Chương 8: Chân Kiến Đạo Trong Luận Thành Duy Thức

16/09/20194:05 SA(Xem: 1048)
Chương 8: Chân Kiến Đạo Trong Luận Thành Duy Thức

PHẬT ĐẢN 2643 – PHẬT LỊCH 2563
TỲ KHEO THÍCH THẮNG GIẢI
NIỆM ĐỊNH TUỆ HỮU LẬU
VÀ  NIỆM ĐỊNH TUỆ  VÔ LẬU
ẤN HÀNH MÙA PHẬT ĐẢN 2019 MELBOURNE - ÚC CHÂU
 

CHƯƠNG 8

CHÂN KIẾN ĐẠO TRONG LUẬN THÀNH DUY THỨC

    (Theo Luận thành duy thức HT. Tuệ Sỹ dịch và chú)

 

Theo chủ trương của Luận thành duy thức, một hành giả tu tập để đoạn trừ Phiền não chướng (chấp Ngã) và Sở tri chướng (chấp Pháp), thì phải đạt được Chân kiến đạo. Muốn đạt được Chân kiến đạo, thì hành giả phải trải qua hai giai đoạn tu tập, đó là Tư lương vịGia hành vị, vì Chân kiến đạo thuộc về Thông đạt vị.

  1. I.   CÁC QUAN ĐIỂM VỀ NGÃ

 

Tổng quát, các quan điểm về Ngã có hai loại:

Ngã Chấp Câu Sanh và Ngã Chấp Phân Biệt.

 

  1. 1.    Ngã Chấp Câu Sanh do năng lực của nhân nội tại được huân tập bởi hư vọng kể từ vô thủy đến nay, thường hằng tồn tại cùng với thân, không cần chịu ảnh hưởng bởi tà giáo và tà phân biệt, mà chuyển hiện một cách tự nhiên. Do đó gọi là Câu sanh.

Loại ngã chấp này có 2 loại:

a) Thường tương tục, ở tại thức thứ bảy; nó lấy thức thứ tám làm đối tượng khiến sinh khởi hình tướng của tự tâm, rồi chấp đó là thực ngã.

b) Có gián đoạn, tại thức thứ sáu; nó lấy hình tướng của năm thủ uẩn vốn là biến hiện của thức, làm đối tượng, hoặc tổng thể hoặc cá biệt, khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi chấp đó là thực ngã.

Cả hai chấp trước này rất khó đoạn trừ, vì rất vi tế. Về sau, trong tu đạo, thường xuyên tu tập sinh không quán đặc biệt mới có thể diệt trừ.

  1. 2.    Ngã Chấp Phân Biệt cũng do năng lực của ngoại duyên hiện tại, không cùng tồn tại với thân, mà cần phảiảnh hưởng của tà giáo và tà phân biệt mới có thể phát khởi, vì vậy nói là phân biệt.

Nó chỉ tồn tại trong thức thứ sáu là ý. Loại Pháp chấp này cũng có hai loại:

  1. 1.    Duyên vào tướng của uẩn được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp là thực ngã.
  2. 2.    Duyên vào tướng của ngã được thuyết bởi tà giáo khiến sinh khởi tướng của tự tâm, rồi phân biệt suy diễn chấp đó là thực ngã.

Hai loại ngã chấp này dễ bị đoạn trừ vì thô. Khi ở sơ khởi của kiến đạo, quán Chân như về sinh khôngpháp không của hết thảy các pháp thì có thể đoạn trừ.


 

  1. II.         CÁC QUAN ĐIỂM VỀ PHÁP

 

Các quan điểm về Pháp cũng có hai loại:

Pháp Chấp Câu Sanh và Pháp Chấp Phân Biệt:

 

  1. 1.    Pháp Chấp Câu Sanh kể từ vô thủy đến nay, do ảnh hưởng bởi nhân nội tại được huân tập một cách hư dối, luôn luôn cùng tồn tại với thân; không đợi tà giáo và tà phân biệt vận chuyển một cách tự nhiên. Vì vậy nó được gọi là Câu sanh.

Câu Sanh Pháp Chấp này lại có hai:

a) Thường tương tục, tại thức thứ bảy, thức này duyên vào thức thứ tám mà khởi tướng của tự tâm rồi chấp là thực pháp.

b) Có gián đoạn, tại thức thứ sáu, thức này duyên vào tướng của uẩn, xứ, giới, vốn là những biến thái của thức; hoặc đặc biệt khởi tướng của tự tâm, rồi chấp là thực pháp.

