Đôi Lời Phật Dạy

24/03/20164:07 SA(Xem: 5040)
Đôi Lời Phật Dạy

ĐÔI LỜI PHẬT DẠY
ĐỖ ĐÌNH ĐỒNG tuyển dịch 

the pocket budhha readerTôi sẽ dạy các ông thế nào là Tất Cả. Hãy lắng nghe kỹ. Thế nào là Tất Cả? Ấy là mắt và đối tượng có thể thấy được, tai và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, tâm và ý. Đây là Tất Cả.

Nếu có người nói, “Cái Tất Cả ấy không đủ. Tôi sẽ công bố một cái Tất Cả khác,” có thể làm được điều này chăng? Có thể người nói tin mình có khả năng làm được, nhưng y không thể đưa ra một cái Tất Cả nào khác.

               Kinh Tương Ưng Bộ

 

MỤC LỤC

 

Lời người dịch        5
Tựa của Anne Bancroft    7
Đôi Lời Phật Dạy     9
Thư Mục     142

Lời Người Dịch 

     Đức Phật có lần đã nói đại ý như vầy: Những gì tôi biết như lá trong rừng, những gì tôi nói với các ông như lá trong nắm tay…

     Với mục đích giới thiệu với những độc giả sơ cơ mới bắt đầu học Phật và có ít thời giờ vì bận rộn sinh kế, những lời Phật dạy chứa trong tập sách nhỏ thuộc loại bỏ túi này chỉ là một vài chiếc lá từ trong nắm tay ấy. Tức là những lời dạy của Phật trích từ các kinh Nam tạng thuộc văn hệ Pali, chủ yếu là các kinh Nikaya như Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu bộ, Tăng Chi Bộ, Tương Ưng Bộ, v.v… và từ các kinh Bắc tạng thuộc văn hệ Sanskrit như Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Kim Cương, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Lăng Già, Pháp Hoa, v.v…Thỉnh thoảng độc giả cũng sẽ thấy một vài lời dạy được trích từ Luật tạng hay Luận tạng.

     Những lời Phật dạy ở đây đều ngắn gọn, hàm súc dựa trên các bản dịch tiếng Anh đã được những người đi trước biên tậphiệu đính như Anne Bancroft tuyển chọn trong cuốn The Pocket Buddha Reader do nhà Shambhala Publications, Inc. xuất bản năm 2001 tại Hoa Kỳ, và Jack Kornfield trong cuốn The Teachings of the Buddha [chỉ dịch phần lời của Phật] cũng do nhà Shambhala Publications, Inc. xuất bản năm 1993 tại Hoa Kỳ. Và trong bản tiếng Việt này, những lời dạy của đức Phật ấy cũng đã được người dịch lọc lại một lần nữa và thêm vào một ít do mình sưu tập.

     Vì là sách bỏ túi để tiện mang theo bên mình nên hầu hết những lời Phật dạy ở đây chỉ là những đoạn ngắn, những đối thoại ngắn hay những mẫu chuyện ngắn và không có nhan đề hay chú thích. Nhưng ở cuối mỗi lời dạy đều có ghi xuất xứ kinh nguyên gốc để độc giả nào muốn truy nguyênso sánh, và ở cuối sách có phần thư mục tham khảo. Tuy nhiên, trong phần thư mục tham khảo có những bản dịch tiếng Anh của một số kinh mà Anne Bankcroft và Jack Kornfield đã dùng khi biên tậphiệu đính thì người dịch không có nên đã thay bằng những bản dịch tiếng Anh khác của cùng những kinh gốc ấy mà mình có. Trong trường hợp có thể được, người có ghi lại tên của dịch giả bản tiếng Anh – để trong dấu ngoặc ( ) – của kinh đó.

     Mỗi lời dạy của Phật trong tập sách này tự nó đầy đủ ý nghĩa nên không cần phải phân chia thành phạm trù, cũng không sắp xếp theo một trật tự hay hệ thống nào, vì như đức Phật đã nói là chân lý thì không thể chia cắt từng mảnh và lắp ghép thành hệ thống để giảng dạy được. Vậy độc giả có thể bắt đầu đọc ở bất cứ lời dạy nào trong sách, không cần theo thứ tự. Hy vọng độc giả có thể tìm thấy chính mình trong những lời dạy của đức Phật và theo ánh sáng soi đường đó tu tập để tiếp tục phát triển đến giác ngộ viên mãngiải thoát trọn vẹn cho chính mình và có thể giúp người khác.

     Cuối cùng, người dịch dùng cách trực dịch với dụng ngữ phổ thông, không trau chuốt câu văn, hy vọng có thể chuyển được nghĩa của lời Phật dạy theo khả năng hiểu của mình. Dù đã cố gắng nhiều, nhưng chắc vẫn còn sai sót, xin các bậc cao minh rộng lượng chỉ bảo cho. Xin đa tạ.

 

Frederick, Wesak, 2016    

Đỗ Đình Đồng

Tựa của Anne Bancroft

 

     Tập sách này trình bày những lời dạy của đức Phật như đã được những người theo Ngài ghi lại. Trong suốt cuộc đời du hành trong các làng mạc và tỉnh thành ở bắc Ấn Độ, đức Phật (563-483 trước C.N.) đã ban cho nhiều bài thuyết pháp và nhiều lời khuyên nhủ không những cho các tăng ni mà còn cho cả vua chúa, dân làng, những người ngoài lề xã hộitrộm cắp, vì Ngài không thừa nhận bất cứ biên giới đẳng cấp nào.

