Chương 6: Tìm hiểu về Bát Nhã Tâm Kinh..

08/07/20192:58 SA(Xem: 651)
Chương 6: Tìm hiểu về Bát Nhã Tâm Kinh..
PHẬT ĐẢN 2643 – PHẬT LỊCH 2563
TỲ KHEO THÍCH THẮNG GIẢI
NIỆM ĐỊNH TUỆ HỮU LẬU
VÀ  NIỆM ĐỊNH TUỆ  VÔ LẬU
ẤN HÀNH MÙA PHẬT ĐẢN 2019 MELBOURNE - ÚC CHÂU
 

CHƯƠNG 6

TÌM HIỂU VỀ BÁT-NHÃ TÂM KINH

        I. GIỚI THIỆU BÁT-NHÃ TÂM KINH

 

Bát-nhã Tâm kinh là một bản kinh thuộc Phật giáo Đại thừa, nên hầu hết quý Tăng Ni và các Phật tử theo truyền thống Đại thừa đều thuộc nằm lòng bản kinh này. Bởi Bát-nhã Tâm kinh là một bài kinh vô cùnggiá trị về mặt nội dung, tư tưởngngôn ngữ, đồng thời cũng là bản kinh cốt yếu có thể áp dụng vào đời sống tu tập của mỗi cá nhân, vì thế bản kinh này được đưa vào trong những thời khóa tụng kinh ở các ngôi chùa, tu viện, tịnh viện. Không những như thế, đa phần trong các nghi lễ của Phật giáo Đại thừa đều có tụng Bát-nhã Tâm kinh. Do vậy, Bát-nhã Tâm kinh là một bản kinh đóng vai trò rất quan trọng và tinh yếu của Phật giáo Đại thừa.

Theo nguồn sử liệu ghi chép lại, Bát-nhã Tâm kinh hiện nay mà chúng ta đang đọc tụng chỉ có 260 chữ, nhưng lại bao gồm toàn bộ nội dung chính yếu của 720 cuốn, thuộc trong Đại Bát-Nhã. Với hình thức ngắn gọn về phương diện văn tự, nên nội dung và ý nghĩa của nó hết sức cô đọng, khúc chiết, thâm sâu, rất khó để có thể hiểu hết được ý nghĩa nội hàm của bản kinh.

Sau khi tham cứu các bản Bát-nhã Tâm kinh chú giải, người viết nhận thấy rằng, hầu hết các bản văn kinh đều giải thích tánh Không ở trong Bát-nhã Tâm kinhtánh không của hư không, tánh không của miệng, tánh không của mũi, hoặc tánh không ở nơi các pháp hữu vi. Tánh không ở nơi pháp hữu vi là gì? Đó là cái bàn, một bông hoa, đám mây… đều do bốn đại hợp thành, vì pháp gì do bốn đại hợp thành thì pháp ấy không có một tự tánh độc lập gì cho chính nó, nên gọi là không. Năm thủ uẩnpháp duyên sinh nên không có một thực thể, chủ tể, một tự ngã, một thần ngã, một tự tánhđộc lập bất biến, thường trụ nên cũng gọi là không. Đa phần, các bản Bát-nhã Tâm kinh chú giải của các Ngài đều dạy về nội dung ý nghĩa của tánh Không là như thế. Như vậy, các Ngài giải thích Tánh Không trong Bát-nhã Tâm kinhTánh Không đối với sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức, chứ không phải Tánh Không rỗng lặng không sinh diệt của Trí tuệ Vô lậu (Trí tuệ Bát-nhã).

Sau này, Hòa thượng Thanh Từ có giảng bài để bổ túc thêm ý nghĩa của bản kinh Bát-nhã, thông qua câu: “Thị chư pháp không tướng bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.” Hòa thượng dạy: “Ý nghĩa của đoạn văn kinh này là chỉ cho pháp thân bất sinh bất diệt. Kiến giải này là kiến giải cuối cùng của tôi”.

Khi đọc Bát-nhã Tâm kinh giảng lục của Thiền sư Nguyệt Khê - Tâm Viên do Đặng Hữu Trí dịch, phẩm Bát-nhã trong Pháp bảo đàn do HT.Thanh Từ dịch, thì cho thấy rằng hai văn bản này đều giống nhau

về mặt nội dung và giải thích ý nghĩa .

Trong cuốn Tâm kinh giảng lục của Thiền sư Nguyệt Khê - Tâm Viên, chúng ta thấy từ tựa đề bản kinh cho đến kết thúc bản kinh, Ngài Nguyệt Khê - Tâm Viên dạy rằng: Tánh Không ở trong Bát-nhã Tâm kinhtánh không rỗng lặng của Phật tánh, Chân như, Pháp thân và Tánh giác. Cho nên, người viết chỉ dựa vào nội dung cuốn Tâm kinh giảng lục của Ngài Nguyệt Khê - Tâm Viên và phẩm Bát-nhã trong Pháp bảo đàn của Lục tổ để viết lời giải thích về Tâm kinh Bát-nhã, nhưng hoàn toàn không ra ngoài nội dung, ý nghĩa của hai văn bản Tâm kinh giảng lục của Thiền sư Nguyệt Khê - Tâm Viên và phẩm Bát-nhã trong Pháp bảo đàn kinh của Lục tổ.