Hai loại pháp chấp này, vi tế nên khó đoạn trừ. Về sau, trong Thập địa, trải qua nhiều lần tu tập quán pháp Không đặc biệt mới có thể trừ diệt.

  1. 2.  Pháp Chấp Phân Biệt cũng do ảnh hưởng của duyên ngoại tại trong hiện tại, không cùng tồn tại với thân, cần chịu ảnh hưởng của tà giáo và tà phân biệt sau đó mới khởi; vì vậy nói là phân biệt. Nó chỉ tồn tại trong ý thức thứ sáu. Loại Pháp chấp này cũng có hai:

a)   Duyên vào uẩn, xứ, giới được thuyết bởi tà giáo rồi khởi tướng của tự tâm, phân biệt suy diễn, chấp đó là thực pháp.

b)   Duyên vào đặc tính của tự tánh v.v…được thuyết bởi tà giáo rồi khởi tướng của tự tâm, phân biệt suy diễn, chấp đó là thực pháp.

Hai loại Pháp chấp này vì thô nên dễ bị đoạn trừ. Khi nhập sơ địa, quán chân như của pháp Không của hết thảy pháp tức thì có thể trừ diệt nó.

 

 

 

 

 

 

  1. III.     Ý NGHĨA SINH TỬ

 

Lại nữa, sinh tử tương tục do nhân duyên nội tại, không cần đến ngoại duyên, do đó duy chỉ có thức. Nhân ở đây là hai loại nghiệp Hữu lậu và Vô lậu. Vì chúng dẫn đến sinh tử nên nói là nhân. Duyên ở đây là hai phạm trù chướng ngại: Phiền não chướngSở tri chướng. Vì chúng trợ lực để dẫn đến sinh tử nên gọi là duyên.

Có hai dạng sinh tử:

 

  1. 1.    PHÂN ĐOẠN SINH TỬ

Đó là quả dị thục thô trọng trong ba giới, được chiêu cảm bởi các nghiệp bất thiệnthiện nghiệp hữu lậu, với thế lực hỗ trợ của các duyên là phiền não chướng. Sự dài ngắn của thân mạng tùy theo ảnh hưởng của nhân duyên mà có phần hạn nhất định, do đó nói là phần đoạn.

 

 

 

  1. 2.    BẤT TƯ NGHỊ BIẾN DỊCH SINH TỬ

Đó là quả dị thục vi tế thù thắng, được chiêu cảm bởi nghiệp vô lậu với thế lực hỗ trợ của các duyên là Sở tri chướng. Do lực của bi và nguyện mà thân mạng được cải chuyển không có phần hạn xác định, do đó gọi biến dịch.

diệu dụng được chiêu cảm hoàn toàn bởi nguyện và định vô lậu nên nói là bất tư nghị, hoặc cũng được gọi là ý thành thân, vì tùy theo ý nguyện mà được tác thành.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. IV.       TÓM TẮT LỘ TRÌNH TU TẬP TRONG LUẬN THÀNH DUY THỨC

 

  1. 1.    TƯ LƯƠNG VỊ:

mục đích hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Bồ đềtu tập nhiều tư lương khác nhau và vì các hữu tìnhcần cầu giải thoát. Do đó, giai đoạn này cũng được gọi là Thuận giải thoát phần.

Trong giai đoạn  này, Bồ tát y vào bốn lực thù thắng là nhân, thiện hữu, tác ýtư lương, nhờ đó mà tin hiểu sâu sắc nghĩa duy thức, nhưng vẫn chưa thấu rõ “Không” của năng thủsở thủ, phần nhiều trú bên ngoài cửa mà tu Bồ tát hạnh. Do đó, vẫn chưa có đủ năng lực để trấn áp và trừ diệt các tùy miên được dẫn sinh bởi hai thủ, khiến chúng không phát động thành hiện hành.

 

  1. 2.    GIA HÀNH VỊ:

Bồ tát trước tiên ở trong vô số kiếp thứ nhất khéo léo hoàn bị các tư lương phước đứctrí tuệ, đã viên mãn thuận giải thoát phần, với mục đích nhập kiến đạo, an trụ trong duy thức tính, lại tu tập gia hành với noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất để trấn áp và đoạn trừ hai thủ (năng thủsở thủ).

Bốn gia hành này (gia hành là sự thực hành, sự áp dụng) gọi chung là thuận quyết trạch phần, vì thuận dẫn hướng đến sự quyết trạch, sự chân thật (bốn Thánh đế) do gần với kiến đạo nên gọi là gia hành, chứ không phải trong giai đoạn tư lương trước đó, không  hàm nghĩa gia hành.

