Chương 1: Pháp phương tiện và pháp vượt ngoài phương tiện

08/07/20192:56 SA(Xem: 1351)
Chương 1: Pháp phương tiện và pháp vượt ngoài phương tiện

PHẬT ĐẢN 2643 – PHẬT LỊCH 2563
TỲ KHEO THÍCH THẮNG GIẢI
NIỆM ĐỊNH TUỆ HỮU LẬU
VÀ  NIỆM ĐỊNH TUỆ  VÔ LẬU
ẤN HÀNH MÙA PHẬT ĐẢN 2019 MELBOURNE - ÚC CHÂU
 

CHƯƠNG 1

PHÁP PHƯƠNG TIỆN
PHÁP VƯỢT NGOÀI PHƯƠNG TIỆN

 

I. THẾ NÀO LÀ PHÁP PHƯƠNG TIỆN?

 

   Như chúng ta đã biết, khổ đau là một sự thậtsự thật này luôn tồn tại theo tiến trình nhân duyên nhân quả. Cho dù Đức Thế Tônxuất hiện hay không xuất hiệnthế gian này thì sự thật về con đường khổ đau ấy vốn vẫn là như thế. Đó là một chân lý, sự thật hiển nhiênchúng ta cần phải hiểu rõ.

Trong các kinh, Đức Phật dạy Khổ đế gồm ba thứ khổ hay tám thứ khổ. Ba thứ khổ là khổ khổ, hoại khổhành khổ; tám thứ khổ là sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ.  Tóm lại, năm thủ uẩn này là khổ. Vì sao Đức Phật lại dạy rằng năm thủ uẩn này là khổ? Bởi vì năm thủ uẩnpháp duyên sinh nên vô thường, khổ, không và phi ngã.

Tuy rằng, năm thủ uẩn vốn là như vậy, nhưng do chúng ta không nhận thức đúng đắn về thật tướng cũng như bản chất thật sự của chúng nên mới dẫn sinh ra khổ đau. Vì không nhìn thấy được bản chất thật sự của năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, không và phi ngã nên ta đã chấp thủ vào năm thủ uẩn. Khi đã sống với năm thủ uẩn cũng đồng nghĩa là ta sống với Khổ đếTập đế nên không thể nào có được hạnh phúc, an vui trong đời sống thực tại. Đối với chân lý sự thật khổ đau này, tất cả chúng ta đều thấu hiểu và cảm nhận được, nhưng để hiểu và cảm nhận được sự thật khổ đau ấy sâu hay cạn, thì điều đó còn tùy thuộc vào mức độ thẩm sát, tư duynhận thức của mỗi người.

Chúng ta nhận thức được sự thật về khổ đau và tất cả hạnh phúc trong thế gian vốn luôn chuyển động vô thường, pháp không tồn tại mãi, không có sự thỏa mãn, không có sự biết đủ, là tôi tớ của vô minh, ái và thủ. Vì các pháp ấy thật sự không đáng tin cậy để làm nơi nương tựa, nên nhiều người đã từ bỏ tất cả niềm vui, hạnh phúc và mọi ước muốn trong thế gian để lựa chọn cho mình con đường xuất gia học đạo. Với chí nguyện xuất gia học đạo của quý Thầy, quý Sư hay quý Sư Cô là muốn đoạn trừ, vượt qua khỏi sự tập khởi khổ đau của năm thủ uẩn. Những cư sĩ tại gia tuy chưa có đầy đủ cơ duyên như những người xuất gia, là buông bỏ hoàn toàn sự nghiệp trong thế gian để tu đạo, nhưng họ cũng đều có chung một chí hướng đó là tìm thầy học đạothực hành tu tập, tha thiết, ước mong đoạn trừ và thoát ly được sự khổ đau ở nơi thân và tâm.

Với ý nghĩa đã được trình bày như trên, nên chúng ta mới phát tâm quy y Tam bảolãnh thọ các học giới do Đức Thế Tôn thiết lập. Người cư sĩ tại gia có thể phát tâm lãnh thọthực tập năm giới, mười giới hay bốn mươi pháp thiện. Điều đó tùy thuộc vào khả năng lãnh thọhành trì giới pháp của mỗi người.

  Trong Tạp A-hàm, Kinh Bốn Mươi số 1059, Đức Phật có dạy về 40 pháp thiện như sau:

  • Không sát sanh; dạy người không sát sanh; ca ngợi công đức không sát sanh và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không sát sanh thì sinh tâm hoan hỷ.
  • Không trộm cắp với bất cứ hình thức gì; dạy người không trộm cắp; ca ngợi công đức không trộm cắp và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không trộm cắp thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không tà dâm; dạy người không tà dâm; ca ngợi công đức không tà dâm và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không tà dâm thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không nói láo; dạy người không nói láo; ca ngợi công đức không nói láo và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không nói láo thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không nói lời thô ác; dạy người không nói lời thô ác; ca ngợi công đức không nói lời thô ác và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không nói lời thô ác thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không nói lưỡi hai chiều (lời ly gián); dạy người không nói lưỡi hai chiều; ca ngợi công đức không nói lưỡi hai chiều và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không nói lưỡi hai chiều thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không nói lời thêu dệt, trau chuốt, phù phiếm; dạy người không nói lời thêu dệt, trau chuốt, phù phiếm; ca ngợi công đức không nói lời thêu dệt, trau chuốt, phù phiếm và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không nói lời thêu dệt, trau chuốt, phù phiếm thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không tham; dạy người khác không tham; ca ngợi công đức không tham và ở trong đời khi mình thấy ai thực hành hạnh không tham thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không sân hận; dạy người không sân hận; ca ngợi công đức không sân hận và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không sân hận thì tâm sinh hoan hỷ.
  • Không si mê; dạy người không si mê; ca ngợi công đức không si mê và ở trong đời khi mình thấy ai thực tập hạnh không si mê thì tâm sinh hoan hỷ.