Tuy cái thấy, cái hiểu hạn hẹp và lời văn quê mùa, nhưng người viết đã vận dụng để trình bày những kiến giải của mình về nội dung, tư tưởng của bản Bát-nhã Tâm kinh để làm một món quà tinh thần gởi tặng cho những bạn đồng tu, các học trò cũng như các Phật tử gần xa.

 

MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA

TÂM KINH

 

ÂM HÁN

Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chílão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

vô sở đắc cố, bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã ba-la-mật-đa, cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã ba-la-mật-đa, cố đắc a-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

 

VIỆT DỊCH

(Chủ yếu theo bản dịch của Hòa thượng Thái Hòa )

 

Bồ-tát Quán Tự Tại , khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không nên Ngài liền vượt qua tất cả khổ ách.

Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác gì tánh không, tánh không chẳng khác gì sắc; sắc chính là tánh không, tánh không chính là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy.

Này Xá-lợi-phất! Pháp không tướng ấy chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng dơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt. (Đoạn này theo lời dịch của tác giả)

Cho nên trong tánh không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có diệt tận của vô minh; cho đến không có già chết cũng không có diệt tận của già chết; không có khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo
 đế; không có trí cũng không có chứng đắc.

Vì không có sở đắc, Bồ-tát sống với Bát-nhã ba-la-mật-đa, nên Tâm không chướng ngại. Vì tâm khôngchướng ngại nên không có sợ hãi, xa lìa mọi điên đảo, mộng tưởng, đạt Niết-bàn tuyệt đối.

Chư Phật trong ba đời sống đúng như Bát-nhã ba-la-mật-đa nên chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng        
Chánh giác.
          Nên biết, Bát-nhã ba-la-mật-đathần chú vĩ đại, là minh chú vĩ đại, là thần chú tối thượng, là thần chú không thể so sánh bằng, chấm dứt mọi khổ đau, chân thật không hư vọng.

Vì vậy nói chú Bát-nhã ba-la-mật-đa, liền nói chú rằng:

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.


 

II. Ý NGHĨA NỘI DUNG

BÁT-NHÃ

TÂM KINH

 

A. GIẢI THÍCH ĐỀ KINH “Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh”.

 

  • Ma-ha nghĩa là lớn.
  • Bát-nhãtrí tuệ, Bát-nhã gồm có 3 loại: Văn tự Bát-nhã, quán chiếu Bát-nhã và thực tướng Bát-nhã.

 

1. Văn tự Bát-nhã:

Văn tự Bát-nhã nghĩa là tụng đọc hay nghe giảng về ngôn ngữ của Bát-nhã. Ví dụ: Sau khi chúng ta đã đọc và nghe nội dung của các bản kinh Bát-nhã Tâm kinh, Kinh Kim cang, Kinh Lăng nghiêm, Kinh Duy Ma Cật, và Kinh Pháp hoa, đúng như lời Đức Phật dạy tất cả chúng sinh hữu tình đều có sẵn cái trí tuệ Bát-nhã hoặc chân tâm không sinh diệt. Đó gọi là văn tự Bát-nhã.

2. Quán chiếu Bát-nhã:

Trong Pháp bảo đàn, phẩm Bát-nhã, Lục tổ dạy: “Hãy dùng trí tuệ Bát-nhã để đập phá ngũ uẩn”. Do vậy, ta phải bắt đầu từ phương tiện Bát-nhã, rồi sau đó mới đi tới việc quán chiếu Bát-nhã. Trí tuệ Bát-nhã này là trí tuệ gì? Đó là trí tuệ Vô lậu. Vì trí tuệ vô lậu nên đó là chân tâm không sinh diệt. Do đó, nội dung của việc quán chiếu Bát-nhã là hành giả phải lãnh hội được trí tuệ vô lậu, rồi sau đó an trú trong trí tuệ Bát-nhã này để tu tập và đoạn trừ sự tập khởi của năm thủ uẩn.

Trong Pháp bảo đàn, phẩm Bát-nhã Lục tổ lại dạy: “Bát-nhã là trí tuệ. Tất cả chỗ, tất cả thời, mỗi niệm không ngu, thường thực hành trí tuệ là Bát-nhã hạnh. Một niệm ngu tức là Bát-nhã bặt, một niệm trí tuệ là Bát-nhã sinh.”

Vì vậy, chúng ta phải an trú vào trí tuệ Bát-nhã để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ, không và phi ngã. Thế nào là sự nhận biết của trí tuệ Bát-nhã? Chính là khi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức xảy ra như thế nào, thì ta chỉ nhận biết chúng đúng thật sự là vô thường, khổ và vô ngã như vậy, mà không khởi tâm thủ hay xả gì cả. Đó gọi là Trí tuệ Bát-nhã (Trí tuệ vô lậu).

 

3. Thực tướng Bát-nhã

Thực tướng tức là không tướng, vì không tướng nên đó mới là tướng thực. Do thực tướngkhông tướng cho nên xa lìa tất cả tướng hư vọng sinh diệt của năm thủ uẩn, nhờ vậy mới đạt được không tướng rỗng lặng, không sinh không diệt của Bát-nhã.

