Bốn Dấu Ấn Của Phật Pháp

14/06/201012:00 SA(Xem: 121157)
Bốn Dấu Ấn Của Phật Pháp


BỐN DẤU ẤN CỦA PHẬT PHÁP
Trích trong quyển sách: CHUYỂN HÓA TÂM (Phát khởi Tâm Từ Bi)
của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
Nguyên tác:TRANSFORMING THE MIND (Teachings on Generating Compassion)
Anh ngữ: Geshe Thupten Jinpa - Dịch sang Việt ngữ: Chân Huyền

dalialama-010231237...Trong đời sống chúng ta ai cũng có bản năng tự nhiên mong được hạnh phúc và thoát được đau khổ. Mong cầu được sung sướng là điều chính yếu của tất cả mọi người. Muốn trả lời câu hỏi vì sao thế? Có lẽ ta chỉ cần nói "Nó vậy đó!"

chúng ta ai nấy đều có ước nguyện tự nhiên đó, dù chúng ta đều tìm cầu hạnh phúc, nhưng cũng thật sự tự nhiên, chúng ta ai cũng phải gặp đi gặp lại những cảnh đau khổ đủ mọi loại. Vì sao như thế? Vì sao khi thật lòng mong được sung sướng, chúng ta lại cứ bị phiền não.

Theo quan điểm của Phật giáo, nguyên nhân chỉ vì chúng ta có một số quan niệm căn bản sai lầm về cách nhận thức sự việc liên quan tới chúng tathế giới bên ngoài. Nhìn tận gốc, đạo Phật cho là ta có bốn loại nhận thức sai lạc hay là bốn tà kiến.

Trước hết, chúng ta nhìn mọi sự vật là vĩnh cửu, thường hằng bất biến, trong khi thực sự chúng thay đổi liên tục và chỉ tồn tại một thời gian. Tà kiến thứ hai: chúng ta coi mọi sự kiện - sự thật là nguồn gốc của khổ não - như những nguyên nhân mang lại hoan lạc, hạnh phúc.

Thứ ba: chúng ta coi những thứ bất tịnh như các thứ thanh sạch, đáng ao ước. Thứ tư: chúng ta có khuynh hướng coi mọi thứ đều hiện hữu trong khi thật sự không có sự vật nào có tánh cách riêng của nó.

Những tà kiến căn bản trên khiến ta nhìn mình và thế giới liên hệ tới mình một cách sai lạc, đưa ta tới những rối ren đau khổ. Trên động cơ căn bản này, đạo Phật đưa ra bốn thứ dấu ấn (Tứ pháp ấn) như những tiền đề, nguyên tắc chính trong tất cả các tông phái Phật giáo. Đó là:

- Mọi sự vật (pháp) do nhân duyên tạo thành đều thay đổi luôn luôn (Vô thường).
- Những gì bất tịnh đều "bất thỏa đắc" (Khổ).
- Không có sự việc nào có tánh cách riêng biệt (Không).
- Niết bàn là nơi thật sự có an lạc (Niết bàn tịch tĩnh).

1.- Vạn pháp đều vô thường: Đây là pháp ấn thứ nhất, căn bản của đạo Phật: mọi sự đều vô thường thay đổi hoài hoài. Mọi sự hay vạn pháp đây là tất cả những gì do nhân duyên mà được tạo nên, chúng luôn luôn thay đổi như chất lỏng tuôn chảy thành dòng liên tục.

Trong cái nhìn phiến diện sơ qua về vô thường, chúng ta đều nhận thấy được mọi sự vật thay đổi và chấm dứt ra sao? Nhưng Phật pháp đi xa hơn, cho rằng dưới tầng lớp của những thay đổi ta nhìn thấy, còn có một tầng lớp thay đổi thâm sâu vi tế hơn không lộ ra ngoài.

Nếu chúng ta nhận diện được những thay đổi trong một quảng thời gian dài, thì ta cũng có thể tìm hiểu tới những thay đổi trong một đơn vị thời gian nhỏ nhất mà ta có thể tưởng tượng ra. Dù chỉ trong một phút giây, diễn biến đổi thay vẫn luôn luôn hiện diện.

