Phật giáođời sống tâm linh

28/01/20154:25 CH(Xem: 5234)
Phật giáo và đời sống tâm linh
blank
PHẬT GIÁOĐỜI SỐNG TÂM LINH
Đặng Công Hanh
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về
(Trịnh Công Sơn)
  • Cuộc hành trình Giác ngộ


Vào lúc 7 tuổi, trong một tình cờ, Thái tử Tất Đạt Đa tham dự buổi lễ Hạ điền. Trong lúc tham dựquan sát buổi lễ, Thái tử chợt thấy con giun bị con chim bới đất lên và nuốt sống. Cảnh tượng nầy đã ám ảnh nhiều và Ngài liền suy ngẫm đến mọi sự thật của cuộc đời – đến một thực tế không tránh khỏi sự tàn sát lẫn nhau vì sinh tồn trong chúng sinh, hẳn đây chính là cội nguồn của khổ đau.

Trong một lần khác, nhìn thấy một người già, một người bệnh và một xác chết. Ngài không khỏi ray rứt bởi các cảnh tượng đó và đặt câu hỏi tại sao như vậy. Rõ ràng chính Ngài cũng không tránh khỏi những hoàn cảnh như thế và quyết định bỏ cuộc đời trần tục, phát triển ý thức xa lìa dục lạc phù phiếm của cuộc đời và thúc đầy Ngài theo đuổi một cuộc sống khổ hạnh để tìm chân lý tối hậu, dù cho Ngài đang sống cuộc đời vương giả của thời đại lúc bấy giờ.

Ngài đã nhận thức cái đau khổ gắn liền với cuộc sống của chúng hữu tình và biết rằng dù có thỏa thích với các hương vị của ngũ dục đến đâu đi nữa, sau cùng, rồi cũng phải đối mặt với một thực tế của lão, bệnh, tử. Hiểu được điều này và được khích lệ bởi hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc. Bốn cảnh tượng nói trên đã thúc dục ngài sớm thoát ly thế tục bằng con đường xuất gia. Thái từ nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi, tìm chân lý, An tịnhTrường cửu.

Một câu chuyện kể rằng Thái tử và người anh em họ Đề Bà Đạt Đa đang dạo chơi trong vườn ngự uyển của hoàng cung, bất chợt Đề Bà Đạt Đa dương cung bắn rơi một con thiên nga, Thái tử vội nhanh chân đến dành ôm con thiên nga bị thương trong tay, vuốt ve làm cho con chim bớt đau đớn. Đây là thí dụ điển hình về sự bộc lộ lòng từ bi, một quan niệmmục tiêu cao cả là quý trọng hạnh phúc và làm dịu đi nỗi đau thương người khác.

Sau khi xuất gia để đi tìm chân lý tối thượng, Ngài phát triển trước tiên về phẩm hạnh giới luật thiền định dưới sự hướng dẫn của hai vị đạonổi tiếng là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta trong sáu năm để đạt giác ngộ. Ngài phát hiện ra rằng với thiền định thuần túy không thôi không thể chấm dứt vĩnh viễn được khổ đau và đã đưa vào một chiều hướng mới là thiền địnhmục đích trí tuệ. Với sự khám phá này, Ngài đã đạt đến nhất tâm, hướng tâm vào sự hiểu biết bản chất của sự vật và thấu hiểu chân lý. Sự giác ngộ của Ngài chính là kết quả của sự phối hợp thiền địnhtrí tuệ.

Thời đại lúc bấy giờ theo truyền thống tư duy của Ấn Độ và các tôn giáo khác, thì các nhà tu khổ hạnh đã tu tập phương pháp luyện tâm là những người không lập gia đình, thường lang thang, ăn mặc quần áo rất sơ sài, không ở một nơi nào nhất định và được dạy cách vượt qua sinh tử. Đối với Ngài, khía cạnh trí tuệ điển hình thường thể hiện trong đời sống. Một trong những số đó là quan điểm Trung đạo, tránh cả hai cực đoan; sự ham mê cực độ những dục lục giác quan và sự hành hạ thân xác quá đáng.

