Chương 4: Một số bản Kinh Tạp A Hàm - Nguyên Thủy..

08/07/20192:57 SA(Xem: 384)
Chương 4: Một số bản Kinh Tạp A Hàm - Nguyên Thủy..

PHẬT ĐẢN 2643 – PHẬT LỊCH 2563
TỲ KHEO THÍCH THẮNG GIẢI
NIỆM ĐỊNH TUỆ HỮU LẬU
VÀ  NIỆM ĐỊNH TUỆ  VÔ LẬU
ẤN HÀNH MÙA PHẬT ĐẢN 2019 MELBOURNE - ÚC CHÂU
 

CHƯƠNG 4

MỘT SỐ BẢN KINH TẠP A-HÀM (NGUYÊN THỦY)

(Phần kinh-Theo bản dịch của Hòa Thượng Tuệ Sỹ)

KINH 3. VÔ TRI (1)

(Pāli, S. 22. 24. Parijānaṃ)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Đối với sắc không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục9 thì không thể đoạn trừ khổ não.

Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức mà không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục, thì không thể đoạn trừ khổ não.

Này các Tỳ-kheo, đối với sắc, nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận, nếu ly dục, thì có thể đoạn trừ khổ não.

Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành và thức, nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận, nếu ly dục, thì có thể đoạn trừ khổ não.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                                ---0O0---

 

KINH 4. VÔ TRI (2)

(Pāli, S. 35. 27. Parijānanā)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc rừng cây  Kỳ-đà, nước  Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Đối với sắc không biết, không rõ, không đoạn tận, không ly dục, tâm không giải thoát, thì không vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.

Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức mà không biết, không rõ, không đoạn tận, không lìa tham dục, tâm không giải thoát, thì sẽ không thể nào vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.

Tỳ-kheo, đối với sắc nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận, nếu ly dục, thì sẽ vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.
          Này các Tỳ-kheo, người nào nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận, nếu lìa tham dục, tâm giải thoát, thì có thể vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.

Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu người nào nếu biết, nếu rõ, nếu đoạn tận, lìa tham dục, tâm giải thoát, thì sẽ vượt qua khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo  sau  khi nghe những điều Phật dạy, hoan  hỷ phụng hành.

                        ---0O0---

 

KINH 5. VÔ TRI (3)

(Pāli, S. 22. 29. Abhinandanaṃ)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Ai đối với sắc mà yêu thích, thì đối với khổ  cũng yêu thích. Đối với khổ mà yêu thích, thì đối với khổ sẽ không được giải thoát, không rõ, không ly dục. Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức mà yêu thích, thì cũng yêu thích khổ. Ai yêu thích khổ, thì đối với khổ không được giải thoát.

Này các Tỳ-kheo, ai đối với sắc không yêu thích, thì đối với khổ cũng không thích. Ai đối với khổ không thích, thì đối với khổ sẽ được giải thoát.

Cũng vậy, ai đối với thọ, tưởng, hành, thức không yêu thích, thì đối với khổ  cũng không thích. Ai đối với khổ không thích, thì đối với khổ sẽ được giải thoát.

Này các Tỳ-kheo, đối với sắc không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát. Ai không giải thoát tâm tham, thì sẽ không thể đoạn trừ được khổ não.

Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức ai không biết, không rõ, không ly dục, tâm không giải thoát. Tham tâm không giải thoát, thì sẽ không đoạn trừ được khổ não.

Đối với sắc, nếu người nào biết, rõ, lìa tham  dục, tâm giải thoát, thì sẽ có thể đoạn trừ được khổ não.

Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu biết, rõ, lìa tham dục, tâm giải thoát, thì có thể đoạn trừ khổ não.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                                 ---0O0---

 

KINH 6. VÔ TRI (4)

(Pāli, S. 35. 27, Parijānanā)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây  Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Đối với sắc, không biết, không rõ, không lìa  tham dục, tâm không giải thoát thì sẽ không vượt qua  khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.

Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức nếu không biết, không rõ, không lìa tham dục, tâm không giải thoát, thì sẽ không vượt qua khỏi sự sợ hãi về
 sanh,già,bệnh,chết.
         Này các Tỳ-kheo, đối với sắc nếu biết, nếu rõ,
 nếu lìa tham dục, tâm giải thoát, thì có thể vượt qua
 khỏi sự sợ hãi về sanh, già, bệnh, chết.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                                 ---0O0---

 

KINH 43. VÔ TRI (5)

(Pāli, S. 22. 99. Gaddula)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.  Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Đối với sanh tử vô thỉ, vì bị vô minh che khuất, ái kết buộc ràng, luân hồi trong đêm dài tăm tối, nên không biết được biên tế tối sơ của khổ. Cũng như trăm thứ cỏ cây, lúa, thóc, mọc trên mặt đất, tất cả đều bị khô héo vì lâu ngày không mưa. Này các Tỳ-kheo, vì bị vô minh che khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết luân hồi. Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ.

Này các Tỳ-kheo, có khi nước trong biển lớn cũng khô cạn vì lâu ngày trời không mưa. Cũng vậy, này các Tỳ- kheo, vì vô minh che khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết luân hồi. Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ.

Này các Tỳ-kheo, có lúc, sau một thời gian lâu dài, núi chúa Tu-di828 tất phải sụp đổ.  Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vì vô minh che khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết luân hồi. Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ.

Này các Tỳ-kheo, có lúc, sau một thời gian lâu dài, quả đất này bị tan hoại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vì vô minh che  khuất, ái kết buộc ràng, nên chúng sanh sống chết luân hồi. Ái kết không dứt, không chấm dứt được khổ.

Này các Tỳ-kheo, giống như con chó bị cột vào trụ. Khi sợi dây chưa bứt, nó lâu dài đi quanh cây trụ, chuyển động luân hồi. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vì  chúng sanh ngu si không biết như thật về sắc, về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của  sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc, nên mãi mãi bị xoay vần qua lại, bị chuyển vần theo sắc. Cũng vậy, nếu không biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức; về sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức; về vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức; về sự tai hại của thọ, tưởng, hành, thức; về sự xuất ly của thọ, tưởng,  hành, thức, thì sẽ mãi mãi bị xoay vần qua lại, bị chuyển vần theo thọ, tưởng, hành, thức.

Này các Tỳ-kheo, nó bị chuyển theo sắc, chuyển theo thọ, chuyển theo tưởng, chuyển theo hành, chuyển theo thức. Vì bị chuyển theo sắc nên không thoát khỏi sắc; vì bị chuyển theo thọ, tưởng, hành, thức nên không thoát khỏi thọ, tưởng, hành, thức. Vì không thoát, nên không thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Đa văn Thánh đệ tử biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc; biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; về sự  tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức; về sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức; về vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức; về sự tai hại  của  thọ,  tưởng,  hành,  thức; về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức, nên không bị chuyển theo thọ, tưởng, hành, thức. Vì không bị chuyển theo, nên thoát khỏi sắc, thoát khỏi thọ, tưởng, hành, thức. Ta nói vị ấy sẽ thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não.”

Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                                 ---0O0---

 

KINH 33. VÔ MINH (1)

(Pāli, S. 22. 126-128. Samudayadhamma,

129-130. Assada)

         Tôi nghe như vầy:

         Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la ở tại núi Kỳ-xà-quật. Vào buổi chiều, sau khi từ thiền tịnh dậy, Tôn giả Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cùng chào hỏi và nói những lời tốt đẹp làm hài lòng, rồi ngồi qua một bên, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

      “Tôi có những việc muốn hỏi, Nhân giả có rảnh thì giờ vì tôi mà nói cho không?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

      “Tùy theo những gì Nhân giả hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”

       Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

      “Gọi là vô minh, vậy thế nào là vô minh? Ai có vô minh này.”

      Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

     “Vô minh là không biết 767, không biết tức là vô minh. Không biết những gì? Sắc là vô thường, mà không biết như thật sắc là vô thường. Sắc là pháp ma diệt mà không biết như thật sắc là pháp ma diệt 768. Sắc là pháp sanh diệt mà không biết như thật sắc là pháp sanh diệt. Thọ, tưởng, hành, thức là pháp vô thường mà không biết như thật thọ, tưởng, hành, thức là pháp vô thường. Thức là pháp ma diệt mà không biết như thật thức là pháp ma diệt; thức là pháp sanh diệt mà không biết như thật thức là pháp sanh diệt. Này Ma-ha Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này mà không thấy, không biết như thật, không có vô gián đẳng769, ngu si, mờ tối, không sáng tỏ, thì gọi là vô minh. Ai thành tựu những điều này gọi là vô minh.”

       Lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

      “Gọi là minh, vậy thế nào là minh? Ai có minh này?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất nói Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:

      “Minh là biết; biết gọi là minh.”

       Lại hỏi: Biết những gì?

       Đáp: “Sắc là vô thường; biết như thật sắc là vô thường. Sắc là pháp ma diệt, biết như thật sắc là pháp ma diệt. Sắc là pháp sanh diệt, biết như thật sắc là pháp sanh diệt. Thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, biết như thật thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Thức là pháp ma diệt, biết như thật thức là pháp ma diệt. Thức là pháp sanh diệt, biết như thật thức là pháp sanh diệt. Này Tôn giả Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, như thật biết, thấy, sáng tỏ, có giác, có tuệ, có vô gián đẳng, đó gọi là minh. Ai thành tựu những điều này thì gọi là người có minh.”

Sau khi hai vị Chánh sĩ này, mỗi người nghe những điều được nói, tùy hỷ lẫn nhau, từ chỗ ngồi đứng dậy về chỗ ở của mình.

                                 ---0O0---

 

KINH 34. VÔ MINH (2)

                  (Pāli, S.22. 133-135. Koṭṭhika)

 

        Tôi nghe như vầy:

        Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la ở tại núi Kỳ-xà-quật. Vào buổi chiều, sau khi từ thiền tịnh dậy, Tôn giả Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cùng chào hỏi và nói những lời tốt đẹp làm hài lòng, rồi ngồi qua một bên, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

       “Tôi có những việc muốn hỏi, Nhân giả có rảnh thì giờ vì tôi mà nói cho không?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

      “Tùy theo những gì Nhân giả hỏi, nếu biết tôi sẽ trả lời.”

       Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

      “Gọi là vô minh, vậy thế nào là vô minh? Ai có vô minh này?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

     “Vô minh là không biết; không biết tức là vô minh. Không biết những gì? Không biết như thật về sắc; không biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về con đường đưa đến sự diệt tận của sắc. Không biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; không biết như thật về sự tập khởi của thức, về sự diệt tận của thức, về con đường đưa đến sự diệt tận của thức. Này Ma-ha Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, mà không biết như thật, không biết, không thấy, không có vô gián đẳng, ngu si, mờ tối, thì gọi là vô minh. Ai thành tựu những điều này, gọi là vô minh.”

       Lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất: Thế nào là minh? Ai có minh này?

      Tôn giả Xá-lợi-phất đáp: Gọi minh là biết, biết tức là minh.

      Lại hỏi: Biết những gì?

      Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

     “Biết như thật về sắc; biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về con đường đưa đến sự đoạn tận của sắc. Biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; biết như thật về sự tập khởi của thức, về sự diệt tận của thức, về con đường đưa đến sự diệt tận của thức. Này Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, như thật biết, thấy, sáng tỏ, có giác, có tuệ, có vô gián đẳng, thì đó gọi là minh. Ai thành tựu những điều này thì gọi là người có minh.”

Sau khi hai vị Chánh sĩ này, mỗi người nghe những điều được nói, tùy hỷ lẫn nhau, từ chỗ ngồi đứng dậy về chỗ ở của mình.

                                  ---0O0---

KINH 35. VÔ MINH (3)

                (Pāli, S. 22. 131-134. Samudaya)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà trong thành Vương xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la ở tại núi Kỳ-xà-quật. Vào buổi chiều, sau khi từ thiền tịnh dậy, Tôn giả Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cùng chào hỏi và nói những lời tốt đẹp làm hài lòng, rồi ngồi qua một bên, hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

       “Tôi có những việc muốn hỏi, Nhân giả có rảnh thì giờ vì tôi mà nói cho không?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

      “Tùy theo những gì Nhân giả hỏi, nếu biết tôi sẽ

 trả lời.”

       Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

      “Gọi là vô minh, vậy thế nào là vô minh? Ai có vô minh này?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:“Không biết là vô minh.”

      “Không biết những gì?”

      “Không biết như thật về sắc. Không biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc. Không biết như  thật về thọ, tưởng, hành, thức. Không biết như thật về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, về sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức, về vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức, về sự tai hại của thọ, tưởng, hành, thức, về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức. Này Ma-ha Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, mà không biết  như thật,  không  thấy  như thật, không có vô gián đẳng, mờ tối, hay ngu si, thì gọi là vô minh. Ai thành tựu những điều này, thì gọi là vô minh.”

       Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

      “Gọi là minh, vậy thế nào là minh? Ai có minh này?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất đáp: “Biết tức là minh.”

       Lại hỏi: “Biết những gì?”

       Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

      “Biết như thật về sắc; biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc. Biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; biết như thật về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, về sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức, về vị ngọt của thọ, tưởng hành, thức, về sự tai hại của thọ, tưởng, hành, thức, về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức. Này Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, biết như thật, thấy như thật, sáng tỏ, có giác, có quán, có vô gián đẳng, thì đó gọi là   minh. Ai thành tựu những điều này thì gọi là người có minh.”

Sau khi hai vị Chánh sĩ này, mỗi người nghe những điều được nói, tùy hỷ lẫn nhau, từ chỗ ngồi đứng dậy về chỗ ở của mình.

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ:

NĂM THỦ UẨN: Năm uẩn hay năm ấm.

Uẩn là sự tập hợp, tụ hợp, tích hợp, nhóm; Ấm là ngăn che, che phủ.

  1. Sắc uẩn: Đó là yếu tố vật chất bao gồm: Địa, thủy, hỏa, phong. Tóm lại, pháp gì do bốn đại tạo thành, pháp ấy gọi là sắc.
  2. Thọ uẩn: Thọ là nhóm cảm giác gồm khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ.
  3. 3.    Tưởng uẩn: Tưởng, tự tính của nó tiếp thu ảnh tượng nơi đối tượng. Chức năng của nó là quy ước các loại danh ngôn khác nhau. Nghĩa là, cần phải ấn định hình thái giới hạn của đối tượng, mới có thể tùy theo đó phát khởi các danh ngôn khác nhau. (Luận Thành duy thức)
  4. Hành uẩn: Này các Tỳ kheo thế nào là hành? Có 6 tư thân này: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Đây gọi là hành. (Tương ưng bộ kinh III)

Hành uẩn là những tâm hành thuộc tâm sở. Duy thức chia thành 51 tâm sở bao gồm cả thọ, tưởng.

  1. Thức uẩn: Thức là khả năng phân biệt, nhận biết được thế giới hiện thực mỗi khi sáu căn của ta tiếp xúc với sáu đối tượng của chúng là sáu trần. Thức có sáu loại: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thứcý thức. Thức là tâm vương; thọ, tưởng và hành là tâm sở. Ngoài sáu thức nói trên, Duy thức học còn triển khai thêm hai thức nữa, đó là Mạt-na thức (Thức thứ bảy) và A-lại-da thức (Thức thứ tám).

* Tri là trí vô phân biệt hoặc chân tâm không sanh diệt.

* Minhchánh kiến vô lậu hoặc trí tuệ vô ngã.