Mọi sự vật đều có chút gì thay đổi dù chỉ nhìn từ trong một đơn vị thời gian cực ngắn (sát na). Do đó chúng ta có thể lý luận rằng vạn pháp do nhân duyên tạo thành đều có bản chất vô thường. Nghĩa là mọi sự vật đều phù du chóng tàn.

Khi bạn hiểu được quan điểm căn bản này thì bạn sẽ nhìn thấy hạnh phúc mà ta ao ước cũng như đau khổ ta muốn tránh, đều cũng là những chuyện do nhân duyên đưa đẩy. Chúng không từ đâu tới, chỉ do các nhân duyên khởi lên.

Dù cho bạn phải kinh qua một chuyện đau khổ, lớn lao tới đâu chăng nữa, nó cũng là do các nhân duyên - và như vậy, nó sẽ qua đi. Hạnh phúc hay đau khổ đều có tính chất đổi thay luôn luôn. Hạnh phúcđau khổ bình đẳng với nhau vì có cùng bản chất vô thường.

2.- Mọi sự bất tịnh đều bất thỏa: Pháp ấn thứ hai đề cập tới sự khác biệt giữa hạnh phúc và khổ đau, cho rằng bản chất của những hiện tượng bất tịnh là gây ra sự không hài lòng (bất thỏa hay bất thỏa đắc). Điều này có thể hiểu ngầm là những gì không do các nhân duyên bất tịnh thì có thể mang lại sự hài lòng, thỏa mãn.

Khi nói về những gì bất tịnh ở đây, ta muốn nêu lên những sự cố khởi lên do những nhân duyên bất thiện, những cảm nghĩ tiêu cực, phiền não. Nó bị gọi là bất tịnh vì bị nhuốm những chất ô nhiễm của tâm. Do đó, căn bản của chúng là không đem lại sự thỏa lòng, bản chất của chúng là khổ đau (Duhkha).

Dấu ấn thứ hai không chỉ nói tới những cảm giác mà ai cũng công nhậnđau đớn hay phiền não. Dĩ nhiên, chúng ta đều ao ước muốn thoát khổ, nhưng tùy vào sự tỉnh thức của mỗi người, chúng ta hiểu về cái khổ một cách khác nhau.

Đạo Phật nói tới loại khổ trong pháp ấn thứ hai này, là có ý đề cập tới những loại khổ ở tầng lớp rất vi tế. Những ai đã hiểu Phật pháp đều biết trong đạo Phậtba loại khổ: Khổ khổ, Hoại khổHành khổ. Chúng ta đề cập tới loại khổ cuối này ở trong pháp ấn thứ hai.

Như tôi đã trình bày, pháp ấn thứ hai có ngụ ý, nếu chúng ta không bị ô nhiễm trong tâm thì chúng ta sẽ có hạnh phúc lâu dài và nguyên sơ mà ta hằng ao ước. Câu hỏi là vì sao các vọng tâm ô nhiễm đưa chúng ta vào những kinh nghiệm khổ đau? Và chúng ta có thể nào vượt thắng được các loại cảm nghĩ tiêu cực bất thiện đó chăng?

Những thứ tâm ô nhiễm hay các cảm nghĩ tiêu cực bao gồm tất cả các loại suy tư, cảm xúcbản chất phiền não. Từ ngữ Tây Tạng Nyon-mong có nghĩa là những gì làm cho ta đau khổ từ bên trong chúng ta, chúng gây ra phiền nãođau khổ.

Tôi muốn nói tới gốc rễ của tất cả nỗi khổ đau nơi chúng ta, ở tầng lớp vi tế, đó chính là các năng lượng bất thiện của những cảm nghĩ tiêu cực nằm sâu trong tâm ta.