Khi đã đủ điều kiện để lãnh thọ giới pháp thì người xuất gia nam lãnh thọ 10 giới cho đến giới bổn Tỳ-kheo Tăng. Người xuất gia nữ lãnh thọ 10 giới cho đến giới bổn Tỳ-kheo-ni.

Thật như vậy, cho dù người xuất gia hay cư sĩ tại gia, muốn tăng trưởng các thiện pháp đều phải thực tập đúng theo các học giớichúng ta đã phát tâm lãnh thọ. Do chúng ta đã thực tập các học giới một cách nghiêm mật như thế, nên các thiện pháp sẽ ngày càng được tăng trưởng. Vì các thiện pháp được tăng trưởng, nên chúng ta mới có thể đón nhận được sự an lạc, hạnh phúc chân thật ở nơi thân và tâm. Niềm an lạc, hạnh phúc do các thiện pháp dẫn sinh không những chỉ ở đời hiện báo mà còn nối tiếp cho đến đời sinh báohậu báo. Hoặc giả, bất cứ vị nào không thực tập các học giới mà mình đã phát tâm lãnh thọ, thì các thiện pháp sẽ không thể tăng trưởng, hay nói cách khác là các bất thiện pháp sẽ ngày càng phát triển. Khi các bất thiện pháp phát triển, tăng trưởng thì ta sẽ phải gánh chịu nhiều khổ đau, từ khổ đau này sẽ dẫn sinh đến các khổ đau khác. Đó chính là pháp nhân duyên nhân quả.

Nhân duyên nhân quả ấy, không những chỉ dẫn sinh khổ đau trong đời sống hiện báo mà chúng còn dẫn sinh quả khổ đau trong đời sinh báohậu báo. Vì sao như vậy? Bởi vì, trong nhân duyên nhân quả đã bao gồm đầy đủ hai yếu tố đó là nhân quả đồng thờinhân quả khác thời. Trong đó, nhân quả khác thời gồm có ba loại: Hiện báo, sinh báohậu báo. Sau khi chúng ta đã phát tâm lãnh thọthực tập các học giới rồi, thì cũng không nên dừng trụ tại nơi các học giới ấy. Vì sao như vậy? Vì chúng ta muốn điều phục, đoạn trừ, vượt qua khỏi sự vin bám của vô minh, ái và thủ ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Do tâm nguyện muốn điều phục, đoạn trừ, vượt qua sự vin bám của vô minh, ái và thủ ở nơi năm thủ uẩn như thế, nên người xuất gia hay cư sĩ tại gia cần phải chọn cho mình một phương pháp để tu tập thích hợp, có hiệu quả cao nhất.

Một số phương pháp căn bản để ứng dụng thực tập đó là phương pháp niệm danh hiệu Đức Phật, phương pháp trì chú, phương pháp chánh niệm hơi thở vào ra, phương pháp đếm hơi thở vào ra, phương pháp trụ giữa nhân trung để nhận biết hơi thở vào ra… Ngoài những phương pháp căn bản này, có những vị Thiền sư ở Miến Điện còn hướng dẫn thêm phương pháp theo dõi sự phồng xẹp của bụng. Vì sao chúng ta phải chọn một trong những phương pháp căn bản ấy để thực tập? Đó là nhằm thắp sáng lên năng lượng chánh niệm, chánh định, chánh tuệ. Nếu không chọn một trong những phương pháp căn bản ấy để thực tập nhằm thắp sáng lên năng lượng chánh niệm, chánh định, chánh tuệ, thì chúng ta sẽ bị vô minh, ái và thủ dẫn khởi. Một khi bị vô minh, ái và thủ dẫn khởi tức là ta đang sống chung với vô minh, ái và thủ. Chính vì sống trong vô minh, ái và thủ nên cũng đồng nghĩa là ta đang sống với Khổ đếTập đế.