Thế thì thực tướng đối với pháp gì? Đó là thực tướng của Bát-nhã. Thế nào là đạt được thực tướng của Bát-nhã? Chúng ta phải xuất phát từ văn tự Bát-nhã, quán chiếu Bát-nhã thì mới đạt được thực tướng của Bát-nhã. Vậy muốn đạt được thực tướng của Bát-nhã thì ta phải trải qua quá trình tu tập như thế nào?

Trước hết chúng ta phải lãnh hội, thẩm thấu được trí tuệ Bát-nhã, rồi an trú vào trí tuệ Bát-nhã này để tu tập, đoạn trừ sự tập khởi của năm thủ uẩn. Do đã đoạn trừ được sự tập khởi của năm thủ uẩn nên Khổ đế, Tập đế được đoạn trừ. Vì Khổ đế, Tập đế được đoạn trừ nên hành giả mới đạt được thực tướng chân thật của Bát-nhã. Vì thực tướng của Bát-nhã là không tướng rỗng lặng không sinh diệt nên cũng đồng nghĩa với Niết-bàn.

Trong Kinh Lăng nghiêm, đoạn Nhĩ căn viên thông, Bồ-tát Quan Thế Âm dạy: “Năng giác, sở giác đều tiêu, năng không, sở không đều diệt thì mới đạt được cái không giác tột cùng.”

Như vậy, chúng ta muốn đạt được “Cái không giác tột cùng” thì phải đoạn trừ “năng giác, sở giác, năng không và sở không.” Cái không giác tột cùng này là thực tướng rỗng lặng không sinh không diệt của Bát-nhã.

  • Ba-la-mật-đa: Hán phiên âm Ba-la-mật-đa và dịch có bốn nghĩa:

1. Đáo bỉ ngạn: Nghĩa là đến bờ kia. Bờ bên này là chỉ cho sinh tử, bờ bên kia là chỉ cho Niết-bàn, an lạc.

2. Độ vô cực: Do an trú trí tuệ Bát-nhã tu tập nên đoạn trừ phân đoạn sinh tửbiến dịch sinh tử.

3. Viễn ly: Do an trú trí tuệ Bát-nhã mà xa lìa   hết thảy hư vọng sinh diệt của năm thủ uẩn nên đạt
 Niết Bàn.
          4. Cứu cánh: Do an trú trí tuệ Bát nhã tu tập nên đạt được thực tướng của Bát-nhã hay Niết-bàn.

  • Tâm:tinh túy, tinh yếu, đó là chân tâm không sinh diệt.
  • Kinh: Những lời dạy của Đức Phật.

 

Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh là một bản kinh mô tả tâm trí tuệ rộng lớn cứu cánh, hay tâm trí tuệ rộng lớn vô tướng. Trong Pháp bảo đàn, phẩm Bát-nhã, Lục tổ dạy: “Nếu thấy tất cả người ác, người lành mà tâm không chấp, không bỏ, không nhiễm trước, tâm như hư không nên nói là Ma-ha.”

Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâmchân tâm không sinh diệt. Vì chân tâm không sinh diệt nên không tướng; vì chân tâm không tướng nên đó là Ma-ha, là Bát-nhã, là Ba-la-mật-đa. Chính cái tâm không tướng rỗng lặng của Bát-nhã là định tuệ đồng thời. Vì sao? Vì cái tâm không tướng rỗng lặng là định và Bát-

nhã chính là tuệ.

 

B. GIẢI THÍCH VĂN KINH

ĐOẠN 1

HÁN: Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

VIỆT: Bồ-tát Quán Tự Tại, khi thực hành Bát-nhã Ba-la-mật-đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không nên Ngài liền vượt qua tất cả khổ ách.

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ:

  • Bồ-tát Quán Tự Tại là một vị Đại Bồ-tát. Vì Ngài đã đoạn trừ phân đoạn sinh tửbiến dịch sinh tử.
  • Bát-nhãtrí tuệ. Trí tuệ gồm có trí hữu lậu và trí vô lậu. Bát-nhã là trí tuệ vô lậu. Vì trí tuệ vô lậu nên đó là tâm vô lậu. Vì tâm vô lậu nên tâm này là định tuệ đồng thời. Như thế nào là định tuệ đồng thời? Tâm không tướng rỗng lặng nên đối với muôn vật mà không khởi phân biệt thiện ác, có không, đó chính là định. Nhận biết tâm không tướng rỗng lặng, đối với các cảnh không sinh vọng tưởng, ấy là trí tuệ.
  • Ba-la-mật-đa: Có bốn nghĩa như đã giải thích ở trước.
  • Năm uẩn: Uẩn là sự tập hợp, tụ hợp. Năm uẩn là năm tập hợp hình thành thân và tâm của một chúng sinh. Năm uẩn gồm có:

1. Sắc uẩn: Đó là yếu tố vật chất bao gồm: Địa, thủy, hỏa, phong.

2. Thọ uẩn: Tập hợp của những cảm giác.

3. Tưởng uẩn: Tập hợp của những tri giác.

4. Hành uẩn: Tập hợp của những ý chí tạo nghiệp.

5. Thức uẩn: Tập hợp của những nhận thức.

  • Khổ ách:Khổ đếTập đế.