 

  1. 3.    THÔNG ĐẠT VỊ:
  • KIẾN ĐẠO:

Vô phân biệt trí: Khi mà trí vô phân biệt của Bồ tát hoàn toàn không có sự nắm bắt nơi cảnh sở duyên, vì không chấp thủ các hình thái hý luận; lúc bấy giờ mới thật sự nói là trụ trong chân thắng nghĩa duy thức tính, tức chứng chân như, vì trí và chân như đều bình đẳng, tuyệt đối bình đẳng, bởi loại bỏ các đặc tính năng thủsở thủ, và vì đặc tính năng thủsở thủ đều là tâm phân biệt, còn có cái để nắm bắt, là hiện hành của hý luận.

Bằng sự gia hành không gián đoạn, khi trí này phát sinh, chân như được hiển lộ, giai đoạn này được gọi là Thông đạt vị. Vì lần đầu tiên soi chiếu chân lý, nên cũng được gọi là Kiến đạo.

 

  • CHÂN KIẾN ĐẠO

Đó là vô phân biệt trí như đã được đề cập. Do trí này mà thật chứng chân lý được hiển thị bởi hai không, thật sự đoạn trừ tùy miên của hai chướng thuộc loại phân biệt. Tuy trải nhiều sát na, thì mới thành tựu trí tuệ rõ ràng, nhưng các đặc tính đều đồng đẳng do đó gọi chung là một tâm.

Như vậy, chúng ta biết rằng theo Luận thành duy thức, Chân kiến đạo đó chính là Trí vô phân biệt, giáo lý Tứ thánh đế gọi là Chánh kiến vô lậu, trong pháp 12 nhân duyên gọi tên là Minh, trong Kinh Vô Tri gọi tên là Tri, Kinh Lăng Nghiêm gọi tên là tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh vị, tánh xúc và tánh biết  thường trụ không sinh diệt. Tùy theo phương tiện của mỗi bản kinh, mỗi bản luận để quy ước tên gọi. Vì thế, tuy tên gọi có khác nhau nhưng nếu xét về mặt ý nghĩa của mỗi tên gọi thì nghĩa chỉ là một không có hai.

Người xuất gia hay người cư sĩ tại gia, chúng ta tu tập là muốn hội được trí vô phân biệt, rồi an trú trí này tu tập để đoạn trừ phiền não chướng và sở tri chướng. Vậy, chúng ta phải lãnh hội trí vô phân biệt này ở nơi pháp gì? Ta phải ở nơi sự tập khởi của các thức mà nhận được trí vô phân biệt.

Vì sao? Vì thức là phân biệt nên sinh diệt. Theo Luận thành duy thức, có 8 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, thức thứ bảy và thức thứ tám, và 51 tâm sở bao gồm cả thiện tâm sở và bất thiện tâm sở. Tám thức và 51 tâm sở  này chính là phần thọ, tưởng, hành và thức trong năm thủ uẩn hoặc thuộc về phần danh trong năm thủ uẩn.

Làm thế nào để lãnh hội Trí này?

Mỗi khi các thức và các tâm sở của chúng tập khởi, chuyển động, sinh diệt như thế nào, thì chúng ta chỉ an trú trí tuệ để nhận biết sự tập khởi của chúng đúng thật sự là vô thường, khổ và phi ngã; ấy là Trí vô phân biệt. Vì Thức là phân biệt nên thuộc Vô minh, chấp ngã; còn Trí là không phân biệt nên thuộc về Minh và Vô ngã.

 

  1. 4.    TU TẬP VỊ:

Bồ tát từ khi kiến đạo trước đó đã khởi, vì để đoạn trừ các chướng còn lại, lại thường xuyên tu tập trí vô phân biệt. Trí này viễn ly sở thủnăng thủ nên được nói là Vô đắc và Bất tư nghị. Hoặc nói loại bỏ hý luận mà nói là Vô đắc. Diệu của nó khó thăm dò nên nói là Bất tư nghị.

Đó là trí vô phân biệt xuất thế gian. Vì cắt đứt thế gian nên nói là xuất thế gian. Tùy miên của hai thủ là gốc rễ của thế gian, duy chỉ bằng trí này chúng mới có thể bị cắt đứt, do đó chỉ nó mới được nêu tên. Hoặc từ xuất thế được nói theo hai ý nghĩa: Thể vô lậu và chứng chân như.

Trí này đầy đủ cả hai nghĩa như vậy nên chỉ nó được nêu tên là xuất thế gian, các trí khác thì không được vậy. Chính là trí vô phân biệt trong Thập địa.

