Chương 5: Một số đoạn văn kinh trọng yếu trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm và các công án..

08/07/20192:57 SA(Xem: 552)
Chương 5: Một số đoạn văn kinh trọng yếu trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm và các công án..

PHẬT ĐẢN 2643 – PHẬT LỊCH 2563
TỲ KHEO THÍCH THẮNG GIẢI
NIỆM ĐỊNH TUỆ HỮU LẬU
VÀ  NIỆM ĐỊNH TUỆ  VÔ LẬU
ẤN HÀNH MÙA PHẬT ĐẢN 2019 MELBOURNE - ÚC CHÂU
 

CHƯƠNG 5

MỘT SỐ ĐOẠN TRỌNG YẾU

TRONG KINH THỦ LĂNG NGHIÊM VÀ CÁC CÔNG ÁN

(Trích từ Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông - Thiền sư Nhẫn Tế dịch)


ĐOẠN I: THUẬT VỀ HAI NGHĨA NGỘ ĐƯỢC KHÁCH TRẦN

 

1. Như Lai hỏi nhân do đâu được ngộ.

“Khi ấy, Đức Thế Tôn duỗi cánh tay Đẩu-la-miên sáng ngời xòe năm ngón tay, bảo ông A-nan và cả Đại chúng rằng: “Khi tôi mới thành đạo ở trong Lộc Viên vì ông A-nhã-đa, năm vị Tỳ-kheo v.v… và bốn chúng nói: Tất cả chúng sinh chẳng thành Bồ-đề và A-la-hán đều do khách trần phiền não làm tâm. Các ông khi ấy nhân đâu được ngộ, nay thành tựu chứng quả Thánh?”.

 

2. Thuật về hai nghĩa ngộ được khách trần.

A. Thuật lại nghĩa khách.

Khi ấy ông Kiều-trần-na đứng dậy bạch Phật: “Nay con là hàng Trưởng lão, đối với trong Đại chúng riêng được tên là Hiểu (giải) do con ngộ hai chữ “Khách trần” mà được thành Thánh quả. Bạch Đức Thế Tôn, ví như người khách đi đường, vào nghỉ nhờ một quán trọ, hoặc ngủ, hoặc ăn. Ăn ngủ xong sửa sang hành lý lên đường, chẳng ở lại nữa. Nếu thật là người chủ thì tự không đi đâu. Như thế mà suy xét, chẳng dừng trụ gọi là khách, dừng trụ là chủ. Do cái chẳng dừng trụ nên có nghĩa là “khách”.

 

B. Thuật lại nghĩa trần.

Lại như mưa mới tạnh mặt trời lên trong trẻo, ánh sáng soi vào kẽ hở, trong hư không hiện rõ các tướng bụi bặm. Tính chất của bụi thì diêu động, còn hư không thường lặng lẽ. Như thế, nên con suy nghĩ: Lắng lặng gọi là hư không, diêu động gọi là bụi bặm. Do cái diêu động đó nên có nghĩa là“trần”.

Phật nói: “Đúng thế!”.

 

Giải thích:

Sau khi Đức Phật mới thành đạo ở trong vườn Lộc Uyển, bài thuyết pháp đầu tiên đó chính là Tứ Thánh Đế, đại chúng nghe pháp gồm có năm anh em Ngài Kiều Trần Như. Bấy giờ Đức Phật dạy rằng: “Tất cả chúng sinh chẳng thành Bồ-đề và A-la-hán đều do nhận khách trần phiền não làm tâm.”

Khách trần phiền não là gì? Đó là pháp trần.

Vậy pháp trần là gì? Đó là khi năm căn tiếp xúc với năm trần, vin ở nơi năm trần cảnh này mà tâm sinh khởi vô minh, ái, thủ và hữu. Vì khi đã sinh khởi vọng niệm phân biệt như thế nên mới tạo ra cái bóng dáng tướng trạng của năm trần cảnh ở trong tâm thứcchúng ta đã sống với những cái bóng dáng tướng trạng, khách trần phiền não này.

Tóm lại, khách trần phiền não là năm thủ uẩn, và khi ta đã sống với năm thủ uẩn này là sống với khách trần phiền não. Vì sao? Vì năm thủ uẩnKhổ đếTập đế.

Đức Phật dạy tiếp rằng: “Các Thầy khi ấy nhân đâu được ngộ, nay thành đạo quả A-la-hán.”

 

Giải thích:

Ở đoạn kinh này Đức Thế Tôn muốn hỏi các Thầy Tỳ-kheo về nhân duyên ngộ đạo, rồi dựa vào nhân duyên đó để tu hành mới có thể thành tựu đạo quả A-la-hán. Vì sao như thế? Vì dựa vào nhân sinh diệt để tu hành nên chỉ dẫn đến quả sinh diệt; nếu dựa vào nhân không sinh diệt để tu hành thì mới đưa đến quả không sinh diệt. Không thể nào là nhân sinh diệt mà lại dẫn đến quả không sinh diệt, và cũng không thể từ nhân không sinh diệt mà lại gặt hái quả sinh diệt.

Cũng vậy, nhân hữu lậu không thể nào dẫn sinh quả vô lậu và nhân vô lậu không thể nào dẫn sinh quả hữu lậu, sinh diệt. Cho nên, nhân như thế nào thì sẽ dẫn đến quả đúng như thế ấy.

2.1 Thuật hai nghĩa ngộ được khách trần.

A. Thuật lại nghĩa khách

Khi ấy ông Kiều Trần Như đứng dậy bạch Phật: “Nay con là hàng Trưởng lão, đối với trong Đại chúng riêng được tên là Hiểu (giải) do con ngộ hai chữ “Khách trần” mà được thành Thánh quả. Bạch Đức Thế Tôn, ví như người khách đi đường, vào nghỉ nhờ một quán trọ, hoặc ngủ, hoặc ăn. Ăn ngủ xong sửa sang hành lý lên đường, chẳng ở lại nữa. Nếu thật là người chủ thì tự không đi đâu. Như thế mà suy xét, chẳng dừng trụ gọi là khách, dừng trụ là chủ. Do cái chẳng dừng trụ nên có nghĩa là “khách”.

 

Giải thích:

   Ngài Kiều Trần Như do ngộ được hai chữ “Khách trần” và nương vào nhân duyên đã ngộ (Kiến đạo) này để tu đạo nên đã chứng đạt quả vị A-la-hán. Ngài Kiều Trần Như dạy: “Chẳng dừng trụ gọi là khách, dừng trụ là chủ. Do cái chẳng dừng trụ nên có nghĩa là khách.”

Bởi vậy, chúng ta tu hành là muốn chấm dứtđoạn tuyệt khổ đau. Nếu muốn đoạn trừ khổ đau thì điều quan yếu nhất là chúng ta phải lãnh hội cho được đâu là tâm chủ và đâu là tâm khách. Vì tâm chủ chưa từng rời tâm khách cho nên chúng ta phải ở nơi tâm khách để nhận được tâm chủ. Khi nhận được tâm chủ không sinh diệt rồi, ta phải an trụ vào tâm chủ này, dùng làm nhân để nỗ lực tu hành đoạn trừ đi tâm khách. Khi tâm khách vắng mặt thì ta mới sống được với tâm chủ thường trụ không sinh diệt. Do an trú trong tâm chủ như thế nên ta mới có được hạnh phúc, an lạc, không khổ đau. Vậy làm sao chúng ta có thể nhận được tâm chủ không sinh diệt đó?

Mỗi khi mắt chúng ta nhìn thấy tất cả các sắc, tai nghe các âm thanh, mũi ngửi các mùi hương, lưỡi nếm các vị và thân xúc chạm các vật, ngay ở nơi các đối tượng muôn vật ấy, chúng hiện hữu như thế nào thì ta chỉ thấy, chỉ nghe, chỉ ngửi, chỉ nếm, chỉ xúc chạm đúng thật như tự thân của chính nó, đó là tâm chủ không sinh diệt của chính mình. Vì các đối tượng muôn vật mà ta nhận thấy được, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm luôn luôn thay đổi, sinh diệt nên nó thuộc về tâm khách. Ngược lại, tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh vị và tánh xúc không biến đổi nên thể tánh của nó là dừng trụ, vì dừng trụ nên thuộc về tâm chủ không sinh diệt.

Cũng vậy, khi sáu căn vin với sáu trần dẫn sinh sáu thức; ba thứ căn, trần và thức hòa hợp dẫn sinh ra xúc; xúc làm nhân duyên dẫn sinh thọ, tưởng và hành, ấy là sự tập khởi của năm thủ uẩn. Sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức xảy ra như thế nào thì ta luôn an trú trong trí tuệ chân thật để nhận biết (trí vô phân biệt) chúng đang tập khởi đúng như thế ấy, mà không sinh khởi một ý niệm phải trái hay tốt xấu gì cả. Đó là tâm chủ không sinh diệt của chính mình. Vì sự tập khởi của năm thủ uẩnpháp duyên sinh nên vô thường, thay đổi sinh diệt. Vì thế, sự tập khởi của năm thủ uẩn này là tâm khách. Trí tuệ nhận biết được sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ, không và phi ngã, ấy là tâm chủ không sinh diệt.