 

Giải thích:

Nội dung chủ yếu của đoạn văn kinh số một này là: Bồ-tát bằng trí tuệ Bát-nhã hoặc bằng trí tuệ vô lậu, đoạn trừ sự tập khởi của năm thủ uẩn, đó là Khổ đế, Tập đế. Do đoạn trừ Khổ đế, Tập đế nên Bồ-tát thể nhập trong thực tướng của Bát-nhã. Vì thực tướngkhông tướng rỗng lặng nên ở trong không tướng rỗng lặng không sinh diệt này soi thấy không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn. Vì ở trong không tướng rỗng lặng không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn nên Ngài liền vượt qua tất cả Khổ đế, Tập đế.

Lại nữa, Bồ-tát Quán Tự Tại an trú vào trí tuệ vô ngã hoặc tâm không sinh diệt, đoạn trừ phân đoạn sinh tử (chấp ngã) và biến dịch sinh tử (chấp pháp) nên Ngài thể nhập hoàn toàn trong thực tướng của Bát-nhã. Vì thực tướngkhông tướng rỗng lặng nên ở trong không tướng rỗng lặng không sinh diệt này soi thấy không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn nên Ngài liền vượt qua tất cả Khổ đế, Tập đế.

 

 

III. ĐỐI CHIẾU NỘI DUNG ĐOẠN BÁT-NHÃ TÂM KINH SỐ 1 VỚI CÁC GIÁO LÝ TRỌNG YẾU CĂN BẢN VÀ CÁC KINH KHÁC

 

1. GIÁO LÝ TỨ THÁNH ĐẾ

Khi một hành giả đã kiến đế hay kiến đạo, đó là lãnh hội được chánh kiến vô lậu hoặc tâm không sinh diệt. Vị ấy an trú chánh kiến vô lậu để tu tập, đoạn trừ Khổ đếTập đế. Do hành giả đã đoạn trừ Khổ đếTập đế nên thể nhập vào Niết-bàn. Vì hành giả thể nhập Niết-bàn nên ở trong Niết-bàn soi thấy không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn (Khổ đế, Tập đế).

 

2. GIÁO LÝ 12 DUYÊN KHỞI

Khi một hành giả lãnh hội được minh (chánh kiến vô lậu) và an trú minh để đoạn trừ vô minh, ái, thủ và hữu. Do vô minh, ái, thủ và hữu được đoạn trừ nên minh sinh. Vì minh đã sinh nên ở trong tâm minh này soi thấy không có sự tập khởi của vô minh, ái, thủ, hữu. Đó là không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn. Vì ở trong tâm minh này soi thấy không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn nên liền vượt qua Khổ đế, Tập đế.

 

3. KINH VÔ THƯỜNG

Nhờ an trú trong trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ và phi ngã nên hành giả đoạn trừ được sự tập khởi của năm thủ uẩn. Do hành giả đoạn trừ sự tập khởi của năm thủ uẩn nên đạt được Niết-bàn của bậc Thánh A-la-hán. Do hành giả đạt Niết-bàn nên ở trong Niết-bàn quán chiếu không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn nên liền vượt qua Khổ đế, Tập đế.

 

4. NỘI DUNG CỦA KINH SỐ 468, 480, KINH SỐ 84, TRUNG A-HÀM

Hành giả quán sát ba thọ nên đoạn trừ được ba thọ. Đó là đoạn trừ ba thọ ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Vì ba thọ ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức được đoạn trừ nên toàn bộ năm thủ uẩn được đoạn trừ. Năm thủ uẩn được đoạn trừ, ấy là Khổ đếTập đế được đoạn trừ. Do Khổ đếTập đế được đoạn trừ nên hành giả thể nhập Niết-bàn. Vì hành giả thể nhập Niết-bàn nên ở trong Niết-bàn soi thấy không có sự sinh diệt của năm thủ uẩn nên liền vượt qua Khổ đế, Tập đế.

 

5. KHÁCH CHỦ TRONG KINH LĂNG NGHIÊM

Hành giả lãnh hội được tâm chủ không sinh diệt và an trú tâm chủ này để tu tập đoạn trừ hoàn toàn tâm khách. Do tâm khách được đoạn trừ hoàn toàn nên hành giả sống được với tâm chủ không sinh diệt. Ngay trong tâm chủ không sinh diệt này quán sát không có sự sinh diệt của tâm khách (năm thủ uẩn) nên liền vượt qua Khổ đế, Tập đế.

 

ĐOẠN 2

HÁN: Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc;
 sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

VIỆT: Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác gì tánh không, tánh không chẳng khác gì sắc; sắc chính là tánh không, tánh không chính là sắc; Thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy.

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

  • Sắc: Có 11 loại, đó là năm căn, năm trần và pháp trần.
  • Tánh không:tánh không rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã (Trí tuệ Vô Lậu).

 

Giải thích:

“Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác gì tánh không, tánh không chẳng khác gì sắc; sắc chính là tánh không, tánh không chính là sắc”.