     Bút pháp của những bài thuyết pháp này, cho đến khi chúng được viết thành văn khoảng ba thế kỷ sau, có tính cách lặp đi lặp lại và thường được chia thành phạm trù theo con số, vì đó là cách những lời dạy ấy đã được ghi nhớ thuộc lòng vào thời gian mà sự viết thành văn rất hiếm hoi và vật liệu đắc đỏ. Những người tin theo Ngài muốn nhớ bài thuyết giảng từng chữ một, và phần lớn các tài liệu đã được bảo tồn theo cách này. Sau khi đức Phật diệt độ, phong trào chia thành hai trường phái chính, Thượng tọa bộ (Theravada) và Đại chúng bộ (Mahayana). Thượng tọa bộ lấy tiếng Pali, một cổ ngữ Ấn độ, tường thuật những lời dạy của đức Phật, trong khi Đại chúng bộ diễn đạt những lời của Ngài bằng tiếng Sanskrit (Phạn ngữ), cũng là cổ ngữ và có tính chất kinh điển. Khi Phật giáo lan truyền đến các nước khác, như Triều tiên, Trung hoa, và Tây tạng, thì các bản văn Pali và Sanskrit được dịch sang tiếng bản xứ của họ. Điều này tỏ ra rất may mắn, nhất là với các bản văn Sanskrit, vì nó đã bảo vệ những bài thuyết giảng ấy khỏi bị những kẻ xâm lăng sau này hủy diệt. Các bản văn Pali sống còn một cách dễ dàng nhờ vua Asoka (A-dục, thế kỷ thứ 3 trước C.N.) của Ấn Độ, một người Phật giáo nhiệt thành, đã cho viết thành tài liệu cũng như khắc lên đá trên khắp đất nước.

     Vào cuối thế kỷ thứ 19, các bản văn Pali đã được dịch sang các ngôn ngữ châu Âu, và các dịch giả – đáng chú ý là hội Pali Text Society – đã theo rất sát với nguyên ngữ. Sau đó không lâu, các bản văn Sanskrit cũng bắt đầu được dịch sang tiếng Anh và dịch giả chủ yếu là Giáo sư Edward Conze.

     Riêng các bản văn Pali vẫn còn khá khó thâm nhập bởi vì các dịch giả cuối thời Nữ hoàng Victoria không những chỉ giữ bút pháp lặp đi lặp lại mà còn dùng những từ ngữ thuộc thời ấy mà ngày nay chúng trở thành tối nghĩa. Song, chính đức Phật, bậc thầy và triết gia sáng ngời không bao giờ cho mình là gì khác hơn là một con người, chiếu sáng khắp cả, và có những tâm giao thâm thiết của một tâm hồn kỳ diệutrí tuệ và tĩnh lặng, song đầy năng lực và khôi hài; bi dũng, song thực tiễnlành mạnh thâm thúy.

     Thông điệp chính của đức Phật là mỗi một người trong chúng ta có thể tìm được sự giải thoát khỏi nô lệ mê hoặc ràng buộc chúng ta với dục vọngthèm khát. Với phép quán chiếu, chúng ta có thể quán sát cuộc sống như thế nào. Với tỉnh giác, chúng ta có thể hiểu đúng cách sống và tìm được sự trong sáng bên trong bối rốithất vọng. Khi chúng ta thấy được sự tương liên của tất cả cuộc tồn sinh, chúng có thể giải thoát mình ra khỏi sự yêu mến cái ta và những hạn hẹp của nó. Một khi cái ta mất đi năng lực của nó, người ta kinh nghiệm một ý thức mới phi thời gian và vô điều kiện. Đây là niết-bàn, không bao giờ xa lìa thế gian mà chỉ hiểu rõ được khi không còn bám vào thế gian nữa. Câu chuyện về sự tỉnh giác của đức Phật đối với các chân lý này tạo thành đoạn đầu của tập sách.

     Những đoạn trích dịch trong tập sách này đã được hiệu đính cẩn thận theo sát tối đa bản văn, đồng thời sử dụng những từ ngữ hiện đại thích hợp thay cho những từ ngữ đã lỗi thời. Theo cách này, đức Phật có thể nói với chúng ta như Ngài đã nói với cư dân của miền bắc Ấn Độ hai ngàn năm trăm năm qua. Độc giả sẽ khám phá thấy rằng tình trạngđức Phật đã trải qua trong nhiều cuộc gặp gỡ của Ngài với dân chúng trong bản chất cũng giống như tình trạng mà chính chúng ta gặp ngày nay. Lời khuyên nhủ của Ngài cho những người theo Ngài thì rõ ràngcần thiết đối với thế giới của chúng ta như nó đã như thế đối với thế giới của những người thời đó.

 

               Anne Bancroft

 

ĐÔI LỜI PHẬT DẠY

 

     Khi còn là một thanh niên, lúc đầu đời, tôi nhìn thiên nhiên và thấy tất cả mọi vật đều phải chịu suy đồi và chết, và như thế phải buồn khổ. Tôi nghĩ rằng chính tôi cũng có bản tánh như thế. Tôi cũng giống như tất cả mọi tạo vật. Tôi cũng phải chịu bệnh tật, suy đồi, chết, và buồn khổ. Nhưng sẽ thế nào nếu tôi tìm một cái gì đó nằm bên dưới toàn bộ cuộc tồn sinh, tìm sự an toàn vô song là niết-bàn, sự giải thoát hoàn toàn của cảnh giới vô vi?

     Vì thế, trong cơn vùng lên vì độc lập của mình, tôi đã đi ngược lại những ước mong của cha tôi, đã cạo bỏ mái tóc đen dày, mặc chiếc áo màu vàng nghệ, và rời bỏ ngôi nhà của cha tôi để sống cuộc sống không nhà. Tôi đã lang thang một thời gian dài, tìm kiếm cái tốt, tìm một cảnh giới bình an vô song.

     Cuối cùng, tôi đến một khu rừng cây nhỏ kế bên một dòng sông nước trong và ngồi dưới gốc một cây lớn, chắc chắn rằng đây đúng là nơi để chứng ngộ.

     Tất cả mọi tình cảnh thế gian đi vào tâm tôi, hết cái này đến cái khác, và khi đến chúng đều được thấu suốt và để xuống. Bằng cách này, cuối cùng, tri thức và minh kiến đã xuất hiện, và tôi biết rằng đây là cái bất biến, là cái vô vi. Đây là giải thoát.

     Thực tại đến với tôi thì thâm sâu và khó thấy hay khó hiểu bởi vì nó ở bên kia lãnh vực suy nghĩ. Nó tuyệt vờivô song nhưng vi tế và chỉ những người hiến dâng mới tìm thấy.

