Chương 2: Tứ Thánh Đế.

08/07/20192:56 SA(Xem: 1367)
Chương 2: Tứ Thánh Đế.

PHẬT ĐẢN 2643 – PHẬT LỊCH 2563
TỲ KHEO THÍCH THẮNG GIẢI
NIỆM ĐỊNH TUỆ HỮU LẬU
VÀ  NIỆM ĐỊNH TUỆ  VÔ LẬU
ẤN HÀNH MÙA PHẬT ĐẢN 2019 MELBOURNE - ÚC CHÂU
 

CHƯƠNG 2

TỨ THÁNH ĐẾ

Trong Kinh Trung A-hàm, Đức Phật có dạy rằng, trong đời quá khứ, cho dù có vô lượng Đức Phật ra đời, thì các Ngài đều dạy về Tứ Thánh đế; hiện tại và tương lai có vô lượng Đức Phật ra đời thì giáo lý Tứ Thánh đế vẫn tiếp tục được giảng dạy. Do đó, ta hiểu rằng, giáo lý Tứ Thánh đế là một trong những nền tảng giáo lý căn bản, quan trọng để tu tập, bởi vì nội dung của Tứ Thánh đế bao gồm toàn bộ các phương pháp tu tập của cả truyền thống Nguyên thủy lẫn Đại thừa. Đó chính là nền tảng giáo lý căn bản nhất, bất luận chúng ta theo truyền thống nào cũng cần phải nắm rõ.

Trong các kinh, Đức Phật dạy Khổ đế gồm có ba thứ khổ hay tám thứ khổ. Ba thứ khổ là khổ khổ, hoại khổhành khổ; tám thứ khổ là sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn này là khổ. Như vậy, năm thủ uẩn bao gồm toàn bộ tám thứ khổ hay ba thứ khổ. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Đây là các nhân tố để cấu thành một chúng sinh hữu tình. Nhưng vì sao Đức Phật lại dạy toàn bộ năm thủ uẩn là khổ? Vì năm thủ uẩnpháp duyên sinh, bởi pháp duyên sinh nên luôn chuyển động vô thường, suy yếu, mệt nhọc; là pháp dễ tan hoại theo dòng thời gian, thay đổi chẳng có điểm dừng, hư hoại mục nát; là pháp luôn biến hoại, không tồn tại mãi; là pháp không đáng tin cậy để làm chỗ nương tựa. Cho nên Đức Phật dạy năm thủ uẩn là khổ.

Tập đếnguyên nhân dẫn sinh Khổ đế. Trong kinh Đức Phật dạy nguyên nhân để dẫn sinh ra các khổ đó chính là do vô minh, tham áichấp thủ.

Diệt đế tức là Niết-bàn. Niết-bàn là sự vắng mặt hoàn toàn Khổ đế, Tập đế hay nói cách khác đó là vắng mặt của tham, sân và si. Niết-bàn được mô tả với nhiều danh từ khác nhau như: Vô sinh, vô vi, vô lậu, chân như, thực tướng, pháp thân, tịch tĩnhgiải thoát...

Trong Kinh Tăng Nhất A Hàm, Đức Phật dạy: “Vô lậu là Niết Bàn”.

Đạo đế bao gồm 37 pháp, chúng ta thường gọi là 37 phẩm trợ đạo. Trong 37 pháp này thì Bát Chánh đạo được xem là nền tảng căn bản của Đạo đế.

Trong Trung A-hàm, Kinh Đại Thiên Nại Lâm số 67, Đức Phật dạy: “Nay Như Lai trao pháp Bát Chánh đạo cho Thầy A-nan, Thầy A-nan phải thừa kế, giữ gìn và trao lại để cho Chánh pháp không bị diệt vong”.

Trong Tạp A-hàm, Kinh Quảng thuyết Bát Chánh đạo, Đức Phật dạy: “Bát Chánh đạo gồm có Hữu lậu và Vô lậu”.

Trong Kinh Đại Niết-bàn, Đức Phật dạy: “Nếu những Tỳ-kheo sống chân chánh theo Bát Chánh đạo thì cõi đời này không thiếu vắng quả vị A-la-hán”.

Nhìn chung, khi nghiên cứu trong các kinh và luận, chúng ta nhận thấy rằng, Đức Phật và các bậc Thánh nhân thường dạy: “Ai thấy được Khổ đế, vị ấy cũng thấy được Tập đế, Diệt đế và Đạo đế”.

Bây giờ chúng ta đi vào tìm hiểu ý nghĩa của lời dạy nêu trên, vì điều này rất quan trọng cho sự tu tậpchứng nghiệm của mỗi người. Vậy bằng phương pháp nào chúng ta có thể nhìn thấy được như thật Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế?

Chúng ta đã biết rằng, Đức Phật dạy tám thứ khổ hay ba thứ khổ, nhưng nói gọn lại thì toàn bộ năm thủ uẩn là khổ. Vì thế, mỗi khi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức sinh khởi như thế nào, thì ta chỉ an trú trí tuệ để nhận biết (trí vô phân biệt) sự tập khởi của chúng đúng như thật mà thôi, không khởi lên tạp niệm phân tích, chia chẻ gì…, đó là thấy được như thật về Khổ đế. Do an trú trí tuệ để nhận biết (trí vô phân biệt) sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ và phi ngã nên ta cũng nhận biết được những nguyên nhân dẫn sinh sự tập khởi của năm thủ uẩn này là do vô minh, tham áichấp thủ, đó là thấy được Khổ đếTập đế. Ở đây, Khổ đếTập đếnhân quả đồng thời. Vì Khổ đếTập đếnhân quả đồng thời nên ở nơi Khổ đế có mặt Tập đế và ở nơi Tập đế cũng có mặt Khổ đế.

