Hệ giá trị Phật giáo với cách tiếp cận phát triển bền vững: liên hệ thực tiễn ở vương quốc Bhutan và gợi mở cho việt nam

25/11/20201:00 SA(Xem: 737)
Hệ giá trị Phật giáo với cách tiếp cận phát triển bền vững: liên hệ thực tiễn ở vương quốc Bhutan và gợi mở cho việt nam

HỆ GIÁ TRỊ PHẬT GIÁO
VỚI CÁCH TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG:
LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VƯƠNG QUỐC BHUTAN VÀ
GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
[1]
Thích Thanh Tâm[2]

 

Tóm tắt

thich thanh tam (2)Phật giáo đã và đang đóng góp hệ giá trị Châu Á trong dòng chảy phát triển và hội nhập quốc tế ngày nay qua việc lý giải thấu đáo về nguyên nhân của sự phát triển không bền vững trong đời sống kinh tế xã hội. Với giáo lý nhân duyên, duyên khởi  đã khiến nhận thức của con người thay đổi vì mình vì người. Mặt khác, tự thân Phật giáo cũng có những yếu tố bền vữngđiều chỉnh hướng phát triển đáp ứng vai trò của mình đối với yêu cầu xã hội đặt ra.

Việc nghiên cứu cách tiếp cận của Phật giáo đối với vấn đề phát triển bền vững sẽ giúp cho các quốc gia, đặc biệt là ở một số quốc gia châu Á - nơi hệ giá trị tư tưởng Phật giáoảnh hưởng lớn, gia tăng nhận thức và hành động về chiến lược phát triển bền vững trên quy mô toàn cầu cũng như ở từng quốc gia.

Cách tiếp cận ấy được liên hệ thực tiễn đến Vương quốc Phật giáo Bhutan với hệ giá trị Tổng hạnh phúc quốc gia (GNH) - do Cựu quốc vương Phật tử Bhutan Jigme Singye Wangchuck đề xuất xây dựng mô hình phát triển để đo lường nếp sống người dân - là cách tiếp cận toàn diệnbền vững cho sự phát triển cân đối giữa vật chất và các giá trị phi vật chất với niềm xác tín con người muốn tìm kiếm hạnh phúc thật sự. Từ đó, gợi mở phát triển bền vững kinh tế - xã hội Việt Nam phù hợp với hướng đi của nhân loại.

Từ khóa: Hệ giá trị Châu Á, Phát triển bền vững, hệ giá trị GNH, bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa, gợi mở Việt Nam

1. Cách tiếp cận của Phật giáo với phát triển bền vững

1.1 Phát triển bền vững (PTBV) là gì ?

Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX. Năm 1987, trong báo cáo Tương lai chung của chúng ta của hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của LHQ, phát triển bền vững được định nghĩa là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”.[21] 

Trong hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển tăng trưởng kinh tế; phát triển xã hội, và bảo vệ môi trường. Tiêu chí để đánh giá phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộcông bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệnâng cao được chất lượng môi trường sống.

Như vậy, “phát triển bền vững là nhu cầu cấp báchxu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, do đó đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử”.[19] Tại hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Braxin, 179 nước tham gia hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương trình nghị sự 21 về các giải pháp PTBV chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Hội nghị khuyến nghị từng nước căn cứ vào điều kiệnđặc điểm cụ thể để xây dựng chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, cấp ngành và địa phương. Mười năm sau, tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức năm 2002 ở Johannesburg, 166 nước tham gia hội nghị đã thông qua Bản tuyên bố Johannesburg và Bản kế hoạch thực hiện về PTBV, khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ chương trình nghị sự 21 về PTBV.

1.2 Cách tiếp cận của Phật giáo với phát triển bền vững

Thế giới hiện đang đứng trước nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Sự bất bình đẳng thể hiện dưới nhiều dạng, ngay trong vấn đề PTBV. Từ nguồn tài nguyên thiên nhiên cho đến cam kết gìn giữbảo tồn đang gặp khó khăn và hầu như không thể giữ gìn và bảo quản tài nguyên trước tác động của hiện đại hóa, toàn cầu hoá. Bên cạnh đó, xã hội hiện đại còn mắc phải căn bệnh trầm kha về thương tổn tinh thần và sự thiếu hụt đời sống bên trong, như một phản ánh tất yếu sự phát triển thiếu cân bằng của đời sống vật chất bên ngoài. Sự chuyển đổi của văn hoá xã hộiđời sống chính trị đã cá nhân hoá đời sống làm cho con người dần thiếu ý thức về cái chung, về cộng đồng. Điều này khiến con người trở nên khó tìm được điểm thăng bằng giữa sự tự doan toàn mà thay vào đó là “bất ổn của sự tồn tại” đã trở thành điều kiện phổ quát cho sự sống con người.

Vì thế, cách tiếp cận của Phật giáo với PTBV là một phương cách để điều chỉnhloại bỏ những trở ngại cho định hướng PTBV? Những gì mà lịch sử nhân loại trải qua đều thể hiện rõ ràng cho một quy luật phát triển với những câu hỏi: phát triển cho ai, phát triển để làm gì sẽ quy định việc phát triển như thế nào và phát triển đem lại kết quả gì. Điều này thật tương hợp với thuyết nhân quảPhật giáo đề xướng. Thiên tai, xung đột và đói nghèo, bệnh tật gia tăng là kết quả hiện thực buộc chúng ta phải nhìn lại nguyên nhân tận cùng của những hệ luỵ đó. Bản chất của sự phát triển hiện nay của nhân loại có thực sự thể hiện sự tiến bộ của loài người hay chỉ là sự đánh đổi bằng chính sự sinh tồn lâu dài? Điều này lại dẫn tới việc tìm kiếm một hệ quy chiếu là triết học đạo đức chính trị, triết học đạo đức tâm linh.