     Đa số người ta không thấy thực tại này, vì họ bị ràng buộc với những gì họ bám giữ, với khoái lạc và thích thú. Vì tất cả thế gian bị ràng buộc vào những sự vật vật chất, rất khó cho họ lãnh hội mọi sự vật phát sinh như thế nào với nhân và duyên. Việc khó cho họ là thấy được ý nghĩa của sự kiện mọi sự vật, kể cả chính mình, tùy thuộc vào mọi sự vật khác và không có sự tự hữu thường hằng.

     Tôi nghĩ nếu tôi cố dạy chân lý này, thực tại này, sẽ không ai hiểu tôi cả. Tôi sẽ phí sức lao động và bị phiền phức vô ích.

     Nhưng rồi một minh kiến đã đến cho tôi biết rằng tôi nên dạy chân lý này, vì nó cũng là niềm hạnh phúc. Có những người cái thấy của họ chỉ bị che mờ chút ít, và họ đang khổ vì không nghe được thực tại này. Họ trở thành người biết chân lý ấy.

     Tôi tiến hành dạy theo cách này:

     Cửa vào cõi bất tử

     Mở ra cho người sẵn sàng.

     Người có tai nghe, hãy từ bỏ

     Những tình cảnh trói buộc,

     và hãy vào đi.

               Kinh Trung Bộ

 

     Này các tỳ kheo, thế nào là vô minh?

     Không biết khổ,

     Không biết nguồn gốc của khổ,

     Không biết sự diệt khổ,

     Không biết con đường dẫn đến sự diệt khổ.

     Đây gọi là vô minh.

Kinh Tương Ưng Bộ

 

    Trong tất cả mọi phần, cả phần nhỏ và vô cùng,

     Người ấy đã siêu việt lịch sử của đời mình.

     Điềm tĩnh, y phá vỡ từng mảnh,

     Toàn bộ cái tạo ra ngã, như cái vỏ áo giáp.

               Kinh Trường Bộ

 

     Đại dương hùng mạnh chỉ có một vị, vị của muối. Cũng vậy, chân đạo chỉ có một vị, vị của giải thoát.

               Kinh Trung Bộ

 

     Tu-bồ-đề, ông có tin rằng nhờ tôi chúng sinh được dẫn đến giải thoát? Chớ bao giờ như nghĩ vậy, Tu-bồ-đề. Vì sao? Bởi vì không một chúng sinh riêng rẽ nào đi đến giải thoát. Nếu tôi nghĩ là có, tôi sẽ bị kẹt trong ý niệm về ta hay về người hay về thọ mạng.

     Tu-bồ-đề, cái tôi gọi là ngã thì chủ yếu không phải là cái ngã theo cách người thường nghĩ về nó. Nhưng tôi cũng không nghĩ ai là người thường cả. Tuy nhiên, khi biết tự tánh, tôi có thể dùng cái danh – người thường.

               Kinh Kim Cương

 

     Hãy khắc phục những điều không chắc chắn của mình và tự giải thoát mình khỏi phiền não. Nếu ông vui thích trong cuộc tồn sinh, ông sẽ trở thành người hướng đạo cho những ai cần đến, vén mở con đường cho nhiều người.

                       Tập Kinh

 

     Phật đang thiền định trên bờ sông. Một người bà-la-môn đang thực hiện một nghi lễ sùng bái gần đó, có một cái bánh không dùng đến và muốn cúng dường. Ông ta đi đến chỗ Phật nhưng khi nhìn thấy đầu của Phật đã cạo sạch tóc – một dấu hiệu không chỉ ai cả – ông ta liền cất cái bánh đi.

     “Ngài thuộc giai cấp nào?” ông ta hỏi.

     “Tôi không phải là bà-la-môn, hoàng tử, nông dân, hay bất cứ giai cấp nào khác. Tôi là người hiểu sự tồn sinh xuất hiện như thế nào. Câu hỏi về giai cấp của ông chẳng liên quan gì cả.”

     “Dường như ngài là một người trí tuệvì vậy tôi muốn cúng dường ngài cái bánh này. Tôi thích cúng dường, vì tôi cảm thấy điều ấy sẽ đem lại công đức cho tôi. Ngài có thể nói cho tôi biết cái gì khiến cho cúng dường có kết quả công đức không?”

     Phật đáp: “Vì ông đang tìm hiểu, nên hãy cẩn thận lắng nghe. Chớ hỏi về giai cấp hay sự giàu sang mà hãy hỏi về cách hành xử. Hãy nhìn những ngọn lửa của một đám cháy. Chúng từ đâu đến? Từ khúc gỗ chăng – và gỗ gì cũng chẳng phải vấn đề. Cũng vậy, một người trí tuệ, có thể đến từ bất cứ thứ gỗ gì. Ấy là do sự vững chắc, tiết chế và cảm nhận chân lý mà người ta trở nên cao quí, không phải do giai cấp.

     “Tôi sẽ nói cho ông biết ai là người đáng cúng dường. Ấy là người không bám vào đời sống và thấy sinh và tử chấm dứt ở đâu. Ở trong trạng thái viên mãn này, người ấy nhận ra sự vật như thực. Tâm người ấy không còn tìm kiếm chỗ yên nghỉ nữa. Người ấy thấy sự chấm dứt của sợi xích thói quen. Người ấy không còn nghĩ đến mình, nghĩa là nghĩ đến cái ngã nữa, và vì thế nơi người ấy không gì có thể làm cho bối rối. Người ấy nhận thức tất cả mọi hiện tượng một cách rõ ràng. Đó là người đáng được cúng dường. Đó là nơi để cúng dường.”

     Quá cảm phục, người bà-la-môn đưa cái bánh ra và nói: “Giờ đây tôi đã gặp một người hiểu mọi sự vật một cách trọn vẹn, vì thế sự cúng dường của tôi sẽ là chân chính. Xin ngài hãy nhận cái bánh của tôi.”

     Nhưng Phật nói: “Này bà-la-môn, tôi không nhận quà để nói chân lý. Đây không phải là cách mà người có tri kiến thanh tịnh làm. Ông hãy đi tìm một bậc đại thánh toàn hảo và có khả năng làm yên tịnh tất cả những phiền não của ông. Đó sẽ đúng là nơi cho một người như ông tìm công đức. Đó là cách tặng quà có kết quả.”