Cái trí tuệ thường nhận biết (chánh kiến vô lậu) được sự tập khởi của Khổ đếTập đế, ấy là Đạo đếDiệt đế. Ở đây cũng vậy, Đạo đếDiệt đếnhân quả đồng thời. Vì Đạo đếDiệt đếnhân quả đồng thời nên ở nơi Đạo đế có mặt Diệt đế và ở nơi Diệt đế cũng có mặt Đạo đế. Đạo đếDiệt đế không thể tách rời nhau được.

Trong Tạp A-hàm, Kinh Ngũ chuyển, Đức Phật dạy: “Muốn điều phục, đoạn trừ sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thì ta phải điều phục, đoạn trừ, vượt qua khỏi dục tham”.

Dựa vào ý nghĩa của Kinh Ngũ chuyển, ta thấy rằng: Sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là Khổ đế; và dục tham vin bám ở nơi sự tập khởi của năm thủ uẩnTập đế. Cho nên, muốn đoạn trừ Khổ đế thì ta phải điều phục, đoạn trừ Tập đế. Đó là nguyên nhân dẫn sinh ra Khổ đế.

Trong Trung A-hàm, Kinh Tượng tích dụ số 30, Ngài Xá-lợi-phất dạy: “Này chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: Nếu ai thấy duyên khởi tức thấy pháp; nếu thấy pháp tức thấy duyên khởi.

Vì sao thế? Này chư Hiền, Đức Thế Tôn nói năm thủ uẩn từ nhân duyên mà sanh. Sắc thủ uẩn, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn cũng như vậy. Vị ấy đã nhàm chán năm thủ uẩn thuộc trong ba đời quá khứ, hiện tạivị lai này, do nhàm tởm nên tâm vô dục, bởi vô dục nên sẽ được giải thoát, giải thoát rồi liền biết giải thoát, biết một cách như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’”.

Chúng ta cần phải chiêm nghiệm, tư duy về ý nghĩa mà Ngài Xá-lợi-phất đã dạy để tu tập. Vì sao? Vì hiểu pháp duyên khởi và thấy được pháp duyên khởi là hai ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Vậy ta hãy đi vào tìm hiểu lời dạy của Ngài Xá-lợi-phất để thấy được pháp duyên khởi nghĩa là gì? Đó là do nhãn căn tiếp xúc với các sắc trần, sinh khởi nhãn thức. Ba thứ căn, trần và thức hòa hợp dẫn sinh ra xúc. Xúc làm nhân duyên sinh khởi thọ, tưởng và tư. Các căn tai, mũi, lưỡi, thân và ý còn lại cũng có ý nghĩa như vậy. Do tâm an trú trong trí tuệ để nhận biết (trí vô phân biệt) được sự tập khởi của năm thủ uẩnpháp duyên khởi như vậy nên vô thường, khổ và phi ngã. Ấy là thấy được pháp duyên khởi.

 

TẠI SAO NÓI THẤY ĐƯỢC PHÁP LÀ DO THẤY ĐƯỢC PHÁP DUYÊN KHỞI?

 

Cái trí tuệ nhận biết được sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là pháp duyên khởi nên vô thường, khổ và phi ngã, ấy chính là pháp. Chữ pháp trong ý nghĩa này, được hiểu là chánh kiến vô lậu hoặc chân tâm không sinh diệt.

Cho nên Ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta cần phải thấy được pháp duyên khởi, chứ không phải hiểu được pháp duyên khởi. Thấy được pháp duyên khởi đó là chánh kiến vô lậu. Chánh kiến vô lậuchân tâm không sinh diệt. Chân tâm không sinh diệt là định, tuệ đồng thời hoặc giới, định và tuệ đồng thời. Do định và tuệ đồng thời nên bản chất của nó chính là thường định và thường tuệ.

Lại nữa, thấy được pháp duyên khởi ấy là thấy được như thật về Khổ đếTập đế. Cái trí tuệ nhận biết được pháp duyên khởi đó là Đạo đếDiệt đế.

Như vậy, lời dạy của Ngài Xá-lợi-phất: “Này chư Hiền, Đức Thế Tôn cũng nói như vầy: Nếu ai thấy duyên khởi tức thấy pháp; nếu thấy pháp tức thấy duyên khởi” ý nghĩa cũng tương tự như lời dạy của Đức Phật:“Ai thấy được Khổ đế, vị ấy cũng thấy được Tập đế, Diệt đế và Đạo đế”.

Khi hành giả dụng tâm tu tậpđạt được cái thấy đối với lý duyên khởi như vậy, đó gọi là Kiến đế, Kiến đạo, hoặc những tên gọi khác như Kiến tánh, Ngộ đạo...

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 178266)
01/04/2012(Xem: 23934)
08/11/2018(Xem: 5017)
08/02/2015(Xem: 34477)
25/07/2011(Xem: 101698)
10/10/2010(Xem: 102362)
10/08/2010(Xem: 105956)
08/08/2010(Xem: 111474)
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.