Với Thuyết Duyên khởi (縁起, pratītyasamutpāda), sự hiện hữu của mọi vật lệ thuộc vào nhau không ngoại trừ ai hay ngoại trừ cái gì nên bám vào ý nghĩ về sự hiện hữu riêng biệt là không thực tế. Mối tương quan lẫn nhau giữa người với người, người với tự nhiên được Đức Phật thể hiện bằng khái niệm “trùng trùng duyên khởi”. Trong mối tương duyên không  ngừng nghỉ ấy, con người vừa như một sản phẩm tự ý thức của thiên nhiên lại vừa lệ thuộc vào thiên nhiên, nhưng Phật giáo không tuyệt đối hoá năng lực của con người, cho rằng có thể tách ra và đối lập trở lại với những gì đã sinh tạo ra mình bằng thái độ chiếm hữu. Đạo Phật luôn nhắc nhở con người rằng muôn vật đều bình đẳng vì đều chứa đựng trong mình một bản thể chung, gọi là Phật tính.

Từ một tầm nhìn như vậy, Phật giáo chủ trương yêu thương tất cả, vì hành vi của ta đối xử với thế giới như thế nào cũng chính là cách con người tự đối xử với chính mình như vậy. Tầm vóc nhỏ bé hay lớn lao của con người tuỳ thuộc vào việc có nhận thức ra và thể hiện mối tương quan vô tận giữa mình với thế giới xung quanh hay không, hay chỉ gói gọn mình trong sự thoả mãn những giác quan thể chất cá nhân. Không dừng lại ở triết lý, đạo Phật đòi hỏi con người phải hiện thực hoá nhận thức đó bằng hành động và năng lực qua việc tu tậpchuyển hoá những giới hạn hẹp hòi từ bên trong, nhằm đạt tới mục đích cứu cánh là sự an lạc tuyệt đối. Vì thế, Phật giáo nhấn mạnh đến một triết lý dấn thân, những hành trang con người cần mang theo là sự kết hợp biện chứng của tất cả các phẩm chất và năng lực: “từ bi về đạo đức, trí tuệ về lý tính, dũng cảm về hành động, cái này lấy cái kia làm nền tảng cho mình để cuối cùng đạt đến sự giác ngộ, an lạc trên cơ sở thống nhất đó”.[13]

Cho nên, từ góc nhìn phát triển toàn diện con người, lịch sử xã hội hiện thực là một tiến trình phát triển con người kinh tế. Các chính phủ đang ra sức cạnh tranh kinh tế bằng mọi giá, lợi nhuận đem lại từ xã hội tiêu dùng thúc đẩy việc tạo ra hàng hoá để con người ngày càng tiêu dùng nhiều hơn nữa, thoả mãn đòi hỏi nhu cầu và cơn khát lợi nhuận. Những say mê không giới hạn của con người đối với hàng hoá vật chất đã vô tình dẫn tới việc bóc lột các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ sự cân bằng và mối tương sinh giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người. Chuỗi hệ quả cho sự “vô minh” ấy của con người là những nguy cơ hủy diệt sự sống từ thiên nhiên và huỷ diệt con người từ chính con người. Vì thế, cách tiếp cận của Phật giáo khi cho rằng bất cứ sự phát triển nào không đem lại sự tăng trưởng về đời sống đạo đứchạnh phúc bình an về tâm linh cho con người thì đó không thể là sự PTBV. Sự suy đồi đạo đức, những thương tổn tinh thần của con người trong xã hội hiện đại không giảm đi mà ngày càng gia tăng ngay cả trong các xã hội giàu có của cải vật chất, tỉ lệ tự tử, phạm tội, suy đồi đạo đức ở trẻ vị thành niên v.v đang là mặt trái phơi bày việc mất phương hướng phát triển của xã hội hiện đại, hay là hệ quả của việc coi tăng trưởng vật chất là tiêu chí duy nhất của sự phát triển.[3]

Tóm lại, cách tiếp cận của Phật giáo về PTBV thể hiện, thứ nhất, trên lĩnh vực kinh tế. Hiện nay, nhiều nhà kinh tế lấy tiêu chuẩn tăng trưởng kinh tế ngắn hạn để đánh giá sự phát triển của quốc gia, mà quên hệ lụy từ việc tăng trưởng kinh tế không gắn với PTBV. Do đó, cách tiếp cận của Phật giáo đã tái tạo một nền kinh tế bền vững ở hai phương diện: ứng xử với nguồn lực tự nhiên và ứng xử với nguồn lực con người. Cho nên, các hoạt động kinh doanh phải luôn chú trọng bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Lòng từ bi của Phật giáo được vận dụng trong kinh doanh là một động lực để phát triển kinh tế; chăm lo đời sống vật chấtđời sống tinh thần của nhân viên, tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện bản thân, xử sự thân tình với họ xuất phát từ tình thương yêu sẽ tạo cơ sở cho doanh nghiệp nói  riêng, nền kinh tế nói chung tiến đến sự ổn định và PTBV.

Thứ hai, trên lĩnh vực xã hội. Trong các giá trị xã hội, việc ưu tiên giá trị cộng đồng hay đề cao giá trị đạo đức xã hội là một đặc điểm nổi bật trong đời sống dân tộc. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để các giá trị đạo đức Phật giáo thực sự bén rễ và phát triển trong lòng dân tộc Việt Nam, giúp cho con người ý thức về vai trò hành động của mình trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, sao cho phù hợp với quy luật, tạo cơ sở đảm bảo cho sự tiếp tục phát triển ở tương lai. Từ đó, những chuẩn mực đạo đức ấy có tác động nhất định đến nền đạo đức của dân tộc Việt Nam, góp phần bổ khuyết những giá trị đạo đức mới, cũng như làm phong phú và sâu sắc thêm hệ giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Sự kết hợp hài hòa giữa đạo với đời, giúp xây dựng cho mình cuộc sống đầy tình người, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội tiến dần đến sự bền vững con người, bền vững xã hội.