     Người bà-la-môn cất cái bánh đi, và nói: “Ngài là người đáng được quà tặng, vì ngài đã cho tôi một tặng phẩm. Ấy là sự thành tựu vô song và vô hạn.”

     Rồi ông ta tiếp tục đi tìm một bậc thánh toàn hảo.

                       Tập Kinh

 

     Giống như phó thác mình cho một người dũng cảm khi sợ hãi,

     Bằng cách trao mình cho cái tâm tỉnh giác,

     Ông sẽ nhanh chóng đạt được giải thoát,

     Dù cho ông đã mắc phải những sai lầm đáng sợ.

                       Kinh Trung Bộ

    

     Như hư không đến khắp mọi nơi, không phân biệt,

     Cũng vậy, yếu tố không tỳ vết, mà yếu tánh là tâm,

     hiện diện khắp mọi nơi.

               Luận Đạo Thanh Tịnh

 

     Nếu thực sự muốn được giải thoát, an lạc sẽ phát sinh

     Hoan hỉ sẽ từ an lạc đến

     Khi tâm hoan hỉ, thân tĩnh lặng

     Khi tâm tĩnh lặng, sẽ biết cực lạc

     Khi cực lạc, tâm sẽ tập trung dễ dàng

     Khi tập trung, sẽ thấy sự vật như thực

     Khi thấy như vậy, sẽ giác ngộ rằng sống là điều kỳ diệu

     Khi giác ngộ như vậy, tất cả những ràng buộc sẽ mất đi

 

     Khi hết nắm bắt, sẽ là giải thoát.

               Kinh Trường Bộ

 

     Phật dạy tăng chúng: “Giả sử có một ông vua chưa từng nghe tiếng đàn tỳ bà. Vua nghe lần đầu tiên và tán thán, “Âm thanh tuyệt diệu ấy là gì?’

     “Quần thần tâu vua rằng ấy là tiếng đàn tỳ bà.

     “ ‘Hãy đem cây đàn ấy đến cho trẫm,’ nhà vua ra lịnh.

     “Nhưng khi có được cây đàn rồi nhà vua không biết làm gì với nó.

     “ ‘Hãy đem cây đàn đi và đem cho trẫm âm thanh tuyệt diệu đó.’

     “Nhưng chúng thần không thể làm được điều đó, tâu Hoàng thượng. Có nhiều nguyên nhân tạo ra âm thanh ấy. Có tất cả các bộ phận của cây đàn, là một chuyện. Âm thanh do thân đàn và miếng gỗ tăng âm, cần đàn, đầu đàn, các dây đàn, và động tác của các ngón tay của người nhạc sĩ, tạo ra.’

     “Nhưng nhà vua không thể hiểu rằng toàn bộ hệ thống ấy phải đặt đúng chỗ, nhà vua đập bể cây đàn tỳ bà thành từng mảnh, nói: ‘Cây đàn tỳ bà này đã mê hoặc và lừa dối người ta quá lâu.’

     “Này các tỳ-kheo, chúng ta những người nhìn vào cái toàn thể và không chỉ là cục bộ, hãy biết rằng chúng ta cũng là những hệ thống của tương tùy, tình cảm, nhận thức, ý nghĩ, và ý thức, tất cả nối kết với nhau. Quán sát theo cách này, chúng ta sẽ nhận ra rằng không có cái tôi hay cái của tôi trong bất cứ bộ phận nào của cây đàn tỳ bà.”

        Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Bà-la-môn Dona thấy Phật ngồi dưới một gốc cây và rất hâm mộ phong thái tỉnh giác bình an và các tướng tốt của Ngài. Ông ta hỏi Phật:

     “Có phải ngài là thần?”

     “Không, bà-la-môn, tôi không phải là thần.”

     “Vậy là thiên?”

     “Không phải vậy, bà-la-môn.”

     “Vậy là ma, phải không?”

     “Không, tôi không phải là ma.”

     “Vậy ngài là gì?”

     “Tôi là người tỉnh giác.”

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     “Tôi có thể nói rằng Ngài là người giác ngộ như thế nào?” bà-la-môn Sela hỏi Phật.

     “Tôi biết cái gì nên biết,” Phật đáp, “và cái gì nên tu dưỡng, tôi tu dưỡng. Cái gì nên bỏ, tôi để nó đi. Bằng cách này, Ôi bà-la-môn, tôi là người tỉnh giác”

                       Tập Kinh

 

      Các ông nên tự mình làm việc, vì chư Phật chỉ dạy cách làm mà thôi.

               Kinh Pháp Cú

 

     Hãy tỉnh thứchoan hỷ trong cảnh tỉnh. Hãy hiểu trí tuệ của những người giác ngộ. Bằng cảnh tỉnh sắc bén và làm việc cần mẫn, người trí tuệ có thể tự xây dựng một hòn đảo không bão lụt nào có thể cuốn đi. 

     Người không suy nghĩ không quan tâm, nhưng người chú ý xem tỉnh thức như kho tàng vĩ đại nhất.

     Hãy thiền định, và trong trí tuệ của mình hãy nhận ra niết-bàn, niềm hạnh phúc tối thượng.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Có sự giải thoát khỏi tham dục và buồn khổ ở cuối con đường. Người tỉnh giác thì thoát khỏi tất cả những xiềng xích và vượt qua bên kia sinh tử.

     Như con thiên nga vươn lên từ cái hồ, với những ý nghĩ bình an, người ấy tiến tới, không bao giờ nhìn lại phía sau.

     Người hiểu tính phi thực của tất cả mọi sự vật, và không dựng lên kho chứa nào – dấu vết của y không thấy được, như dấu vết của chim trong hư không.

     Như chim trong hư không, theo hướng vô hình, không muốn

 

gì, không chứa gì, biết tất cả sự vật là không.