B. Thuật lại nghĩa trần

Lại như mưa mới tạnh mặt trời lên trong trẻo

 ánh sáng soi vào kẽ hở, trong hư không hiện rõ các tướng bụi bặm. Tính chất của bụi thì diêu động, còn hư không thường lặng lẽ. Như thế, nên con suy nghĩ: Lắng lặng gọi là hư không, diêu động gọi là bụi bặm. Do cái diêu động đó nên có nghĩa là“trần”.

Phật nói: “Đúng thế!”.

 

Giải thích:

   Theo ý kiến của người viết thì nội dung của chữ “khách” ở trong đoạn văn kinh trên là để chỉ cho sự tập khởi của sắc, thọ và tưởng. Ý nghĩa của chữ “trần” là chỉ cho sự tập khởi của hành và thức ấm còn lại. Vì sao? Khi lãnh hội được tâm chủ không sinh diệt này thì vị ấy an trú vào tâm chủ không sinh diệt để tu tập nhằm đoạn trừ đi sự tập khởi của sắc, thọ và tưởng. Sau khi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng được đoạn trừ xong, nghĩa là phần sinh khởi thô của năm thủ uẩn được đoạn trừ. Đó là ý nghĩa của chữ “khách”.

Vậy còn ý nghĩa của chữ “trần” là chỉ cho phần

hành ấmthức ấm sinh diệt nhỏ nhiệm còn lại.

Nói gọn lại, nếu luận về ý nghĩa của tâm chủ, đó là tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh vị, tánh xúc và tánh biết không sinh diệt thì khi có vật cũng thấy, khi không vật cũng thấy; khi có âm thanh cũng nghe, khi không có âm thanh cũng nghe; khi có tâm khách thì nhận biết có tâm khách, khi không có tâm khách thì nhận biết là không có tâm khách. Cho nên, không phải vì tâm khách đến mà tâm chủ này sinh, cũng không phải vì tâm khách diệt mà tâm chủ này diệt. Vì tâm chủ này không sinh diệt theo các duyên, nhưng cũng không rời các duyên nên mới thường trụ bất diệt.

Vì vậy Ngài Kiều Trần Như mới dạy: “Chẳng dừng trụ gọi là khách, dừng trụ là chủ.”

  • Một vị Thầy hỏi Thiền sư Bổn Tịnh: Huyễn vốn nào chân?

Thiền sư đáp: Huyễn vốn nguyên chân.

Vị Thầy hỏi: Chính khi huyễn làm sao hiển bày chân.

Thiền sư đáp: Tức huyễn liền hiển.

Vị Thầy lại hỏi: Thế ấy thì trước sau chẳng lìa

nơi huyễn.

Thiền sư đáp: Tìm huyễn tướng không thể được.

 

BÌNH: Nhận biết được vọng tâm tức là chân tâm. Vì chân tâm không tướng nên không thể được.

 

  • Ngài Sùng Tín xuất gia tu học với Ngài Đạo Ngô và theo hầu hạ Thầy của mình. Một hôm Ngài Sùng Tín thưa với Ngài Đạo Ngô rằng: Từ ngày con vào đây cho đến bây giờ chưa được Thầy chỉ dạy tâm yếu cho con!

Ngài Đạo Ngô bảo: Từ ngày con vào đây, ta chưa từng chỉ dạy tâm yếu cho con sao!

Ngài Sùng Tín thưa: Thầy chỉ dạy cho con chỗ nào?

Ngài Đạo Ngô bảo: Con bưng trà lên, ta vì con mà tiếp, con bưng cơm đến, ta vì con mà nhận. Con xá ta mà lui thì ta gật đầu, chỗ nào mà chẳng dạy tâm yếu cho con!

Ngài Sùng Tín cúi đầu lặng thinh giây lâu!

Ngài Đạo Ngô bảo: Thấy thì ngay đó liền thấy,

suy nghĩ liền sai!

Ngay lời dạy của Ngài Đạo Ngô, Ngài Sùng Tín nhận được tâm yếu của chính mình.

 

BÌNH: Trong cái biết chỉ là cái nhận biết, đó là tâm yếu của chính mình.                        

  ---0O0---

 

ĐOẠN II: TÁNH THẤY SÔNG HẰNG

 

1. Cầu chỉ cái sinh diệt và chẳng sinh diệt.

Khi ấy ông A-nan và cả Đại chúng nghe Phật chỉ dạy thân tâm thơ thới, nghĩ từ vô thỉ đến nay bỏ mất bản tâm, vọng nhận bóng dáng duyên trần phân biệt. Hôm nay được khai ngộ, như đứa hài nhi khát sữa bỗng gặp mẹ hiền. Ông chắp tay lễ Phật nguyện nghe Đức Như Lai chỉ ra nơi thân tâm cái nào chân, vọng, hư, thật và hiện tiền phát minh hai tính sinh diệt cùng chẳng sinh diệt.

 

2.  Vua Ba-Tư-Nặc khải thỉnh.

 Khi ấy Vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: “Xưa khi con chưa được Phật chỉ dạy, nghe bọn Ca-chiên-diên và Tỳ-la-chi-tử đều nói thân này sau khi chết sẽ đoạn diệt (mất hẳn) gọi là Niết-bàn. Con tuy gặp Phật nhưng nay vẫn còn hồ nghi, làm thế nào bày tỏ để chứng biết tính không sinh diệt nơi tâm này. Nay những hàng hữu lậu trong Đại chúng đây, đều mong mỏi được nghe điều ấy.

 

3. Gạn hỏi sự biến đổi trong nhục thân.

Phật bảo: “Đại vương, thân ông hiện đang sống đó, nay tôi lại hỏi ông: Thân thịt này của ông là
đồng như kim cang thường còn hay biến hoại?”.

- Bạch Thế Tôn, thân con hiện nay đây, rốt cuộc cũng thay đổi và hoại diệt.

Phật bảo: “Đại vương, thân ông chưa từng hoại diệt, làm sao biết phải diệt?”.

- Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường biến hoại này của con đây tuy chưa từng diệt, nhưng con xem hiện tiền mỗi niệm dời đổi mãi mãi không dừng, như lửa thành tro lần lần tiêu mất, vì dứt mất không dừng,

nên con biết thân quyết định phải theo đó mà diệt mất!

 Phật nói: “Đúng vậy”.

 

4. So sánh nhan sắc lúc trẻ và già

“Đại vương, nay ông tuổi đã già yếu, nhan mạo so với lúc còn bé như thế nào?”

- Bạch Thế Tôn, xưa kia khi con còn bé thì da dẻ hồng hào, đến tuổi trưởng thành khí huyết đầy đủ, nay tuổi già hình sắc cũng theo đó mà già yếu khô gầy, tinh thần tối tăm, tóc bạc, mặt nhăn, sắp chết chẳng còn bao lâu. Như thế, đâu thể so sánh với khi còn trẻ mạnh.

 

5. Xét sự thầm thầm thay đổi

Phật bảo: “Đại vương, thân thể của ông đâu phải già liền?”.

Vua thưa: “Bạch Thế Tôn, nó biến hóa thầm thầm thay đổi, con thật chẳng biết, lạnh nóng đổi dời, lần lần cho đến ngày nay. Vì sao? Vì lúc con hai mươi tuổi, tuy tuổi còn nhỏ, nhưng nhan sắc đã già hơn khi lên mười, đến ba mươi tuổi lại già hơn năm hai mươi tuổi; đến nay sáu mươi hai tuổi so với lúc năm mươi tuổi, rõ ràng khi năm mươi tuổi sức lực còn cường tráng hơn. Bạch Thế Tôn, con thấy nó thầm thầm dời đổi, tuy cái già nua này thay đổi giới hạn trong mười năm. Nếu con suy nghĩ kỹ hơn, chẳng những nó thay đổi trong khoảng mười năm, hai mươi năm mà thực nó thay đổi từng năm; chẳng những nó thay đổi từng năm, mà nó thay đổi từng tháng; chẳng những nó thay đổi từng tháng, mà nó thay đổi từng ngày; chẳng những nó thay đổi từng ngày mà xét cho cùng nghĩ cho kỹ thì nó thay đổi từng sát-na, trong khoảng một niệm không dừng. Thế nên con biết thân này trọn theo sự biến đổi và hoại diệt”.

 

6. Chính chỉ tánh không sinh diệt

A. Hỏi trong thân cái gì chẳng sinh diệt

Phật bảo: “Đại vương, ông thấy sự biến hóa đổi thay không dừng, nên ngộ biết thân ông hoại diệt, vậy chính khi hoại diệt, ông có biết trong thân có cái gì chẳng hoại diệt chăng?”.

Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật: “Thật con

chẳng biết”.

 

B. Hỏi thấy nước đồng và khác, để nêu ra tánh không sinh diệt

B1. Gạn hỏi khi thấy nước

Phật bảo: “Nay tôi chỉ cho ông tính chẳng sinh diệt. Đại vương, khi ông được bao nhiêu tuổi thì thấy nước sông Hằng?”.

Vua thưa: “Con được ba tuổi, mẹ con dẫn đến lễ ra mắt Thần Kỳ-bà Thiên, đi ngang qua dòng sông này, khi ấy con được thấy nước sông Hằng”.

 

B2. Gạn hỏi thấy nước đồng khác

Phật bảo: “Đại vương, như ông đã nói: Khi hai mươi tuổi đã già hơn lúc mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, năm tháng ngày giờ, niệm niệm dời đổi. Vậy khi ông ba tuổi thấy sông Hằng này, đến mười ba tuổi cái thấy nước sông ấy thế nào?”.

Vua thưa: “Như khi ba tuổi rõ ràng không khác,

đến nay con sáu mươi hai tuổi, cái thấy vẫn không

khác”.

B3. Riêng gạn hỏi cái thấy đồng khác

Phật bảo: “Nay ông tự cảm thương tóc bạc, mặt nhăn, mặt ông nhất định là nhăn hơn lúc trẻ. Vậy cái thấy của ông hiện nay xem thấy sông Hằng, cùng với khi xưa còn trẻ xem thấy sông Hằng, cái thấy đó có già có trẻ chăng?”.

Vua thưa: “Bạch Thế Tôn, không vậy”.

 

B4. Chỉ tánh thấy không biến đổi

Phật bảo: “Đại vương, mặt ông tuy nhăn, mà tính thấy này chưa từng bị nhăn. Cái bị nhăn thì biến đổi, còn cái chẳng bị nhăn thì không biến đổi. Cái biến đổi thì phải chịu hoại diệt, cái chẳng biến đổi kia vốn không sinh diệt, làm sao trong ấy lại nhận chịu cái sinh tử của ông, mà ông còn dẫn lời của bọn Mạt-già-lê kia bảo rằng, thân này sau khi chết hoàn toàn mất hẳn?”.

Vua nghe lời ấy, tin biết thân này sau khi chết sẽ sinh thân khác, nên cùng với Đại chúng vui mừng nhảy nhót, được việc chưa từng có.

 

Giải thích:

Do chúng ta nhận cái bóng dáng tướng trạng duyên trần phân biệt của năm trần cảnh để làm tâm, nên mới bỏ mất cái bản tâm không sinh không diệt. Như thế nào là bóng dáng duyên trần phân biệt? Đó là khi mắt thấy các sắc, tai nghe các âm thanh, mũi ngửi các hương, lưỡi nếm các vị và thân xúc chạm các vật, ở nơi các đối tượng muôn vật như vậy mà khởi tâm phân biệt thiện ác. Một khi chúng ta đã khởi vọng tâm phân biệt thì liền bỏ mất đi cái bản tâm không sinh diệt. Vì đã bỏ mất cái bản tâm không sinh diệt nên ta mới chìm nổi trong vòng sinh tử luân hồi. Do vậy, muốn chấm dứt khổ đau, sinh tử thì không điều gì quan trọng hơn là ta phải lãnh hội cho được cái bản tâm không sinh không diệt này.

 

Vua Ba-Tư-Nặc khải thỉnh

Khi ấy Vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: “Xưa khi con chưa được Phật chỉ dạy, nghe bọn Ca-chiên-diên và Tỳ-la-chi-tử đều nói thân này sau khi chết sẽ đoạn diệt (mất hẳn) gọi là Niết-bàn. Con tuy gặp Phật nhưng nay vẫn còn hồ nghi, làm thế nào bày tỏ để chứng biết tính không sinh diệt nơi tâm này. Nay những hàng hữu lậu trong Đại chúng đây, đều mong mỏi được nghe điều ấy.

 

Giải thích:

Quan điểm của ngoại đạo như Ca-chiên-diên và Tỳ-la-chi-tử cho rằng, sau khi chết sẽ đoạn diệt hoàn toàn và gọi đó là Niết-bàn. Vì thế, vua Ba-tư-nặc sinh tâm nghi ngờ nên mới thưa hỏi với Đức Thế Tôn rằng: “Làm thế nào bày tỏ để chứng biết tính không sinh diệt nơi tâm này”.

 

Gạn hỏi sự biến đổi trong nhục thân

Phật bảo: “Đại vương, thân ông hiện đang sống đó, nay tôi lại hỏi ông: Thân thịt này của ông là đồng như kim cang thường còn hay biến hoại?”.

- Bạch Thế Tôn, thân con hiện nay đây, rốt cuộc cũng thay đổi và hoại diệt.

Phật bảo: “Đại vương, thân ông chưa từng hoại diệt, làm sao biết phải diệt?”.

- Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường biến hoại

này của con đây tuy chưa từng diệt, nhưng con xem hiện tiền mỗi niệm dời đổi mãi mãi không dừng, như lửa thành tro lần lần tiêu mất, vì dứt mất không dừng, nên con biết thân quyết định phải theo đó mà diệt mất!

 Phật nói: “Đúng vậy”.

 

So sánh nhan sắc lúc trẻ và già

“Đại vương, nay ông tuổi đã già yếu, nhan mạo so với lúc còn bé như thế nào?”

- Bạch Thế Tôn, xưa kia khi con còn bé thì da dẻ hồng hào, đến tuổi trưởng thành khí huyết đầy đủ, nay tuổi già hình sắc cũng theo đó mà già yếu khô gầy, tinh thần tối tăm, tóc bạc, mặt nhăn, sắp chết chẳng còn bao lâu. Như thế, đâu thể so sánh với khi còn trẻ mạnh.

Xét sự thầm thầm thay đổi

Phật bảo: “Đại vương, thân thể của ông đâu phải già liền?”.

Vua thưa: “Bạch Thế Tôn, nó biến hóa thầm thầm thay đổi, con thật chẳng biết, lạnh nóng đổi dời, lần lần cho đến ngày nay. Vì sao? Vì lúc con hai mươi tuổi, tuy tuổi còn nhỏ, nhưng nhan sắc đã già hơn khi lên mười, đến ba mươi tuổi lại già hơn năm hai mươi tuổi; đến nay sáu mươi hai tuổi so với lúc năm mươi tuổi, rõ ràng khi năm mươi tuổi sức lực còn cường tráng hơn. Bạch Thế Tôn, con thấy nó thầm thầm dời đổi, tuy cái già nua này thay đổi giới hạn trong mười năm. Nếu con suy nghĩ kỹ hơn, chẳng những nó thay đổi trong khoảng mười năm, hai mươi năm mà thực nó thay đổi từng năm; chẳng những nó thay đổi từng năm, mà nó thay đổi từng tháng; chẳng những nó thay đổi từng tháng, mà nó thay đổi từng ngày; chẳng những nó thay đổi từng ngày mà xét cho cùng nghĩ cho kỹ thì nó thay đổi từng sát-na, trong khoảng một niệm không dừng. Thế nên con biết thân này trọn theo sự biến đổi và hoại diệt”.

 

Giải thích:

Bởi vì thân thể của con người là do tứ đại tạo thành, nên đó là pháp duyên khởi. Vì thuộc pháp duyên khởi nên nó vô thường, thay đổi theo thời gian để đi đến sự hoại diệt. Sự thay đổi của thân thể tứ đại này, không những chỉ biến đổi trong từng năm, mà nó biến đổi trong từng tháng; không những nó biến đổi trong từng tháng, mà nó biến đổi trong từng tuần; không những nó biến đổi trong từng tuần, mà nó biến đổi trong từng ngày; không những biến đổi trong từng ngày, mà nó biến đổi trong từng giờ; không những biến đổi trong từng giờ, mà nó biến đổi trong từng phút; không những nó biến đổi trong từng phút, mà nó biến đổi trong từng giây; không những nó biến đổi trong từng giây, mà nó biến đổi trong từng sát-na, trong khoảng một niệm không dừng trụ.

Vì thế, thân thể tứ đại này luôn thay đổi theo dòng thời gian. Tấm thân này chẳng thể nào nguyên vẹn mãi như thuở mới sinh ra đời. Vì lẽ đó nên mỗi người đều có từng giai đoạn phát triển khác nhau tùy theo từng độ tuổi. Ở mỗi độ tuổi, con người sẽ có sự đổi thay về thể chất cũng như nhận thức, tư duy đối với các pháp. Kể từ khi mới cất tiếng khóc chào đời cho đến khi trưởng thành và từ giai đoạn trưởng thành cho đến độ tuổi bóng ngã xế tà thì đó là cả một quá trình biến chuyển liên tục, không ngừng nghỉ của thân thể tứ đại. Thế nên, lúc 60 tuổi thì thân thể tứ đại này đã già hơn lúc 50 tuổi, khi 50 tuổi thì già hơn 40 tuổi, thời điểm 40 tuổi thì già hơn 30 tuổi, đó là chân lý của pháp hữu vi, không thể nào sai khác được.