Vì lẽ đó, ta cần phải chọn một pháp tu và luôn thực tập phương pháp đã chọn ấy trong đời sống hằng ngày, đối với mọi hành vi cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi, mắt thấy, tai nghe v.v... Có người lại chọn cho mình phương pháp niệm danh hiệu Đức Phật, có người thì chọn phương pháp trì chú, có người thì chọn phương pháp chánh niệm hơi thở vào ra, có người lại chọn phương pháp đếm hơi thở vào ra, hoặc phương pháp theo dõi sự phồng xẹp của bụng, hoặc phương pháp lạy Phật, tụng kinh, trì kinh... Ta cần phải chọn một trong các phương pháp tu căn bản đó là để thắp sáng lên năng lượng chánh niệm, chánh định và chánh tuệ. Khi chánh niệm, chánh định và chánh tuệ được thắp sáng thì chúng đã bao gồm toàn bộ các chi phần của Bát Chánh đạo. Tại sao như thế? Bởi đó là pháp duyên khởi của Bát Chánh đạo, nên khi chánh kiến hữu lậu sinh khởi thì bảy chi phần còn lại của Bát Chánh đạo cùng sinh khởi, và tất cả đều hữu lậu. Ngược lại, khi chánh kiến vô lậu sinh khởi thì bảy chi phần còn lại của Bát Chánh đạo cùng sinh khởi, và tất cả đều vô lậu.

Vậy Chánh niệm là gì? Đó là sự nhớ nghĩ chân chánh, đúng đắn, hợp lý.

Chánh định là gì? Đó là sự tập trung hay trụ vào một điểm, một đối tượng thuần nhất không dao động.

Chánh tuệ hay chánh kiến là gì? Đó là nhận thức, hiểu đúng như thật đối với giáo lý Tứ Thánh đế.

Chánh niệmniệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Bố thí, niệm Chư Thiên, niệm hơi thở vào ra, niệm thân vô thường, niệm về sự chết và niệm Niết-bàn. (Kinh Tăng nhất A-hàm).

Chánh niệmniệm Thân, niệm Thọ, niệm Tâmniệm Pháp. Thân, Thọ, Tâm và Pháp là đối tượng của trí tuệ nhận biết. Vì sao? Bởi vì chúng là pháp duyên khởi nên vô thường, khổ và phi ngã.

Trong Luận thành duy thức giải thích niệm, định và tuệ như sau:

Niệm là gì? Tự tính của nó là sự nhớ rõ không quên mất của tâm đối với cảnh đã từng quen thuộc. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho định. Tức là thường xuyên ghi nhớ cảnh đã từng được tiếp nhận không để cho quên mất, có thể dẫn đến định. Đối với cảnh mà thể và loại của nó chưa hề được tiếp nhận, niệm hoàn toàn không phát khởi. Giả sử đối tượng đã từng được tiếp nhận nhưng không được ghi nhận rõ ràng, niệm cũng không phát sinh.

Định là gì? Tự tính của nó là khiến cho tâm chuyên chú trên đối tượng được quan sát mà không phân tán. Nghiệp dụng của nó là làm sở y cho trí.

Tuệ là gì? Tính giản trạch đối với đối tượng được quan sát. Nghiệp dụng của nó là đoạn trừ nghi.

Chánh niệm là chọn một đối tượng để làm phương pháp tu tập. Vì sao ta phải chọn một đối tượng để làm phương pháp tu tập? Vì ta cần thắp sáng năng lượng chánh niệm, chánh định và chánh tuệ. Do chánh niệm được thắp sáng nên mới dẫn sinh chánh định, do chánh định làm nền tảng nên từ đó mới dẫn sinh chánh tuệ (chánh kiến).

Như vậy, ta cần phải chọn cho mình một phương pháp để tu tập. Phương pháp đó có thể là niệm danh hiệu Đức Phật, trì chú, chánh niệm hơi thở vào ra, đếm hơi thở, theo dõi sự phồng xẹp của bụng v.v…

Ví dụ: Ta có thể chọn trì niệm câu Nam-mô A Di Đà Phật, A Di Đà Phật hay một câu thần chú nào đó, tùy theo nhân duyên thích hợp. Khi đã chọn câu Nam-mô A Di Đà Phật hay một câu thần chú để tu tập, thì câu niệm Phật hay câu thần chú ấy được ghi nhớ ở trong tâm thức. Sau đó, ta mới khởi lên câu niệm Phật hay câu thần chú ấy ở nơi tâm để nhận làm đối tượng. Sau khi ta đã khởi lên câu niệm Phật hay câu thần chú rồi, lại tiếp tục duy trì sự nghĩ nhớ về đối tượng ấy, thì đó là chánh niệm; và sự an trú nhất như ở nơi đối tượng ấy là chánh định. Nhận biết được chánh niệm, chánh định ở nơi câu niệm Phật hay một câu thần chú, nơi các cảm thọ, tri giác (tưởng), các tâm hành... là chánh tuệ (chánh kiến). Do chánh niệm làm nền tảng nên mới dẫn sinh ra chánh định và chánh tuệ. Đó là pháp duyên sinh của niệm, định và tuệ. Khi ta đã chọn phương pháp niệm Phật để thực tập, tu hành thì phải luôn luôn duy trì chánh niệm, chánh định, chánh tuệ ở nơi câu niệm Phật trong đời sống thường ngày mỗi khi đi, đứng, nằm ngồi, mắt thấy, tai nghe v.v... Chính nhờ năng lượng chánh niệm, chánh định và chánh tuệ ở nơi phương pháp niệm Phật nên ta mới có thể điều phục, đoạn trừ vô minh, ái, thủ và hữu ở nơi thân và tâm. Việc thực tập phương pháp trì chú cũng mang lại hiệu quảcùng chung một ý nghĩa về con đường thắp sáng chánh niệm, chánh định và chánh tuệ như vậy.