               Kinh Pháp Cú

 

     Vào giây phút tỉnh giác, Phật tán thán: “Kỳ diệu thay! Tất cả chúng sinh đều giác ngộ viên mãn, sáng ngời trí tuệđức hạnh. Nhưng vì tâm họ trở nên mê hoặc và hướng vào cái ta, họ không hiểu được điều này.”

               Kinh Hoa Nghiêm

 

     Tu-bồ-đề, chớ nghĩ rằng khi một người phát khởi cái tâm tỉnh giác, cao nhất, viên mãn nhất thì người ấy không cần thấy tất cả mọi đối tượng của tâm là không hiện hữu, cắt đứt sự sống. Chớ nghĩ như vậy. Một người phát khởi cái tâm tỉnh giác không chối bỏ các đối tượng hay nói rằng chúng không hiện hữu.

     Một người phát khởi cái tâm tỉnh giác nên biết rằng những gì được gọi là ta, người, chúng sinh hay thọ mạng, không phải như thế trong tự tánh mà chỉ trong khái niệm. Những danh từ ta, người, chúng sinh, hay thọ mạng chỉ là những cái tên. Tu-bồ-đề, ông nên biết rằng tất cả mọi sự vật trên thế gian này đều như vậy và ông nên tin nơi tự tánh của chúng không có tên.

 

     Như sao, đèn, thấy nhầm,

     Như sương, mộng, bọt nước,

     Như ánh chớp, bóng mây,

     Tất cả pháp hữu vi

     Đều nên quán như vậy.

               Kinh Kim Cương

 

     Tu-bồ-đề hỏi: “Có phải trí tuệ toàn hảo ở bên kia suy nghĩ không? Có phải nó là không thể tưởng tượng được và độc nhất vô nhị, tuy nhiên nó đến cái không thể đến và đạt cái không thể đạt?”

     Phật đáp: “Phải, Tu-bồ-đề, thật đúng như vậy. Và tại sao trí tuệ toàn hảo ở bên kia suy nghĩ? Ấy là vì người ta không thể nghĩ về tất cả những điểm qui chiếu của nó mà chỉ có thể lãnh hội nó. Một là sự biến mất của người tự ý thức vào sự hiện diện thanh tịnh. Một nữa là sự tỉnh giác đơn giản trước thực tại chơn như. Một nữa là cái biết về bản tánh không tự tánh của tất cả sự vật trên thế gian. Và một nữa là sự minh tri biết mà không có người biết. Không một điểm nào trong những điểm này có thể duy trì ý nghĩ bình thường bởi vì chúng không phải là khách thể hay chủ thể. Không thể tưởng tượng hay sờ mó hay đến gần bằng bất cứ một tâm thái ý thức bình thường nào, do đó chúng ở bên kia suy nghĩ.”

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

   

    Tôi tuyên bố rằng vượt qua sự chấp trước vào những cái bất tịnh của thế gian là khả hữu đối với người biết và thấy, nhưng không khả hữu đối với người không biết hay thấy. Nơi người biết và thấy, con Mắt Pháp không bụi bẩn và tỳ vết phát sinh. Thấy chân lý, người ấy thấy sự vật như thực. Thấy chân lý, con mắt ấy sinh ra, tri kiến sinh ra, trí tuệ sinh ra, khoa học sinh ra, và ánh sáng sinh ra.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Này A-nan-đa, bản tánh Chơn Như là tổng thể giác ngộ. Nó ở bên kia danh và sắc, ở bên kia thế gian và tất cả chúng sinh trên thế gian. Vô minh tạo ra hư huyễn sinh và tử, nhưng khi vô minh bị phá tan, thì Chơn Như tối thượng và chiếu sáng ở đó. Rồi đau khổ biến thành nội kiến, và chết biến thành niết-bàn.

        Kinh Lăng Nghiêm

 

     Khi phá bỏ tất cả những rào cản, hãy để cho tâm tràn đầy tình thương. Hãy để tình thương thấm nhuần tất cả bốn phương thế giới như vậy thế giới trên, dưới, và chung quanh được thấm nhuần tình thương. Hãy để tình thương cao cả tuyệt vời và ở bên kia đo lường, như vậy nó sẽ chan chứa khắp mọi nơi.

               Kinh Trường Bộ

 

     Đây là toàn bộ cuộc hành trình, mở lòng mình với những gì đáng yêu. Bởi vì tình cảm của họ đối với những gì đáng yêu, những chúng sinh sợ sinh tử, tuổi giàsuy đồi, được giải thoát khỏi sợ hãi. Đây là cách các ông phải tự mình tu luyện: Tôi sẽ trở thành bạn và thân thiết của những gì đáng yêu. Để làm điều này, tôi phải quan sát kỹ lưỡng và ôm ấp tất cả những tâm thái tốt.

        Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Người ta kể rằng cha của Ngài, vua Suddhodana (Tịnh Phạn), đã già và bồn chồn muốn gặp Ngài. Vì vậy Ngài đã du hành một quãng đường dài đến cung điện của vua cha ở thành Kapilavastu (Ca-tì-la-vệ), cuộc hành trình vừa đi vừa giảng dạy mất hai tháng. Các đệ tử cùng đi với Ngài, và người ta đã sắp xếp tiệc tùng để họ ở lại trong công viên hoàng gia khi họ đến. Nhưng triều thần coi thường Phật vì ngài đã từ bỏ địa vị hoàng tử trở thành một người lang thang không nhà, và các đệ tử thấy rằng không có đồ ăn trưa cho Ngài, bữa ăn duy nhất trong ngày của Ngài.

     Không phiền hà, Phật lấy bát khất thực, đi từ nhà này sang nhà khác trong thành Ca-tì-la-vệ, các đệ tử cùng đi với Ngài. Nhà vua nghe như nói như vậy, vội vã đi tìm Phật và hỏi tại sao làm xấu hổ gia đình như thế. Phật nói: “Hành khất là tục lệ của tăng lữ chúng tôi.”

     Nhà vua kinh ngạc. “Nhưng tục lệ của chúng tadòng dõi chiến sĩ, và không một chiến sĩ nào từng đi hành khất cả.”

     Phật đáp: “Dòng dõi chiến sĩ là của ngài, Ôi Đại vương, còn của tôi là dòng dõi Phật.”