 

Giải thích nội dung văn kinh:

          Chúng ta chỉ cần tìm hiểu ý nghĩa nội dung của bản Kinh Vô minh, các bản kinh còn lại được nêu ra là để làm dẫn chứng, tham khảo thêm. Vì sao? Xét về mặt nội dung của năm bản Kinh Vô tri và ba bản Kinh Vô minh, chúng ta nhận thấy rằng, tất cả đều có chung một ý nghĩa giống nhau. Cho nên chỉ cần tìm hiểu nội dung của bản Kinh Vô minh thì ta có thể hiểu được ý nghĩa của tất cả bản kinh còn lại.

Chúng ta đã từng được nghe và học qua rất nhiều lần về ý nghĩa Vô minh và Minh, nhưng nay sẽ trực tiếp tìm hiểu lời dạy của Ngài Xá-lợi-phất đã dạy ở trong bản Kinh Vô minh. Trong bản Kinh Vô minh này, Ngài Xá-lợi-phất dạy về ý nghĩa của vô minh và minh rất rõ ràng, dễ hiểu, thuận tiện cho việc tu tập hành trì của mỗi người.

      Vậy “Vô minh” là gì?

     Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

     “Gọi là vô minh, vậy thế nào là vô minh? Ai có vô minh này?”

      Tôn giả Xá-lợi-phất đáp: “Không biết là vô minh.”

      “Không biết những gì?”

     “Không biết như thật về sắc. Không biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc. Không biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức. Không biết như thật về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, về sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức, về vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức, về sự tai hại của thọ, tưởng, hành, thức, về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức. Này Ma-ha Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, mà không biết  như thật,  không thấy như thật, không có vô gián đẳng, mờ tối, hay ngu si, thì gọi là vô minh. Ai thành  tựu những  điều  này, thì gọi là vô minh”.

“Vô minh” là không biết. Không biết đối với các pháp gì? Đó là không biết như thật về sắc, không biết như thật sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức; không biết như thật vị ngọt, sự tai hại, sự diệt tận, sự xuất ly của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Nói tóm lại, do không nhận biết được sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ và phi ngã nên ta mới sống với sự tập khởi của chúng. Khi ta sống với sự tập khởi của năm thủ uẩn tức là sống với vô minh, nên từ nơi căn bản phiền não của vô minh này, mới dẫn sinh ái, thủ, hữu và các tùy phiền não khác. Do sống với vô minh, ái, thủ và hữu nên ta mới tạo tác các nghiệp nhân. Vì đã tạo tác các nghiệp nhân nên dựa vào các nghiệp nhân thiện ác đã tạo ấy để dẫn khởi nghiệp quả hiện báo, sinh báohậu báo. Đây là dòng lưu chuyển sinh tử khổ đau. Ta đã sống với dòng lưu chuyển sinh tử khổ đau này từ rất lâu, mà không thể nào có thể đo lường được thời gian. Chúng ta hãy dành thời gian để tư duy, chiêm nghiệm về nghĩa này thật nhiều!

Nếu chúng ta không chịu dành thời gian vào việc tư duy, chiêm nghiệm về ý nghĩa này để mở ra một con đường chân chánh đúng đắn, một hướng đi tới hợp lý, một đời sống cao quý có ý nghĩa, một giá trị chân thật hơn, thì quả thật đây là một điều vô cùng đáng tiếc cho một kiếp sinh ra ở cõi đời, may mắn đã được làm thân người. Vì sao? Bởi một khi điều kiện nhân duyên của thọ mạng chấm dứt thì bất cứ thứ gì ta cũng không thể nắm giữ được, mà chỉ dựa vào các nghiệp nhân thiện ác đã tạo, để thọ nhận một quả báo mới mà thôi.

      Vậy “Minh” nghĩa là gì?

       Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

      “Gọi là minh, vậy thế nào là minh?Ai có minh này?”

      Tôn giả Xá-lợi-phất đáp: “Biết tức là minh.”

      Lại hỏi: “Biết những gì?”

      Tôn giả Xá-lợi-phất đáp:

     “Biết như thật về sắc; biết như thật về sự tập khởi của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về sự xuất ly của sắc. Biết như thật về thọ, tưởng, hành, thức; biết như thật về sự  tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, về sự diệt tận của thọ, tưởng, hành, thức, về vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức, về sự tai hại của thọ, tưởng, hành, thức, về sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức. Này Câu-hi-la, đối với năm thọ ấm này, biết như thật, thấy như thật, sáng tỏ, có giác, có quán, có vô gián đẳng, thì đó gọi là minh. Ai thành tựu những điều này thì gọi là người có minh”.

“Minh” đó chính là biết. Biết những pháp gì? Đó là biết như thật về sắc, thọ, tưởng, hành và thức; Biết như thật vị ngọt, sự diệt tận, sự tai hại, sự xuất ly của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Nói tóm lại, đó là biết như thật sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, khổ và phi ngã.

Vậy thế nào là nhận biết đúng như thật sự tập khởi của năm thủ uẩn?

Mỗi khi các căn tiếp xúc với trần cảnh như: mắt nhìn các sắc, tai nghe các âm thanh, mũi ngửi các hương, thân xúc chạm các vật, lưỡi nếm các vị, chúng hiện hữu thế nào thì ta chỉ nhìn thấy đúng thật thế thôi không sinh khởi vọng tâm ái, thủ gì cả, ấy gọi là Minh.

 Sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức xảy ra như thế nào, thì ta chỉ an trú trong trí tuệ để nhận biết chúng là vô thường khổ và phi ngã như thế thôi, đó gọi là Minh. Do an trú trong minh để nhận biết năm thủ uẩnvô thường, khổ và phi ngã như vậy nên ta đoạn trừ được năm thủ uẩn. Vì năm thủ uẩn được đoạn trừ nên vô minh được đoạn trừ. Khi vô minh được đoạn trừ thì minh sinh. Khi minh đã sinh thì ta sẽ sống với tâm minh không sinh diệt ấy (Niết-bàn).

Khi vô minh sinh khởi thì 11 chi phần còn lại của pháp 12 duyên khởi tập khởi, đó chính là một khối ưu bi, khổ não của năm thủ uẩn tập khởi. Đây là sự lưu chuyển sinh tử khổ đau. Nhưng khi vô minh diệt thì 11 chi phần còn lại của pháp 12 duyên khởi cũng đoạn trừ và cũng chính là thời điểm mà khối ưu bi, khổ não của năm thủ uẩn này diệt tận. Đây là con đường hoàn diệt.

Lại nữa, khi vô minh sinh khởi thì 11 chi phần còn lại của pháp 12 duyên khởi tập khởi, đó là Khổ đếTập đế nên thuộc dòng lưu chuyển. Còn minh là Đạo đếDiệt đế nên thuộc dòng hoàn diệt.

Tóm lại, chúng ta cần phải quán sáttư duy một cách đúng đắn để nhận thức rõ về nội hàm của cặp đối lập Minh và Vô minh, từ đó có thể thâu gọn chúng vào hai loại biết. Một cái biết thuộc về vô minh và một cái biết thuộc về minh. Cái biết của vô minh là trụ ở nơi các pháp, chấp ngã ở nơi các pháp. Cái biết của minh là không trụ ở nơi các pháp, không bám chấp ở nơi các pháp. Cho nên, cái biết của vô minhchấp ngã; còn cái biết của minh là vô ngã ấy vậy.

                            ---0O0---

 

KINH 77. VÔ THƯỜNG

(Pāli, S. 22. 12-14. Aniccam)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: “Các ông hãy quán sát sắc là vô thường2. Quán sát như vậy gọi là quán sát chân chánh. Khi đã quán sát chân chánh thì sẽ sanh ra nhàm tởm3. Khi đã nhàm tởm thì dứt sạch hỷ tham4. Sự dứt sạch hỷ tham được gọi là tâm giải thoát.5

Cũng vậy, các ông hãy quán sát thọ, tưởng, hành, thức là vô thường. Quán sát như vậy gọi là quán sát chân chánh. Khi đã quán sát chân chánh thì sẽ sanh ra nhàm tởm. Khi đã nhàm tởm thì dứt sạch hỷ tham. Sự dứt sạch hỷ tham được gọi là tâm giải thoát.  “Như vậy, Tỳ-kheo, nếu muốn tự chứng tâm giải thoát này thì có thể tự chứng, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong và tự biết không còn tái sanh đời sau nữa6.