Thứ ba, trên lĩnh vực môi trường. Thảm họa về sinh thái và môi trường đang diễn ra khắp nơi trên thế giới, nhưng vì nhu cầu cuộc sống, con người vẫn bóc lột tự nhiên bất chấp sự phản ứng của tự nhiên. Giáo lý Phật giáo coi trọng bảo vệ môi trường, sống hòa hợp thiên nhiên, dù có tác động vào tự nhiên thì cũng đặt trong mối quan hệ biện chứng. Điều này thể hiện rõ ràng trong thuyết duyên khởi. Cho nên, việc tác động vào giới tự nhiên một cách tiêu cực, con người không sớm thì muộn cũng phải chịu chung số phận. Thuyết luân hồinghiệp báo của Phật giáo không dừng lại ở việc giải thích sự có mặt của con người, sự không đồng nhất giữa các cá nhân, mà khía cạnh đạo đức của nó được đẩy mạnh để con ngườitrách nhiệm đối với môi trường sống của mình.

Tóm lại, cách tiếp cận của Phật giáo với PTBV là làm sao xây dựng được một xã hội tỉnh thức và tự chuyển hoá nội tâm của mỗi người cũng quan trọng như việc nhà nước hoạch định chính sách ở tầm vóc quốc gia, vì một khi đã vượt qua giới hạn hẹp hòi của dục lạc cá nhân. Không cần phải thuyết phục toàn thể xã hội trở nên khiêm tốn hơn mà phải bắt đầu với hạnh phúc cá nhân, giúp đỡ người khác và cảm thấy là người khác quan trọng như chính mình. Vì thế, những cách tiếp cận về PTBV theo tinh thần Phật giáo không dừng lại ở lí thuyết mà đã đi vào thực tế như trường hợp của Bhutan vói chỉ số GNH.

2. Liên hệ thực tiễn tại Vương quốc Phật giáo Bhutan

2.1 Mô hình phát triển bền vững GNH Bhutan

Vương quốc Phật giáo Bhutan, là đất nước Phật giáo nên giáo lý được dùng như kim chỉ nam trong cuộc sống thường nhật của người dân và là nền tảng cơ bản để xây dựng luật pháp, xây dựng chính sách phát triển quốc gia. Khi thế giới lao đao trước những cơn khủng hoảng kinh tế, trước tình trạng thiên nhiên bị hủy hoại, khí hậu nóng lên thì Bhutan - qua nhiều năm phát triển, bên cạnh quá trình toàn cầu hóa, vẫn giữ được những nét vốn có từ thế kỷ XVII - lại càng nổi lên như một quốc gia đi đầu, định hướng được cách phát triển bền vững, bởi ý tưởng GNH phát xuất từ nền tảng giáo lýthiểu dục tri túc” mà cựu Quốc vương Jigme Singye Wangchuck đề ra như là mục tiêu phát triển hàng đầu bàng bạc trong tinh thần chính trị Bhutan.

Cựu Quốc vương Bhutan Jigme Singye Wangchuck là nhà cải cách, một kiến trúc sư cho việc bảo vệ môi sinh. Ngài kế tục con đường giáo dục, kinh tế và ngoại giao để phát triển những thành quả tốt đẹp mà vua cha để lại; giữ gìn truyền thống văn hóa cổ truyền và chủ trương một quốc gia, một dân tộc dân chủ. Nhà vua đẩy mạnh hiện đại hóa giáo dục, nâng cấp hệ thống y tế và chủ trương miễn phí giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội. Đồng thời, qua những hình mẫu phát triển của nước ngoài, nhà Vua thấy người dân không hạnh phúc khi khoảng cách giàu - nghèo ngày càng gia tăng, phúc lợi xã hội không được đảm bảo, môi trường bị phá hủy trầm trọng từ quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế. Sau bao băn khoăn, trăn trở, ông đã tìm kiếm và tự xây dựng một mô hình phát triển bằng sự cân đối giữa giá trị vật chất với giá trị tinh thần thông qua chỉ số GNH.

Tháng 4/1986 GNH xuất hiện trong một cuộc phỏng vấn nhà vua đăng trên tờ Financial Times của London với tiêu đề của bài viết là “Tổng hạnh phúc quốc gia quan trọng hơn tổng sản phẩm trong nước.”[4] Từ đó, Bhutan đã định hướng xây dựng chính sách quốc giakế hoạch phát triển  theo tiêu chí GNH. Nhìn chung, GNH tạo ra một xã hội hay quốc gia, trong đó hạnh phúcmục tiêu của quản trị. Mục đích của chính phủ là tạo ra hạnh phúc tập thể, bởi vì hạnh phúc tập thể phụ thuộc vào hai điều mà chúng ta nuôi dưỡngbảo vệ là các mối quan hệ và môi trường. Khía cạnh cơ bản đầu tiên của hạnh phúc là mối quan hệ. Khía cạnh quan trọng thứ hai là môi trường, nhưng nếu không có khía cạnh  mối quan hệ thì khía cạnh môi trường cũng không thể được duy trì.  Do đó, Chính phủ Butan đánh giá  mô hình phát triển bền vững dựa trên 4 lĩnh vực:

1. Phát triển kinh tế - xã hội bền vững:

Butan tập trung vào y tế, giáo dục và dịch vụ xã hội. Butan đưa ra tiêu chuẩn sống cao hơn và tiếp cận với tiện nghi hiện đại và công nghệ trên mọi khu vực của đất nước. Yếu tố quan trọng của sự tăng trưởng này là phát triển bình đẳng, để những lợi ích của phát triển đến được những người nghèo nhất và yếu thế nhất. Butan đã đạt được sự phát triển ấn tượngcải thiện cuộc sống của nhiều người, đặt nền móng cho sự phát triển nhanh hơn, công bằng hơn và nhân đạo hơn.