Ví dụ: Khi ta đã chọn phương pháp hơi thở vào ra để thực tập chánh niệm, chánh định và chánh tuệ thì ta phải luôn duy trìtrụ tâm vào pháp ấy, nơi từng hơi thở vào ra mỗi khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, mặc áo, mắt thấy, tai nghe v.v...

Chánh niệm là luôn luôn duy trì sự nhớ nghĩ đến hơi thở vào ra. Chánh địnhan trú nhất như vào hơi thở. Chánh tuệ là nhận biết chánh niệm, chánh định ở nơi hơi thở vào ra, các cảm thọ, các tri giác (tưởng), các tâm hành thiện, bất thiện, toàn thân. Do năng lượng chánh niệm, chánh định và chánh tuệ ở nơi hơi thở vào ra, nên ta đã điều phục, đoạn trừ được sự bám víu của vô minh, ái và thủ ở nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp hoặc ở nơi thân và tâm (năm thủ uẩn).

Ví dụ: Có những vị Thiền sư ở Miến Điện dạy rằng, ta phải chọn sự phồng xẹp của bụng để làm phương pháp tu tập. Khi đã chọn sự phồng xẹp của bụng để làm phương pháp tu tập nghĩa là ta luôn luôn duy trì chánh niệm, chánh định và chánh tuệ. Vì sao? Vì việc luôn nhớ nghĩ đến sự phồng xẹp của bụng là chánh niệm, an trú nhất như ở nơi sự phồng xẹp của bụng là chánh định, và sự nhận biết chánh niệm, chánh định ở nơi sự phồng xẹp của bụng, các cảm thọ, các tri giác (tưởng), các tâm hành thiện, bất thiện, toàn thân đó là chánh tuệ. Nếu ta không nhớ đến (chánh niệm) sự phồng xẹp của bụng thì cũng không thể nào an trú nhất như (chánh định) ở nơi sự phồng xẹp của bụng, không thể nhận biết được sự phồng xẹp của bụng, các cảm thọ, các tri giác (tưởng) và các tâm hành thiện hay bất thiện được. Do chánh niệm, chánh định và chánh tuệ ở nơi sự phồng xẹp của bụng nên ta đã điều phục, đoạn trừ vô minh, ái và thủ tập khởi vin bám ở nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp hoặc sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

Ta cần phải chiêm nghiệm, tư duysuy xét về ý nghĩa của chánh niệm, chánh định và chánh tuệ trong khi thực tập pháp. Vì sao? Vì chánh niệm, chánh định và chánh tuệ có ý nghĩa khác nhau. Bởi đối tượng của chánh niệm, chánh định là có chung một đối tượng duy nhất, đó là câu Nam-mô A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, một câu thần chú, hơi thở vào ra, sự phồng xẹp của bụng, còn đối tượng của tuệ là tất cả các pháp xảy ra làm duyên cho nó (tuệ). Vì sao? Bởi tác dụng của tuệ là nhận biết tất cả các pháp đang xảy ra để làm đối tượng cho chính nó (tuệ).

 Chúng ta biết rằng, câu Nam-mô A Di Đà Phật, A Di Đà Phật hay một câu thần chú, hoặc hơi thở vào ra, cũng như sự phồng xẹp của bụng, đều không thể điều phục, đoạn trừ được vô minh, ái và thủ. Để điều phục, đoạn trừ được vô minh, ái và thủ, ta phải cần có năng lượng chánh niệm, chánh định và chánh tuệ. Bởi thế, khi một vị thực tập duy trì chánh niệm, chánh định và chánh tuệ ở nơi hơi thở vào ra, câu Nam-mô A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, một câu thần chú… một cách vững chải, kiên cố, không thất niệm thì sẽ sinh khởi được sự an lạc, hạnh phúc, bình an của thân và tâm.

Chúng ta cần phải tư duy, chiêm nghiệm để hiểu rằng, câu Nam-mô A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, một câu thần chú, hơi thở vào ra, sự phồng xẹp của bụng… là pháp duyên khởi. Vì các pháp ấy là pháp duyên khởi nên chúng cũng chịu sự chi phối của luật vô thường. Do các pháp ấy là vô thường nên chánh niệm, chánh định và chánh tuệ vin vào các pháp tu tập ấy cũng vô thường, sinh diệt trong từng niệm.

Do chánh niệm, chánh định và chánh tuệ ở nơi câu niệm Phật, nơi câu thần chú, nơi hơi thở vào ra và sự phồng xẹp của bụng… hết thảy là vô thường nên chúng là pháp hữu lậu-hữu vi. Vì chánh niệm, chánh định và chánh tuệ ấy là hữu lậu-hữu vi nên gọi là pháp phương tiện.

Vì sao lại gọi đó là pháp phương tiện? Vì ta cần phải chọn một đối tượng như hơi thở vào ra... để thắp sáng lên chánh niệm, chánh định và chánh tuệ. Vậy nên, một vị thực tập pháp trong giai đoạn hữu lậu-hữu vi thì khi nào cũng phải do có chánh niệm làm nền tảng nên mới dẫn sinh chánh định, do có chánh định làm nền tảng nên dẫn sinh ra chánh tuệ.