Cũng như quán sát vô thường, quán sát khổ, không, phi ngã cũng vậy. Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.                

    ---0O0---

 

KINH 94. A-NAN (1)

(Pāli, S. 22. 147. Kulaputtena-dukkhā)

 

Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Thiện nam tử có lòng tin, chánh tín xuất gia, sống không gia đình, tự nghĩ: ‘Ta nên thuận theo pháp. Ta hãy an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức.’ Thiện nam tửlòng tin bèn an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều về yểm ly đối với sắc; an trụ với sự tu tập, tu tập nhiều về  yểm ly đối với thọ, tưởng, hành, thức, nên đối với sắc được yểm  ly; đối với thọ, tưởng, hành, thức được yểm ly168. Ta nói người ấy chắc chắn sẽ được thoát ly khỏi tất cả sanh, già, bệnh, chết, ưu bi, khổ não.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

   ---0O0---

 

KINH 95. A-NAN (2)

(Pāli, S. 22. 37-38. Ānanda)

 

Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn

nói với các Tỳ-kheo:

“Nếu có trưởng giả hay người con trưởng giả nào có lòng tin, đến hỏi ngươi rằng, ‘Ở nơi pháp nào mà biết rõ được sự sanh diệt của nó?’ thì ngươi sẽ trả lời như thế nào?”

Tôn giả A-nan bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, nếu có trưởng giả hay con trưởng giả nào, đến hỏi con như vậy, thì con sẽ đáp rằng, ‘Biết sắc là pháp sanh diệt; biết thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt.’ Bạch Thế Tôn, nếu có trưởng giả hay con trưởng giả nào hỏi như vậy, thì con sẽ trả lời như vậy.”

Phật bảo Tôn giả A-nan:

“Lành thay! Lành thay! Nên đáp như vậy. Vì sao vậy? Vì sắc là pháp sanh diệt; thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt. Biết sắc là pháp sanh diệt, thì đó gọi là biết sắc. Biết thọ, tưởng, hành, thức là pháp sanh diệt, thì đó gọi là biết… thức.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                                 ---0O0---

 

KINH 96. A-NAN (3)

(Pāli, S. 22. 37-38. Ānanda)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Nếu có các ngoại đạo xuất gia đến hỏi ngươi rằng: ‘A-nan, vì sao Thế Tôn dạy người tu  các  phạm hạnh.?’  Được hỏi như vậy, nên đáp thế nào?”

Tôn giả A-nan bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, nếu có người ngoại đạo xuất gia đến hỏi con rằng: ‘A-nan, vì sao Thế Tôn dạy người tu các phạm hạnh?’ Thì con sẽ trả lời rằng, ‘Vì  để đối với sắc, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên Đức Thế Tôn dạy tu các phạm hạnh. Vì để đối với thọ, tưởng, hành, thức, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các phạm hạnh.’ Bạch Thế Tôn, nếu có người ngoại đạo xuất gia hỏi như vậy, thì con cũng sẽ đáp như vậy.”

Phật bảo Tôn giả A-nan:

-Lành thay! Lành thay! Nên đáp như vậy. Vì sao vậy? Thật vậy, Ta vì đối với sắc mà tu tập yểm ly, lìa dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các phạm hạnh. Và vì đối với thọ, tưởng, hành, thức, tu tập yểm ly, ly dục, diệt tận, giải thoát, không sanh, nên dạy tu các phạm hạnh.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ:

* Năm thủ uẩn đã giải thích ở Kinh Vô minh.

* Quán sát chân chánhchánh kiến vô lậu.

* Biếttrí tuệ vô ngã hoặc chân tâm không sinh diệt.

Giải thích nội dung văn kinh:

Chúng ta chỉ tìm hiểu nội dung của bản Kinh Vô thường, ba bản kinh còn lại được nêu ra để làm dẫn chứngtham khảo thêm. Vì sao? Vì bản Kinh Vô thường và ba bản Kinh A-nan đều có chung nội dung giống nhau. Khi chúng ta hiểu được nội dung của Kinh Vô thường rồi thì sẽ hiểu được nội dung của ba bản kinh có tên gọi A-nan.

Vô thường nghĩa là gì? Đó là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi. Vì sao tất cả các pháp hữu vi là vô thường? Vì tất cả pháp hữu vi đều do duyên sinh nên vô thường, thay đổi, sinh diệt, biến hoại, mục nát, pháp không đáng tin cậy để nương tựa.

Bởi vì tất cả các pháp hữu vivô thường, thay đổi, sinh diệt, biến hoại, mục nát như thế nên mọi người ở trong thế gian đều nhìn thấy được sự vô thường. Tuy nhiên, mọi người chỉ nhìn thấy được vô thường đối với tất cả những gì mà mắt nhìn thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm vị và thân xúc chạm... mà thôi.

Lại nữa, mọi người chỉ hiểu và cảm nhận được sự vô thường, thay đổi, sinh diệt, biến hoại nơi sự tập khởi của năm thủ uẩn (thân và tâm).

Như vậy, mọi người ở trong thế gian này chỉ nhìn thấy được vô thường của các sắc pháp. Vì chỉ nhìn thấy được sự vô thường của các sắc pháp nên cũng không thể đưa đến giác ngộgiải thoát khổ đau.

Cũng như vậy, người xuất gia hay người cư sĩ tại gia tuy đã học về giáo lý vô thường, nhưng điều đó lại còn phải tùy thuộc vào sự nhận thức, tư duy, chiêm nghiệm và mức độ thẩm thấu của mỗi cá nhân về vô thường, thay đổi, biến hoại, mục nát, tan rã của các pháp hữu vi mà sinh tâm nhàm chán, tu tập để giảm bớt tham, sân và si.

Tuy hiểu và cảm nhận được vô thường đối với các pháp hữu vi như thế rồi nhưng phần nhiều các vị cũng chỉ nhìn thấy được vô thường của các sắc pháp, chứ không thể nhìn thấy được vô thường của tâm pháp. Điều này có nghĩa là vị ấy cũng không thể nhìn thấy được vô thường ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Do chỉ nhìn thấy được sự vô thường của các sắc pháp nên vị ấy cũng không thể đoạn trừ khổ đau và nguyên nhân dẫn đến quả khổ đau.

Nội dung của bản Kinh Vô thường và ba bản kinh có tên gọi A-nan, Đức Phật dạy là phải thấy được vô thường của các sắc pháptâm pháp. Vì đó chính là bao gồm toàn bộ sự tập khởi của năm thủ uẩn.

Trong bản Kinh Vô thường, Đức Phật dạy rằng: “Các Thầy Tỳ-kheo hãy quán sát vô thường đối với sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Đó mới là sự quán sát chân chánh.Sự quán sát chân chánh này là nhân, để dẫn đến quả là thành đạt A-la-hán. Quả vị này bất cứ ai tu tập cũng đều khao khát, ước muốn được thành tựu.

Vậy bằng con đường nào để chúng ta có thể nhận thấy được vô thường, thay đổi, sinh diệt, biến hoại của năm thủ uẩn? Đó là mỗi khi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức xảy ra như thế nào, thì ta chỉ an trú trí tuệ để nhận biết chúng đúng như thật vậy, mà không khởi tâm thủ và xả gì. Do ta an trú trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường nên cũng nhận biết được chúng là khổ và phi ngã.

Vì sự tập khởi của năm thủ uẩnpháp duyên sinh nên bản chất của chúng vô thường, khổ và phi ngã. Một khi chúng ta an trú trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ và phi ngã, ấy là tâm thường trụ không sinh diệt. Đó chính là chánh kiến vô lậu hoặc tâm không sinh diệt.