Khi chúng ta đã có sinh ra ắt sẽ có già đi; vì có già nên sẽ sinh ra bệnh; có bệnh nên dẫn sinh đến cái chết. Đó là một sự biến dịch thuận theo quy luật nhân duyên, đồng thời là một sự thật tất yếu thuộc phạm vi của Khổ đế, Tập đế. Vì sao thế? Bởi hết thảy các pháp hữu vi tồn tại trên thế gian này, nếu pháp gì đã có sinh tất sẽ có diệt; chỉ có pháp không sinh không diệt, pháp ấy mới không có sự hoại diệt.

 

Chỉ tánh thấy không diệt

A. Hỏi trong thân cái gì chẳng sinh diệt

Phật bảo: “Đại vương, ông thấy sự biến hóa đổi thay không dừng, nên ngộ biết thân ông hoại diệt, vậy chính khi hoại diệt, ông có biết trong thân có cái gì chẳng hoại diệt chăng?”.

Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật: “Thật con

chẳng biết”.

 

Giải thích:

          Năm thủ uẩn này là pháp duyên khởi, vì là pháp

duyên khởi nên vô thường, khổ, không và phi ngã. Vì vậy, chúng ta cần phải ở nơi thân tâm sinh diệt này để liễu tri được cái tâm không sinh diệt; phải ở nơi pháp vô thường để nhận được pháp thường trụ; ở nơi phiền não mà nhận được Bồ-đề; ở nơi vô minh mà nhận được minh. Đó chính là trí tuệ vô ngã vậy.

 

B. Hỏi thấy nước đồng và khác, để nêu ra tánh không sinh diệt

B1. Gạn hỏi khi thấy nước

Phật bảo: “Nay tôi chỉ cho ông tính chẳng sinh diệt. Đại vương, khi ông được bao nhiêu tuổi thì thấy nước sông Hằng?”.

Vua thưa: “Con được ba tuổi, mẹ con dẫn đến lễ ra mắt Thần Kỳ-bà Thiên, đi ngang qua dòng sông này, khi ấy con được thấy nước sông Hằng”.

 

B2. Gạn hỏi thấy nước đồng khác

         Phật bảo: “Đại vương, như ông đã nói: Khi hai mươi tuổi đã già hơn lúc mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, năm tháng ngày giờ, niệm niệm dời đổi. Vậy khi ông ba tuổi thấy sông Hằng này, đến mười ba tuổi cái thấy nước sông ấy thế nào?”.

Vua thưa: “Như khi ba tuổi rõ ràng không khác, và đến nay con sáu mươi hai tuổi, cái thấy vẫn không khác”.

 

B3. Riêng gạn hỏi cái thấy đồng khác

Phật bảo: “Nay ông tự cảm thương tóc bạc, mặt nhăn, mặt ông nhất định là nhăn hơn lúc trẻ. Vậy cái thấy của ông hiện nay xem thấy sông Hằng, cùng với khi xưa còn trẻ xem thấy sông Hằng, cái thấy đó có già có trẻ chăng?”.

Vua thưa: “Bạch Thế Tôn, không vậy”.

B4. Chỉ tánh thấy không biến đổi

Phật bảo: “Đại vương, mặt ông tuy nhăn, mà tính thấy này chưa từng bị nhăn. Cái bị nhăn thì biến đổi, còn cái chẳng bị nhăn thì không biến đổi. Cái biến đổi thì phải chịu hoại diệt, cái chẳng biến đổi kia vốn không sinh diệt, làm sao trong ấy lại nhận chịu cái sinh tử của ông, mà ông còn dẫn lời của bọn Mạt-già-lê kia

bảo rằng, thân này sau khi chết hoàn toàn mất hẳn?”.

Vua nghe lời ấy, tin biết thân này sau khi chết sẽ sinh thân khác, nên cùng với Đại chúng vui mừng nhảy nhót, được việc chưa từng có.

 

Giải thích:

Như thế nào là cái thấy khác?

Khi mắt nhìn thấy các sắc, vin vào nơi các sắc ấy mà khởi tâm phân biệt yêu thích hay không yêu thích, vì khi đã sinh khởi tâm phân biệt như thế nên cái thấy này là cái thấy khác. Vì cái thấy khác nên cái thấy ấy có chỗ trụ, vì cái thấy có chỗ trụ nên đó là cái thấy sinh diệt.

Như thế nào là cái thấy không khác?

Khi mắt nhìn thấy các sắc, các sắc ấy như thế nào thì ta chỉ nhìn thấy chúng đúng thật như vậy thôi, mà không sinh khởi tạp niệm năng thủsở thủ gì. Vì không sinh khởi tạp niệm phân biệt gì ở nơi các sắc ấy nên cái thấy này là cái thấy không khác. Vì cái thấy không khác là cái thấy không có chỗ trụ nên đó là cái thấy như thật, không sinh diệt.

Cái thấy không khác nghĩa là thấy mà không có chỗ thấy, vì thấy mà không có chỗ để thấy nên tất cả đều không tâm; vì tất cả chỗ đều không tâm nên không có chỗ trụ; vì không có chỗ trụ nên đó mới là như thật thấy, chân thật thấy, không sinh diệt.

Ngoài ra, Đức Phật còn dạy: Cái thấy có khác nên mới có già có trẻ, vì có già có trẻ nên mới bị nhăn, vì bị nhăn nên mới có sự biến đổi, vì có sự biến đổi nên phải chịu sự hoại diệt.

Cái thấy không khác nên không có già có trẻ, vì không có già có trẻ nên không từng bị nhăn, vì không từng bị nhăn nên không có sự biến đổi, vì không có sự biến đổi nên đây là cái thấy như thật, không sinh không diệt.

Thế nên, cho dù vô minh hay minh cũng chỉ ở nơi cái thấy mà thôi. Vô minh là cái thấy khác, minh là cái thấy không khác. Cái thấy khác là cái thấy sinh diệt; cái thấy không khác là cái thấy thường trụ không sinh diệt. Vì vậy, Đức Phật dạy phải ở nơi thân tâm sinh diệt này để nhận ra cái chân tâm không sinh diệt chính là vậy.

  • Một vị Thầy đến hỏi Hòa thượng Tào Khê: Vật gì là quý nhất trên đời?

Ngài đáp: Cái đầu con mèo chết.

Vị Thầy hỏi tiếp: Cái đầu con mèo chết vì sao lại quý?

Ngài đáp: Vì không ai trả giá.

  • Một vị Thầy hỏi Hòa thượng Càn Phong rằng: Mười phương Bạt Già Phạm (Phật) đều đồng một con đường Niết-bàn, nhưng như thế nào là đầu đường?

Hòa thượng Càn Phong lấy cây gậy vạch một đường trong hư không rồi dạy: Đây này!

  • Ngài Triều Châu nhân có một Thầy đứng hầu bên, bèn chỉ lửa hỏi rằng: Cái ấy là lửa, nhưng con không được gọi là lửa. Thầy đã chỉ dạy cho con rồi vậy!

Vị Thầy không đáp được.

Ngài lại đến gắp lửa lên, rồi hỏi: Con có hiểu lời Thầy dạy chăng?

Vị Thầy thưa: Con vẫn không hội lời dạy của Thầy!

BÌNH: Khi mắt nhìn thấy tất cả sắc thì ngay ở nơi các sắc ấy không sinh khởi một ý niệm gì, thì đó là cái tánh thấy chân thật không sinh diệt.

 

ĐOẠN III: GIẢN TRẠCH TÂM DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ

A. Nêu tám thứ trần tướng

Ông hãy nghe cho kỹ, nay tôi sẽ chỉ cho ông chỗ không thể trả về. A-nan, cửa đại giảng đường này, mở rộng về phương Đông, khi mặt trời lên thì chiếu sáng; giữa đêm không trăng mây mù mờ mịt thì tối tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông suốt; khoảng tường ngăn thì thấy bít lấp; chỗ phân biệt được thì thấy cảnh sắc duyên; trong chỗ trống rỗng toàn là hư không; cảnh tượng mịt mù là bụi tối; mưa tạnh trời thanh lại thấy trong.