  • Giờ phút thành Đạo


Trong buổi sáng, trước ngày Thành Đạo, Ngài nhận bát sữa gạo do bà Sujãtã dâng lên. Sau khi thọ xong bữa ăn, Ngài nhịn đói luôn 49 ngày, ngồi yên lặng suy niệm dưới gốc cây Bồ Đề. Vừa lúc bình minh, ngày thứ 49, Ngài chứng đắc Quả Vô Thượng, và trở thành vị Phật lúc ba mươi lăm tuổi bằng những nỗ lực phi thường, Ngài đọc lên một bài kệ, hoan hỷ mô tả sự chiến thắng tinh thần vô cùng vẻ vang rực rỡ.

“… Này hỡi người thợ làm nhà,

Như Lai đã tìm được người

Từ đáy người không còn cất nhà cho Như Lai nữa

Tất cả sườn nhà đều gãy

Cây đòn dong của người dựng lên cũng bị phá tan

Như Lai đã chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt

Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục” .

Bài kệ mang nhiều ẩn dụ: Như Lai chính Đức Phật, người thợ là ái dục, sự tự tạo ẩn sâu kín bên trong Ngài, một thành phần luôn luôn hiện hữu bên trong mọi người. Cái gì tạo ra thì có thể tận diệt được. Cái sườn nhà tự tạo chính là các ô nhiễm như tham lam, sâu hận, si mê, ngã mạn, tà kiến, phóng dật, hành vi bất thiện… Cây đòn dong chống đỡ cho sườn nhà là vô minh, một căn nguyện của mọi dục vọng. Sự phá vỡ cây đòn dong vô minh làm bằng chất liệu trí tuệ.

Khi toàn bộ vật liệu xây dựng không cần thiết, người làm thợ trở nên vô dụng, lúc đó mọi sự thể đều bị bỏ lại và chỉ còn lại cái tâm đã đạt đến trạng thái vô vi, vô sanh, bất diệt, Niết Bàn.

Với ý chí sắc đá, với trí tuệ siêu đẳng, lòng bi mẫn trời bể, đức vị tha vô lượng, sự truy tìm chân lý tối hậu của Ngài đã đưa đến sự ra đời của Phật giáo. Cũng chính vì thế ta nhận thức được rằng Phật giáo có nghĩa là “Giáo huấn của một con người Giác ngộ”. Mỗi vị Phật là một con người Giác ngộ, một con người đã nhìn thấy sự vật “như nó là”. Phật giáo xuất hiện trên nền tảng thực tiễn như vậy nên là một tôn giáo dựa trên trí thông minh, khoa học và sự hiểu biết, có mục đích giúp cho thế nhân loại trừ khổ đau và các nguyên nhân tạo nên khổ đau trong một chiều kích thật sâu rộng.

Vậy nhìn từ góc độ của Đạo Phật nguyên chất, mọi hình thức tôn thờ hướng vào các vật thể thiêng liêng bằng lễ lạc, nghi thức cúng bái hay cầu khẩn đều không phải là tính cách Phật giáo.

Có lần Đức Phật nói: “Nếu một người nào đó có thể loại được khổ đau của mình bằng cách cúng dường, bằng sự tôn kínhcầu nguyện, thì sẽ chẳng còn ai trong thế gian này phải chịu gánh khổ đau cả, bởi vì có ai mà lại chẳng biết bày tỏ sự tôn kínhcầu nguyện. Dù cho họ có thật ngoan ngoãn, biết tôn kính và thực thi nghi lễ đều đặn, thế nhưng trên thực tế thì họ vẫn cứ phải chịu khổ đau. Vì thế nên hết sức hiển nhiên, những thứ ấy nhất định không phải là giải pháp hữu hiện giúp họ tìm thấy sự giải thoát khỏi những khổ đau của chính họ“.

(Giáo sư Buddhadasa, Đại học Queenland – Hoang Phong dịch)

Nhìn trên đại thể mà nói, trong kho tàng giáo lý đồ sộ, ngoài những giáo lýtính cách của nền đạo đức thực tiễn, được lý giải bằng ngôn ngữ có tính thời đại phổ biến, vẫn còn đó cả phần lớn giáo lý thuộc thế giới bàng bạc cái không khí “huyền chi hựu huyền”, như thể một kính vạn hoa phản chiếu muôn vàn ảnh tượng như thực, như hư, như có như không, mà con người với trí năng thông thường, giới hạn của mình không thể thành đạt sự kiến giải.