2. Bảo vệ môi trường:

Được ghi nhận trong Hiến phápquyết tâm và cam kết duy trì ít nhất 60% diện tích cả nước có rừng che phủ. Hiện nay, 72% diện tích của Butan là rừng và hơn 1/3 nằm trong mạng lưới các khu bảo tồn. Nhiều người dân Butan khi được hỏi về lý do tại sao luôn có ý thức cao đối với môi trường thì đều có chung một đáp án là con người sống chung với thiên nhiên, đối xử với môi trường như thế nào thì sẽ được nhận lại như vậy.

3. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa:

Kiến trúc riêng biệt, các giá trị văn hóa, các nghi lễ truyền thống... là tất cả các khía cạnh cuộc sống mà người dân Butan muốn gìn giữ, bảo tồn. Thách thức hiện nay đối với quốc gia này là khôi phục và duy trì những yếu tố đó thông qua việc bảo tồn văn hoá.

4. Thúc đẩy quản trị tốt:

Thế giới đang theo dõi tiến trình dân chủ mới ở Butan, và những nỗ lực để thành công với quản trị tốt là một ưu tiên để đất nước này thể hiện với thế giới. Với nền dân chủ này, chính phủ phản ánh ý kiến của người dân, và người dân chủ động hơn trong tham gia đóng góp sự thay đổi.

2.2 Kết quả khảo sát mô hình GNH trong thực tế vận hành

Từ đó, để hoàn thiện mô hình PTBV, Bhutan đã thành lập Ủy ban Tổng hạnh phúc quốc gia, dưới sự chủ trì của Thủ tướng để sàng lọc tất cả các đề xuất chính sách mới được đưa ra bởi cơ quan chính phủ. Bhutan đã tiến hành ba cuộc điều tra toàn quốc về GNH trong năm 2008, 2010 và 2015, các dữ liệu thu thập được cung cấp cho Chính phủ một cái nhìn sâu sắc vào chất lượng cuộc sống. Để thực hiện các cuộc khảo sát trên, Bhutan xây dựng tiêu chuẩn khảo sát dựa trên các tiêu chí. Thứ nhất, phải phản ánh được các giá trị chuẩn mực GNH được nêu trong các văn bản chính thức như các kế hoạch phát triển quốc gia; phản ánh các giá trị chuẩn mực phù hợp các nền văn hóatruyền thống của Bhutan. Thứ hai, các chỉ số liên quan đến thống kê tài sản phải được phân tích chi tiết để đảm bảo độ chắc chắn. Thứ ba, các chỉ số được lựa chọn sẽ phản ánh chính xác hạnh phúc đã hoặc đang diễn ra ở các vùng khác nhau theo thời gian và giữa các nhóm khác nhau. Thứ tư, các chỉ số nêu ra phải thích hợp để hành động chung, nghĩa là mang tính chung nhất, và dễ hiểu đối với mọi người. Vì thế, qua các cuộc khảo sát cho “kết quả chỉ ra rằng mô hình mới này mạnh hơn so với GDP và khẳng định GNH là một mô hình phát triển bền vững khả thi.”[22]

  Bắt đầu từ năm 2005, chính phủ Bhutan quyết định tạo ra một thước đo các chỉ số GNH, nhằm xác định kế hoạch và chính sách xây dựng đất nước. Năm 2006, tiến hành một cuộc điều tra thí điểm, nhằm phục vụ việc thiết kế bảng câu hỏi và (1) thiết lập một khuôn khổ cho sự phát triển của các phương án; (2) cho từng ngành chỉ số định hướng phát triển; (3) trong phối hợp giữa các mục tiêu và công cụ sàng lọc GNH, việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực; và (4) đo mức độ hạnh phúcphúc lợi của công dân; (5) Đo mức độ tiến bộ; (6) mức độ phát triển của các so sánh giữa các quốc gia. Tháng 12/2007, việc khảo sát lại được thực hiện, song do hạn chế về ngân sách nên các cuộc khảo sát chỉ cho 12 khu vực.[5]

Bhutan đã phát triển các câu hỏi được sử dụng trong các cuộc thăm dò người dân thường xuyên, để đánh giá sự hài lòng cuộc sống trong mỗi lĩnh vực. Bao gồm các câu hỏi như: Làm thế nào để bạn cảm thấy an toàn khỏi sự nguy hại của con người? Hiếm? Thông thường? Luôn luôn? v.v. Bhutan sau đó sử dụng các kết quả của câu hỏi này để định hướng chính sách công, đảm bảo cuộc sống tốt hơn. Do đó, ba cuộc điều tra toàn quốc về GNH vào năm 2008, 2010 và 2015, đã được công bố trên www.grossna tionalhappiness.com. Các dữ liệu thu thập được từ các cuộc điều tra hạnh phúc quốc gia được sử dụng để xác định các sáng kiến ​​hiệu quả nhất cho mỗi cộng đồng địa phương, vì vậy mọi ngườiđiều kiện và cơ hội tốt nhất để được hạnh phúc

Do đó, trong khảo sát năm 2010, Bhutan chia thành bốn nhóm tùy thuộc vào mức độ hạnh phúc: 50%, 66%, và 77%. Những người đã đạt được đầy đủ ít hơn 50% là không hài lòng, chỉ chiếm 10,4% dân số; có 48,7% số người đạt mức độ từ 50-65% gọi là suýt hạnh phúc. Nhóm chiếm 32,6%, được gọi là rộng rãi hạnh phúc, vì đạt 66-76%  trong khoảng từ sáu đến bảy lĩnh vực. Và trong nhóm cuối cùng, 8,3% số người được xác định là vô cùng hạnh phúc vì đạt trên 77%. Đó là khảo sát được báo cáo theo giới tính, theo khu vực nông thôn-thành thị.[6]

2010 GNH

Mức độ:

Chiếm tỷ lệ dân số:

