Năm Pháp Trong Kinh Lăng-Già

18/12/20154:09 SA(Xem: 6673)
Năm Pháp Trong Kinh Lăng-Già
NĂM PHÁP TRONG KINH LĂNG-GIÀ
[Tư tưởng đặc biệt quan trọng trong giáo lý Đại thừa]

(Phước Nguyên trích dịch và chú
từ Kinh Saddharmalaṅkāvatārasūtram)

*Trích nguyên một đoạn từ chương 6, Kinh Thánh Pháp Nhập Lăng-già:

blank"पुनरपरं महामते पञ्चधर्माः-निमित्तं नाम विकल्पस्तथता सम्यग्ज्ञानं च। तत्र महामते निमित्तं यत्संस्थानाकृतिविशेषाकाररूपादिलक्षणं दृश्यते तन्निमित्तम्। यत्तस्मिन्निमित्ते घटादिसंज्ञाकृतकम्-एवमिदं नान्यथेति, तन्नाम। येन तन्नाम समुदीरयति निमित्ताभिव्यञ्जकं समधर्मेति वा, स महामते चित्तचैत्तसंशब्दितो विकल्पः। यन्नामनिमित्तयोरत्यन्तानुपलब्धिता बुद्धिप्रलयादन्योन्याननुभूतापरिकल्पितत्वादेषां धर्माणां सा तथतेति। तत्त्वं भूतं निश्चतो निष्ठा प्रकृतिः स्वभावोऽनुपलब्धिस्तत्तथालक्षणम्। मया अन्यैश्च तथागतैरनुगम्य यथावद्देशितं प्रज्ञप्तं विवृतमुत्तानीकृतम्, यत्रानुगम्य सम्यगवबोधानुच्छेदाशाश्वततो विकल्पस्याप्रवृत्तिः स्वप्रत्यात्मार्यज्ञानानुकूलं तीर्थकरपक्षपरपक्षश्रावकप्रत्येकबुद्धागतिलक्षणं तत्सम्यग्ज्ञानम्। एते च महामते पञ्च धर्माः। एतेष्वेव त्रयः स्वभावाः, अष्टौ च विज्ञानानि, द्वे च नैरात्म्ये, सर्वबुद्धधर्माश्चान्तर्गताः। अत्र ते महामते स्वमतिकौशलं करणीयम्, अन्यैश्च कारयितव्यम्। न परप्रणेयेन भवितव्यम्॥

तत्रेदमुच्यते -

पञ्च धर्माः स्वभावश्च विज्ञानान्यष्ट एव च।

द्वे नैरात्म्ये भवेत्कृत्स्नो महायानपरिग्रहः॥ ५॥

नामनिमित्तसंकल्पाः स्वभावद्वयलक्षणम्।

सम्यग्ज्ञानं तथात्वं च परिनिष्पन्नलक्षणम्॥ ६॥"


[ सद्धर्मलङ्कावतारसूत्रम् Saddharmalaṅkāvatārasūtram , ६ क्षणिकपरिवर्तो नाम षष्ठः 6 kṣaṇikaparivarto nāma ṣaṣṭhaḥ | , Vaidya, The Mithila Institute of Post-Graduate Studies and Research in Sanskrit Learning, Darbhanga, 1963]

*Phần dịch theo nguyên văn Sanskrit:

Lại nữa, này Mahāmati (Đại Huệ)! Có năm pháp (pañcadharmāḥ):  Đó là, tín hiệu (nimittaṃ)[1], từ mô tả (nāma), cấu trúc mang tính ngôn ngữ (vikalpaḥ)[2], như như (tathatā) và chánh trí (samyagjñānaṃ).

Này Mahāmati! Trong đó tín hiệu, nghĩa là, những gì mà có các đặc điểm như: hình thể, khuôn khổ, tính đặc thù, màu sắc, dấu hiệu v.v…  Những cái đó gọi là tín hiệu[3].

Từ nơi các tín hiệu này, mà các ấn tượng được sinh khởi, ví như một cái lọ v.v... Y theo đó, người ta có thể diễn đạt: “Đây là cái này, cái kia, mà không phải là cái khác”. Cái đó gọi là “từ mô tả”[4].

Này Mahāmati!  Khi “từ mô tả” được phát biểu rõ ràng như thế, và tín hiệu được xác định cụ thể, thì liền có “cấu trúc mang tính ngôn ngữ”, phát biểu rằng: “Đây là Tâm”, “Đây là những gì thuộc về Tâm”[5]. Từ đó, một “từ mô tả” được phát ra tương ưng[6] với một hình thái, hay một đối tượng nào đó, có bản thể được nhận biết giống như thế.  Cái đó, gọi là “cấu trúc cấu trúc mang tính ngôn ngữ”[7].