Chính vì thế, với tính cách uyên áo thăm thẳmgiáo lý của Ngài tác động gợi nhiều cảm hứng cho các tầng lớp đại chúng lẫn hàng ngũ tri thức. Chẳng hạn tiêu biểu thử trích lượt một số quan kiến của các học giả tiếng tăm đương đại trên thế giới và họ đã nói gì:

“… Ngài là người đã dựng nên một hệ thống tôn giáo vô cùng cao thâm huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí. Bởi vì, đứng về phương diện trí thức, chắc chắn Ngài là một trong những vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử…”

(Tiến sỹ Sri Radha krishman – Phạm Kim Khánh, dịch)

“… Nơi Đức Phật ta thấy rõ ràng là một con người giản dị có tâm đạo nhiệt thành, một mình tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống, một con người như mọi người chứ không phải là một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyền thuyết hoang đường… Bao nhiêu quan niệm các thế hệ tân thời đều tương hợp với giáo lý ấy. Đức Phật dạy rằng tất cả những gian lao sầu khổ và bất hạnh trong đời đều do lòng ích kỷ sinh ra. Trước khi có thể trở nên vắng lặng, con người cần phải ngừng sống cho giác quan mình. Rồi từ đó, vượt lên trên tất cả mọi người, Ngài sống cuộc đời siêu nhiên… Đứng với tầm quan trọng của con người trong sự phục vụ, Ngài tỏ ra sáng suốt hơn, và đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp nhân sinh, Ngài ít lúng túng hơn trong biện thuyết mập mờ…”

(Giáo sư H.G.Wells: Three Greatest Men in History – Phạm Kim Khánh, dịch)

“Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con ngườithể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thần thánh nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không thể xâm nhập vào đời sống của Ngài được.

(Giáo sư Eliot – Pháp Hiền dịch)

  • Tính cách vĩ đại


Từ lúc thành đạo, năm ấy Ngài đúng ba lăm tuổi, đến khi Đại Niết Bàn lúc tám mươi tuổi. Trong suốt thời gian bốn mươi lăm năm Đức Phật không ngừng phục vụ nhân loại bằng giáo pháp và bằng tấm gương chính đời sống Ngài. Khi đến nơi này, lúc đến nơi kia để truyền bá giáo pháp và dẫn dắt nhiều người thoát vòng cương tỏa luân hồi.

Trong những mùa mưa lũ, nước dâng cao, đường sá ngập lụt, thông thường Đức Phật và các đệ tử được cung thỉnh về an cư kiết hạ ở các tu viện hay những khu vườn ẩn dật hoặc rút vào rừng sâu. Những lúc như vậy dân chúng tại địa phương đó theo chân Ngài để nghe giảng pháp.

Giáo pháp của Ngài là những lời dạy có nội dung bắt nguồn từ Chứng pháp Chứng pháp là sự nội chứng sâu thẳm, thấu suốt đến tận rốt ráo của vạn pháp (hiện tượng – sự vật), vượt quá so đo, tính toán của thế trí. Giáo pháp chỉ dạy những sự thật của cuộc sống an lạc hạnh phúc, sự thật của phẩm giá cao thượng nơi con người, sự thật đó có sức mạnh chuyển hóa sự ham mê đời sống vật chất, tình tiền, nhục dục…

Chứng pháp quá sâu thẳm, quá lớn rộng nên khi diễn đạt Đức Phật thường dùng các pháp dụ, tức là các ví dụ phù hợp với hoàn cảnh, với thời đại. Ngài là bậc Vô thượng giác, là trí tuệ siêu việt trần thế nên sự giảng dạy đạt đến mức toàn hảo, có công năng làm sống dậy bản chất cao thượng của tâm hồn, là phương thuốc trị bệnh tâm linh cho con người, một căn bệnh trầm kha do tâm lý khao khát ái dục, đã ăn sâu qua vô số đời sống, tạo nên một hấp lực mang nặng chiều hướng bản năng nguyên thủy.

Ngài đi từ những kinh thành lộng lẫy đến những làng mạc xa xôi, ròng rã suốt 45 năm không mệt mỏi. Với hành trang gồm một bình bát, khất thực, với ba tấm y để che thân, đôi chân trần, đầu không nón suốt bốn mùa mưa nắng. Ngài thuyết pháp bằng đủ mọi phương tiện, đều không ngoài mục đích với lòng thương chúng sinh vô hạn.