Khi mắt nhìn các sắc, tai nghe các âm thanh, mũi ngửi các hương, lưỡi nếm các vị, thân xúc chạm các vật, ý đối với pháp trần sinh diệt, ở nơi các đối tượng muôn vật ấy, chúng hiện hữu như thế nào, thì chúng ta chỉ nhận thấy đúng như thật thế thôi, không khởi lên tâm niệm ái, thủ và hữu gì cả. Đó là sắc chẳng khác gì tánh không, tánh không chẳng khác gì sắc, sắc chính là tánh không, tánh không chính là sắc. Vì sao? Bởi vì đây là tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh vị, tánh xúc và tánh biết không sinh diệt. Vì chân tâm không sinh  diệt nên không có một ý niệm khác biệt gì giữa sắc và tâm.

Trong Kinh Lăng nghiêmđoạn Đức Phật bảo: “Đại vương, như ông đã nói: Khi hai mươi tuổi đã già hơn lúc mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, năm tháng ngày giờ, niệm niệm dời đổi. Vậy khi ông ba tuổi thấy nước sông Hằng, đến mười ba tuổi cái thấy nước sông ấy thế nào?”

Vua thưa: “Như khi ba tuổi rõ ràng không khác và cho đến nay con sáu mươi hai tuổi, cái thấy vẫn không khác.”

Phật bảo: “Nay ông tự cảm thương tóc bạc mặt nhăn, mặt ông nhất định là nhăn hơn lúc trẻ. Vậy cái thấy của ông hiện nay xem thấy sông Hằng, cùng với khi xưa còn trẻ xem thấy sông Hằng, cái thấy đó có già có trẻ chăng?”

Vua thưa: “Bạch Thế Tôn, không vậy.”

Phật bảo: “Đại vương, mặt ông tuy nhăn, mà tánh thấy này  chưa từng bị nhăn. Cái bị nhăn thì biến đổi, còn cái chẳng bị nhăn thì không biến đổi. Cái biến đổi thì phải chịu hoại diệt, cái chẳng biến đổi kia vốn không sinh diệt.”

Cái thấy không khác chính là chân tâm không sinh diệt hay trí tuệ Bát-nhã. Vì thế, chúng ta phải ở nơi chỗ mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm và ý đối với pháp trần sinh diệt này để lãnh hội được chân tâm không sinh diệt và luôn an trú trong chân tâm không sinh diệt ấy để nhận biết các sắc và sự tập khởi của sắc là vô thường, khổ và phi ngã.

Kinh: “Thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy”.

 

Giải thích:

Sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức xảy ra như thế nào, thì ta an trú trí tuệ để nhận biết chúng đúng như thật mà thôi, không sinh khởi tâm ái nhiễm hay bám chấp bất cứ điều gì cả. Đó là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức chẳng khác gì tánh không, tánh không chẳng khác gì sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức; sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức chính là tánh không, tánh không chính là sự tập khởi của thọ, tưởng, hành và thức.

Tánh Khôngtánh không rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã. Cho nên, chúng ta phải ở nơi sự tập khởi của năm uẩn để lãnh hội tánh không của Bát-nhã và luôn an trú tánh không của Bát-nhã để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ, không và phi ngã.

Tánh Không rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã chính là chân tâm không sinh diệt. Vì chân tâm không sinh diệt nên chính là định tuệ đồng thời. Như thế nào gọi là định tuệ đồng thời? Tâm rỗng lặng không sinh diệt là định, nhận biết tâm thường rỗng lặng không sinh diệt là tuệ. Do đó, chúng ta phải ở nơi sự tập khởi của năm thủ uẩnlãnh hội chân tâm không sinh diệt và luôn an trú chân tâm không sinh diệt, để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, không và phi ngã.

Năm thủ uẩnKhổ đếTập đế, cho nên phải ở nơi Khổ đế, Tập đế mà nhận được Đạo đếDiệt đế; đồng thời luôn an trú trong Đạo đế, Diệt đế để đoạn trừ Khổ đế, Tập đế.

Năm thủ uẩnvô minh nên phải ở nơi vô minh để lãnh hội được minh và luôn an trú minh để nhận biết sự tập khởi của vô minh. Minh chínhchân tâm không sinh diệt hay là trí tuệ Bát-nhã.

Trong Tạp A-hàm, Kinh Ngũ chuyển, Đức Phật dạy rằng: “Ta có năm như thật tri, đó là như thật tri về sắc, sự tập khởi của sắc, vị ngọt của sắc, sự tai hại của sắc, sự xuất ly sắc, như thật tri về sự tập khởi của thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.”

Chúng ta phải ở nơi sự tập khởi của năm thủ uẩnlãnh hội tâm như thật tri và luôn an trú tâm như thật tri ấy để nhận biết sự tập khởi của năm thủ uẩnvô thường, khổ, không và phi ngã.

Vì thế, ta hiểu rằng năm thủ uẩn chẳng khác gì tâm như thật tri, và tâm như thật tri chẳng khác gì năm thủ uẩn; sự tập khởi của năm thủ uẩn chính là tâm như thật tri và tâm như thật tri chính là sự tập khởi của năm thủ uẩn.