Các từ mô tả ấy và các tín hiệu ấy, tận cùng là “bất khả đắc”, như là các thực thể tính[8], khi “kiến lập trí”[9] bị đập vỡ, và trong chiều kích hỗ tương tồn tại của tất cả mọi thứ, được xác định là không còn bị nhận thứcấn tượng. Đó gọi là “như như” của các pháp[10].

“Như như” này, có thể được mô tả đặc tính như là “chân đế”, là “hữu thể”, là “biết trực tiếp”, là “tận cùng”, là “căn nguyên”, và là “tự tính”.

Điều này đã được tự thân Ta (Phật) và các đức Như Lai khác thể nghiệm, thi thiết đúng như thực, xác chứng, công khai tuyên bố, và diễn thuyết rộng rãi.

Hoặc có ai, chứng nghiệm điều này, hiểu được [sự thật] một cách chính xác toàn diện, không phải là thường tồn, cũng không phải đoạn diệt, thì lập tức “cấu trúc cấu trúc mang tính ngôn ngữ” bị chấm dứt, liền phát sinh trạng thái tùy thuận với phương tiện của Thánh Trí ngay trong nội tâm, đây là một trạng thái, mà đó không phải là kết quả đạt được do quá trình tranh luận của các triết gia, cũng không phải là sở đắc của các hạng Thanh vănBích Chi Phật. Đó gọi là Chánh trí[11].

Này Mahāmati!  Đây là năm Pháp, ba tự tính, tám thức, hai vô ngã; và hết thảy chân đế của Phật đều được thâu nhiếp ở vào trong đó.

Này Mahāmati! Trong điều này, Ông hãy tự mình, bằng Trí Tuệ mà khảo nghiệm kỹ lưỡng, và khiến cho những người khác cùng thực hành giống như thế, đừng để bản thân bị điều khiển dẫn dắt bởi người khác.

Do đó,  [Như Lai] tuyên thuyết rằng:

“Năm pháp, cùng tự tính,
Tám thức, hai vô ngã.
Hết thảy nó đều thâu nhiếp Đại thừa. //5//
“Từ mô tả” và “tín hiệu”,
Cùng với "cấu trúc mang tính ngôn ngữ”,
Đây là hai hình thái đầu của Tự tính.
Chánh trínhư như,
Đây là hình thái của viên thành thật[12]. //6//"

 


PN. dịch và chú.

*Phần chú thích:

[1]
 Skt. nimitta, hình tướng, dấu hiệu hay tín hiệu. Cf. Sphut., tr. 48: nimittaṃ vastuno’ vasthāviśeṣo, «tín hiệu,  là phần vị sai biệt của những  vật thể.», Phổ thông Hán dịch là: tướng 相; hoặc tượng 像. Phân biệt với tướng skt, lakṣaṇa là yếu tính, trạng thái hay đặc điểm, và tướng, từ skt.nimitta là dấu hiệu hay tín hiệu.

[2] Dịch theo chữ  Anh: “verbal construction” của T. Lê Mạnh Thát, dùng để dịch chữ vikalpa trong The Philosophy of Vasubandhu, 2003, tr. 284.

[3] Cf. Hiển dương 6 (tr.  507a17tt.): tướng (nimitta/tín hiệu), nếu  nói ngắn gọn,  là  y xứ của hết thảy mọi ngôn thuyết (abhilāpa)

[4] Ibid., Danh (nāma), là từ  mô tả , y cứ nơi các tướng. Nguyên trong Hiển Dương dùng chữ Hán: tăng ngữ, Skt. Adhivacana: từ mô tả, từ phác họa.

[5] Cf. Văn dịch của Suzuki trong The Laṅkāvatāra Sūtra, chương 6, mục LXXXIV:  “saying this is mind and this is what belongs to it”. Cùng tác  giả nhưng  trong  Studies in the Lankavatara Sutra, p.58, New Delhi, 1998, dịch có khác: “This is it”, ''This is no other”: Đây chính là nó, đây không phải là cái gì khác.

[6] Skt. Āpta, nghĩa đen là cái bị vươn tới, bị bắt kịp, Hán dịch: Tương ưng 相應. Kosa.i: Āpta aviyuktaḥ, hệ nghĩa là hệ thuộc. Câu-xá bản Chân Đế (T29n1559, tr.0167b29): 相應是有義。不相離義  tương ưng nghĩa là có, nghĩa là không tách rời nhau.

[7] Cf. Hiển dương 6 (tr.  507a17tt.): Phân  biệt (vikalpa= cấu trúc + mang tính ngôn ngữ/mang tính khái niệm), là  tâm  và  tâm sở hệ  thuộc  ba  giới.