Đức Phật Nhập Diệt năm 543 trước Tây Lịch vào ngày trăng tròn tháng Vesak, với lời di huấn tối hậu ngắn ngủi “Hãy nghe đây, này các đệ tử, Như Lai khuyên các con. Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần“. Đến bây giờ đã gần 26 thế kỷ trôi đi, Đạo pháp của Ngài vẫn cứ rực rỡ chiếu soi như đôi vầng nhật nguyệt.

  • Xác tín và xác thực


Sau khi Đức Phật Đại Niết Bàn, các luận sư Phật học lỗi lạc như Ngài Vô Trước, Mã Minh, Long Thọ,… đã phân định Pháp giới để giảng giải theo hai cảnh giới:

+ Chân thật giới hay thế giới tuyệt đối gồm các pháp “vô vi” mang tính cách siêu hình không thể nhận biết qua giác quan bằng khả năng tư duy, biện giải mà chỉ qua nhận thức trực giác do công phu thiền định cấp độ cao, tạm gọi là trí vô phân biệt, không thể nghỉ bàn, và chỉ còn là sự im lặng.

Trung Quán Tông cho rằng thế giới tuyệt đốiTánh Không. Khái niệm về Tánh Không có hai phạm vi khác nhau: Một mang tính triết học và khoa học nói lên bản chất tối hậu của hiện thực; hai là tính thực dụng xem như một phương tiện hiện hữu đến hóa giải mọi sự bám víu, dính mắc mang lại những rối loạn và khổ đau.

Đức Phật nêu lên Tánh Không như một thể dạng tối thượng của tâm thức và chính Ngài đã xác nhận mình luôn luôn thường trú trong Tánh Không.

Song song với sự hình thành Phật giáo Đại Thừa và nhất là xuất hiện Trung Quán Luận của Ngài Long Thọ, một luận sư lỗi lạc, Tánh Không được mở rộng liên quan đến mọi hiện tượng của vũ trụ. Như là một khái niệm siêu hình mang tính triết học với biện chứng trừu tượng và được đặt vào vị trí trung tâm của Đạo pháp. Tánh Không trở thành cốt lõi của Đạo Phật và việc tu tập phải hướng vào Tánh Không như một phương tiện hữu hiệu nhất.

Trên phương diện tu tập, người học Phật đã không ngừng kinh ngạc trước các khái niệm mà Đức Phật đã khám phá ra cách đây ngót 26 thế kỷ, nên đã đặt sự xác tín nơi những gì mà người đi trước đã trải nghiệm truyền đạt lại, trong đó chủ yếu là lời dạy của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Phật có lần dạy: “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”.

thế cho nên từ lúc bước chân vào học đạo, chúng ta phải vận dụng lý trí để hiểu rõ lời Phật dạy, tiếp đó suy niệm xem lời dạy có phải là chân lý (sự thật) không. Và sau rốt lại, khi sự xác tín đã vững vàng, chúng ta nỗ lực hành trì để một ngày nào đó chính ta chứng thực được niềm xác tín đó. Đây quả một sự thách đố cho chính bản thân với những ai có tấm lòng tu học trên mỗi chặng đường tu chứng.

Rõ ràng, niềm xác tín của những thế hệ học Phật, tu Phật, xưa nay ở những gì mà Đức Phật giảng dạy đã đem đến một sự thành tựu lớn lao hơn nhiều so với những gì mà ta chấp là xác thực đem lại cho đời sống hiện thực.

Một ví dụ rất gần gũi: Tin nơi Luật Nhân – Quả:

– Ở cấp độ thô thiển: bây giờ ăn mặn nhiều thì lát sau sẽ thấy khát nước.

– Ở dạng sâu sắc siêu hình hơn, luật Nhân – Quả được thể hiện trong mối quan hệ giữa ba thời quá khứhiện tạivị lai; giữa thế hệ trước và thế hệ sau: Rau nào thì sâu nấy; Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh. Có thể khái quát nói rằng cái gì “đang là” thế nầy thì phải tiến tới nó “sẽ là” thế ấy, nếu không có sự tác động nội tại hay ngoại tại. Một tiến trình như thế sẽ hé lộ cho ta thấy: cái “sẽ là” ở trong cái “đang là”, và cái “đang là” lại có từ các “đã là”. Mối quan hệ biểu trưng hình ảnh của Nghiệp và Chuyển Nghiệp trong nhà Phật.

