trở nên pháp huyễn (Vọng).

Nếu không chấp trướctâm thanh tịnh rồi

Chơn còn không có thì làm sao có cái gọi là Vọng?

Quán được như vậy gọi là “Như Huyễn Tam Ma Đề” nghĩa là pháp tu thiền, quán vạn pháp duyên sanh như huyễn.

Có được pháp tu này quý báuchắc chắn ví như vua của các loài kim cương

thanh tịnh như Diệu Liên Hoa

Khảy ngón tay trong một sát na liền vượt qua hàng vô học (bật A La Hán trở lên)

Khắp mười phương Chư Phật cũng đều dựa vào pháp tu quán này

Để cùng đi trên con đường đến thành đô Niết Bàn!!

 

Tôi cho rằng toàn bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm đã được Phật tóm gọn trong bài kệ này. Nó cũng ăn qua với Kinh Duy Ma Cật (ví dụ như Chơn và Vọng là Bất Nhị), kinh Kim Cang (ví dụ như chấp có cái Chơn nào đó thì đã lọt vào tứ tướng), kinh Pháp Hoa (ví dụ như ở đoạn Thập Như Thị) và kinh Hoa Nghiêm (ví dụ như ở đoạn Tâm, Phập và Chúng Sanh không hai không khác). Cũng giống như đạo hữu, tôi cũng lấy làm tâm đắc khi học được bài kệ này. Nếu có điều kiện, đạo hữuthể tham khảo thêm hai bảng dịch của cư sĩ Hạnh Cơ và cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám.

https://thuvienhoasen.org/a841/kinh-thu-lang-nghiem-quyen-nam 
https://thuvienhoasen.org/p16a854/05-quyen-nam

Tạo bài viết
22/06/2019(Xem: 2829)
10/01/2019(Xem: 12515)
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.