Điều này có nghĩa là những gốc rễ của khổ đau có sẵn ở bên trong chúng ta, các gốc rễ hạnh phúc cũng vậy. Do đó, ta biết rằng tùy theo tâm mình có kỷ luật nhiều hay ít, ta sẽ có được hạnh phúc hay đau khổ. Tâm có kỷ luật, tâm được chuyển hóa thì đưa tới an vui - trong khi tâm vô kỷ luật, bị các phiền não dẫn dắt, đưa ta tới khổ não.

Bây giờ chúng ta có thể phối hợp những quán tưởng của ta về hai dấu ấn đầu tiên. Thứ nhất, mọi sự đều vô thường: ta hiểu mọi sự vật đều do nhân duyên hiện khởi, không chỉ tùy thuộc vào các thứ khác để sinh tồn, mà chính tự nó cũng luôn luôn chịu theo quy luật biến chuyển, không thể tự đứng vững. Hơn nữa, sự biến chuyển không đòi hỏi một phân tố thứ ba nào làm động cơ. Chính những nhân duyên tạo ra sự vật đó cũng là những nhân duyên làm cho nó ngừng lại.

Nếu chúng ta phối hợp "cái thấy" này với cái thấy trong pháp ấn thứ hai, ta sẽ hiểu rằng tất cả những gì hiện khởi do kết quả của các nhân duyên bất tịnh - là những vọng tâm ô nhiễm - thì chúng đều có căn bản không mang tới hạnh phúc, vì chúng bị các tâm không trong sạch chỉ đạo.

Suy nghĩ như thế, ta sẽ nhận biết được rằng, chúng ta đã để cho mình bị các cảm nghĩ bất thiện kiểm soát, và hơn nữa, ta đã để cho các cảm nghĩ đó bị những năng lực tiêu cực trong tâm kềm chế. Ta cũng sẽ bắt đầu hiểu được rằng, nếu ta cứ tiếp tục để tình trạng như thế, nó sẽ dẫn ta tới khổ đau. Theo đó, các cảm nghĩ bất thiện trong ta thật sự là những năng lượngtính cách phá hoại.

Những gì làm hại ta hay mang lại tai ương đều được gọi là kẻ thù. Kẻ thù đích thực của ta thật ra nằm trong chính ta! Vậy mới là khó khăn. Nếu kẻ thù ở bên ngoài, ta có thể chạy trốn hay ẩn náo. Đôi khi ta có thể đánh lừa hắn nữa. Nhưng kẻ thù ngay trong ta, thật khó mà biết phải làm sao.

Câu hỏi nồng cốt cho người tu tập theo con đường tâm linh là ta có thể thắng được kẻ nội thù đó chăng? Đây là sự thử thách quan trọng nhất của chúng ta.

Có vài triết gia thời cổ cho rằng, tánh ô nhiễm là một bản thể của Thức, không thể tách rời nó ra được, nếu thức còn thì những bất tịnh còn hiện diện. Nói như thế ngụ ý là ta không thể thắng được nó.

Nếu thật sự như vậy, tôi thà làm một người theo chủ nghĩa hưởng lạc. Tôi chẳng cần cố gắng tu tập làm gì, sẽ đi tìm khuây khỏa trong rượu hay trong các thứ khác, bỏ qua luôn các ý tưởng về tu luyện tâm linh. Và tôi cũng chẳng cần để ý tới những thắc mắc triết học đó. Có lẽ, đó là cách tốt nhất để có hạnh phúc chăng?

Nếu các bạn so sánh con người với con vật, bạn sẽ thấy đôi khi loài người chúng ta bị kẹt vào những tưởng tượng, suy tư nên chúng ta tự tạo ra những rối ren phiền phức, trong khi lũ vật không có những sinh hoạt tinh thần thì chúng lại hài lòng, bình thản và thoải mái. Chúng ăn khi được nuôi và ngủ khi nghỉ ngơi. Trong một khía cạnh nào đó, loài vật tỏ ra hài lòng hơn chúng ta nhiều. Vấn đề này đưa ta tới pháp ấn thứ ba.