B. Chỉ tám thứ trả về

A-nan, ông hãy xem các tướng biến hóa này, nay tôi đều trả về bản nhân của nó. Thế nào là bản nhân? A-nan, các tướng biến hóa này, sáng trả về cho mặt trời. Vì sao? Vì nếu không mặt trời thì không sáng. Nguyên nhân cái sáng thuộc về mặt trời, cho nên trả về cho mặt trời. Cái tối trả về cho đêm không trăng; thông suốt trả về cho cửa; ngăn bít trả về cho tường vách; sắc duyên trả về cho phân biệt; rỗng không trả về cho hư không; mù mịt trả về cho bụi; trong sáng trả về cho trời tạnh. Tất cả vật có ra trong thế gian đều không ngoài các thứ này.

 

C. Chính chỉ cái không thể trả về

Còn tính thấy sáng suốt của ông thấy tám thứ kia, ông muốn trả nó về đâu? Vì sao? Vì nếu trả về cho sáng, thì khi tối đến cũng không thấy tối. Tuy sáng tối mỗi mỗi đều sai khác, nhưng cái thấy không sai khác. Các thứ có thể trả về được, tự nhiên chẳng phải ông. Cái ông không thể trả về được, chẳng phải ông thì là gì? Ắt biết tâm ông vốn nhiệm mầu thanh tịnh sáng suốt mà ông tự mê muội, bỏ mất tính bản nhiên, đành chịu luân hồi, thường bị trôi nổi chìm đắm trong sinh tử. Thế nên, Như Lai nói là đáng thương xót vậy!”.

 

Giải thích:

Tất cả các pháp trong thế gian đều không ra ngoài tám thứ là ánh sáng mặt trời, đêm tối, thông suốt, ngăn ngại, tâm phân biệt, hư không, cảnh tượng mịt mù và trời trong xanh. Nhưng Đức Phật dạy: “Cái tánh thấy sáng suốt của Thầy A-nan thấy được tám thứ kia, Thầy muốn trả về đâu?” Vì cái tánh thấy sáng suốt này mà đem trả về cho ánh sáng mặt trời thì khi trời tối đến sẽ không thấy được tối. Vì sao thế? Nếu tánh thấy sáng suốt này thuộc về ánh sáng của mặt trời thì khi tối đến sẽ không thấy được tối. Cho nên, trời sáng, đêm tối, thông suốt, ngăn ngại, tâm phân biệt, hư không, bụi bặm và trời trong xanh, các thứ ấy đều có sự sai khác. Vì các thứ ấy có sự sai khác nên đều có thể trả về được với bản nhân của chúng. Còn cái tánh thấy sáng suốt mà thấy được tám thứ kia thì không có sự sai khác nên không thể trả về đâu được.

Do có sự trả về được nên đó không phải là cái tánh thấy chân thật không sinh không diệt. Cái tánh thấy sáng suốt mà thấy được tám thứ kia không thể trả về đâu được, vì không thể trả về đâu được nên đó là cái tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu của Thầy A-nan và tất cả chúng sinh hữu tình vốn có sẵn. Do đã bỏ mất cái tánh thấy sáng suốt bản nhiên này nên chúng ta mới trôi nổi chìm đắm trong vòng khổ đau sinh tử.

Như vậy, thế nào là cái tánh thấy sáng suốt bản nhiên?

Khi chúng ta thấy được tám thứ kia, tám thứ ấy như thế nào, thì ta chỉ nhìn thấy đúng thật như sự hiện hữu của chúng thế thôi, mà không khởi vọng niệm tham, sân, si, mạn nghi, ác kiến gì, đó là cái tánh thấy sáng suốt bản nhiên không sinh diệt.

Ánh sáng mặt trời, đêm tối, thông suốt, ngăn ngại, tâm phân biệt, hư không, bụi bặm và trời trong xanh; tám thứ này bao gồm tất cả các pháp trong thế gian nên thuộc về pháp hữu vi. Vì tám thứ này là pháp hữu vi nên chúng vô thường, biến hoại, tan rã và mục  nát, là pháp không đáng để nương tựa.

Mặt khác, cái tánh thấy sáng suốt có thể thấy rõ được tám thứ kia thì không có sự sai khác; vì không có sự sai khác nên không thể trả về đâu được; vì không thể trả về đâu được nên thuộc pháp vô vi; vì pháp vô vi nên không có sự tạo tác; vì pháp không tạo tác nên pháp ấy không phải do nhân duyên mà sinh, cũng không phải pháp do nhân duyên mà diệt nên pháp này thường trụ không sinh diệt.

Tóm lại, chúng ta phải lãnh hội được tánh thấy sáng suốt bản nhiên ở nơi tám thứ kia và không thể tách rời khỏi tám thứ ấy để nhận được cái tánh thấy sáng suốt bản nhiên không sinh diệt.

  • Thiền sư Thiên Long khi đến gặp Thiền sư Viên Ngộ, Ngài Viên Ngộ liền đưa tay hỏi: Thấy không?

Ngài Thiên Long thưa: Thấy!

Ngài Viên Ngộ bảo: Đầu lại thêm đầu.

Ngài Viên Ngộ hỏi tiếp: Thầy thấy cái gì?

Ngài Thiên Long thưa: Tre tuy dày nhưng không thể ngăn nước chảy qua.

Ngài Viên Ngộ gật đầu.

  • Thiền sư Bạt Đà hỏi Pháp sư Đạo Sinh thường giảng kinh luận gì. Pháp sư Đạo Sinh đáp: Giảng kinh Đại Niết-bàn.

Ngài Bạt Đà hỏi: Thế nào là nghĩa Niết-bàn?

Pháp sư Đạo Sinh đáp: Niết là bất sinh, bàn là bất diệt nên gọi là Niết-bàn.

Ngài Bạt Đà nói: Đó là Niết-bàn của Như Lai, còn cái gì là Niết-bàn của Pháp sư?

Pháp sư Đạo sinh đáp: Nghĩa Niết-bàn há lại có hai ư? Tôi chỉ như thế, không biết Hòa thượng nói về nghĩa Niết-bàn như thế nào?

Ngài Bạt Đà giơ cây như ý trong tay lên hỏi pháp sư Đạo Sinh: Thầy có thấy chăng?

Pháp sư Đạo Sinh đáp: Dạ thấy!

Ngài Bạt Đà hỏi: Thầy thấy cái gì?

Pháp sư Đạo Sinh đáp: Thấy cây như ý trong tay Hòa thượng.

Ngài Bạt Đà liền ném cây như ý xuống đất hỏi: Thầy thấy chăng?

Pháp sư Đạo Sinh đáp: Dạ thấy!

Ngài Bạt Đà hỏi: Thầy thấy cái gì?

Pháp sư Đạo Sinh đáp: Thấy cây như ý trong tay Hòa thượng rơi xuống đất.

Ngài Bạt Đà quở: Xem ra kiến giải của Thầy vẫn chưa vượt ra khỏi tầm thường, tại sao Thầy lại được nổi tiếng khắp nơi!

  • Thế Tôn chỉ hạt châu Ma-ni hỏi năm vị Thiên trấn giữ 5 hướng: Hạt châu này màu gì?

Năm vị Thiên vương mỗi vị nói mỗi màu.

Thế Tôn cất hạt châu đưa tay lên hỏi:

Hạt châu này màu gì?

Bạch Thế Tôn, trong tay người không có châu thì làm sao có màu gì?

Thế Tôn bảo: Tại sao các ông điên đảo lắm vậy. Ta đem Thế Châu chỉ đó, thì các ông gắng nói có màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Ta đem Chân Châu chỉ đó, thì các ông thảy đều không biết. Ngay lúc đó 5 vị Thiên vương đều ngộ.

 

BÌNH: Thấy mà không có chỗ thấy, hoặc trong cái thấy chỉ là cái thấy, đó chính là cái tánh thấy sáng suốt bản nhiên không sinh không diệt.                              

ĐOẠN IV: DẠY TÁNH THẤY CHẲNG PHẢI THỊ, CHẲNG PHẢI PHI

 

“Này Văn Thù, nay tôi hỏi ông, như ông là Văn Thù, lại có Văn Thù phải là Văn Thù hay không phải Văn Thù?”.

- Đúng như thế, bạch Thế Tôn! Con nay thật là Văn Thù, không có phải là Văn Thù. Vì sao? Vì nếu có phải là Văn Thù thì có hai Văn Thù. Song con hiện nay chẳng phải là không Văn Thù, trong ấy thật không có hai tướng “phải” hay “chẳng phải”.

 

Giải thích:

Nếu thật là Ngài Văn Thù thì không thể sinh khởi ý niệm cho rằng đây là Văn Thù và đây không phải là Văn Thù. Vì sao? Nếu thật là Ngài Văn Thù mà lại còn sinh khởi ý niệm cho rằng đây là Văn Thù và đây không phải là Văn Thù thì lại có hai Ngài Văn Thù. Nếu có hai Ngài Văn Thù thì không phải thật sự là Ngài Văn Thù.