Do ta luôn an trú trí tuệ để nhận biết năm thủ uẩnvô thường nên đoạn trừ được chúng. Do năm thủ uẩn được đoạn trừ nên Khổ đế, Tập đế được đoạn trừ. Vì Khổ đế, Tập đế được đoạn trừ nên vị ấy trụ vào các Thánh quả như Sơ quả, Nhị quả, Tam quảTứ quả.

Tóm lại, khi một hành giả luôn an trú trí tuệ để đoạn trừ hoàn toàn sự tập khởi của năm thủ uẩn, nghĩa là vị ấy đoạn trừ hoàn toàn Khổ đế, Tập đế. Vì Khổ đế, Tập đế được đoạn trừ nên vị ấy đạt quả A-la-hán.

   ---0O0---

 

 

KINH 467.  TAM TH

(Pāli, S. 36. 3. Pahānena)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ Tôn giả La-hầu-la đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui

qua một bên, bạch Phật:

  “Bạch Thế Tôn, biết cái gì, thấy cái gì, để ở nơi thức thân này của con và tất cả những tướng của cảnh giới bên ngoài mà không có kết sử ngã, ngã sở, ngã mạn?”

Phật bảo Tôn giả La-hầu-la:

“Có ba thứ thọ, đó là khổ thọ, lạc thọ, không khổ không lạc thọ. Khi quán sát lạc thọ, vì muốn dứt trừ tham sử đối với lạc thọ, nên ở nơi Ta mà tu phạm hạnh; vì muốn dứt trừ sân nhuế sử đối với khổ thọ, nên ở nơi Ta mà tu phạm hạnh; vì muốn dứt trừ ngu si sử đối với bất khổ bất lạc thọ, nên ở nơi Ta mà tu phạm hạnh.

“Này La hầu la, nếu Tỳ-kheo nào đối với kết sử tham nơi lạc thọ đã dứt trừ, đã biết; đối với kết sử sân nhuế nơi khổ thọ đã dứt trừ, đã biết; và đối với kết sử si nơi bất khổ bất lạc thọ đã dứt trừ, đã biết, thì đó gọi là Tỳ-kheo đã đoạn trừ ái dục, bứt các kết buộc, diệt kiêu mạn, đến tột cùng của mé khổ.”

Sau đó, Đức Thế Tôn nói bài kệ:

Khi cảm nhận lạc thọ,

Thì không biết lạc thọ

Bị tham sử sai khiến,

Không thấy đường xuất ly.

 

Lúc cảm nhận khổ thọ,

Thì không biết khổ thọ

Bị sân nhuế sai sử,

Không thấy đường xuất ly.

Thọ không vui không khổ,

Đấng Chánh Giác đã nói,

Nếu không khéo quán sát,

Quyết không qua bờ kia.

 

Tỳ-kheo cần tinh tấn,

Chánh tri không động chuyển,

Như tất cả thọ này

Người trí thường hiểu biết.

 

Người hiểu biết các thọ,

Hiện tại hết các lậu,

Người trí sáng mạng chung,

Không rơi vào các số,

Các số đã dứt tuyệt,

Thường nhập Niết-bàn lạc.

Phật nói kinh này xong, Tôn giả La-hầu-la nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.

     ---0O0---

 

KINH 479. SA-MÔN BÀ-LA-MÔN

(Pāli, S. 36. 26-28. Samaṇa-brāhamaṇa)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào mà không biết như thật đối với các thọ; không biết như thật đối với sự tập khởi của thọ, sự diệt tận của thọ, con đường đưa đến sự tập khởi của thọ, con đường đưa đến sự diệt tận của thọ, vị ngọt của thọ, sự tai hại của thọ, xuất ly thọ, người này không phải là Sa-môn, không phải là Bà-la-môn, không đồng với Sa-môn, Bà-la-môn, cũng không phải nghĩa Sa-môn, cũng không phải nghĩa Bà-la-môn[99], ngay trong đời hiện tại không tự tri tự tác chứng: “Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.”

“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào mà biết như thật đối với các thọ; biết như thật đối với sự tập khởi của thọ, sự diệt tận của thọ, con đường đưa đến sự tập khởi của thọ, con đường đưa đến sự diệt tận của thọ, vị ngọt của thọ, sự tai hại của thọ, xuất ly thọ, người này là Sa-môn của Sa-môn, Bà-la-môn của Bà-la-môn, đồng với Sa-môn, đồng với Bà-la-môn, đúng nghĩa Sa-môn, đúng nghĩa Bà-la-môn, ngay trong đời hiện tại tự tri tự tác chứng: “Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

                         ---0O0---

 

(Trích trong TRUNG A HÀM KINH 83 TRƯỞNG LÃO THƯỢNG TÔN THY MIÊN)

                 (Pāli, A.7.58 Pacalāyamāna-sutta.)

Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên rời chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai phải, chắp tay hướng Phật, bạch rằng:

-Bạch Đức Thế Tôn, thế nào là Tỳ-kheo đến chỗ cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnhcứu cánh phạm hạnh cùng tột?

Đức Thế Tôn bảo:

"Này Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo khi đã thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc không khổ, vị ấy ở nơi các cảm thọ này mà quán vô thường, quán hưng suy, quán đoạn, quán vô dục, quán diệt, quán xả. Sau khi  ở nơi các cảm thọ này mà quán vô thường, quán hưng suy, quán đoạn, quán vô dục, quán diệt, quán xả, vị ấy không chấp thủ cái gì cả trong đời này, do không chấp thủ gì đời này mà không bị nhọc nhằn, do không bị nhọc nhằn nên nhập Niết-bàn, biết một cách như thật rằng: Sự sanh  đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều đáng làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.”

“Này Đại Mục-kiền-liên, như vậy là Tỳ-kheo đạt đến chỗ cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnhcứu cánh phạm hạnh cùng tột.”

Phật thuyết như vậy. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.20

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ:

* Năm thủ uẩn đã giải thích ở Kinh Vô minh.

* Quán sátchánh kiến vô lậu.

* Biết như thậttrí tuệ vô ngã.

Giải thích ý nghĩa của văn kinh:

Kinh Ba thọ, Kinh Sa-môn Bà-la-môn, Kinh Trưởng lão Thượng Tôn Thụy Miên đều có chung nội dung, ý nghĩa. Đức Phật dạy hãy quán sát sự tập khởi của ba thọ, do quán sát sự tập khởi của ba thọ nên đoạn trừ được ba thọ. Khi một hành giả tu tập mà đoạn trừ được sự tập khởi của ba thọ thì đạt quả vị A-la-hán.

Như vậy, thế nào là quán sát sự tập khởi của ba thọ? Khi ở nơi tâm có khổ thọ đang xảy ra, thì ta hãy an trú trí tuệ để nhận biết đúng như thật là ở nơi tâm đang có khổ thọ; ở nơi tâm có lạc thọ đang xảy ra, thì ta hãy an trú trí tuệ để nhận biết đúng như thật là ở nơi tâm đang có lạc thọ; ở nơi tâm đang có phi khổ phi lạc thọ (xả thọ = trung tính) đang xảy ra, thì ta phải an trú trí tuệ để nhận biết đúng như thật là ở nơi tâm đang có phi khổ phi lạc thọ. Khi ba thọ tập khởi như thế nào, thì ta chỉ an trú trí tuệ để nhận biết chúng đúng như thật thế thôi, không khởi tạp niệm tham, sân và si gì cả. Do luôn an trú trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của ba thọ là vô thường, khổ và phi ngã như vậy  nên chúng ta đoạn trừ được ba thọ. Hành giả nhờ tu tập đoạn trừ được ba Thọ nên đạt được quả vị A-la-hán.