[8] Cf. Nhiếp  luận  (Vô  Tính)  6  tr. 351b9,  b14:  Trước  hết,  suy  cầu về  danh, về  nghĩa, về tự tính, về  sai  biệt,

rằng  đó  chỉ  là  khái  niệm  giả  thác (prajñapti);  sau  đó,  biệt một  cách  như  thật rằng sự  chân  thật  như thế

không  thể nắm bắt.  Trong  khi  suy cầu, gọi  là  tầm tư.  Khi  biết  như  thật  là bất  khả  đắc, lúc ấy gọi  là bốn

như thật trí. Tức là sơ vị (bước đầu) gọi là tầm tư, hậu vị (kết quả) gọi như thật trí.

[9] Theo Suzuki, Studies., ibdid.p.165,p. 421, nói rằng từ skt. buddhi trong câu này chính là Pratishthapikabuddhi hay vikalpa-lakshana- grahabhinivesa –pratishthapikabuddhi,  tức kiến lập trí, và giải thích là: cái trí mà y theo đó một mệnh đề được thiết lập ( the intelligence where by a proposition is setup).

[10] Cf. Hiển dương 6 (tr.  507a17tt.): Chân như (tathatā/ như như), là sở hành của Thánh  trí (āryajñānagocara) được biểu thị bởi pháp  vô  ngã,  chẳng phải  là y xứ của hết thảy ngôn  thuyết.

[11] Ibid., Chính trí (samyagjñāna),  vắn tắt có hai: thế gianxuất thế gian.

[12] Skt. pariniṣpanna, Hán dịch là viên thành thật, triển chuyển, Cf. Nhiếp  luận bản,  tr.  138a15:  “viên  thành  thật,  đó  là sự  tuyết  đối  vô thể (không tồn tại/vô hữu tính) của  đối tượng, giống như  là  ảnh tượng tương tợ nơi y tha khởi.  Nhiếp luận 2,  tr. 139b16:  “viên thành thật, nghĩa là  ở nơi  y  tha  mà  không  hiện  khởi ảnh tượng dối trá. Do đó, khi y tha bị biến kế, thì gián tiếp viên thành thật cũng bị biến kế.” Madhyānta,  k.i.  6,  Thế  Thân: grāhyagrāhakābhāvaḥ pariniṣpannaḥ svabhāvaḥ, cái mà nơi đó không tồn tại đối tượng nắm bắt (sở thủ) và chủ thể nắm bắt(năng  thủ),  đó  là tự  tính  viên  thành  thật.  Tham chiếu Sthiramatinirvikārapariniśpattyā’  viparītapariniśpattyā  ca pariniṣpannatvāt  parinṣpanna  ucyate,  vì bởi  tính  hoàn  chỉnh, với sự  hoàn  chỉnh  không  biến thể,  và sự hoàn chỉnh không lộn ngược, nó được gọi là cái hoàn chỉnh, tức viên thành thật. 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 180712)
01/04/2012(Xem: 26313)
08/11/2018(Xem: 6552)
08/02/2015(Xem: 37801)
25/07/2011(Xem: 103275)
10/10/2010(Xem: 100442)
Chùa Từ Ân tọa lạc trên một vùng đất rộng khoảng 6 sào Trung Bộ (3.000 m2), nằm bên bờ Bắc sông Hương, cách ngôi quốc tự Thiên Mụ khoảng 400 mét về hướng Đông. Vùng đất này, (theo nhà Bác học Lê Quý Đôn, trong sách Phủ Biên tạp lục) thì từ nhiều năm về trước có tên là xã Hà khê (đối diện là xã Thọ Khang bên bờ Nam Sông Hương), thuộc huyện Kim Trà. Trải qua một thời gian sau đó lại đổi là xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, rồi lại đổi là làng Xuân Hòa, xã Hương Long, huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên. Năm Bính Dần, 1986, lại đổi là thôn Xuân Hòa, Xã Hương Long Thành Phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hiện này chùa được gắn biển số nhà 108 đường Nguyễn Phúc Nguyên, Thành phố Huế.
Môi trường sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan tới sự sống con người. Nó là tập hợp các sinh vật, cùng với các mối quan hệ khác nhau giữa các sinh vật đó và các mối tác động tương hỗ giữa chúng với môi trường. Môi trường sinh thái có mối quan hệ mật thiết đối với sức khỏe của con người. Nếu môi trường sinh thái trong lành, thì cuộc sống con người khỏe mạnh; còn nếu môi trường ô nhiễm thì cuộc sống con người dễ ốm đau, bệnh tật.
Trong một chuyến công du hiếm hoi dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ tới khu vực này vào tuần trước, một nhà báo của Reuters đã nhìn thấy những bức chân dung trong lớp học, đường phố, cơ sở tôn giáo, nhà ở và phòng ngủ của một nhà sư Phật giáo.