Theo lý duyên sinh, do cái này sinh khởi nên cái kia sinh khởi. Cũng vậy, do chánh niệm sinh khởi làm cơ sở vững chắc để rồi tuần tự dẫn khởi ra chánh định và chánh tuệ. Điều này, cố nhiên sẽ phù hợp với lời Đức Thế Tôn dạy: “Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn”.

Sau khi chúng ta đã chọn một phương pháp để thực tập chánh niệm, chánh định và chánh tuệ như vậy rồi, hẳn nhiên không thể dừng trụ lại ở nơi chánh niệm, chánh định và chánh tuệ hữu lậu-hữu vi này được. Vì sao? Vì chúng ta cần đạt được chánh niệm, chánh định và chánh tuệ vô lậu-vô vi.

Tóm lại, chúng ta tu tập là muốn sớm chấm dứt khổ đau, sinh tử luân hồi. Vì muốn chấm dứt khổ đau, sinh tử luân hồi nên chúng ta mới quy y Tam bảolãnh thọ các học giới do Đức Thế Tôn thiết lập. Không những chỉ thực tập pháp Tam quy, hành trì những học giới như thế thôi, mà điều quan trọng hơn hết là chúng ta còn phải chọn cho mình một phương pháp nhất định để tu tập như: niệm danh hiệu Đức Phật, trì chú, chánh niệm hơi thở vào ra…để đoạn trừ tham, sân, si hoặc chấm dứt khổ đau. Nhưng điều thiết yếu của việc chấm dứt khổ đau là phải Kiến đế, Kiến đạo. Nếu ta không Kiến đạo thì không thể đoạn trừ được nguyên nhân dẫn sinh khổ đau và kết quả khổ đau.

II. THẾ NÀO LÀ PHÁP VƯỢT NGOÀI PHƯƠNG TIỆN?

Khi tham cứu, đọc tụng những kinh văn Đại thừa như Kinh Lăng nghiêm, Kinh Bát-nhã, Kinh Kim cang, Kinh Pháp hoa, Kinh Viên giác, Kinh Duy Ma Cật, bốn bộ A-hàm, Kinh Trung bộ... và các ngữ lục của các bậc Thánh hiền, chúng ta sẽ nhận thấy rằng trong đó có một điểm chung chính yếu cho tất cả phương pháp tu tập. Vậy điểm chung ấy là gì? Đó là Kiến đếKiến đạo. Kiến đếđiều kiện thiết yếu, quan trọng nhất giúp chúng ta tu tập để chấm dứt biên tế khổ đau. Cho nên, Kiến đế, Kiến đạo đó là tâm nguyện, là mục đích, là lý tưởng của người đệ tử Phật. Vì sao như thế? Bởi vì không Kiến đế thì ta không thể đoạn trừ nguyên nhân dẫn sinh kết quả khổ đau được.

Kiến đế là gì? Đó là thấy được như thật về Khổ đế, Tập đế, Diệt đếĐạo đế, đó cũng chính là lãnh hội được Chánh kiến vô lậu. Với giáo lý Tứ Thánh đế thì gọi là Kiến đế (Chánh kiến vô lậu), với giáo lý 12 duyên khởi thì gọi là Minh. Trong Tạp A-hàm, Kinh Vô tri gọi Kiến đế là Tri, còn Kinh Vô minh gọi là Minh. Kinh Viên giác gọi là Tánh viên giác. Kinh Duy Ma Cật gọi đó là Pháp môn bất nhị. Kinh Lăng nghiêm gọi là tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh vị, tánh xúc, tánh biết thường trụ không sinh diệt. Kinh Pháp hoa gọi là Phật tri kiến v.v...

Kiến đế là nhận được chánh kiến vô lậu. Khi lãnh hội được chánh kiến vô lậuan trú chánh kiến này để tu tập thì ta có thể đoạn trừ được ba kiết sử. Ba kiết sửthân kiến, giới cấm thủ và nghi (không còn nghi ngờ Tứ Thánh đế).

Trong kinh Nguyên thủyĐại thừa, Đức Phật có dạy rằng, Ngài chưa từng thấy một người đệ tử của Ngài lãnh hội được Đạo mà phải trải qua đời thứ tám. Vì sao? Khi một vị Kiến đạo, người thượng cănmột đời, người trung căn là hai hoặc ba đời, còn người hạ căn là phải trải qua bảy đời tu tập mới chấm dứt biên tế khổ đau để thành đạt quả A-la-hán.

Thế nên, chúng ta tu tập là phải đạt đến Kiến đế. Nếu không Kiến đế thì con đường lưu chuyển sinh tử khổ đau sẽ không có ngày kết thúc. Chỉ khi nào Kiến đế và thấy được đạo, ta mới không còn có sự lo sợ quá lớn đối với con đường lưu chuyển sinh tử khổ đau này. Vì sao? Vì quả báo sinh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chính là nỗi sợ lớn nhất. Nhưng khi đã lãnh hội được đạo thì cái nhân để dẫn sinh vào trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh của vị ấy đã được chấm dứt. Vì vậy chúng ta phải nỗ lực tu tập để Kiến đế!