     Đứng trên đường phố, Phật khuyên nhà vua: “Hãy minh mẫn, hãy chú ý. Hãy sống cuộc sống lương thiện. Người lương thiện sống hạnh phúc trong thế giới này và thế giới kế tiếp.”

     Vua thấy được chân lý của lời khuyên này. Vua liền lấy cái bát khất thực của Phật và dẫn Phật và các đệ tử đến hoàng cung, đãi họ thức ăn. Từ đó nhà vua sống cuộc sống có suy nghĩ và không giả vờ.   

               Kinh Trường Bộ

 

     Khi người ta nói xấu các ông, các ông nên trả lời theo cách này: Hãy giữ vững lòng mình và không đáp lại bằng lời nói thô bạo. Hãy tập buông xả sự tức giận và chấp nhận rằng sự thù hận của người khác là động cơ thúc đẩy sự hiểu biết của mình. Hãy từ ái, thuận theo cái nhìn độ lượng, hãy cư xử kẻ thù của mình như bạn bè, và hãy làm tràn ngập toàn bộ thế giới bằng những ý nghĩ yêu mến, hoằng viễn, trải rộng, và không oán ghét. Các ông nên cố gắng ở lại trong cản giới này.

               Kinh Pháp Cú

 

     Phật cùng với con của Ngài là Rahula (La-hầu-la), một cậu trai còn nhỏ. Phật khuyên La-hầu-la: “Này La-hầu-la, con hãy tu dưỡng thiền định về lòng từ ái, ý xấu sẽ bị xua đi mãi mãi. Cũng hãy tu dưỡng thiền định về bi mẫn, vì bằng cách tu dưỡng bi mẫn, con sẽ thấy sự tàn hại và dã man biến mất.”

               Kinh Trung Bộ

 

     Người bố thí một cách tự do được mọi người yêu mến. Điều ấy khó hiểu, nhưng do bố thí chúng ta có được sức mạnh. Song bố thí phải đúng lúc và đúng cách, và người bố thí hiểu đây là dũng và trí. Do bố thí với tình cảm kính trọng sự sống, ganh tị và giận dữ bị xua đi. Người ta tìm thấy con đường hạnh phúc. Giống như người trồng một cây nhỏ và theo thời gian nhận được bóng mát, hoa, và trái, cũng vậy kết quả của bố thí đem lại niềm vui. Con đường đó là qua những việc làm từ ái liên tục mà trái tim được bi mẫn và bố thí làm kiên cường.

               Kinh Trung Bộ

    

      Một người nhà giàu nói với Phật, “Tôi biết ngài là Bậc Giác Ngộ và tôi thích mở tâm tôi ra với ngài và cầu xin lời khuyên của ngài. Đời sống của tôi đầy việc làm, và đang có rất nhiều tiền. Chung quanh tôi có đầy những mối quan tâm. Tôi dùng nhiều người tùy thuộc vào tôi để thành công. Tuy nhiên, tôi thích thú việc làm của tôi và tôi thích chịu khó làm việc. Nhưng nghe những người theo ngài nói về sự an lạc của đời sống ẩn tu và biết ngài là một người đã từ bỏ vương quốc để trở thành một người lang thang không nhà và tìm ra chân lý, không biết tôi có nên làm như vậy không. Tôi mong làm được điều đúng và phúc đức cho những người của tôi. Tôi có nên từ bỏ tất cả mọi thứ để tìm chân lý?”

     Phật đáp: “Niềm an lạc của cuộc sống tìm chân lýthể đạt được đối với bất cứ ai đi theo con đường vô ngã. Nếu ông bám vào sự giàu sang của mình, thì ném nó đi tốt hơn để nó đánh độc trái tim ông. Nhưng nếu ông không bám vào nó mà chỉ dùng nó một cách khôn ngoan, thì ông sẽ là phúc đức cho người khác. Không phải giàu sangquyền lực nô lệ con người mà là sự bám lấy giàu sangquyền lực nô lệ họ.

     “Giáo lý của tôi không đòi hỏi bất cứ người nào trở thành kẻ không nhà hay từ bỏ thế gian trừ phi người ấy muốn, nhưng nó đòi hỏi mọi người tự giải thoát mình khỏi sự hư huyễn rằng mình là một cái ngã thường hằng và hành động một cách trọn vẹn trong khi từ bỏ sự thèm khát khoái lạc.

     “Và bất cứ điều gì người ta làm, ở thế gian hay ở nơi ẩn tu, hãy để họ đặt trọn vẹn trái tim họ vào đó. Hãy để họ gắn bó và nhiệt tâm, và nếu họ phải đấu tranh, hãy để họ không ganh tỵ hay oán ghét. Hãy để họ sống cuộc đời không với cái ta mà với chân lý, và bằng con đường đó an lạc sẽ đi vào trái tim họ.”

               Kinh Trung Bộ

 

     Trả lời câu hỏi, “Cái tốt nhất người ta có thể sở hữu là gì, cái gì đem đến cho họ hạnh phúc chân thật nhất, cái gì ngọt nào nhất trong những cái ngọt ngào, và thế nào là cuộc sống thích thú nhất để sống? Phật đáp:

     “Tin là cái tốt nhất người ta có thể sở hữu; theo chính đạo đem lại hạnh phúc chân thật nhất; chân lý là cái ngọt ngào nhất trong những cái ngọt ngào; và tu tập sáng suốtcách sống tốt nhất.”

                       Tập Kinh

 

     Chúng sinh ở đó dù như thế nào – yếu hay mạnh, nhỏ hay lớn, thấy được hay không thấy được, sống xa hay gần, đã sinh hay chưa sinh – mong cho tất cả, không trừ một chúng sinh nào, chứng nghiệm được tâm an lạc.

     Không để cho ai lừa dối kẻ khác hay khinh khi bất cứ người nào ở bất cứ chỗ nào. Không để cho ai vì tức giận hay ác ý làm hại người khác.

     Hãy để cho những ý nghĩ từ ái vô biên của một người thấm nhuần toàn thể thế giới không có bất cứ trở ngại nào, bất cứ oán ghét nào, bất cứ thù hận nào.