Trong Triệu luận phẩm Bát-nhã vô tri của Ngài Tăng Triệu (bản dịch của HT. Duy Lực) nói rằng: “Sự linh động nhiệm mầu của Bát-nhã là căn bản cùng cực của Tam thừa. Kỳ thật, chơn tâm bất nhị chẳng có sai biệt. Sự chiếu dụng của Bát-nhã không cần tác ý cho nên chơn tâm của bậc Thánh trống rỗng trong sạch chừng nào, thì sự chiếu dụng đầy đủ chừng ấy, do đó suốt ngày tri mà như chưa từng tri vậy.

Cái dụng của Bát-nhã chơn thật mà bản thể trống rỗng, bản thể trống rỗng mà sự dụng vẫn chẳng phải không, sự dụng vốn thường còn mà không thể luận bàn nghĩ ngợi, ấy là “Diệu” của bậc Thánh vậy.

Nên Bát-nhã có cái thể trống rỗng mà thường chiếu soi, chơn đế có cái thể tịch diệthiểu biết, vạn vật có thể náo động mà ngay đó thường tịch, sự ứng cơ của bậc Thánh có thể trống rỗng mà vẫn làm thành, vậy thì chẳng biết mà tự biết, chẳng làm mà tự làm”.

Ngài Triệu Châu đã dạy cho người thị giả rằng: “Nhân một hôm, Ngài chỉ lửa nói: Đây là lửa nhưng con đừng gọi là lửa, ta đã dạy cho con xong. Con có lãnh hội lời ta dạy không? Người thị giả vẫn không lãnh hội được cho nên Ngài đến gắp lửa đưa lên rồi tiếp tục hỏi thị giả: Con có lãnh hội không?”

Đây là lửa nhưng đừng gọi tên nó là lửa, là đạo hiện tiền. Cũng vậy, đây là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, nhưng đừng gọi tên sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, thì đó chính là trí tuệ Bát-nhã hiện tiền.

Lại nữa, đây là sắc, thọ, tưởng, hành và thức nhưng đừng gọi tên sắc, thọ, tưởng, hành và thức, tức chính là trí tuệ Bát-nhã hiện tiền. Đó là sắc chẳng khác gì tánh không, tánh không chẳng khác gì sắc... Thọ, tưởng, hành và thức cũng lại như vậy.

Vì vậy, trong bài thơ “Cư trần lạc đạo” của Ngài Trần Nhân Tông có viết:

 

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

  Đói đến thì ăn mệt ngủ liền.

  Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

  Đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền”.

                            (Hòa thượng Thanh Từ dịch)

 

Thật vậy, “đối cảnh vô tâm” chính là khi đối với các sắc mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm và ý đối với pháp trần sinh diệt, mà không sinh khởi một ý niệm năng thủsở thủ gì nên sắc chẳng khác gì tánh không, tánh không cũng chẳng khác gì sắc, và thọ, tưởng, hành và thức cũng lại như vậy.

Tóm lại, tánh Không là chỉ cho tánh không rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã. Tánh Không của Bát-nhã là tâm không sinh diệt. Vì tâm không sinh diệt nên tất cả chỗ không tâm; vì tất cả chỗ không tâm nên không có chỗ trụ; vì không có chỗ trụ nên năm thủ uẩn này chẳng khác gì tâm không rỗng lặng và tâm không rỗng lặng chẳng khác gì năm thủ uẩn ấy vậy.

 

 

 

 

IV. ĐỐI CHIẾU NỘI DUNG Ý NGHĨA ĐOẠN BÁT-NHÃ TÂM KINH SỐ 2 VỚI ĐOẠN VĂN KINH TRONG THỦ LĂNG NGHIÊM

“Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác gì tánh không, tánh không chẳng khác gì sắc; sắc chính là tánh không, tánh không chính là sắc; Thọ, tưởng, hành, thức cũng là như vậy.”

Ngài A-nan thưa với Đức Thế Tôn! Con nhìn khắp rừng Kỳ Đà này chẳng biết trong đó có cái gì không phải là cái thấy. Tại sao như thế? Nếu cây chẳng phải là cái thấy thì làm sao thấy được cây? Nhưng nếu cây là cái thấy thì sao gọi là cây? Như thế cho đến nếu hư không chẳng phải là cái thấy, thì làm sao thấy được hư không. Nếu hư không tức là cái thấy, thì sao lại là hư không? Tóm lại con suy nghĩ: Trong muôn vật đó phát minh cho kỹ lưỡng, thật không có cái gì chẳng phải là cái thấy cả. Đức Phật dạy: Đúng thế! Đúng thế!

Nếu tư duy chiêm nghiệm, ta sẽ thấy hai đoạn

văn kinh này có ý nghĩa giống nhau.

ĐOẠN 3

HÁN: Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.

VIỆT: Này Xá-lợi-phất! Pháp không tướng ấy chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng dơ, chẳng sạch, chẳng thêm,
 chẳng bớt.

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

            Pháp Không Tướngkhông tướng của Bát-nhã.

 

GIẢI THÍCH NỘI DUNG

Pháp không tướng là không tướng rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã. Không tướng của Bát-nhã là chân tâm không sinh diệt hay chánh kiến vô lậu. Vì vậy, tâm này chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng dơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt.