Cũng vậy, tánh thấy chân thật thì sẽ không sinh khởi ý niệm cho rằng đây là tánh thấy và đây không phải là tánh thấy. Nếu sinh khởi ý niệm cho rằng đây là tánh thấy và đây không phải là tánh thấy thì pháp lại có hai tướng, và pháp có hai tướng là pháp sinh diệt. Cho nên, tánh thấy chân thật không sinh diệt này không sinh khởi ý niệm cho rằng đây là tánh thấy và đây không phải là tánh thấy. Do không sinh khởi ý niệm cho rằng đây là tánh thấy và đây không phải là tánh thấy nên đó mới là cái thấy chân thật, cái thấy như thật, cái thấy không sinh không diệt.

                       ---0O0---

 

ĐOẠN V: LẤY CÁI ĐỘNG TỊNH ĐỂ HIỂN BÀY CÁI THẤY

1. Tay xòe nắm để gạn cái thấy thường còn

Khi ấy Đức Như Lai ở trong Đại chúng, co năm ngón tay lại rồi xòe ra và hỏi ông A-nan rằng:

- “Nay ông thấy cái gì?”.

Ông A-nan thưa: “Con thấy bàn tay trăm báu của Đức Như Lai ở trong chúng xòe ra nắm lại”.

Phật bảo A-nan: “Ông thấy cái tay của tôi ở trong chúng xòe nắm, là cái tay tôi có xòe có nắm hay
 là cái thấy của ông có xòe có nắm?”.

Ông A-nan bạch Phật: “Tay báu của Đức Thế Tôn ở trong chúng có xòe nắm, con thấy tay của Như Lai tự có xòe có nắm, chứ chẳng phải tánh thấy của con có xòe nắm”.

Phật nói: “Cái nào động cái nào tịnh?”.

Ông A-nan thưa: “Tay của Phật không dừng, tánh thấy của con còn không tịnh, thì đâu có gì là động”.

Phật nói: “Đúng như vậy!”.

 

2. Phóng quang để gạn hỏi cái thấy không động

Bấy giờ trong lòng bàn tay của Đức Như Lai phóng một luồng hào quang báu soi đến vai bên phải ông A-nan, liền khi ấy ông A-nan xoay đầu ngó qua bên phải. Phật lại phóng hào quang qua bên vai trái của ông A-nan, ông A-nan lại xoay đầu ngó về bên trái.

Phật bảo A-nan: “Đầu ông hôm nay nhân gì lại

dao động?”.

A-nan thưa: “Con thấy Như Lai phóng hào quang báu đến vai bên phải bên trái của con, con nhìn qua hai bên để xem, nên đầu con tự dao động”.

- A-nan, ông nhìn xem hào quang của Phật, đầu ông xoay qua hai bên vai (phải trái), vậy đầu ông động hay cái thấy ông động?

- Bạch Thế Tôn, đầu con tự động, mà tánh thấy của con còn không có dừng, huống là có động.

Phật nói: “Đúng như vậy”.

 

3. Chính chỉ tánh thấy không có động tịnh co mở

Khi ấy Đức Như Lai bảo khắp Đại chúng: “Nếu lại có chúng sinh cho cái dao động gọi đó là “trần”, cái chẳng dừng gọi đó là “khách”. Các ông xem đầu ông A-nan tự dao động, mà tánh thấy không dao động. Lại các ông xem tay tôi có co mở, mà tánh thấy không có co mở.

 

Giải thích:

Vạn vật luôn luôn biến động, thay đổi, sinh diệt,

còn chân tâm thì bất động, do chúng ta đã bỏ quên cái chân tâm bất động này nên mới lưu chuyển trong sinh tử khổ đau. Nếu ngay nơi vạn vật náo động, sinh diệt ấy, ta lãnh hội cái chân tâm bất động, rồi an trụ tâm này để tu tập, thì khổ đau sẽ giảm dần. Vì thế, chúng ta phải ở nơi vạn vật sinh diệt, náo động để nhận cái chân tâm bất động của chính mình.

Vậy ta phải nhận cái chân tâm bất động như thế nào?

Mỗi khi nhìn thấy các sắc, các sắc ấy như thế nào, thì ta chỉ nhìn thấy chúng đúng như thật sự hiện hữu của chính nó, mà không sinh khởi vọng tâm thủ hay xả gì, đó chính là chân tâm bất động, hay tánh thấy không có nắm có xòe, không có động có tịnh.

  • Một vị Thầy đến hỏi Ngài Hoàng Bá: Thế nào là Phật?

Ngài Hoàng Bá dạy: Thầy là ai?

Vị Thầy ấy thưa: Là con

Ngài Hoàng Bá nói: Thầy có biết chăng?

Vị Thầy thưa: Con biết rõ ràng!

Ngài Hoàng Bá đưa cây phất tử lên hỏi: Thầy thấy không?

Vị Thầy thưa: Con thấy.

Ngài Hoàng Bá im lặng…

  • Ngài Hưu Phục đến nương với Hòa thượng Địa Tạng nhiều năm mà không khế hội được Đạo, do nhân duyên bị bệnh nên vào nằm nhà Niết-bàn.

Một đêm, Ngài Địa Tạng đến thăm và hỏi rằng: Thượng tọa Phục được an vui chăng?

Ngài Hưu Phục thưa: Con vì nhân duyên trái với Hòa thượng.

Ngài Địa Tạng liền chỉ lồng đèn bảo: Thầy thấy chăng?

Ngài Hưu Phục thưa: Dạ thấy.

Ngài Địa Tạng dạy: Chỉ cái ấy chẳng có trái.

Ngay lời dạy của ngài Địa Tạng, Thượng tọa Hưu Phục tỏ ngộ.

  • Một Thầy tên là Minh Giáo đến tham vấn Thiền sư Đạo NhànLa Sơn.

Ngài Đạo Nhàn hỏi: Thầy tên gì?

Vị Thầy ấy thưa: Con tên Minh Giáo.

Ngài hỏi: Thầy có lãnh hội giáo hay chưa?

Vị Thầy thưa: Dạ tùy phần.

Ngài liền dựng nắm tay lên hỏi: Trên Hội Linh Sơn gọi cái này là gì?

Vị Thầy thưa: Đó là giáo lý nắm tay.

Ngài cười và bảo: Nếu thế ấy là giáo lý nắm tay thì…

Ngài liền duỗi hai chân ra hỏi:

Cái này là giáo gì?

Vị Thầy không trả lời được.

Ngài bảo: Phải chănggiáo lý hai bàn chân?

 

BÌNH: Thấy mà không có chỗ thấy nên tất cả chỗ đều không tâm, vì tất cả chỗ không tâm nên không có chỗ trụ, vì không có chỗ trụ nên đó là thường thấy.

                      ---0O0---

 

ĐOẠN VI: CHỈ TÁNH NGHE LÀ THƯỜNG TRỤ

 

1. Trách tâm chẳng tin phục

Phật bảo Ông A-nan: “Ông tuy học rộng nghe nhiều, mà các mê lầm chưa hết, trong tâm chỉ biết suông cái nhân của điên đảo, mà cái điên đảo hiện tiền thật chưa hay biết, tôi e cho tâm thành thật của
 ông vẫn chưa tin phục.

 

1. Đánh chuông để gạn hỏi tánh nghe

Nay tôi thử đem cái việc thế gian để trừ nghi cho ông”. Liền khi ấy, Đức Như Lai bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông và hỏi Ông A-nan rằng: “Nay ông có nghe chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ có nghe”.

Khi tiếng chuông hết ngân, Phật lại hỏi: “Nay ông có nghe chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ không nghe”.

Khi ấy La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông nữa, Phật lại hỏi: “Nay ông có nghe chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ có nghe”.

 Phật lại hỏi Ông A-nan: “Thế nào là ông có nghe, thế nào là ông không nghe?”.
          Ông A-nan và Đại chúng đều bạch Phật rằng:
           - “Tiếng chuông nếu đánh lên thì chúng con được nghe, đánh lâu tiếng hết, âm vang đều dứt, thì gọi là không nghe”.

 

3. Đánh chuông để gạn hỏi cái tiếng

Đức Như Lai bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông nữa và hỏi Ông A-nan rằng: “Theo ông nay có tiếng chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ có tiếng”.

Giây lâu tiếng dứt, Phật lại hỏi: “Theo ông nay có tiếng chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ không tiếng”.

Lát sau La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông. Phật lại hỏi Ông A-nan: “Nay đối với ông có tiếng chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ có tiếng”.

Phật hỏi Ông A-nan: “Thế nào mà ông gọi rằng có tiếng và thế nào gọi là không tiếng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều bạch Phật rằng: “Tiếng chuông đánh lên thì gọi là có tiếng, đánh lâu tiếng hết âm vang không còn, thì gọi là không tiếng”.