Sự tập khởi của ba thọ chưa từng tách rời khỏi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Vì vậy, khi các thọ tập khởi là sự tập khởi của năm thủ uẩn. Do đó, khi chúng ta đoạn trừ sự tập khởi của ba thọ cũng chính là đoạn trừ được sự tập khởi của chúng ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Đoạn trừ ba thọ ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là quá trình đoạn trừ toàn bộ sự tập khởi của năm thủ uẩn. Vì năm thủ uẩn được đoạn trừ nên Khổ đế, Tập đế cũng diệt tận. Do Khổ đế, Tập đế được đoạn diệt hoàn toàn nên vị ấy chứng đạt quả vị A-la-hán.     

                        ---0O0---

 

KINH 87. NGŨ CHUYN

(Pāli, S.22.56. Upādānaṃ parivaṭṭaṃ)

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Có năm thọ ấm. Đó là sắc thọ ấm; thọ, tưởng,  

hành, thức thọ ấm. Ta đối với năm thọ ấm này, có năm
như thật tri. Như thật tri về sắc, về sự tập khởi của sắc, về vị ngọt của sắc, về tai hại của sắc và về sự xuất ly sắc. Cũng vậy, như thật tri về thọ, tưởng, hành, thức, về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức, về vị ngọt của thọ, tưởng, hành, thức, về tai hại của thọ, tưởng, hành, thức và về sự xuất ly thọ, tưởng, hành, thức.

Thế nào là như thật tri về sắc? Những gì là sắc là tất cả bốn đại và sắc do bốn đại sanh ra. Đó gọi là sắc. Như vậy, như thật tri về sắc.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của sắc?  Đối với sắc mà có hỷ ái. Đó gọi là sự tập khởi của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của sắc.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của sắc? Do duyên vào sắc mà sanh ra hỷ lạc. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của sắc.

Thế nào là như thật tri về sự tai hại của sắc? Sắc là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của sắc.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly sắc? Đối với sắc mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly sắc.

Thế nào là như thật tri về thọ? Có sáu thọ thân. Thọ phát sanh từ nhãn xúc, thọ phát sanh từ tai, mũi, lưỡi, thân và ý xúc. Đó gọi là sáu thọ. Như vậy, như thật tri về thọ.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thọ? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thọ.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thọ?  Hỷ lạc duyên vào sáu thọ mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thọ. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thọ.

Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thọ? Thọ là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là tai hại của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thọ.

 Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thọ? Đối với thọ mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là lìa thọ. Như vậy, như thật tri về sự lìa thọ.

Thế nào là như thật tri về tưởng? Có sáu tưởng thân. Tưởng phát sanh bởi nhãn xúc; tưởng phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là tưởng. Như vậy, như thật tri về tưởng.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của tưởng? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của tưởng.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc do duyên vào tưởng mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của tưởng. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của tưởng.

Thế nào như thật tri về sự tai hại của tưởng? Tưởng là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của tưởng.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa tưởng. Như vậy, như thật tri về sự lìa tưởng.

Thế nào là như thật tri về sự hiện hữu của hành? Có sáu tư thân. Tư phát sanh bởi nhãn xúc. Tư phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là hành. Như vậy, như thật tri về hành.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của hành? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như  vậy, như thật tri về sự tập khởi của hành.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của hành? Hỷ lạc do duyên vào hành mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của hành. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của hành.

Thế nào gọi là như thật tri về sự tai hại của hành? Hành là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của hành. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của hành.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly hành? Đối với hành mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly hành.

Thế nào là như thật tri về thức? Có sáu thức thân. Thức của mắt, thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là thức. Như vậy, như thật tri về thức.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thức? Sự tập khởi của sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thức.
          Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thức? Hỷ lạc do duyên vào thức mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của thức. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thức.

Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thức? Thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thức. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thức.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thức? Đối với thức mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa thức. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly của thức.

Tỳ-kheo, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như vậy, mà thấy như vậy, thì do biết như vậy, thấy như vậy người đó hướng đến ly dục, đó gọi là chánh hướng129. Nếu người nào hướng đến chân chánh, thì ta nói người đó đã được thể nhập130. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, đối với sắc mà biết như thật, thấy như thật; do biết như thật, thấy như thật, đối với sắc sanh yểm ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm đạt được giải thoát. Nếu người nào đã đạt được tâm giải thoát, thì người đó thuần nhứt131. Người nào đã được thuần nhứt, thì phạm hạnh đã lập. Người nào phạm hạnh đã lập, không còn bị ai khống chế132. Đó gọi là biên tế của khổ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ:

* Năm thủ uẩn đã giải thích ở Kinh Vô minh.

* Như thật trichánh kiến vô lậu hoặc chân tâm không sinh diệt.

 

Giải thích nội dung văn kinh:

Kinh Ngũ chuyển, Đức Phật dạy rằng, ta có năm như thật tri. Đó là như thật tri về sắc, sự tập khởi của sắc, vị ngọt của sắc, tai hại của sắc và sự xuất ly sắc. Cũng vậy, như thật tri về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức, hay vị ngọt, tai hại, sự xuất ly của thọ, tưởng, hành, thức.

Dựa vào nội dung kinh Ngũ chuyển, người xuất gia hay người cư sỹ tại gia, chúng ta đều phải thực tập ý nghĩa ấy vào trong đời sống sinh hoạt thường nhật, kể cả mỗi khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, mặc áo … thì mới đoạn trừ được khổ đau, tạo nên an lạc, hạnh phúc của thân và tâm.

Thế nào là như thật tri về sắc? Những gì là sắc là tất cả bốn đại và sắc do bốn đại sanh ra. Đó gọi là sắc. Như vậy, như thật tri về sắc.

Sắc gồm có 11 loại. Đó là năm căn, năm trần và pháp trần. Thế nào là như thật tri về sắc? Như thật tri là biết đúng như thật về các sắc. Vậy, thế nào là biết đúng như thật về các sắc? Mỗi khi ta nhìn các sắc, tai nghe các âm thanh, mũi ngửi các mùi hương, lưỡi nếm các vị, thân xúc chạm các vật, chúng hiện hữu như thế nào, thì chỉ nhận biết đúng như thật thế thôi, không khởi tâm phân biệt phải trái, tốt xấu, đó là biết đúng như thật về các sắc. Cái tâm nhận biết đúng như thật về các sắc đó là tuệ. Đối với các sắc đang nhìn thấy như thật ấy mà không khởi tâm thiện ác, phải trái, đó là định. Cho nên, tâm như thật tri là định-tuệ đồng thời. Vì định-tuệ đồng thời nên đó là định-tuệ vô lậu.

  • “Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của sắc?

Đối với sắc mà có hỷ ái. Đó gọi là sự tập khởi của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của sắc.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của sắc? Do duyên vào sắc mà sanh ra hỷ lạc. Đó gọi là vị ngọt của sắc. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của sắc.

Thế nào là như thật tri về sự tai hại của sắc? Sắc là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của sắc. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của sắc.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly sắc? Đối với sắc mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly sắc. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly sắc.”

 

Giải thích:

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần dẫn sinh ra sáu thức; ba thứ căn, trần và thức hòa hợp dẫn sinh ra xúc. Xúc làm nhân duyên dẫn sinh ra thọ, tưởng và tư. Đó là sự tập khởi của sắc. Sự tập khởi của sắc là sự tập khởi thuộc lớp thứ nhất của năm thủ uẩn. Vì sự tập khởi của năm thủ uẩnpháp duyên khởi nên vô thường, khổ và phi ngã. Thế nên, sự tập khởi của năm thủ uẩn xảy ra như thế nào, thì ta chỉ an trú trong trí tuệ để nhận biết chúng đúng như thật, nhưng không khởi tâm nắm giữ hay buông bỏ gì. Do ta luôn an trú trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ và phi ngã như vậy, nên đoạn trừ được năm thủ uẩn thuộc lớp thứ nhất này. Sự tập khởi của lớp thứ nhất này là sự tập khởi của sắc. Khi sắc tập khởi thì lúc nào cũng sẽ dẫn sinh các cảm thọ. Đó là vị ngọt của sắc. Sự tập khởi của sắc và sự tập khởi vị ngọt của sắc là quả, do bởi dục tham dẫn sinh, đó gọi là nhân quả đồng thời.