 

“Pháp gốc pháp không pháp,

  Pháp không pháp cũng pháp.

  Nay khi trao không pháp,

  Mỗi pháp đâu từng pháp”.

(Đức Phật trao cho Ngài Ca Diếp

Hòa thượng Thanh Từ dịch)

  “Bồ-đề vốn không cây,

    Gương sáng cũng chẳng đài.

    Xưa nay không một vật,

   Chỗ nào dính bụi nhơ”.

                          (Lục tổ - Hòa thượng Thanh Từ dịch)

 

Nội dung của hai bài kệ này là mô tả về không pháp. Không pháptâm không sinh diệt. Do tâm không sinh diệt nên tâm này xưa nay không có một vật. Do tâm không có một vật nên tâm này chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng dơ, chẳng sạch, chẳng thêm, chẳng bớt.

Một thời, Ngài Xá-lợi-phất đến thăm Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn thấy nhan sắc của Ngài Xá-lợi-phất tươi nhuận nên Đức Thế Tôn hỏi: “Thầy Xá-lợi-phất do an trú tam muội (định) nào mà được nhan sắc tươi nhuận như thế?”

Ngài Xá-lợi-phất thưa với Đức Thế Tôn rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn, con do an trú không tam muội mà được nhan sắc tươi nhuận như thế này!”

Đức Phật dạy: “Không tam muộitối thượng, là vua tất cả tam muội. Do đạt được không tam muội mà đoạn trừ ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh tướng, thọ giả tướng. Vì đạt được không tam muội nên đoạn trừ bốn tướng như thế cho nên cũng đạt được vô nguyện tam muội (vô tác) và vô tướng tam muội.

Đức Phật dạy tiếp: “Tất cả chúng sinh trôi nổi trong sinh tử mãi mà không có thời điểm kết thúc là do không đạt được không tam muội. Ta do đạt được không tam muội này nên thành Vô thượng chánh đẳng giác.” (Kinh Tăng nhất A-hàm, kinh số 6, phẩm 45- Hòa thượng Tuệ Sỹ dịch)

Bồ-tát Thâm Huệ nói trong Kinh Duy Ma Cật của Thầy Tuệ Sỹ dịch, phẩm Bất nhị nói rằng: “Đây là không, đây là vô tướng, đây là vô tác, là hai. Nhưng không tức là vô tướng, vô tướng tức là vô tác. Không, vô tướng, vô tác tức là không tâm, không ý, không thức. Ở trong một giải thoát môn cũng chính cả ba giải thoát môn. Đó là vào cửa pháp môn bất nhị.”

Không tam muội, vô nguyện tam muộivô tướng tam muội này là chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng dơ, chẳng sạch, chẳng thêm và chẳng bớt.

 

ĐOẠN 4

HÁN: Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chílão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

VIỆT: Cho nên trong tánh không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có diệt tận của vô minh; cho đến không có già chết cũng không có diệt tận của già chết; không có Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế; không có trí cũng không có chứng đắc.

 

GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

  • Tánh Khôngtánh không của Bát-nhã hoặc là không tướng của Bát-nhã.
  • Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
  • Sáu cănnhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căný căn.
  • Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
  • 18 giới là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Đó là sáu giới hạn thuộc về căn, sáu giới hạn thuộc về trần, sáu giới hạn thuộc về thức.
  • Giới là khu vực giới hạn hay thế giới.
  • Pháp 12 duyên khởivô minh, hành, thức, danh sắc…lão-tử.
  • Tứ Thánh đếKhổ đế, Tập đế, Diệt đếĐạo đế.

 

GIẢI THÍCH NỘI DUNG

Trong tánh Không của Bát-nhã hoặc trong pháp không tướng rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã không có năm thủ uẩn, không có sáu căn, sáu trần, không có 18 giới, không có pháp 12 duyên khởi, không có Tứ Thánh đế, không có trí cũng không có chứng đắc. Vì sao? Vì cái không tướng rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã không có các pháp hữu vi sinh diệt.

Kinh: “Không có Diệt đế và Đạo đế”.

Chính cái tâm không tướng rỗng lặng của Bát-nhã là Đạo đế, Diệt đế. Vì Đạo đếDiệt đếvô lậu nên không sinh khởi khái niệm cho rằng đây là diệt đế và đây là đạo đế. Cho nên Kinh nói: Không có Đạo đếDiệt đế, chứ không phải không có Đạo đếDiệt đế (Vô lậu).

Kinh: “Không trí”

Bát-nhã là trí tuệ vô lậu. Bởi trí tuệ vô lậu nên không có ý niệm cho rằng đây là trí và đây không phải là trí. Vì sao? Vì trí tuệ Bát-nhã không tồn tại hai tướng “phải”“chẳng phải”. Vì vậy, Kinh nói: “Không có trí, chứ không phải không có trí tuệ Bát-nhã này.”

Kinh: “Không có chứng đắc”.

Vì cái không tướng của Bát-nhã là rỗng lặng

không sinh diệt nên không có một pháp nào để chứng đắc, nhưng không phải là không chứng đắc. Vì sao? Vì vốn có cái không tướng không sinh diệt của Bát-nhã này. Cho nên Kinh nói: “Không có chứng đắc”.