+ Hiện tượng giới hay tục đế bao hàm sự vật hiện tượng hữu hình hay vô hình mà giác quan con người cảm nhận được như tinh thần, ý chí, tình cảm… có thể khảo sát được qua phương pháp duy nghiệm. Đạo Phật gọi là pháp “hữu vi” biểu thị hiện tượng hình thành do nhân duyên và cũng là đối tượng của khoa học, trung tâm của ngành vật lý. Vì thế nên khoa học có cái cám dỗ mãnh liệt, cái cám dỗ của chân lý khách quan mà lý trí con người có thể vươn tới được. Thực tế cho thấy, khoa học đã đạt nhiều thành quả to lớn trong hơn thế kỷ nay với sự trợ giúp của công nghệ. Đồng thời bộ mặt của nhân loại cũng thay đổi một cách nhanh chóng trong sự thụ hưởng những tiện ích thông qua các tiến bộ kỹ thuật, xây dựng được xã hội văn minh.

Tuy vậy, con người cần bình tĩnh lại để thấy rằng còn biết bao nhiêu câu hỏi cuộc sống mà vẫn chưa có lời giải đáp: Ngẫu nhiên, hỗn độn là cái gì? Làm thế nào mà trật tự lại có thể xảy ra trong một vũ trụ tuân theo luật entropy tăng. Vấn đề “đa thế giới” của lý thuyết “dây” hay “siêu màng”. Đâu là thực tại nhiều chiều (ít nhất là 10 chiều, có một phần của nó biểu hiện ra 4 chiều không – thời gian). Và các chân lý khách quan đó còn nhắc nhở con người giảm bớt lòng tự hào và loại trừ đi những ảo tưởng về khả năng tính của lý trí mà từ lâu đã nặng nợ với tất định luận, với những pháp suy luận duy lý và qui giản hay nói theo Phật học là còn bị ràng buộc trong tính chất chiêu cảm của Nghiệp lực.

  • Sự đẳng cấu giữa tương đốituyệt đối.


Đức Phật nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Sắc bất dị Không; Tương đốiTuyệt đối; Ngộ – Mê, đều thể hiện tính cách sự “đẳng cấu” trong Toán học.

Một hình mẫu rất gần với sự hòa hợp giữa cái tương đối và cái tuyệt đối của nhà vật lý Lượng tử đã quá cố David Bohm với ý tưởng thể hiện về cái “trật tự ẩn” và “trật tự hiện” theo thuật ngữ của ông (implicate order & explicate order), Ông là nhà vật lý nổi tiếng làm việc với S.Hawking, R – Penrose nhưng lại có cái nhìn gần với Đạo học Phương Đông.

Ông xây dựng thí nghiệm thế này: Có 2 ống hình trụ đáy kín, cùng trục quay. Ống ngoài cố định, ống trong nhỏ hơn quay được. Đổ vào đó glycerin đầy phần giữa 2 ống. Nhỏ 1 giọt mực vào glycerin, rồi quay ống hình trụ trong. Giọt mực vẽ nên một đường cong mờ dần rồi mất hẳn. Lúc bấy giờ, mỗi điểm trong dung dịch trông thấy đồng nhất. Ông gọi đó là trật tự ẩn. Sau đó, quay ống bên trong theo chiều ngược với một tốc độ thích hợp, giọt mực bất ngờ xuất hiện lại từ hư không, ông gọi đó là trật tự hiện.

Tiếp theo, cho thêm một giọt thứ 2 ở gần giọt mực thứ nhất, rồi quay; giọt thứ 2 và giọt thứ nhất quấn vào nhau và cứ như thế cho đến giọt thứ n. Bây giờ, quay ngược lại với tốc độ hợp lý, giọt thứ 1 tái xuất hiệnlần lượt tiếp thu bởi giọt thứ 2, 3… thứ n. Tất cả chúng đều ở đó.