Trong kinh Đức Phật dạy khi một người đệ tử của Đức Thế Tôn tu tậplãnh hội được chánh kiến vô lậu đó là thấy đúng như thật về Khổ đế, Tập đế, Diệt đếĐạo đế. Thấy đúng như thật đối với Tứ Thánh đế đó là Kiến đế. Do Kiến đế nên vị ấy chứng được Sơ quả Tu-đà-hoàn. Thời gian tu tập của bậc Thánh Sơ quả (Tu-đà-hoàn) để chấm dứt biên tế khổ đau đạt quả A-la-hán chỉ còn lại bảy đời. Trong bảy đời ấy, vị đó có thể sinh trong cõi trời Dục giới hay cõi nhân gian.

Trong luận Câu-xá, các vị Luận sư dạy rằng, bậc Thánh Sơ quả thuộc hạ căn, thời gian tu tập của vị ấy phải trải qua bảy đời mới đạt quả A-la-hán. Trong bảy đời đó, vị ấy sinh vào trong cõi trời Dục giới bảy lần và sinh vào trong cõi người bảy lần.

Sau khi đã Kiến đế hoặc lãnh hội được chân tâm không sanh diệt, vị ấy luôn an trú tâm không sanh diệt này, nỗ lực tu tập mỗi khi đi, đứng, nằm, ngồi, mắt thấy, tai nghe… để làm vơi mỏng tham, sân và si. Sự vơi mỏng đó ở nơi pháp gì? Ấy là tham, sân và si được muội lược ở nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp hoặc ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Hay nói cách khác, đó chính là vọng tưởng, vọng niệm được vơi mỏng. Do tâm luôn an trú chánh kiến vô lậu (chân tâm không sinh diệt) để tu tập, khiến cho tham, sân, si được muội lược, nên vị ấy đạt được Nhị quả (Tư-đà-hàm). Bậc Thánh Nhị quả tu tập để chấm dứt biên tế khổ đau, thời gian chỉ còn lại một đời nên gọi là Nhất lai. Nghĩa là, nếu đạt được Nhị quả trong cõi người, sau khi thọ mạngcõi người chấm dứt, vị ấy sinh vào trong cõi trời Dục giới. Sau khi sinh vào các cõi trời Dục giớithọ báo ở nơi đó chấm dứt, vị ấy lại sinh trong nhân gian để tiếp tục nỗ lực tu tập chấm dứt biên tế khổ đau và chứng đạt quả vị A-la-hán.

Sau khi đạt Nhị quả, vị ấy an trú chân tâm không sinh diệt này, rồi nỗ lực tu tập để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, cho nên đạt được địa vị Tam quả (A-na-hàm) gọi là Bất lai. Năm hạ phần kiết sử là: thân kiến, giới cấm thủ, nghi, tham và sân trong Dục giới. Bậc Thánh Tam quả sẽ không còn tái sanh ở trong cõi Dục giới nữa. Nếu các ngài xả bỏ báo thâncõi người, thì sẽ sinh lên cõi trời Ngũ Tịnh Cư và ở đó vị ấy không ngừng nỗ lực tu tập để thành tựu quả vị A-la-hán. Khi đạt được Tam quả, vị ấy tiếp tục nỗ lực tu tập để chấm dứt biên tế khổ đau và đạt quả A-la-hán. Như vậy, ta muốn đạt được quả vị A-la-hán thì phải Kiến đạo. Nếu ta không Kiến đạo thì không thể đạt được Sơ quả, Nhị quả, Tam quảTứ quả.

Trong Trung A-hàm, Kinh Phước điền số 127, Đức Phật dạy: “Bậc Thánh Hữu học có mười tám, bậc Thánh Vô học có chín. Mười tám hạng người hữu học là những ai? Đó là Tín hành, Pháp hành, Tín giải thoát, Kiến đáo, Thân chứng, Gia gia, Nhất chủng, Hướng Tu-đà-hoàn, Đắc Tu-đà-hoàn, Hướng Tư-đà-hàm, Đắc Tư-đà-hàm, Hướng A-na-hàm, Đắc A-na-hàm, Trung Bát Niết-bàn, Sanh Bát Niết-bàn, Hành Bát Niết-bàn, Vô hành Bát Niết-bàn, Thượng lưu sắc cứu cánh. Đó là mười tám hạng hữu học.

Chín hạng người Vô học là những ai? Đó là Tư pháp, Thăng tấn pháp, Bất động pháp, Thối pháp bất thối pháp, Hộ pháp, Hộ tắc bất thối hộ tắc thối, Thật trụ pháp, Tuệ giải thoát, Câu giải thoát. Đó là chín hạng vô học A-la-hán”.

Khi một người lãnh hội được chánh kiến vô lậu hoặc chân tâm không sinh diệt này để tu tập thì gọi là pháp vượt ra ngoài phương tiện. Vì sao? Vì vị này không còn thực tập chánh niệm, chánh định, chánh tuệ ở nơi một câu niệm Phật, một câu thần chú hay hơi thở vào ra nữa. Vị ấy chỉ an trú vào chân tâm không sinh diệt này để tu tập nên gọi là pháp vượt ngoài phương tiện.