                Kinh Tương Ưng Bộ

    

     Một người mẹ, ngay cả khi nguy hiểm đến tính mạng, cũng bảo vệ đứa con thơ, đứa con duy nhất của mình. Các ông nên tu dưỡng lòng từ ái vô lượng của mình theo cách ấy đối với tất cả chúng sinh. Các ông nên tu dưỡng hướng đến toàn thế giới – trên, dưới, và chung quanh – một trái tim từ ái không tỳ vết, không lẫn lộn với bất cứ cảm nhận nào về những lợi ích khác hay đối nghịch. Các ông nên duy trì sự chú tâm này tất cả thời gian tỉnh thức. Tâm thái như thế là tâm thái tốt nhất trên thế gian này.

               Kinh Trung Bộ

 

     Chúng ta phải tự tu luyện mình theo cách này: bằng giải thoát cái ta qua từ ái. Chúng ta sẽ phát triển từ ái, chúng ta sẽ tu tập nó, chúng ta sẽ lấy nó làm con đườngcăn bản, chúng ta hãy đứng trên đó, tích trữ nó, và xếp đặt chu toàn cho nó.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Phật nghe nói rằng các tăng nhân của Ngài đã cãi nhau. Ngài bảo họ:

     “Ở Benares (Ba-la-nại) có một vị vua đầy quyền lực, tên là Bhramadatta, gây chiến tranh với Dirgheti, vua nước Koshala, vì nhà vua nghĩ vương quốc Koshala nhỏ bé và dễ chinh phục. Vua Dirgheti thấy rằng phản kháng là vô dụng, vì thế vua chạy trốn khỏi vương quốc và sau nhiều lang thang đã đến Ba-la-nại và sống ở đó với vợ ở nơi cư ngụ của một người làm đồ gốm. Ở đó họ có một con trai gọi là Dirghayu.

     “Khi Dirghayu lớn lên, Dirgheti tự nghĩ, Brahmadatta đã làm hại mình quá nhiều và sợ mình trả thù. Nếu tìm được mình, y sẽ giết mình. Vì thế Dirgheti gửi con trai Dirghayu đi xa. Dirghayu học xong, trở thành thiện nghệ và khôn ngoan.

     “Nhưng người thợ hớt tóc trước kia của Dirgheti, sống ở Ba-la-nại, một hôm nhìn thấy Dirgheti và phản bội ông, chỉ Dirgheti cho Brahmadatta để nhận thưởng. Brahmadatta đã bắt Dirgheti và hoàng hậu diễu hành qua các đường phố, và Dirgheti kinh hãi khi nhìn thấy con trai mình ở đó. Sợ hãi Dirgheti liền khiến cho mọi người chú ý mình, gọi lớn, ‘Đừng nhìn chúng tôi. Hãy quay đi. Thù hận không làm nguôi được thù hận, chỉ có tha thứ mới làm nguôi thù hận.’ Rồi ông và vợ bị hành quyết. Nhưng khi đêm đến, Dirghayu đem xác của họ hỏa thiêu trên giàn hỏa tôn vinh.

     “Nghe vậy, Brahmadatta chắc chắn rằng Dirghayu sẽ ám sát mình nếu có thể. Nhưng Dirghayu đã đi vào rừng, nơi anh ta có thể ở cô đơn trong phiền não. Sau một thời gian, anh ta trở lại Ba-la-nại, và nghe có việc làm trong chuồng voi của hoàng cung, anh ta nhận việc làm đó. Nhà vua vọng nghe anh ta hát một bài hát buồn nhưng rất hay đi kèm theo là tiếng đàn tỳ bà của anh ta, và rất xúc động vì giọng hát ngọt ngào của Dirghayu nên nhà vua bảo chàng thanh niên gia nhập đoàn tùy tùng của mình. Nhà vua sớm nhận thấy Dirghayu rất khôn ngoan, tốt tính, và đáng tin và trao cho anh ta một địa vị tin cậy.

     “Nhà vua đi săn và đem Dirghayu làm người đồng hành duy nhất. Nhà vua trở nên mệt mỏi và nằm gối đầu trên lòng Dirghayu. Cuối cùng, đây là cơ hội để Dirghayu trả thù cho sự cướp đoạt vương quốc và giết chết cha mẹ mình. Dirghayu rút kiếm khỏi vỏ. Nhưng lúc ấy anh ta nhớ lại lời cuối cùng của cha, rằng thù hận không bao giờ làm nguôi được thù hận, và anh ta đút kiếm vào vỏ trở lại. Nhà vua thức giấc và nói, ‘Ta nằm mộng thấy thanh niên Dirghayu sắp giết ta bằng kiếm.’

     “Dirghayu đặt một bàn tay lên đầu nhà vua và tay kia rút kiếm ra trở lại. “Tôi là Dirghayu đây. Đã đến lúc trả thù.’

     “Nhà vua thấy rằng mình còn sống là nhờ ở sự từ ái và nói, ‘Hãy tha mạng cho ta, Dirghayu ơi. Xin hãy tha mạng cho ta.’

     “Làm sao ta tha mạng cho ông khi ông là mối nguy hiểm cho mạng sống của ta? Chính ông phải tha mạng cho ta.’

     “Và nhà vua nói, ‘Ta sẽ tha mạng cho anh nếu anh tha mạng cho ta.’

     “Họ nắm tay nhau và thề không bao giờ hại nhau. Vì hối hận, nhà vua trả lại vương quốc cho Dirghayu.”

     Phật kết thúc câu chuyện bằng lời bình: “Bây giờ, tỳ kheo các ông, nếu sự nhẫn nhục như thế mà các vị vua có thể dùng để cai trị với thanh gươm, các ông phải để ánh sáng của mình chiếu sáng nhiều hơn nữa trước thế giới. Các ông, khi ôm ấp cuộc sống của người tìm chân lý, phải chứng tỏ mình kiên nhẫnđộ lượng. Không còn cãi nhau, không còn tranh luận, không còn bất hòa, không còn gây sự nữa.