Ông nói rằng mọi sự kiện quá khứ, hiện tại, vị lai là ở ngay đây, ngay lúc này, nhưng chúng hiện ra tùy vào điều kiện theo cách nào đó. Một số sự kiện trở thành hiện thực, hoặc xảy đến, một số thì không. Nhưng về cơ bản chúng đều ở đó dù chúng ta không thực sự thấy chúng. Đó cũng có nghĩa là sự hòa hợp giữa thế giới tương đốithế giới tuyệt đối. Và các biểu hiện trong thế giới hàng ngày có vẽ bề ngoài tách bạch chỉ là biểu hiện có điều kiện thích hợp của thế giới tuyệt đối. Chân khôngDiệu hữu. Không tức thị Sắc, Sắc tức thị Không (Bát nhã Tâm Kinh) . Hai thế giới này không phải là hai, nhưng chẳng phải là một.

Thật xúc động với thí nghiệm này (theo cảm nghĩ người viết) một mẫu hình đối chiếu, ở đó Đạo Phật đã không còn xuất hiện như những “tín lý” mà đã xuất hiện dưới những yếu tố xác thực như khoa học đồng thời mở ra nhiều triển vọng để có thể mò mẫm bước vào những chiều kích sâu thẳm tâm linh, vượt qua những khái niệm thông tục về vật chất, về không thời gian và về tương quan một chiều, đã trói buộc chúng ta vào vòng khổ đau không đáng có.

  • Vọng tâm


Trong thế giới con người, chúng ta sống tràn ngập trong vọng tưởngđiên đảo. Vọng tưởng là do mê lầm. Do đó vọng tưởng là bị dính mắc vào sự vật, dính mắc vào sự phân chia và cái biết. Chúng ta không thể ở mãi trong cảnh giới tuyệt đối, hay cái Nhất thể, cái Phật tính, mà cũng không thể cứ dính mắc vào thế giới hiện tượng. Chúng ta phải thấy cho được đồng thời cả hai cái tương đốituyệt đối và hoạt dụng tự do trong đồng thời cả hai thế giới đó. Đây là sự giải thoát.

Một câu chuyện Thiền: Trước Thiền, đầu tiên thấy núi là núi, sông là sông. Nghĩa là những gì ta nhận thức được là thế giới hiện tượng, mọi thứ được đặc trưng bởi sự khác biệt. Trong lúc đang hành trì Thiền sâu và nắm bắt được sự hòa hợp trong cuộc sống thì đột nhiên núi không còn là núi mà sông cũng chẳng còn riêng sông, chỉ có nhất thể, chỉ có tính duy nhất và lúc này mọi khái niệm phân biệt đều rơi rụng. Sau khi xả Thiền, ta lại thấy núi lại là núi, sông lại là sông như lúc ban đầu, nhưng không còn theo nghĩa tương đối trước khi thực chứng. Điều này nói lên rằng không phải nhận thứcvấn đề, mà là bám chấp sự nhận thức đó là vấn đề.

 

  • Duy Tâm tạo


Trong các kinh điển đều nói lên khái niệm: Tất cả những gì mà chúng ta quán nhận được, hình dung được đều là tâm thức. Điều này có thể diễn dịch, mỗi khi nhận biết một sự vật hiện tượng nào đó thì ngay lúc đó tâm đã gán cho sự vật hiện tượng một nhãn hiệu. Chẳng hạn về 1 lọ cắm hoa hồng. Nhiều người khi đối diện với lọ hoa đã nhào nặn và biến đổi trong tâm thức của từng người, rốt cuộc nó đã trở thành một sản phẩm của chính tâm thức của mỗi người và do đó có thể nói rằng đối tượng lọ hoa không thực sự hiện hữu như chính nó là.

Thông thường khi cảm nhận được các sự vật hiện tượng ở bối cảnh bên ngoài thì sự thu hút của nó sẽ khiến cho tâm thức bám chặt vào hình tướng nó và ta có cảm giác là sự cảm nhận của mình là xác thực. Trạng thái này có hàm một ý nghĩatâm thức đã tương tác và hòa nhập với bối cảnh đó, đây chính là lúc tâm thức bị lừa dối và nó sẽ dẫn đến sự duy trì nguyên bản chất sai lầm. Sự sai lầm này của tâm thức, một phần do ta đặt sự quan trọng quá mức vào thế giới bên ngoài; phần khác là sự chi phối thường xuyên bởi tư duy nuối tiếc quá khứ hay sự chiêu cảm của Nghiệp lực.