 Bởi thế, khi ta đoạn trừ được sự tập khởi của sắc và vị ngọt của sắc, đó chính là quá trình điều phục, đoạn trừ, vượt qua khỏi dục tham ở nơi sự tập khởi của sắc và vị ngọt của sắc. Sau khi chúng ta đã điều phục, đoạn trừ, vượt qua khỏi dục tham ở nơi sự tập khởi của sắc và vị ngọt của sắc rồi, lúc đó ta sẽ đạt được sự hiểu biết như thật về sự xuất ly sắc và vị ngọt của sắc.

  • “Thế nào là như thật tri về thọ? Có sáu thọ thân. Thọ phát sanh từ nhãn xúc, thọ phát sanh từ tai, mũi, lưỡi, thân và ý xúc. Đó gọi là sáu thọ. Như vậy, như  thật tri về thọ.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thọ? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thọ.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thọ? Hỷ lạc duyên vào sáu thọ mà sanh. Đó gọi là vị  ngọt của thọ. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thọ.

Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thọ? Thọ là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là tai hại của thọ. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thọ.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thọ? Đối với thọ mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là lìa thọ. Như vậy, như thật tri về sự lìa thọ”.

 

Giải thích:

Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của thọ. Vậy Xúc là gì? Đó là sự tam hòa giữa căn, cảnh và thức, điểm tam hòa ấy gọi là xúc. Cho nên, khi nhãn căn tiếp xúc với sắc trần dẫn sinh ra nhãn thức, ba thứ căn, trần và thức hòa hợp sinh khởi xúc. Xúc là điểm tam hòa giữa căn, cảnh và thức; các căn còn lại cũng như vậy. Vì vậy, nhân duyên sự tập khởi của thọ là do xúc. Bởi vì lạc xúc thì sinh khởi lạc thọ, khổ xúc thì sinh khởi khổ thọ, phi khổ phi lạc xúc thì sinh khởi phi khổ phi lạc thọ. Vì xúc làm nhân duyên dẫn sinh sự tập khởi của các cảm thọ nên các cảm thọvô thường, khổ và phi ngã. Vì thế, nếu ta muốn điều phục, đoạn trừ, vượt qua khỏi dục tham ở nơi sự tập khởi của các cảm thọ, thì khi các cảm thọ đó xảy ra như thế nào, thì ta cần phải an trú trong trí tuệ để nhận biết chúng đúng thật là vô thường, khổ và phi ngã, mà không khởi tâm phê phán hay phân tích gì cả. Do luôn an trú trong trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của các cảm thọvô thường, khổ và phi ngã như thế  cho nên giúp chúng ta đoạn trừ được các cảm thọ. Vì các cảm thọ được đoạn trừ nên dục tham vin bám ở nơi các cảm thọ cũng được đoạn trừ. Đó là xa lìa thọ. Do xa lìa các cảm thọ nên gọi là biết như thật về sự lìa thọ.

  • “Thế nào là như thật tri về tưởng? Có sáu tưởng thân. Tưởng phát sanh bởi nhãn xúc; tưởng phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là tưởng. Như vậy, như thật tri về tưởng.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của tưởng? Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của tưởng.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của tưởng? Hỷ lạc do duyên vào tưởng mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của tưởng. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của tưởng.

Thế nào là như thật tri về sự tai hại của tưởng? Tưởng là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của tưởng. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của tưởng.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly tưởng? Đối với tưởng mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa tưởng. Như vậy, như thật tri về sự lìa tưởng”.

 

Giải thích:

Nhân duyên sự tập khởi của tưởng là do bởi xúc. Vì sao? Vì khi nhãn căn tiếp xúc với sắc trần sinh khởi nhãn thức; ba thứ căn, trần và thức hòa hợp dẫn sinh xúc; xúc làm nhân duyên để sinh khởi thọ, tưởng và tư; nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căný căn cũng lại như vậy. Khi tưởng tập khởi thì lúc nào cũng dẫn sinh ra vị ngọt của tưởng. Đó là các cảm thọ sinh khởi đồng thời với tưởng. Tưởng và vị ngọt của tưởng là pháp duyên sinh. Vì chúng là pháp duyên sinh cho nên bản chất của nó là vô thường, khổ và phi ngã. Bởi vậy mỗi khi tưởng tập khởi như thế nào thì chúng ta chỉ an trú trong trí tuệ để nhận biết đúng như thật mà thôi, chứ không khởi tâm phân biệt, phân tích, phán xét gì cả. Do an trú trong trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của tưởng và vị ngọt của tưởng là vô thường, khổ và phi ngã như thế nên ta đoạn trừ được tưởng và vị ngọt của tưởng. Đoạn trừ được tưởng và vị ngọt của tưởng gọi là lìa tưởng. Như vậy, ta biết đúng như thật về sự lìa tưởng.

  • “Thế nào là như thật tri về sự hiện hữu của hành? Có sáu tư thân. Tư phát sanh bởi nhãn xúc. Tư phát sanh bởi tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc. Đó gọi là hành. Như vậy, như thật tri về hành.”

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của hành?   Sự tập khởi của xúc là sự tập khởi của hành. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của hành.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của hành? Hỷ lạc do duyên vào hành mà sanh. Đó gọi là vị ngọt của hành. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của hành.

Thế nào gọi là như thật tri về sự tai hại của hành? Hành là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của hành. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của hành.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly hành? Đối với hành mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự xuất ly hành. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly hành”.

 

Giải thích:

Sự tập khởi của xúc làm nhân duyên cho sự tập khởi của các hành. Nhân duyên của các hành tập khởi là bởi vì xúc tập khởi. Do sự tập khởi của xúc làm nhân duyên nên dẫn sinh ra thọ, tưởng và hành. Mỗi khi hành tập khởi cũng sẽ dẫn sinh ra vị ngọt của hành cùng khởi, đó chính là các cảm thọ.

Hành đó chính là tư. Tư lại bao gồm tư sắc, tư thanh, tư hương, tư vị, tư xúc và tư pháp. Tư gồm có thẩm tư lự, quyết định tư và phát động tư. Tư do tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến mà dẫn khởi qua hành động của thân, lời nói của miệng, ấy gọi là bất thiện nghiệp. Tư do bởi tâm vô tham, vô sânvô si, hoặc liên hệ đối với 5 giới, 10 giới, 40 pháp thiện mà dẫn khởi qua hành động của thân hay lời nói của miệng, đó gọi là thiện nghiệp.

Theo Duy thức học, hành gồm có 51 tâm hành.

Nhân duyên sự tập khởi của các hành là do bởi xúc tập khởi. Hành và vị ngọt của hành là pháp duyên khởi, vì pháp duyên sinh cho nên chúng vô thường, khổ và phi ngã. Vì vậy, muốn đoạn trừ các tâm hành và vị ngọt của chúng thì mỗi khi các tâm hành như tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu sinh khởi như thế nào, thì ta chỉ cần an trú trong trí tuệ để nhận biết chúng là vô thường, khổ và phi ngã đúng như tự thân của chính nó, mà không sinh khởi vọng niệm chấp ngã hay không chấp ngã gì cả. Do luôn an trú trong trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của các tâm hành như vậy nên ta có thể điều phục, đoạn trừ, vượt qua được sự tập khởi của các hành và vị ngọt của chúng. Vì đoạn trừ được các tâm hành và vị ngọt của các tâm hành như thế nên ta sẽ điều phục, đoạn trừ, vượt qua khỏi dục tham ở nơi sự tập khởi của các hành. Đó gọi là xuất ly hành. Như vậy, ta đã biết đúng như thật về sự xuất ly hành.

  • “Thế nào là như thật tri về thức? Có sáu thức thân. Thức của mắt, thức của tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó gọi là thức. Như vậy, như thật tri về thức.