3.- Mọi sự vật đều không có tự tánh: Pháp ấn thứ ba: mọi pháp đều trống rỗng không có tự tánh. Ta không nên hiểu dấu ấn này là chủ thuyết hư vô. Bạn không nên nghĩ rằng đạo Phật dạy những điều nếu đem phân tích tới cùng thì mọi sự đều không hiện hữu. Không phải vậy.

Khi nói về an lạc, phiền não, về các phương pháp tốt nhất để thêm vui bớt khổ, chắc chắn chúng tôi không bao giờ cho là mọi sự đều không hiện hữu. Pháp ấn thứ ba có nghĩa là có một sự khác biệt căn bản giữa nhận thức của ta về mọi sự vật so với bản chất thực của chúng. Mọi chuyện không hiện hữu như chúng ta tưởng về nó - không hiện hữu độc lậprõ ràng như ta nghĩ.

Để có thể xét coi những cảm nghĩ tiêu cực như giận, ghét v.v... có thật sự nằm trong bản chất của tâm ta không, chúng ta phải quán sát chính mình và những kinh nghiệm mình đã trải qua.

Sự giận ghét có hiện diện thường xuyên trong tâm ta không? Đôi khi ta giận, có lúc ta ghét, rồi các cảm nghĩ này cũng biến đi. Không phải có tâm thức là có các cảm xúc bất thiện này. Có khi giận ghét khởi lên, nhưng cũng có lúc các đối lực của nó: lòng từ bi, thương yêu cũng khởi lên.

Đạo Phật cho rằng tâm thức căn bản của chúng ta như bị các đám mây bao phủ, khi các cảm nghỉ khởi lên. Chúng tôi cũng cho rằng hai cảm xúc trái ngược như yêu và ghét không thể cùng một lúc hiện diện trong tâm của một con người. Những cảm nghĩ khác nhau hiện ra trong tâm ta tùy lúc, do đó không thể có chuyện các cảm xúc tiêu cực lúc nào cũng hiện diện, bám chặt vào bản tâm chân thật của mình.

Vì vậy, ta ví các cảm nghĩ thiện hay bất thiện chỉ như những đám mây che khuất tâm chân thật: bản tâm chúng ta thanh tịnh, trung tính; có thể bị các vọng tâm thiện hay bất thiện ảnh hưởng. Vậy thời chúng ta có hy vọng.

Trong căn bản lý luận này, vấn đề quan trọng là ta có thể nào loại bỏ được những cảm nghĩ bất thiện đó hay không?

Trên kia, chúng ta đã thấy rằng mọi sự vật đều thay đổi trong vô thường - có nghĩa là chúng ta có thể vượt thắng được những cảm xúcý nghĩ bất thiện. Trong bình diện phổ quát và căn bản hơn, chúng ta muốn biết những ô nhiễm trong tâm thức có thể hoàn toàn bị loại trừ hay chăng? Tất cả các trường phái Phật giáo đều cho là có thể. Trong nhiều kinh luận của đạo Phật, chúng ta thấy có rất nhiều bài giảng cặn kẽ về bản chất của các loại tâm bất thiện, về tiềm năng phá hoại và các nhân duyên tạo ra chúng v.v... Căn bản của những bài giảng này là tìm cách diệt tận gốc rễ các năng lực tiêu cực đó.

Dĩ nhiên chúng ta có thể nói chuyện Phật pháp trong bối cảnh giới luật như: không được giết hại, nói dối v.v... hoặc phải làm những điều lành. Nhưng các giới luật này chỉ có ý nghĩa đại cương vì các hướng dẫn đạo lý như vậy không phải là những gì đặc biệt chỉ đạo Phật mới có.

"Khả năng có thể làm bặt hết các năng lực bất thiện trong ta mới là sự hành trì đặc sắc của đạo Phật. Đó là Niết bàn tịch tĩnh, là sự giải thoát toàn diện, sự ngừng bặt của tất cả những phiền não trong tâm. Ta có thể nói Niết bàný niệm căn bản của Phật pháp".

Đối với một Phật tử, tất cả những phép tu tập phải được hiểu là để đạt tới tinh thần tự do tuyệt đối, không còn bị tâm ô nhiễm làm vướng bận. Điều này cũng áp dụng vào Giới, vì giữ giới nghiêm mật cũng là để tiến tới mục tiêu giải thoát.