Thế cho nên hãy tập trung thường trú trong thể dạng tự nhiên là hội nhập với hiện tại. Phương cách này tỏ ra hiệu quả để thực hiện những kinh nghiệm nuôi dưỡng được trạng thái trong sáng của Tâm. Tỉ như hình ảnh mặt nước, lúc bị khuấy động sẽ tạo ra sóng và bọt thì không thấy được sự trong suốt của nó. Vậy hãy hòa mình sống với tâm hồn nhiên, chỉ nghĩ đến thời khắc hiện tại và hòa nhập với thể dạng “phi khái niệm”.

“… Trên sóng lúa, nét chiều thấp thoáng

Một nét cong xao động tâm hồn

Trời khoáng đãng ngây thơ con diều giấy

Ta thấy mình chưa dễ đã lớn khôn!…”

(Hồng Thế)

Khái quát rằng các đối tượng thật sự hiện hữu, thế nhưng chúng không hiện hữu đúng với phong cách mà ta tưởng tượng, cảm nhận về chúng. Nói cách khác, các đối tượng không hề mang thực thể nội tại, hay Tánh Không của chính sự hiện hữubản thể tối hậu của nó.

Hiểu biết Tánh Không về mặt trí thức chỉ thực sự có ích khi nhìn thấy thế giới này và cả chính mình đều thay đổi khác đi. Thay đổi để gở bỏ mọi bám víu vào sự vật hiện tượng dưới dạng hình tướng, để chúng tan biến đi, trả lại cho ta một bầu không gian trống không, trong sángthanh thoát, mở ra bước chân trên con đường dài thực hiện sự Giác Ngộ. Mong ước đạt sự Giác Ngộ là nền tảng của tỉnh thức, nên việc khởi động nền tảng đó để đạt được mục tiêu mong cầu, chính là Bồ đề tâm.

Sự hiểu toàn vẹn về Tánh Không sẽ có đủ khả năng loại bỏ được vô minh cơ bản (chấp cái tôi và cái của tôi), giải thoát dần những khổ đau, thấy được sự méo mó của tâm thức do hư vọng, do ích kỷ hẹp hòi. Từ đó Bồ đề tâm được phát động và giữ vai trò hết sức quan trọng đối với người học Phật bước vào con đường tâm linh một cách quả quyết.

*

*        *

 Kinh Pháp cú có viết rằng:

“Tâm thức dẫn đầu các hiện tượng, chúng nhất thiếttâm thức, tạo dựng bởi tâm thức”

Rõ ràng, lời dạy của Đức Phật và lời giảng giải của Kinh luận cho thấy bên trong mọi sự vật hiện tượng và phía sau sự dẫn đầu của tâm thức và sự tự tạo dựng ra chính nó sẽ là những gì? Phải chăng là một không gian trống rỗng, “ở thể dạng hoàn toàn tinh khiết, vô songtối thượng không có gì vượt hơn cả” mà chính Đức Phật đã thường trú trong đó.

Chúng ta thường mơ màng trên các trang Kinh, cảm nhận được phương tiện thiện xảo của sự cụ thể hóa Tánh Không qua dung nhan sắc màu danh ngôn: Phật tính, Chân Như, Niết Bàn, Pháp Thân, Trí Tuệ Như Lai, Bản thể, Ánh sáng trong suốt trong Cận Tử Nghiệp… Tất cả đều thể hiện như sự tương phản giữa dạng tâm thức giải thoát nhờ an trú trong Tánh Khôngtâm thức vô minh ô nhiễm trần tục. Con đường tu tập chính là nỗ lực kiên trì chuyển hóa của tâm thức trong chính chúng ta mà thôi.

“… Để một mai về làm cát bụi

     Ôi cát bụi tuyệt vời….”

(TCS)

 (dangconghanh.wordpress.com)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đại Lai Lạt Ma: Tu Tuệ – Hoang Phong biên dịchNXB Hồng Đức, 2013
  1. Bernie Glassman: Vòng tròn bất tận. Nguyễn Quyết Thắng dịch NXB Hồng Đức, 2014
  1. David Bohm: Tư duy như một hệ thốngTiết Hưng Thái, dịch NXB Tri Thức, 2011
Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 167456)
01/04/2012(Xem: 15211)
08/02/2015(Xem: 21750)
10/10/2010(Xem: 99167)
10/08/2010(Xem: 102901)
08/08/2010(Xem: 107022)
21/03/2015(Xem: 10928)
27/10/2012(Xem: 55890)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!