Vô cùng hạnh phúc

77%-100%

8.3%

Rộng rãi hạnh phúc

66%-76%

32.60%

Suýt hạnh phúc

50%-65%

48.7%

Không hài lòng

0-49%

10.4%

Đến năm 2015, theo khảo sát đánh giá mới nhất do The Center for Bhutan studies and GNH Research công bố trong A Compass Towards a Just and Harmonious Society, trang 6:

2015 GNH

Mức độ:

Chiếm tỷ lệ dân số:

Vô cùng hạnh phúc

77%-100%

8.4%

Rộng rãi hạnh phúc

66%-76%

35.0%

Suýt hạnh phúc

50%-65%

47.9%

Không hài lòng

0-49%

8.8%

2.3 Ảnh hưởng và đóng góp quốc tế của mô hình PTBV GNH Bhutan

Với đề xuất của Bhutan tại LHQ từ năm 1972, một loạt các hội nghị quốc tế về GNH lan khắp thế giới trong thế kỷ 21 và đã dẫn đến hành động của LHQ. Tháng 2/2004, hội nghị quốc tế về GNH lần 1 với chủ đề Operationalizing Gross National Happiness (Vận hành tổng hạnh phúc quốc gia) được tổ chức tại Thimphu, Bhutan; tháng 6/2005, hội nghị quốc tế lần thứ 2 về GNH với chủ đề Rethinking Development: Local Pathways to Global Well-being (Suy nghĩ lại sự phát triển: từ lối mòn đến phúc lợi toàn cầu) đã diễn ra tại Nova Scotia, Canada; tháng 11/2007 tại Bangkok, Thái Lan đã tổ chức hội nghị quốc tế lần thứ 3 về GNH với chủ đề Towards Global Transformation: World Views Make a Difference (Hướng đến sự thay đổi toàn cầu: tầm nhìn thế giới tạo nên sự khác biệt); tháng 11/2008, hội nghị quốc tế lần thứ 4 về GNH tại Thimphu, Bhutan với chủ đề Practicing and Measurements on GNH (Thực hành và kiểm chứng về GNH; tháng 11/2009 tại Foz do Iguaçu, Brazil, đã tổ chức Hội nghị quốc tế lần thứ 5 về GNH với chủ đề Gross National Happiness in Practice (Tổng hạnh phúc quốc gia trong thực tiễn); tháng 8/2011, tại trụ sở LHQ, Resolution 65/309 Happiness: towards a holistic approach to development (Nghị quyết 65/309 về hạnh phúc: hướng tiếp cận toàn diện để phát triển), được thông qua trong phiên họp lần thứ 65 và uỷ quyền Vương quốc Bhutan triệu tập một cuộc họp cấp cao về hạnh phúc. Tháng 4/2012, chính phủ hoàng gia Bhutan đã tổ chức một hội nghị 3 ngày về Wellbeing and Happiness: Defining a New Economic Paradigm (Phúc lợi và Hạnh phúc: Xác định một mô hình kinh tế mới)  tại trụ sở LHQ, New York. Tháng 6/2012, hội nghị LHQ về phát triển bền vững, Rio + 20 diễn ra tại Rio de Janeiro, Brazil, các quốc gia đã đồng ý tìm kiếm giải pháp thay thế GDP như là thước đo sự thịnh vượng, và ngày 20/3/2013, đánh dấu sự công nhận đầu tiên trên toàn thế giới ngày quốc tế hạnh phúc, trong đó có Việt Nam.

Với hội nghị lịch sử của LHQ vào ngày 02/4/2012 nhằm thảo luận về sự khác biệt lớn về mức độ hạnh phúc trên toàn thế giới, đã thu hút 600 đại biểu gồm lãnh đạohọc giả từ khắp nơi trên thế giới, nhằm ngoài việc khám phá những gì trong nghiên cứu về hạnh phúcphúc lợi xã hội, còn có các mục tiêu phát triển bền vững mới nhằm tái hoạt động của các mục tiêu thiên niên kỷ. Như vậy, đó cũng là một tác động đến nhận thức các nhà học giả, các nhà lãnh đạo chính trị trên bình diện quốc tế[7], thể hiện qua việc vạch ra chính sách phát triển quốc gia, những phát biểu, bài viết trên các diễn đàn, các buổi hội thảo quốc tế, hay thay đổi nhận thức về cuộc sống, rèn luyện tâm linh. Đồng thời, từ nhận thức thay đổi của giới lãnh đạo hay giới elite mà chính sách đối ngoại của quốc gia cũng có sự thay đổi theo chủ trương chính sách phát triển; với giới học giả sẽ tác động đến học sinh, sinh viên qua các diễn đàn, hội thảo, hay sẽ tác động đến các chính sách của chính phủ khi tham vấn cho chính sách quốc gia. Và cũng từ tầm ảnh hưởng trên phương diện các nhân này hay quốc gia đã tác động lại mô hình GNH Bhutan, để Bhutan xây dựng mô hình ngày càng hoàn thiện. Đó chính là sự tác động qua lại, hỗ tương lẫn nhau để phát triển.

Và hiện nay, mô hình GNH cũng đang được tiếp nhậnáp dụng tại Brasil, Ấn Độ và Haiti, nhưng phát triển rộng rãi nhất là các chương trình ở Canađa, Úc, Mỹ và Pháp. Từ đó, có nhiều biện pháp hạnh phúc hiện đang sử dụng ở các nước, đặc biệt là Gallup Poll Thế giới (GWP), World Values ​​Survey (WVS), và các khảo sát xã hội châu Âu (ESS), cũng như, SAARC thông qua các khái niệm về GNH và bốn trụ cột của mình trong số các nguyên tắc và chiến lược xóa đói giảm nghèo ở Nam Á.