Mục tiêu tối hậu của người Phật tử là nhổ tận gốc những cảm nghĩ bất thiện trong tâm, nguồn gốc của những hành động xấu ác. Sự cố gắng của người Phật tử thể hiện qua tác phong đạo đức trong lối sống của họ, chứng tỏ họ có thật sự muốn chuyển đổi những gốc rễ tiêu cực đó hay không? Những nỗ lực đầu tiên của các nỗ lực đó là các hành động (thân nghiệp) và lời nói (khẩu nghiệp) của họ.

Khi phân tích tánh chất của các cảm xúcý nghĩ tiêu cực, ta nhận ra nền tảng phía dưới của chúng luôn luôn là những vọng tâm - những tưởng tượng do tâm phóng chiếu ra dù có đối tượng hay không.

Chẳng hạn khi có một vật ta cho là hấp dẫn, ta sẽ cảm nhận những điểm đáng yêu của nó, và qua trí tưởng tượng, làm cho vật đó trở nên hấp dẫn nhiều hơn. Ta sẽ có khuynh hướng dễ dãi với nó, muốn gần cận rồi trở nên ngày càng vướng mắc vào đối tượng ấy.

Tương tự như vậy, khi ta gặp phải những việc ta không ưa, ta thường phủ lên nó các tính cách không giống với bản chất của nó. Đây là các phản ứng ta thường có đối với mọi sự vật: hoặc ta bị lôi cuốn, hoặc muốn lánh xa.

Hai khuynh hướng này khiến chúng ta có những phản ứng tâm lý đối với mọi sự vật. Động cơ nằm dưới những phản ứng này của ta là sự dính mắc quá nhiều vào đối tượng. Dính mắc có thể là sự ham muốn hoặc chối bỏ. Do đó ta bị khổ đau.

Trong các tông phái Phật giáo, người ta có những hiểu biết khác nhau về bản chất của khổ, nguyên nhân tạo ra khổ, tùy vào quan niệm của tông phái đó đối với bản chất thực tại. Có lẽ Pháp Tướng tông (Duy Thức hay Duy Biểu), có cái hiểu sâu xa hơn về khổ.

Đại sư Long Thọ (Nagarjuna) nói rằng Niết bàn phải được hiểu là sự tự do thoát khỏi các khổ thọ trong tâm và các hành nghiệp do khổ tạo ra. Ta đau khổ vì những hành động gây nghiệp chướng, và những nghiệp dĩ này là do các cảm nghĩ bất thiện trong ta thúc đẩy.

Những cảm xúctư tưởng bất thiện tự chúng đều là sản phẩm của các phóng chiếu và tưởng tượng, có gốc rễ từ các nhận thức sai lầm về thực tại. Nhận thức sai lầm đây chính là quan niệm cho rằng mọi sự vật đều có thật, hiện hữu độc lập và có tự tánh riêng.

Theo ngài Long Thọ, hiểu biết về Không (Emptiness) thật sự giúp ta loại bỏ được vô minh căn bản, quan niệm sai lầm của ta về thế giới. Điều này liên quan trực tiếp tới pháp ấn thứ ba: mọi vật đều trống rỗng và không tự mình tồn tại được.

Pháp ấn này cho ta biết, dù bình thường ta tin rằng mọi sự vật đều có thật và thường hằng, có thể hiện hữu độc lập, nhưng thực sự chúng không có các đặc tính như vậy. Quan niệm cho rằng mọi sự vật đều hiện hữutồn tại một cách độc lập là một nhận thức sai lạc.

Chỉ có sự giác ngộ về tánh Không mới giúp ta loại bỏ được sự sai lầm này. Tuệ giác về Không giúp ta có thể loại bỏ được những cảm nghĩ tiêu cực, vốn có gốc rễ từ những nhận thức sai lạc đó.