Do thường xuyên tu tập trí vô phân biệt này mà loại bỏ hai phần thô trọng. Chủng tử của hai tướng được gọi là thô trọng, vì tính chất của nó là khó sử dụng và không vi tế nhẹ nhàng. Trí này do loại bỏ hai thứ thô trọng ấy mà chứng đắc đại chuyển y.

Do thường xuyên tu tập trí vô phân biệt này nên đoạn trừ phần thô của hai chướng trong bản thức. Vì chuyển phiền nãochứng đắc Đại Niết bàn, chuyển sở tri chướngchứng đắc Vô thượng giác.

Hoặc y chỉ chân như duy thức, vì là sở y của sinh tửNiết bàn. Phàm phu do điên đảo mê mờ chân như này cho nên thọ khổ sinh tử từ vô thủy. Thánh giả xả ly điên đảo tỏ ngộ chân như này, cho nên đạt được an lạc cứu cánh của Niết bàn.

Do thường xuyên tu tập trí vô phân biệt để đoạn trừ phần thô trọng của hai chướng trong bản thức, cho nên chuyển diệt phần sinh tửsở ychân như, mà chứng Niết bàn. Đây tức là Chân như tách rời tính tạp nhiễm.

 

 

 

 

  1. 5.    CỨU CÁNH VỊ:

Do Trí vô phân biệt đoạn trừ hoàn toàn Phiền não chướng (chấp Ngã) và Sở tri chướng (chấp Pháp) nên đạt được Pháp thân của Như Lai.

Đó chính là Vô lậu giới, là bất tư nghị, thiện thường, là an lạc, giải thoát thân. Vị Đại Mâu Ni ấy được gọi là Pháp. Pháp thân của Như Lai gồm có Tự tính thân, Thọ dụng thânBiến hóa thân.

Tóm lại, Vì trong giai vị Hữu lậu, trí yếu mà thức lại mạnh. Trong giai vị Vô lậu, trí mạnh mà thức lại kém. Với mục đích khuyến khích chúng sinh hữu tình y vào Trí tu tập để xả lìa Thức cho nên nói chuyển Tám thức thành Bốn trí.

Cho nên, chúng ta tu tập là muốn chấm dứt khổ đau sanh tử luân hồi. Nếu muốn đoạn trừ khổ đau (Khổ đế) thì ta phải lãnh hội Trí vô phân biệt, rồi an trú Trí vô phân biệt này tu tập để đoạn trừ Phiền não chướng và Sở tri chướng.

 

 

THƯ MC THAM KHO

 

1.Kinh Tạp A Hàm, Trung A Hàm, Trường A Hàm, Tăng Nhất A Hàm, Hòa thượng Tuệ Sỹ dịch và chú giải.

2. Kinh Lăng Nghiêm Tông Thông, Thiền sư Nhẫn Tế dịch.

3. Kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Hòa thượng Phước Hảo dịch.

4. Bát Nhã Tâm Kinh, Hòa thượng Thanh Từ dịch và giảng giải.

5. Tinh túy Bát Nhã Tâm Kinh- Đạt Lai Lạt Ma, Hồng Như việt dịch.

6. Trái Tim Hiểu Biết, Hòa thượng Nhất Hạnh dịch và giảng giải.

7. Bát Nhã Trực Chỉ - Thiền sư Minh Chánh, nhóm thiền sinh Thiền viện Thường Chiếu dịch.

8. Bát Nhã Tâm KinhHòa thượng Thích Thái Hòa dịch và chú giải.

9. Thiền và Bát Nhã - Hòa thượng Tuệ Sỹ dịch.

10. Tâm Kinh giảng lục - Thiền sư Nguyệt Khê - Tâm viên, Đặng Hữu Trí dịch.

11. Tâm kinh Bát Nhã qua cái nhìn nhà Thiền, Hòa thượng Thông Phương dịch và giảng giải.

12. Luận Thành Duy ThứcHòa Thượng Tuệ Sỹ dịch và chú.

13. Kinh Pháp Bảo Đàn- Hòa Thượng Thanh Từ dịch.

14. Trung Bộ Kinh- Hòa thượng Minh Châu dịch

15. Ngũ Đăng Hội Nguyên- Hòa thượng Phước Hảo dịch.

 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 178281)
01/04/2012(Xem: 23944)
08/11/2018(Xem: 5028)
08/02/2015(Xem: 34515)
25/07/2011(Xem: 101711)
10/10/2010(Xem: 102365)
10/08/2010(Xem: 105959)
08/08/2010(Xem: 111483)
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.