 

4. Trách cái nghe và tiếng rối loạn

Phật bảo Ông A-nan và Đại chúng: “Hôm nay sao các ông nói trái ngược lộn xộn như thế?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều bạch Phật: “Thế nào Thế Tôn bảo chúng con nói trái ngược lộn xộn?”.

Phật bảo: “Tôi hỏi ông về nghe, thì ông nói là nghe. Lại hỏi ông về tiếng, thì ông nói là tiếng. Chỉ cái nghe và cái tiếng mà ông trả lời không nhất định, như thế làm sao không gọi là trái ngược lộn xộn? A-nan, tiếng hết không còn âm vang, ông nói rằng không nghe, nếu thật không nghe, thì tánh nghe đã diệt đồng như cây khô, khi tiếng chuông lại đánh lên ông làm sao mà biết tiếng? Biết có biết không tự là thanh trần hoặc không hoặc có, chứ tánh nghe kia há lại vì ông mà thành có thành không. Nếu tánh nghe nói là thật không thì ai biết là không nghe?

Thế nên A-nan, tiếng trong cái nghe tự có sinh diệt, chẳng phải vì ông nghe tiếng sinh tiếng diệt, khiến cho tánh nghe của ông là có hay là không. Ông còn điên đảo lầm cho cái tiếng làm cái nghe, thì đâu có lạ gì không mê muội cho cái thường làm cái đoạn. Tóm lại, ông không nên nói rời các tướng động tịnh, đóng mở, thông bít, thì cái nghe không có tánh.

 

Giải thích:

Ở đoạn kinh này Đức Phật muốn hỏi Thầy A-nan và đại chúng về tánh nghe, chứ không phải về tiếng. Vì tiếng là thuộc về thanh trần nên khi đánh lên thì có tiếng, đánh lâu tiếng hết âm vang không còn, thì gọi là không có tiếng.

Mỗi khi chúng ta nghe các âm thanh, thường hay vin bám vào nơi các âm thanh ấy mà khởi vọng tâm phân biệt yêu thích hay không yêu thích nên mới bỏ mất cái tánh nghe thường trụ không sinh diệt. Cho nên, Đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện để chỉ dạy cái tánh nghe thường trụ không sinh diệt vốn có ở mỗi chúng sinh. Cái tánh nghe này là tâm nghe nên khi có âm thanh cũng nghe hay khi không có âm thanh cũng nghe, đó mới gọi là tánh nghe thường trụ không sinh diệt.

Khi có âm thanh thì mới nghe, khi không có âm thanh thì không nghe được, đó là cái nghe và cái không nghe theo duyên sinh diệt, vì vậy đó không phải là cái tánh nghe không sinh diệt.

Cái tánh nghe không sinh diệt là khi có âm thanh cũng nghe, khi không có âm thanh cũng nghe. Không phải vì có âm thanh mà tánh nghe này sinh, cũng không phải vì không có âm thanh mà tánh nghe này diệt. Vậy mới gọi là tánh nghe thường trụ không sinh diệt.

Khi ta nghe các âm thanh, các âm thanh ấy như thế nào thì ta chỉ nghe như thế ấy mà thôi, không sinh khởi tạp niệm cho rằng âm thanh này dễ chịu hay khó chịu, hay hoặc không hay. Ấy là tánh nghe không sinh không diệt.

Khi có thanh trần hay khi không có thanh trần thì ta cũng nghe. Vậy khi có thanh trần thì ở nơi cái tánh nghe thanh trần này có lập một vật gì không? Cái tánh nghe thanh trần này không lập bất cứ vật gì cả.

Khi không có thanh trần thì ta cũng nghe. Vậy cái tánh nghe không có thanh trần này có lập một vật gì không? Cái tánh nghe không có thanh trần này không lập một vật gì.

 

Đánh chuông để gạn hỏi cái tiếng

Đức Như Lai bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông nữa và hỏi Ông A-nan rằng: “Theo ông nay có tiếng chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ có tiếng”.

Giây lâu tiếng dứt, Phật lại hỏi: “Theo ông nay có tiếng chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ không tiếng”.

Lát sau La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông.

Phật lại hỏi Ông A-nan: “Nay đối với ông có tiếng

chăng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều đáp: “Dạ có tiếng”.

Phật hỏi Ông A-nan: “Thế nào mà ông gọi rằng có tiếng và thế nào gọi là không tiếng?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều bạch Phật rằng: “Tiếng chuông đánh lên thì gọi là có tiếng, đánh lâu tiếng hết âm vang không còn, thì gọi là không tiếng”.

 

Giải thích:

   Đoạn văn kinh này, Đức Phật hỏi về tiếng, vì tiếng là thuộc thanh trần nên khi tiếng chuông được đánh lên thì nghe có tiếng, đánh lâu tiếng hết, âm vang không còn gọi là không có tiếng. Do tiếng là thuộc về thanh trần nên có sinh, có diệt.

 

Trách cái nghe và tiếng rối loạn

Phật bảo Ông A-nan và Đại chúng: “Hôm nay sao các ông nói trái ngược lộn xộn như thế?”.

Ông A-nan và Đại chúng đều bạch Phật: “Thế nào Thế Tôn bảo chúng con nói trái ngược lộn xộn?”.

Phật bảo: “Tôi hỏi ông về nghe, thì ông nói là nghe. Lại hỏi ông về tiếng, thì ông nói là tiếng. Chỉ cái nghe và cái tiếng mà ông trả lời không nhất định, như thế làm sao không gọi là trái ngược lộn xộn? A-nan, tiếng hết không còn âm vang, ông nói rằng không nghe, nếu thật không nghe, thì tính nghe đã diệt đồng như cây khô, khi tiếng chuông lại đánh lên ông làm sao mà biết tiếng? Biết có biết không tự là thanh trần hoặc không hoặc có, chứ tính nghe kia há lại vì ông mà thành có thành không. Nếu tính nghe nói là thật không thì ai biết là không nghe?

Thế nên A-nan, tiếng trong cái nghe tự có sinh diệt, chẳng phải vì ông nghe tiếng sinh tiếng diệt, khiến cho tính nghe của ông là có hay là không. Ông còn điên đảo lầm cho cái tiếng làm cái nghe, thì đâu có lạ gì không mê muội cho cái thường làm cái đoạn. Tóm lại, ông không nên nói rời các tướng động tịnh, đóng mở, thông bít, thì cái nghe không có tính.”

 

Giải thích:

Ở đoạn văn kinh này, Đức Phật trách Ngài A Nanđại chúng trả lời không đúng trọng tâm ý nghĩaĐức Phật muốn hỏi. Đức Phật trách Ngài A-nan và đại chúng, đó là Đức Thế Tôn muốn dạy rằng: do chúng ta không phân biệt được đâu là tánh nghe và đâu là tiếng; do không phân biệt được như thế nên mới trôi lăn mãi trong sinh tử khổ đau.

Đức Phật dạy rằng, khi nhận biết có tiếng hoặc khi nhận biết không có tiếng, đó là do thanh trần hoặc có hoặc không có. Vì sao? Vì tiếng đối với tánh nghe thì có sinh có diệt, chứ không phải khi nghe tiếng sinh tiếng diệt ấy mà khiến cho tánh nghe của ta là có hay không có.

Chung quy lại, tánh nghe chính là tâm nghe nên khi có tiếng thì nhận biết có tiếng, còn khi không có tiếng thì nhận biết là không tiếng. Vì tiếng là thuộc về thanh trần nên có sinh có diệt, còn tánh nghe thì  không sinh không diệt.

  • Một vị Thầy đến hỏi Hòa thượng Quy Tỉnh về câu thoại đầu “Cây bách trước sân của Ngài Triệu Châu.”

Ngài nói: Ta chẳng từ chối nói cho Thầy, nhưng Thầy có tin lời ta nói chăng?”

Vị Thầy thưa: Lời dạy của Hòa thượng rất quý trọng nên con nào dám không tin.

Ngài bảo: Thầy có nghe tiếng giọt mưa rơi trước thềm chăng?

Vị Thầy liền lãnh hội và thốt lên rằng: Chao ôi!!!

Ngài hỏi: Thầy thấy đạo lý gì mà nói như vậy?

Vị Thầy làm bài tụng trình:

Giọt mưa trước thềm,

Rành rẽ rõ ràng,

Đập nát càn khôn,

Liền đó tâm dứt.

  • Ông tướng quốc Bùi Hưu đến thăm Chùa Khai Nguyên. Sau khi đến thăm chùa Khai Nguyên, thấy hình vẽ về một Cao tăng trên vách chùa nên hỏi vị tri khách rằng: Hình ở đây còn Cao tăng ở chỗ nào?

Vị Thầy tri khách không trả lời được.

Ông Bùi Hưu hỏi: Trong đây không có Thiền giả?

Vị Thầy tri khách nói có.

Sau đó vào mời Ngài Hoàng Bá ra.