3. Hướng gợi mở PTBV kinh tế - xã hội Việt Nam phù hợp thời đại mới

Với Việt Nam, “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” đã trở thành tôn chỉ quốc gia nên luôn cam kết nỗ lực nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng xã hội công bằng, phát triển bền vững nhằm đem lại hạnh phúc. Trong thực tế, các chủ trương, chính sách lớn đều nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì thế, trong xu thế phát triển kinh tế xã hội bền vững của thế giới, cũng như tình hình kinh tế, chính trị ở Việt Nam trong dòng chảy đó, thì việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa cũng như bảo vệ môi trường là hai hướng phát triển khả thi nhất cho Việt Nam trong giai đoạn này.

Thứ nhất, giữ gìn bản sắc văn hóa. Toàn cầu hóa đã và đang tạo nên xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hội nhập quốc tế tạo nên nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức, trong đó có thách thức về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc cũng như bảo vệ môi trường sống. Cho nên, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế thời kỳ hội nhập, phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc như một sức mạnh nội sinh để phát triển trên nền tảng kế thừa di sản văn hóa của cha ông, kết hợp học hỏi những tinh hoa văn hóa nhân loại cần được đặc biệt chú trọng.

Trong quá trình phát triển Việt Nam hiện nay, mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa chưa thực sự được tôn trọng. Kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng liên tục, nâng cao vị thế trên trường quốc tế, tuy nhiên sự phát triển đó vẫn chưa thật sự bền vững vì coi trọng lợi ích trước mắt; giữ gìn bản sắc văn hóaxu hướng chạy theo phong trào, hình thức, khuôn mẫu mà chưa tính hết tính đa dạng, làm nghèo nàn bản sắc văn hóa vốn có. Từ đó dẫn đến đời sống xã hội, kinh tế có bước phát triển nhưng bản sắc văn hóa lại bị mai một, lai căng một cách tự phát. Cùng với phát triển kinh tế thương mại, du lịch là sự thương mại hóa, hàng hóa hóa những sắc thái văn hóa dân tộc dẫn đến giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tự phát, phiến diện. Mặt khác, trong quá trình phát triển kinh tế chúng ta vẫn còn tư duy phát triển những ngành công nghiệp dựa trên khai thác tiềm năng thiên nhiên mà chưa chú trọng thích đáng đến phát triển ngành công nghiệp văn hóa.

Như vậy, từ thực trạng trên, Việt Nam cần phải xây dựng chính sách để người dân ý thức tự rèn luyện, nâng cao trình độ, học hỏi kỹ năng, để tham gia gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Bởi vì, giữ gìn bản sắc văn hóagiữ gìn cốt cách dân tộc trong quá trình phát triển, tức không chỉ nói tới những nét đặc sắc, đậm đà được biểu hiện qua tính cách mà còn thông qua toàn bộ đời sống vật chấttinh thần. Cốt cách dân tộc là cái tương đối ổn định, bền vững bởi nó được hình thành, tạo dựng và khẳng định trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc. Lĩnh vực thể hiện rõ nhất cốt cách dân tộc, tinh thần dân tộc là bản sắc văn hóa. Đó chính là biểu hiện sống động của cốt cách dân tộc qua bao thăng trầm của lịch sử, nên giữ gìn cốt cách dân tộc là để tạo nên một nền văn hóa có đủ đề kháng, chống lại sự ô nhiễm văn hóa hay xâm lăng văn hóa một cách vô thức hay có chủ định. Đây là một điều kiện cơ bản để tiếp biến văn hóa trước sự tác động nhiều chiều, phức tạp của khách quan được thực hiện một cách chủ động, tích cực. Chỉ như vậy, nền văn hóa dân tộc mới không bị hòa tan hay lai căng một cách thô thiển, mất bản sắc. Chính điều đó sẽ giúp dân tộc thích ứng được với những cái mới và dân tộc hóa cái mới để biến nó thành tài sản của dân tộc, mang hồn của dân tộc.

Cho nên, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ để khẳng định mình mà còn giúp dân tộc có thái độ đúng mực với cái mới, cái hiện đại, hướng tới một nền văn hóa dân tộc đa dạng, phong phú về sắc thái chứ không phải là một nền văn hóa nghèo nàn, giống nhau, cùng khuôn mẫu. Sáng tạo sẽ cởi trói tư duy con người thoát khỏi sự khuôn buộc của thói quen, phong tục hay tiêu chuẩn đã không còn phù hợp với điều kiện mới. Với tư duy sáng tạo, con người mới làm chủ được quá trình giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn, kế thừa và phát triển, mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới, cái truyền thống và cái hiện đại. Đồng thời, bảo tồngiữ gìn phát huy văn hóa là gắn với bảo vệ mối quan hệ hòa hợp giữa con người với tự nhiênxã hội, bởi con người găn liền với quá trình phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên nên không thể tách rời thế giới đó. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người ngày càng ý thức rõ rệt về mối quan hệ hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, con người với con người. “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đã trở thành triết lý sống của con người trong mọi thời đại. Ngày nay, trước sự tác động của biến đổi khí hậu và sự bất ổn tàn khốc của chiến tranh, khủng bố đang hằng ngày hằng giờ cảnh báo cho loài người phải biết quan tâm đến việc sống hòa hợp với tự nhiênxã hội như một nhân tố không thể thiếu để phát triển, trong đó có phát triển kinh tế.

Thứ hai, bảo vệ môi trường. Chúng ta thấy, môi trường tự nhiên Việt Nam hiện nay với những hiện tượng đáng báo động như tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các giống loài, ảnh hưởng xấu sức khoẻ con người là cái giá phải trả cho quá trình tự do hóa thương mại mới được tiến hành ở nước ta. Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống, sức khoẻ của cộng đồng. Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải v.v.