Chánh kiến vô lậu hoặc chân tâm không sinh diệt luôn luôn hiện tiền ở nơi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, thân xúc chạm, lưỡi nếm vị, ý tư duy các pháp, chỉ tại chúng ta chưa đủ nhân duyên để lãnh hội mà thôi. Cái chân tâm không sinh diệt này chưa từng rời khỏi sáu căn, cho nên trong Kinh Lăng nghiêm, Đức Phật dạy: “Sáu căn là gốc của sinh tử, sáu căn là gốc của giải thoát”.

Khi tham cứu các Ngữ lụcCông án của các bậc Thánh nhân ở trong quá khứ, thì ta sẽ nhận thấy được những lời văn, ngôn từ, cách diễn đạt đạo lý của các Ngài rất đơn giảndễ hiểu. Các Ngài không dùng những ngôn ngữ hoa mỹ để trình bày, phân tích, mà thay vào đó là những lời nói rất chân thực, cụ thể, rõ ràng, đồng thời dùng các hình ảnh, biểu tượng để làm phương tiện cho việc dạy đạo đạt hiệu quả cao hơn.

Bởi vậy, tâm sinh diệtchân tâm không sinh diệt, hoặc vô minh hay minh là ở nơi cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm vị, cái xúc chạm, cái tư duy về các pháp. Vì thế, ta cần phải chiêm nghiệm, tư duy thật sâu sắc về ý nghĩa này! Điều này không phải mới được nói bây giờ, mà đã được Đức Thế Tôn và các vị Thánh đệ tử giảng dạy từ lâu.

Con người sinh ra trong cõi đời này không ai là không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Vì thế, mỗi khi mắt nhìn các sắc, tai nghe các âm thanh, mũi ngửi các hương, lưỡi nếm các vị, thân xúc chạm các vật, ý đối với pháp trần như vậy mà khởi tâm phân biệt yêu ghét thì đó là vô minh (tâm sinh diệt); nhưng cũng ở nơi các đối tượng muôn vật như thế mà tâm không sinh khởi phân biệt yêu ghét thì đó là minh (chân tâm không sinh diệt).

Tâm không sinh diệt này là định, tuệ đồng thời hoặc giới, định, tuệ đồng thời. Vì sao lại mang ý nghĩa như thế? Bởi vì khi ta nhìn thấy như thật về tất cả các pháp như: Thiện ác, nam nữ, xanh đỏ, ngắn dài… thì đó gọi là tuệ; nhưng cũng ở nơi các pháp đang nhìn thấy ấy mà không khởi vọng tâm phân biệt gì, thì đó chính là định. Ở trong định có mặt của tuệ, ở nơi tuệ có mặt của định, định tuệ không có trước sau. Vì định tuệ không có trước sau nên gọi là định tuệ đồng thời.

Tâm không sinh diệt này là giới, đó chính là thiện pháp vô lậu. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không khởi tâm phân biệt, thì đó chính là định. Biết tâm thanh tịnh rỗng lặng, đối với các cảnh mà không khởi tạp niệm, thì đó chính là tuệ. Đó là giới, định và tuệ đồng thời. Vì giới, định và tuệ đồng thời nên đó chính là giới, định và tuệ vô lậu.

Trong Trung A-hàm, Kinh Đại Thiên Nại Lâm số 67, Đức Phật dạy: “Nay Như Lai trao pháp Bát Chánh đạo cho Thầy A-nan, Thầy A-nan phải thừa kế, giữ gìn và trao lại để cho Chánh pháp không bị diệt vong.”

Trong Kinh Đại Niết-bàn, Đức Phật dạy: “Nếu những Tỳ-kheo sống chân chánh theo Bát Chánh đạo thì cõi đời này không thiếu vắng quả vị A-la-hán”.

Trong Tạp A-hàm, Kinh Quảng thuyết Bát Chánh đạo, Đức Phật dạy: “Bát Chánh đạo gồm có Hữu lậu và Vô lậu”.

Như vậy, một người đang thực tập chánh niệm, chánh định và chánh tuệ ở nơi phương pháp niệm danh hiệu Đức Phật, phương pháp trì chú, phương pháp theo dõi hơi thở vào ra hay sự phồng xẹp của bụng, có nghĩa là người đó đang thực tập Bát Chánh đạo trong giai đoạn hữu lậu-hữu vi.

Khi đã Kiến đế hoặc lãnh hội được chân tâm không sinh diệt, thì vị ấy không còn thực tập Bát Chánh đạo trong giai đoạn hữu vi-hữu lậu nữa, mà bước tới thực tập Bát Chánh đạo thuộc vô lậu-vô vi. Tuy nhiên, các bậc Thánh Sơ quả, Nhị quả, Tam quả đều trong giai đoạn hữu học, chưa đạt được vô học. Cho đến khi nào vị ấy thành đạt Tứ quả, thì lúc đó mới đạt được trí tuệ vô lậu của bậc Thánh A-la-hán.

 

III. THẾ NÀO LÀ BÁT CHÁNH ĐẠO

VÔ LẬU?

 

* Chánh kiến vô lậuthấy như thật về Khổ đế, Tập đế, Diệt đếĐạo đế. Hoặc theo lối diễn đạt khác, khi chúng ta nhìn thấy tất cả các pháp thiện ác, xanh đỏ, dài ngắn… mà tâm không sinh khởi lên một ý niệm ái và thủ gì, thì đó gọi là chánh kiến vô lậu.