Ông Bùi Hưu hỏi lại câu hỏi trên.

Hình ở đây còn Cao tăng ở đâu?

Ngài Hoàng Bá gọi: Bùi Hưu!

Ông Bùi Hưu ứng: Dạ!

Ngài Hoàng Bá bảo: Cao tăng ở đâu?

Nhân câu hỏi này, ông Bùi Hưu nhận ra được Cao tăng thật mà ông muốn hỏi.

  • Một vị Thầy đến hỏi Hòa thượng Huyền Sa rằng:

      Con mới vào Tòng lâm, xin Thầy chỉ cho đường

vào.

  Hòa thượng bảo: Thầy có nghe tiếng nước khe yển chảy không?

  Vị Thầy thưa: Dạ nghe!

  Ngài dạy: Từ nơi ấy mà vào!

  • Một hôm, Ngài Quy Tông dạy:

 Hôm nay ta muốn nói Thiền.

 Các đệ tử đều đến gần phía trước.

 Ngài dạy: Hãy nghe hạnh quán âm ứng khắp các nơi chốn!

 Tăng chúng hỏi: Như thế nào là hạnh quán âm?

 Ngài khảy móng tay nói: Các Thầy có nghe chăng?

 Đại chúng đáp: Dạ nghe!

 Ngài nói: Các vị hướng trong ấy kiếm cái gì?

 Ngài liền lấy gậy đuổi ra cười ha hả và trở về phương trượng.

 

BÌNH: Khi nghe các âm thanh, các âm thanh ấy như thế nào thì ta chỉ nghe đúng như thế mà thôi, hoặc trong cái nghe chỉ là cái nghe, thì đó chính là cái tánh nghe không sinh diệt.

---0O0---

 

ĐOẠN VII: DO NHĨ CĂN CHỨNG VIÊN THÔNG

 

1. Thuật lại nhân tu

A. Gặp Phật vâng lời chỉ dạy

Khi ấy Bồ-tát Quán Thế Âm liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ nơi chân Phậtbạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, con nhớ vô số hằng hà sa kiếp về trước có Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm, từ Đức Phật kia con phát tâm Bồ-đề. Đức Phật kia dạy con do từ nghe (văn) suy nghĩ (tư) và tu mà vào Tam-ma-địa.

 

B.  Vâng lời dạy mà thành tựu chứng ngộ

Ban đầu ở trong tính nghe, vào được dòng liền quên tướng bị nghe. Trần tướng đã vắng lặng thì hai tướng động và tịnh rõ thật không sinh.

Như vậy dần dần tăng tiến thêm, các tướng năng văn, sở văn đều hết.

Không dừng lại chỗ dứt hết năng văn, sở văn mà tiến lên nữa, thì năng giác sở giác đều không.

Không giác tột bực viên mãn nên các tướng năng không, sở không đều diệt.

Sinh diệt đã diệt thì bản tính tịch diệt hiện tiền.

 

2. Trình bày kết quả tu đức được quả đức

Bỗng nhiên siêu vượt thế và xuất thế gian, mười

phương tròn sáng được hai pháp thù thắng. Một là trên hợp với Bản Giác Diệu Tâm của Phật, cùng với Phật Như Lai đồng một từ lực; hai là dưới hợp với tất cả lục đạo chúng sinh trong mười phương, cùng với các chúng sinh đồng một bi ngưỡng.

 

Giải thích:

Ở đoạn văn kinh này, Ngài Bồ-tát Quán Thế Âm đã trình bày về nhân duyên hội đạo và nương ở nơi nhân duyên lãnh hội được đạo ấy để tu đạo nên thành vị Đại Bồ-tát lớn.

Bồ-tát Quán Thế Âm dạy rằng, ta phải ở nơi thanh trần mà nhận được tánh nghe thường trụ không sinh diệt. Do lãnh hội được tánh nghe không sinh diệt nên ta mới được dự vào dòng Thánh (Kiến đạo). Vì an trú trong tánh nghe không sanh diệt nên quên đi tướng bị nghe, ấy là phân biệt được rõ ràng đâu là tánh nghe không sinh diệt và đâu là thanh trần sinh diệt. Do an trú tánh nghe không sinh diệt nên hai tướng động tịnh xảy ra làm đối tượng của tánh nghe nhưng vẫn nghe một cách rõ ràng. Do hội được tánh nghe không sinh diệt và luôn an trú tánh nghe này để tu tập nên hai tướng năng văn và sở văn đều lìa. Tại sao như thế? Vì tướng năng văn và sở văn đều là vọng trần phân biệt. Tánh nghe này lìa hết hai tướng năng văn và sở văn.

Tánh nghe đó chính là chân tâm không sinh diệt. Vả lại, chân tâm này cũng là trí vô ngã hay chánh kiến vô lậu. Cho nên, trí tuệ vô ngã gọi là năng giác, vọng niệm suy nghĩ là sở giác. Vì có sở giác (vọng tâm) nên mới có tâm năng giác. Điều này có nghĩa rằng, ta phải luôn luôn an trú tâm năng giác (Trí vô phân biệt) để nhận biết sở giác (vọng tâm). Do ta luôn an trú trong tâm năng giác để nỗ lực tu tập trong đời sống sinh hoạt thường nhật, kể cả khi đi, đứng, nằm, ngồi, mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý đối với pháp trần nên sở giác (vọng niệm) được đoạn trừ. Vì có sở giác (vọng niệm) nên mới có tâm năng giác (nhận biết được vọng niệm). Khi sở giác được đoạn trừ thì tâm năng giác cũng theo đó mà chuyển biến sang một cái thấy, cái biết, chân thật, sáng suốt hơn.

Khi năng giác và sở giác được đoạn trừ thì hành giả mới bước tới giai đoạn năng không và sở không. Như thế nào là năng không và sở không? Năng không và sở không đó là tâm được rỗng lặng mà không còn có tạp niệm sinh diệt gì. Cái tâm rỗng lặng không còn tạp niệm sinh diệt gì là sở không. Cái tâm luôn luôn nhận biết được tâm rỗng lặng, không còn vọng niệm sinh diệt gì, đó chính là năng không.

Khi chúng ta tu tập đạt đến giai đoạn năng không và sở không này rồi thì khi đi, đứng, nằm, ngồi, mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm mà tâm ta vẫn thường rỗng lặng. Tâm rỗng lặng mà lại thường nhận biết. Vì tâm của vị ấy thường rỗng lặng nên khi nói cũng định hay lúc im lặng cũng định. Do không còn có vọng niệm, sinh diệt gì ở nơi tâm cho nên đó chính là trạng thái năng không và sở không.

Tuy đạt được trạng thái tâm năng không và sở không nhưng hành giả vẫn chưa thể sống được với cái tâm rỗng không chân thật bất hoại. Vì thế, vị ấy không thể dừng trụ lại ở trạng thái đó mà phải tiếp tục nỗ lực tu tập để đoạn trừ luôn cả cái tâm năng không và sở không này. Lúc đó vị ấy mới thành tựu được cái không giác rốt ráo, chân thật tột cùng.

  • Ngài Động Sơn hỏi Hòa thượng Long Sơn rằng: Hoà thượng được đạo lý gì bèn về ở núi này?

     Hòa thượng Long Sơn đáp: Ta thấy hai con trâu đất húc nhau rồi nhào xuống biển, thẳng đến nay bặt hết tin tức.

BÌNH:  -Hai con trâu đất húc nhau là chỉ cho giai đoạn năng giác, sở giác và năng không, sở không.

          - Nhào xuống biển, thẳng đến nay bặt hết tin tức đó là chỉ cho năng giác, sở giác và năng không, sở không được đoạn trừ.

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 174217)
01/04/2012(Xem: 20624)
08/11/2018(Xem: 3098)
08/02/2015(Xem: 29994)
10/10/2010(Xem: 100823)
10/08/2010(Xem: 104499)
08/08/2010(Xem: 109475)
21/03/2015(Xem: 12928)
27/10/2012(Xem: 57870)
Chùa Việt Nam tại số 857-863 S. Berendo St., Los Angerles, CA 90005, do Hòa Thượng Thích Như Minh làm Viện Chủ đã tổ chức đêm tiệc chay gây quỹ đúc Đại Hồng Chung Hòa Bình Thế Giới và chuẩn bị cho Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Liên Hữu Việt Mỹ.
Tại Anaheim Convention Center 800 W Katella Avenue CA 92802 lúc 2:00 PM ngày 15 tháng 12 năm 2019 | 10: AM - Triển lãm | - 12:30 PM Pháp Hội Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa - Sinh Hoạt với giới trẻ | - 02:00 PM Đại lễ Đức Phật Thành Đạo và khai mạc Đại Hội GHPG Liên Hữu Mỹ-Việt | - 04:00 Đại Nhạc Hội Ánh Đạo Vàng |- 8:00 PM Bế Mạc
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.