Như vậy, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội không chỉ là môi trường sống mà còn là môi trường văn hóa, nơi những giá trị văn hóa hay bản sắc văn hóa dân tộc hình thành, tồn tại và phát triển. Để giữ gìn văn hóa nói chung, bản sắc văn hóa nói riêng, tất yếu phải bảo vệ môi trường tự nhiênxã hội. Điều này không chỉ có ý nghĩa với văn hóa mà còn có ý nghĩa với quá trình phát triển kinh tế khi mà hệ lụy của quá trình phát triển công nghiệp như vấn đề ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên đang là mối đe dọa đầy bất trắc cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Hơn lúc nào hết, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát huy cách ứng xử văn hóa với tự nhiênxã hội được coi như một bảo đảm cho sự ổn định và phát triển.

Do đó, Việt Nam cần vận dụng cả hai trụ cột này một cách cấp thiết để định hướng phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bằng cách nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc hiểu biết về bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó hình thành ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc một cách chủ động, tích cựctự giác. Chỉ có như vậy cốt cách dân tộc, lòng tự tôn dân tộc mới luôn giữ vai trò hạt nhân trong quá trình phát triển kinh tế và phát triển nói chung của dân tộc. Đồng thời, mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc phải được quán triệt trong tổng thể hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường.Cho nên, phát triển kinh tế và văn hóa phải gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Đây là một trong những nhân tố bảo đảm cho sự phát triển bền vững của dân tộc. Đặc biệt việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa cần gắn với giữ gìn không gian văn hóa - nơi duy trì đời sống của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

4. Kết luận

Qua đây, con người cần suy nghĩ nghiêm túc về PTBV. Toàn cầu hóa làm cho các dân tộc xích lại gần nhau, nhưng lại có nguy cơ đẩy tới đơn nhất hóa văn hóa trên mặt địa cầu, làm phai mờ văn hóa địa phương và văn hóa tộc người, mà cái lõi tạo nên bản sắc văn hóa ấy là cái thiêng của các tôn giáo truyền thống. Kinh tế thị trường tạo động lực để tạo ra khối lượng của cải chưa từng có trong lịch sử nhân loại, nhưng lại đẩy tới việc khai thác đến tột cùng tài nguyên thiên nhiên, gồm cả tài nguyên trên mặt đất, tài nguyên dưới lòng đất và tài nguyên trong vũ trụ. Kinh tế thị trường tìm được động lực phát triển từ kích thích nhu cầu của con người, nhưng lại đẩy con người tới dục vọng tiêu dùng thái quá, trở thành xã hội tiêu dùngđộng vật tiêu thụ bị điều khiển bởi các nhà sản xuất với lòng tham không đáy. Khủng hoảng nợ công của chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay cũng xuất phát từ xã hội tiêu thụ thái quá. Cách mạng khoa học công nghệ đem lại nhiều sáng chế mới, nhưng nhiều thành tựu lại được sử dụng cho lòng tham không đáy của các nhà tư bản, các tập đoàn chính trị, khiến cho việc bóc lột tự nhiên ngày càng gia tăng. Tri thức nhân loại ngày càng tăng trưởng theo cấp số nhân, nhưng sự tăng trưởng của tri thức lại xa lánh minh triết, khiến một số người gọi đó là triết lý vô minh. Triết lý này dẫn không ít người tới tình trạng vô cảm trước thực tại. Con người trước nhu cầu của thị trường, trước tác động của triết lý vô minh, trước xã hội thiêu thụ đã suy giảm  và làm mất đi cái thiêng liêng trong nếp nghĩ, cách làm, sâu xa hơn là văn hóađạo đức. Điều đó nói lên tính cấp bách hiện nay trong việc vận dựng cách tiếp cận đối với PTBV.