Trong Đốn ngộ nhập đạo yếu môn của Thiền sư Tuệ Hải - Đại Châu, bản dịch của HT.Thanh Từ, có dạy: “Thế nào là chánh kiến? Thấy mà không có chỗ thấy, đó là chánh kiến”. Thế nào là thấy mà không có chỗ thấy? Khi thấy tất cả các sắc mà không khởi nhiễm trước. Không khởi nhiễm trước thì không khởi yêu ghét, ấy là thấy mà không có chỗ thấy. Nếu khi đạt được thấy mà không có chỗ thấy thì gọi là con mắt Phật trọn không có con mắt khác. Nếu khi thấy tất cả các sắc mà khởi tâm yêu ghét, ấy là thấy mà có chỗ thấy. Vì có chỗ thấy là con mắt chúng sinh trọn không có con mắt khác làm con mắt chúng sinh, cho đến các căn còn lại cũng lại như vậy”.

* Chánh tư duy vô lậutư duy không có tác ý, tư duy vô ngã. Do chánh kiến vô lậu nên mới dẫn sinh chánh tư duy vô lậu.

* Chánh ngữ vô lậu là do an trú chánh kiến vô lậu nên khi nói cũng định, khi không nói cũng định.

* Chánh nghiệp vô lậu là do an trú chánh kiến vô lậu nên mọi hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi và làm tất cả việc lành đều xuất phát từ nơi chánh kiến vô lậu, thanh tịnh rỗng lặng.

* Chánh mạng vô lậu là do an trú chánh kiến vô lậu, thanh tịnh rỗng lặng nên mạng sống của vị ấy được nuôi dưỡng bởi pháp vô lậu.

* Chánh tinh tấn vô lậu là do an trú chánh kiến vô lậu nên không khởi tâm thương ghét, thiện ác.

Trong Ngữ lục của Ngài Lâm Tế, Ngài Hoằng Bá đều dạy rằng, tâm không khởi vọng tưởng đó là đại tinh tấntinh tấn không có bờ mé.

* Chánh niệm vô lậu là do an trú chánh kiến vô lậu nên khi đối với tất cả cảnh mà tâm không khởi yêu thích, có không.

Trong Đốn ngộ nhập đạo yếu môn, Thiền sư Tuệ Hải dạy về chánh niệm như sau: “Thế nào là chánh niệm? Chánh niệm là chỉ niệm Bồ-đề. Bồ-đề có thể được chăng? Bồ-đề không thể được. Đã không thể được làm sao chỉ niệm Bồ-đề? Bồ-đề là danh tự giả lập, thật không thể được, cũng không có trước sau được, vì không thể được nên không có niệm. Chỉ cái không niệm ấy là chân niệm. Bồ-đề không có chỗ niệm, không có chỗ niệm tức là tất cả chỗ không tâm, ấy là không có chỗ niệm”.

* Chánh định vô lậu là do an trú chánh kiến vô lậu, thanh tịnh rỗng lặng nên đi, đứng, nằm, ngồi, nói hay im lặng đều là định. Đó là thường định và thường tuệ.

Cho nên, khi chánh kiến vô lậu sinh khởi thì bảy chi phần còn lại của Bát Chánh đạo cùng sinh khởi và tất cả đều vô lậu. Mối quan hệ nhân duyên nhân quả của Bát Chánh đạo là mối quan hệ không thể phân ly.

Tóm lại, mục đíchchí hướng tu tập của người xuất gia hay cư sĩ tại gia là phải Kiến đế. Đó chính là lãnh hội được chánh kiến vô lậu hoặc chân tâm không sinh diệt. Sau khi lãnh hội được chánh kiến vô lậu, an trú chánh kiến vô lậu này để tu tập nên vị ấy mới điều phục, đoạn trừ được vô minh, ái, thủ vin bám ở nơi sự tập khởi của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Do vô minh, ái, thủ được điều phục, đoạn trừ nên vị ấy đạt được Sơ quả, Nhị quả, Tam quảTứ quả.

Tạo bài viết
02/10/2012(Xem: 42774)
Kính mời Quý Quan khách đồng hương Phật tử đến tham dự Đại Lễ Đức Phật Thành Đạo 2563 Ngày 15 tháng 12 năm 2019 tại Anaheim Convention Center chính thức khai mạc vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật ngày 15 tháng 12 năm 2019 tại Anaheim Convention Center 800 West Katella Ave., Anaheim, CA 92802 Hội trường rộng 6000 chỗ ngồi, vào cửa miễn phí. 04:00 PM: Đại Nhạc Hội ÁNH ĐẠO VÀNG với MC Nam Lộc & MC Leyna Nguyễn (Xem chi tiết nội dung sau:)
Thường thì giới mê burger chỉ thích ăn loại bánh mì kẹp thịt bò nướng (thịt băm hay xay nhuyễn) nhưng kể từ hôm 13/11/2019, loại burger chay đã được bán tại 2.500 cửa hàng châu Âu. Đây là món ăn mới trên thực đơn của chuỗi nhà hàng Burger King, cạnh tranh trực tiếp với hai hiệu khác là McDonald’s và Buffalo Grill.