Thế nào là như thật tri về sự tập khởi của thức? Sự tập khởi của sắc là sự tập khởi của thức. Như vậy, như thật tri về sự tập khởi của thức.

Thế nào là như thật tri về vị ngọt của thức? Hỷ lạc do duyên vào thức mà sanh. Đó gọi là vị  ngọt của thức. Như vậy, như thật tri về vị ngọt của thức.

Thế nào là như thật tri về sự tai hại của thức? Thức là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Đó gọi là sự tai hại của thức. Như vậy, như thật tri về sự tai hại của thức.

Thế nào là như thật tri về sự xuất ly thức? Đối với thức mà điều phục được dục tham, đoạn trừ được dục tham, vượt qua khỏi dục tham. Đó gọi là sự lìa thức. Như vậy, như thật tri về sự xuất ly của thức”.

 

Giải thích:

Theo quan điểm của truyền thống Nguyên thủy thì thức chỉ có sáu loại:  nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thứcý thức. Nhưng theo truyền thống của Đại thừa lại có tám thức, thêm hai thức nữa, đó là thức thứ bảy (Mạt-na thức) và thức thứ tám (A-lại-da thức).

Thức chính là tâm vương; còn thọ, tưởng và hành là tâm sở. Khi thức sinh khởi thì thọ, tưởng và hành sẽ cùng khởi. Thọ, tưởng và hành tập khởi thì lúc nào cũng có thức sinh khởi. Hay nói ngược lại, thức sẽ làm nền tảng căn bản cho thọ, tưởng và hành tập khởi.

Thế nào là sự tập khởi của sắc là sự tập khởi của thức? Do nhãn căn tiếp xúc với sắc trầnsinh khởi nhãn thức; ba thứ căn, trần và thức hòa hợp sinh khởi ra xúc; xúc sẽ làm nhân duyên để sinh khởi thọ, tưởng và tư (hành); các căn tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng lại như vậy. Cho nên, kinh nói sự tập khởi của sắc cũng chính là sự tập khởi của thức. Thức không bao giờ sinh khởi độc lập mà tách rời khỏi sự sinh khởi của thọ, tưởng và hành. Khi thức tập khởi thì thọ, tưởng và hành cùng tập khởi. Đó là sự tập khởi của năm thủ uẩn.

Thức là pháp duyên khởi, vì pháp duyên sinh nên tính chất của nó là vô thường, khổ và phi ngã. Vậy, muốn đoạn trừ sự tập khởi của thức thì mỗi khi thức tập khởi như thế nào, thì ta chỉ cần an trú trong trí tuệ để nhận biết thức là vô thường, khổ và phi ngã như vậy mà thôi, không khởi tâm phân biệt tốt xấu gì cả. Do luôn luôn an trú trong trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của thức như thế nên ta đoạn trừ được sự tập khởi của thức. Sự tập khởi của thức được đoạn trừ thì đó chính là sự điều phục, đoạn trừ và vượt qua khỏi dục tham ở nơi sự tập khởi của thức. Đó gọi là lìa thức. Như vậy, ta biết đúng như thật về sự xuất ly thức.

Lại nữa, sự tập khởi của sắc lúc nào cũng có sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức. Sự tập khởi của thọ lúc nào cũng không tách rời sự tập khởi của tưởng, hành và thức. Sự tập khởi của tưởng lúc nào cũng có sự tập khởi của thọ, hành và thức; hành và thức còn lại cũng có chung một ý nghĩa như vậy.

Tóm lại, ta có thể thấy:

* Khi sự tập khởi của sắc đoạn trừ, thì sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức cũng được đoạn trừ.

* Sự tập khởi của thọ đoạn trừ, thì sự tập khởi của tưởng, hành và thức cũng được đoạn trừ.

* Sự tập khởi của tưởng đoạn trừ, thì sự tập khởi của hành và thức cũng được đoạn trừ.

* Sự tập khởi của các tâm hành đoạn trừ, thì sự tập khởi của thức cũng được đoạn trừ.

* Sự tập khởi của thức (tám thức và các tâm sở của chúng) được đoạn trừ hoàn toàn thì đó là đoạn trừ hoàn toàn sự tập khởi của năm thủ uẩn. Sự tập khởi của năm thủ uẩn được đoạn trừ cũng chính là lộ trình đoạn trừ được Khổ đếTập đế.

Như vậy, sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là Khổ đế. Tham dục vin bám ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là Tập đế. Khi tham tập khởi là ái, thủ và hữu tập khởi. Ái, thủ và hữu tập khởi là do vô minh tập khởi. Cho nên, sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là Khổ đế (quả). Vô minh, ái, thủ và hữu vin bám vào nơi sự tập khởi của năm thủ uẩnTập đế (nhân). Bởi vì sự tập khởi của Khổ đế không thể tách rời khỏi sự tập khởi của Tập đế, cho nên sự tập khởi của Tập đế luôn có mặt sự tập khởi của Khổ đế. Ở nơi sự tập khởi của quả là có sự hiện hữu của nhân và ở nơi sự tập khởi của nhân luôn tồn tại quả. Nhân (Tập đế) và quả (Khổ đế) này luôn hỗ tương làm nhân duyên cho nhau để cùng tập khởi, không thể phân ly. Vô minh, ái và thủ vin chấp vào nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là nhân, lại thêm sắc, thanh, hương, vị và xúc bên ngoài làm duyên; nhân và duyên này thù thắng bao nhiêu thì chúng sẽ dẫn sinh sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức sinh diệt mãnh liệt bấy nhiêu.

Khi chúng ta dụng tâm để nhận biết đúng như thật về sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, khổ và phi ngã, đó là Đạo đếDiệt đế. Đạo đếDiệt đếnhân quả đồng thời. Vì vậy, Đức Phật dạy rõ về ý nghĩa này là: “Ai thấy được Khổ đế thì vị ấy cũng thấy được Tập đế, Diệt đế và Đạo đế”.

Tựu trung lại, Đức Phật dạy rằng: Nếu có vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với sắc, thọ, tưởng, hành và thức mà biết như vậy, thấy như vậy, và do đối với sắc, thọ, tưởng, hành và thức mà biết như thật, thấy như thật, thì đối với sắc, thọ, tưởng, hành và thức sẽ sinh yểm ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm được giải thoát. Vì đối với sắc, thọ, tưởng, hành và thức mà yểm ly, ly dục, không khởi lên các lậu, tâm được giải thoát nên vị ấy chấm dứt biên tế khổ đau (đạt quả A-la-hán).

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 174135)
01/04/2012(Xem: 20569)
08/11/2018(Xem: 3085)
08/02/2015(Xem: 29931)
10/10/2010(Xem: 100817)
10/08/2010(Xem: 104486)
08/08/2010(Xem: 109451)
21/03/2015(Xem: 12914)
27/10/2012(Xem: 57843)
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.
Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm khoảng 1% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ và khoảng hai phần ba Phật tử Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Á. Trong số những người Mỹ gốc Á, 43% là người Mỹ gốc Việt và một phần tư người Mỹ gốc Nhật xác định là Phật tử, phần còn lại là Kitô hữu hoặc không có tôn giáo nào.
Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán với âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung quốc là chuyện từ nghìn năm và đang tiếp diễn đến ngày nay. Hiện tại chúng đã bao vây trọn vẹn biển Đông và biên giới phía Bắc đang chuẩn bị đưa binh lực tràn qua biên giới để tấn công Việt Nam một lần nữa. Đó là nhận định của nhà phân tích chiến lược David Archibald trong bài viết nhan đề “Advice for Our Vietnamese Friends on China” (Lời Khuyên Gửi Các Bạn Việt Nam Của Tôi về TQ) đăng trên tạp chí American Thinker ngày 27/9/2019. Thực sự Tổ quốc Việt Nam đang lâm nguy, người Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, và thờ ơ. Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen là những Phật tử đồng thời là con dân của nước Việt nên chúng tôi chưa biết làm gì hơn là truyền đạt thông tin này đến tất cả mọi người dân yêu nước.