 Đây là thời điểm mà cách tiếp cận PTBV của Phật giáo phát huy được vị trívai trò quan trọng như thế nào đối với xã hội. Để thực hiện tốt cách tiếp cận này Phật giáo cần có lối điều chỉnh hướng phát triển, thông qua các kênh để giáo lý Phật giáo thật sự đi vào xã hội, xây dựng nếp sống đạo đức, giúp con người khai mở nguồn sáng tạo trong việc xây dựng văn hóa trí tuệ, hướng tới một nền văn hóa bền vững. Do đó, với tình hình phát triển hiện nay, cách tiếp cận phát triển bền vững nói chung và mô hình bền vững Bhutan là tiếng nói riêng biệt sâu lắng. Một sức mạnh mềm thật sự hiệu quả trong dòng chảy phát triển sức mạnh quốc gia, hướng đến kỷ nguyên “kinh tế hạnh phúc”, hướng đến sự an lạc giải thoát, phù hợp mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Đồng thời, trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang tạo ra những biến chuyển quan trọng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, cần có những thay đổi để thích ứng với yêu cầu của thời đại, đóng góp PTBV đất nước và nhân loại trong các mối tương quan tương duyên, tương tức tương nhập giữa con người với mọi duyên liên quan để tồn tại, không những cho cuộc sống bây giờ mà còn đảm bảo cho thế hệ tương lai, đồng thời luôn hướng đến nếp sống nhân sinh an lạc.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đình Hòe (2007), Môi trường và Phát triển bền vững, nhà xuất bản Giáo dục
  2. Lê Quốc Lý (2016), Tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững, thực hiện tiến bộcông bằng xã hộiViệt nam, nhà xuất bản Lý luận chính trị
  3. Quán Như Phạm Văn Minh (2012),  Kinh tế Phật giáo, nhà xuất bản Văn HóaVăn nghệ
  4. Nhiều tác giả (2012), Chính sách công và phát triển bền vững, nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
  5. Nguyễn Văn Thanh (2003), Những mảng tối của toàn cầu hóa, nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
  6. Hồ Bá Thâm, Nguyễn Thị Hồng Diễm đồng chủ biên (2011), Toàn cầu hóa hội nhập và phát triển bền vững từ gốc nhìn triết học đương đại, nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia
  7. Thích Chơn Thiện (1999), Lý thuyết nhân tính qua kinh tạng Pàli, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
  8. Thích Nhật Từ, Thích Đức Thiện (2014), Phật giáo về phát triển bền vững và thay đổi xã hội, Nhà xuất bản Tôn giáo
  9. Nguyễn Tất Lân (2014), “Hệ giá trị tổng hạnh phúc quốc gia Bhutan và đời sống quốc tế hiện nay”, Tạp chí Đối ngoại - Ban đối ngoại Trung ương, số 12(62), tr. 46.
  10. Nguyễn Tất Lân (2015), “Vương quốc Bhutan và Hệ giá trị tổng hạnh phúc quốc gia”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và Châu Á, số 8 (33), tr. 32.
  11. Đạt Lai Lạt Ma, Môi trường nội tại và trách nhiệm của chúng ta, Tuệ Uyển chuyển ngữ, http://thuvienhoasen.org/p79a4604/moi-truong-noi-tai-va-trach-nhiem-cua-chung-ta-duc-dat-lai-lat-ma-tue-uyen-chuyen-ngu,ngày 4/7/2016
  12. Trương Quang Học, Phát triển bền vững – chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ XXI,http://repositories.vnu.edu.vn/jspui/bitstream/123456789/4668/1/02%20Phat %20trien%20ben%20vung%20(TQHOC).pdf, ngày 4/5/2016
  13. Dasho Karma Ura and Dorji Penjore (2009), Gross National Happiness: Practice and Measurement, The Centre for Bhutan Studies.
  14. Karma Ura and Karma Galay (2004),  Gross National Happiness and Development, The Centre for Bhutan Studies.
  15. Karma Ura, Sabina Alkire, Tshoki Zangmo, and Karma Wangdi (2012), A Short Guide to Gross National Happiness Index, The Centre for Bhutan Studies.
  16. Karma Phuntsho (2013), The history of Bhutan, Published by Random House India.
  17. The Centre for Bhutan Studies and GNH Research (2016), A Compass Towards a Just and Harmonious Society, Centre for Bhutan Studies and GNH Research.
  18. Bhutan Foundation, Bhutan believes in gross national happiness, http://www.bhutanfound.org/?p=151, ngày 1/8/2018
  19. Ban Ki-moon (2012), Secretary-General in Message to Meeting on ‘Happiness and Well-being’ Calls for ‘Rio+20’ Outcome that Measures More than Gross National Income, http://www.un.org/ press/en/2012/sgsm14204 .doc.htm, ngày 3/4/2017
  20. Karma Ura, An Introduction to GNH (gross national happiness), https://www.schumachercollege.org.uk/learning-resources/an-introduction-to-gnh-gross-national-happiness, ngày 9/1/2018
  21. Matthieu Ricard (2011), About Gross National Happiness and Gross National Product – 1, http://www.matthieuricard.org/en/blog/ posts/about-gross-national-happiness-and-gross-national-product-1, ngày 2/1/2016
  22. Saamdu Chetri (2016), National Happiness An Alternative Paradigm to Sustainable Socio-economicDevelopment,http://www.aquaac.org/dl/1nl3art3.html, ngày 3/12/2016

 

 



[1] Tham luận tại Hội thảo quốc tế “Các giá trị của Châu Á trong quá trình hội nhập và phát triển” sẽ diễn ra ngày 25/10/2019 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hồ Chí Minh

[2] Tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Ủy viên Ban Hoằng Pháp trung ương GHPGVN

[3] Xem thêm Nguyễn Tất Lân (2015), “Vương quốc Bhutan và Hệ giá trị tổng hạnh phúc quốc gia”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và Châu Á, số 8 (33), tr. 32.

[4] Xem thêm Karma Ura and Karma Galay (2004),  Gross National Happiness and Development, The Centre for Bhutan Studies, p.287

[5] Xem thêm Karma Ura, Sabina Alkire, Tshoki Zangmo, and Karma Wangdi (2012), A Short Guide to Gross National Happiness Index, The Centre for Bhutan Studies, p.102

[6] Xem thêm Karma Ura, Sabina Alkire, Tshoki Zangmo, and Karma Wangdi (2012),p.36

[7] Xem thêm Nguyễn Tất Lân (2014), “Hệ giá trị tổng hạnh phúc quốc gia Bhutan và đời sống quốc tế hiện nay”, Tạp chí Đối ngoại - Ban đối ngoại Trung ương, số 12(62), tr. 46.






.

Tạo bài viết
Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Phố Tuệ, 104 tuổi, khai thị cho Tăng Ni về phẩm chất của người tu - Thông Điệp Vesak 2019 – Lời chúc Tết năm 2020 và phóng sự về Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Phố Tuệ cùng chư tăng làm ruộng trồng rau
Khi cảm thấy thất vọng, mệt mỏi về kết quả của bầu cử, hãy hướng tâm tới những mục đích và mong nguyện chung của tất cả mọi người. Chúng ta có mặt ở trên đời này để tìm sự bình anh, hạnh phúc cho mình, cho mọi người và rộng ra khắp thế giới. Đó là nguyên lý căn bản của đời sống và xã hội loài người Tất cả mọi người đều mong cầu hạnh phúc, không ai muốn khổ đau và sầu muộn. Niềm hạnh phúc mà con người hướng tới không phải chỉ là sự vui mừng hay thỏa mãn thoáng chốc, mà một cảm giác sâu xa hơn, một cảm giác mình thuộc về thế giới này, một sự gần gũi, sẻ chia và không có sự tách rời với tất cả mọi người ở mọi nơi chốn trên thế giới.
Trước khi vượt biên (1985) tôi có vài lần được học DUY THỨC TAM THẬP TỤNG, và có một lần, một người bạn Phật tử nói với tôi rằng, Thầy Thắng Hoan dạy Duy Thức ở chùa Giác Sanh hay lắm, làm những ông duy vật hoảng hốt, các sinh viên phản bác lại chủ nghĩa duy vật.