Trong Kinh Lăng nghiêm có đoạn: “Này Văn Thù, nay tôi hỏi ông, như ông là Văn Thù, lại có Văn Thù phải là Văn Thù hay không phải Văn Thù?”

Đúng như thế bạch Đức Thế Tôn! Con nay thật là Văn Thù, không có phải là Văn Thù. Vì sao? Vì nếu có phải là Văn Thù thì có hai Văn Thù.

Con hiện nay chẳng phải là Không Văn Thù, trong ấy thật Không có hai tướng “phải” hay “chẳng phải”.

Cái không tướng rỗng lặng của Bát-nhã không tồn tại hai tướng “phải” hay “chẳng phải” nên Kinh nói: “Không có trí cũng không có chứng đắc”.

 

ĐOẠN 5

HÁN: vô sở đắc cố, bồ-đề tát đỏa y Bát-nhã ba-la-mật-đa, cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã ba-la-mật-đa, cố đắc a-nậu-đa-la-tam-miệu-tam bồ-đề.

VIỆT: Vì không có sở đắc, Bồ-tát sống với Bát-nhã ba-la-mật-đa, nên Tâm không chướng ngại. Vì Tâm khôngchướng ngại nên không có sợ hãi, xa lìa mọi điên đảo, mộng tưởng, đạt Niết-bàn tuyệt đối.

Chư Phật trong ba đời sống đúng như Bát-nhã ba-la-mật-đa nên chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

 

Giải thích:

Bồ-tát bằng trí tuệ Bát-nhã hoặc trí tuệ vô ngã đoạn trừ phân đoạn sinh tử (chấp ngã) và biến dịch sinh tử (chấp pháp) nên thể nhập được không tướng rỗng lặng của Bát-nhã. Vì ở trong cái không tướng rỗng lặng của Bát-nhã này nên không có một pháp gì để chứng đắc. Vì không có một pháp gì để chứng đắc nên tâm của Bồ-tát không có sự chướng ngại bởi phiền não chướngsở tri chướng. Tâm của Bồ-tát không còn bị chướng ngại bởi chấp ngãchấp pháp nên không có sự sợ hãi, xa lìa hết thảy điên đảo, mộng tưởng của năm thủ uẩn nên đạt được Niết-bàn tuyệt đối.

Chư Phật ở trong quá khứ, hiện tạivị lai sống hoàn toàn viên mãn với thực tướng rỗng lặng không sinh diệt của Bát-nhã nên thành Phật.

 

ĐOẠN 6

HÁN: Cố tri Bát-nhã ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

VIỆT: Nên biết, Bát-nhã ba-la-mật-đathần chú vĩ đại, là minh chú vĩ đại, là thần chú tối thượng, là thần chú không thể so sánh bằng, chấm dứt mọi khổ đau, chân thật không hư vọng.

 

Giải thích:

Bát-nhã ba-la-mật-đatrí tuệ vô lậu được so sánh giống như một thần chú vĩ đại, một minh chú vĩ đại, một thần chú tối thượng, một thần chú không thể có một pháp gì so sánh bằng. Do nhờ công năng diệu dụng của trí tuệ Bát-nhã này mới đoạn trừ Khổ đế, Tập đế, chấm dứt dòng lưu chuyển sinh tử. Bởi trí tuệ Bát-nhã là chân thật không hư vọng.

 

ĐOẠN 7

HÁN: Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

 

VIỆT: Vì vậy nói chú Bát-nhã ba-la-mật-đa, liền nói chú rằng:

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha”.

“Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha.

 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 174135)
01/04/2012(Xem: 20569)
08/11/2018(Xem: 3085)
08/02/2015(Xem: 29931)
10/10/2010(Xem: 100817)
10/08/2010(Xem: 104486)
08/08/2010(Xem: 109451)
21/03/2015(Xem: 12914)
27/10/2012(Xem: 57843)
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.
Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm khoảng 1% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ và khoảng hai phần ba Phật tử Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Á. Trong số những người Mỹ gốc Á, 43% là người Mỹ gốc Việt và một phần tư người Mỹ gốc Nhật xác định là Phật tử, phần còn lại là Kitô hữu hoặc không có tôn giáo nào.
Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán với âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung quốc là chuyện từ nghìn năm và đang tiếp diễn đến ngày nay. Hiện tại chúng đã bao vây trọn vẹn biển Đông và biên giới phía Bắc đang chuẩn bị đưa binh lực tràn qua biên giới để tấn công Việt Nam một lần nữa. Đó là nhận định của nhà phân tích chiến lược David Archibald trong bài viết nhan đề “Advice for Our Vietnamese Friends on China” (Lời Khuyên Gửi Các Bạn Việt Nam Của Tôi về TQ) đăng trên tạp chí American Thinker ngày 27/9/2019. Thực sự Tổ quốc Việt Nam đang lâm nguy, người Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, và thờ ơ. Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen là những Phật tử đồng thời là con dân của nước Việt nên chúng tôi chưa biết làm gì hơn là truyền đạt thông tin này đến tất cả mọi người dân yêu nước.