Hơn nữa, ta cũng sẽ hiểu ra là giữa các cảm nghĩ bất thiệntuệ giác về Không, có sự đối nghịch trực tiếp với nhau. Tuệ giác bắt nguồn và được hỗ trợ từ những kinh nghiệm và lý giải vững chắcgiá trị, trong khi cảm nghĩ tiêu cực thì không. Nhìn vào toàn thể các chuyện đã nêu trên, ta sẽ thấy rằng nếu ta có tuệ giác về tánh Không, ta sẽ loại trừ được các đau khổ trong tâm thần.

4.- Niết Bànan bình thật sự: Pháp ấn thứ tư xác định rằng bản chất của tâm là thanh tịnh, sáng láng. Những ý niệm sai lầm, những cảm nghĩ tiêu cực không có sẵn trong bản chất của tâm. Biết rằng các phiền não khổ đau có gốc rễ từ những nhận thức sai lầm, ta biết có một thứ đối trị được chúng: đó là tuệ giác về tính rỗng không của mọi sự vật, hay nhận thức đúng về thực tại.

Do đó, tánh trống rỗng nghĩa là không có sự hiện hữu tự tại, đôi khi được gọi là "Niết Bàn tự nhiên". Vì bản chất của các hiện tượng là trống rỗng nên Niết Bàn - tức là thực sự thoát khỏi đau khổ - là điều ta có thể đạt tới.

Điều này giải thíchsao kinh điển Phật giáo nói tới bốn loại Niết Bàn: Tự tánh Niết bàn, nói về tánh trống rỗng; Hữu dư Niết bàn, kể tới sự tiếp tục hiện hữu vật chất của cá nhân; Vô dư Niết bàn và sau cùng là Vô trụ xứ Niết bàn. Vì có Tự tánh Niết bàn nên mới có ba loại sau.

Ý nghĩa chính xác của Vô dư Niết bànHữu dư Niết bàn được giải thích khác nhau trong các tông phái Phật giáo. Một số trường phái định nghĩa Hữu dư gồm các uẩn tạo thành cá nhân, một số khác lại hiểu Hữu dư chỉ là những nhận thức nhị nguyên còn sót lại. Cái Dư của ngũ uẩn chỉ các thành phần vật chất ta có, do kết quả của các nghiệp trong quá khứ. Tuy nhiên chúng ta không cần đi sâu vào chuyện này.

Điều căn bảntừ pháp ấn thứ ba, chúng ta hiểu được rằng bản chất của mọi sự vật chúng không thể hiện hữu độc lập. Trong khi đó ta thường có quan niệm sai lầm là chúng có tự tánh riêng biệt.

Nhận thức vô minh này là gốc rễ của bao nhiêu rối renphiền não trong ta. Tuệ giác về tánh Không của vạn pháp cho ta lực đối trị với các nhận thức sai lầm, do đó thoát được khổ đau. Niết bànhoàn toàn rũ bỏ được các cảm nghĩ tiêu cực và các nhận thức sai lạc ấy.

Niết bàn là sự tự do, không còn khổ, cũng không còn các nguyên nhân gây khổ. Hiểu Niết bàn như vậy, ta bắt đầu hiểu được hạnh phúc chân thật nghĩa là gì. Ta có thể nhìn ra được khả năng được tự do hoàn toàn, không còn khổ đau.

Vậy chúng ta có thể kết luận như sau: Tuệ giác về tánh trống rỗng (tánh Không) có khả năng giúp ta loại trừ hết những cảm xúctư tưởng bất thiện, cũng như các nhận thức sai lầm, nền tảng của chúng. Trong tuệ giác về Không, mọi chất ô nhiễm đó bị quét sạch và được tịnh hóa. Vậy thì, điểm chính yếu là người Phật tử phải hiểu về Niết bàn, căn cứ trên tuệ giác về Tánh Không.

é
Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 167474)
01/04/2012(Xem: 15224)
08/02/2015(Xem: 21769)
10/10/2010(Xem: 99170)
10/08/2010(Xem: 102905)
08/08/2010(Xem: 107024)
21/03/2015(Xem: 10931)
27/10/2012(Xem: 55892)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!