                Kinh Phật Tự Thuyết

 

     Người tu tập từ ái ngủ và thức an ổn, và không có ác mộng; người ấy thân thiện với cả người và vạn vật; không nguy hiểm nào làm hại người ấy. Tâm của người ấy có thể tập trung nhanh chóng, biểu hiện của người ấy an lạctịch nhiên. Người ấy chết mà tâm không có bất cứ sự bối rối nào. Từ ái bảo vệ người ấy.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Kẻ buông mình hoàn toàn theo khoái lạc giác quankhông quán xét sẽ từ bỏ cái thực vì khoái cảm. Y sẽ ganh tỵ người theo đuổi trí tuệ.

     Đừng bám lấy khoái cảm, càng không bám vào cái không khoái cảm. Mất cái mình yêu thương đem lại đau khổ; chứa chấp sự đau đớn do mất mát đem lại nhiều đau đớn hơn.

                       Kinh Pháp Cú

 

     A-nan-đa, thị giả của Phật, đi ngang qua một cái giếng ở gần một ngôi làng. Pataki, một thiếu phụ thuộc giai cấp hạ đẳng đang múc nước. A-nan-đa hỏi xin nước uống.

     Pataki nói: “Tôi thuộc giai cấp hạ đẳng nên không được phép cho ngài nước uống. Xin đừng hỏi xin tôi bất cứ thứ gì, nếu không tôi sẽ ô nhiễm giai cấp cao quí của ngài bằng tình trạng giai cấp thấp kém của tôi.”

     A-nan-đa nói: “Tôi không thích thú gì chuyện giai cấp. Tôi chỉ muốn có nước uống.”

     Trái tim Pataki nhảy lên vui sướng. Cô ta cho A-nan-đa nước uống, và khi A-nan-đa bỏ đi cô ta đi theo sau ông giữ một khoảng cách bí mật, Khi biết được ông là đệ tử của Phật, cô ta đến gặp Phật và nói: “Xin hãy chấp nhận con và cho con sống ở chỗ này nơi đệ tử A-nan-đa của ngài trú ngụ, như vậy con có thể thấy anh ấy và cung cấp những gì anh ấy cần. Vì con thấy rằng con yêu A-nan-đa. Phật hiểu được những gì đang xảy ra trong tình cảm của cô và nhẹ nhàng nói với cô, “Này Pakati, trái tim con đầy yêu thương nhưng con không hiểu những xúc động của mình. Đó không phải con yêu A-nan-đa mà con yêu lòng từ ái của A-nan-đa. Hãy chấp nhận lòng từ ái mà A-nan-đa đã cho con thấy, và đến phiên con hãy tỏ lòng từ ái với những người khác. Con đã sinh ra trong giai cấp thấp, nhưng bằng cách này con sẽ là mẫu mực cho những người sinh ra trong giai cấp cao quí. Hãy giữ cách này và sẽ đến lúc con chiếu sáng sự vinh quang của các bậc vua chúa và hoàng hậu.”

                       Kinh A Hàm

 

     Hãy khởi lên ý chí của mình, tối thượng và vĩ đại,

     Hãy tu tập từ ái, hiến tặng niềm vui và sự che chở;

     Hãy để sự bố thí của mình tựa như hư không,

     Không phân biệtkhông giới hạn.

     Hãy làm điều thiện, không phải vì mình

     Mà vì tất cả chúng sinh trong đại thiên thế giới;

     Hãy cứu giúp và giải thoát mọi người mình gặp,

     Hãy giúp họ đạt trí tuệ của đường đạo.

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     A-nan-đa thưa với Phật: “Con nghĩ chưa từng có một bậc thầy nào vĩ đại như thầy, cũng sẽ không có một bậc thầy nào vĩ đại trong vị lai.”

     Phật hỏi: “Ông biết hết tất cả những bậc tỉnh giác, những vị Phật trong quá khứ không?”

    “Dạ không, thưa Thế Tôn.”

     “Và ông có thể biết hết tất cả những vị Phật vị lai không?”

     “Dạ không, thưa Thế Tôn.”

     “Tôi giả định rằng ông biết đầy đủ tâm của người tỉnh giác này chứ?”

     “Dạ không, thưa Thế Tôn, con không biết đầy đủ tâm của ngài.”

     “Vậy thì làm sao ông có thể bạo dạn đưa ra lời khẳng định như thế? Hãy nói những gì ông biết tốt hơnsuy đoán một cách ngu ngốc.”

                       Kinh Trung Bộ

 

     Tất cả những ai hiểu rõ sự kiện rằng giác ngộ thì ở khắp mọi nơi đối với trí tuệ toàn hảo với sự thông tuệ kỳ diệu rằng tất cả vật thể và cấu trúc, như thực trong giây phút hiện tại, là họ giác ngộ, cả phương tiệnmục đích, là hoàn toàn thanh tịnh không thể diễn tả bằng lời. Những ai kinh nghiệm cái không thể diễn tả bằng lời ấy, gọi là Chơn Như, nhận biết rằng tất cả những cấu trúc rõ ràng là không tự hữu.

     Những ai đạt được trí tuệ toàn hảo thì mãi mãi được hứng khởi bởi tin chắc rằng trong sắc tướng sai biệt của thế gian này, trong tất cả tính tương đối của chúng, không là chướng ngại và phân tán nguy hiểm đối với con đường tâm linh, thực sự là một phương thuốc trị bệnh. Vì sao? Bởi vì do chính sự kiện chúng tương tùy và do đó không có ngã biệt lập, chúng biểu hiện sự huyền bí và năng lực tình thương bao trùm tất cả. Không chỉ những người trí tuệ chiếu sáng mà mọi chúng sinh trong thế giới nối kết với nhau là người ở trong tình thương vô cùng vô biên.

        Kinh Bát-nhã-nba-la-mật-đa

 

     Tu-bồ-đề hỏi Phật: “Tâm giác ngộ tối hậu, vô thượngThế Tôn đạt được – có phải là cái tâm bất khả đắc không?”

     “Phải, Tu-bồ-đề. Với tâm giác ngộ tối hậu, vô thượng đó, tôi không đạt cái gì cả. Cái tâm ấy bình đẳng ở khắp mọi nơi. Không thể đạt hay nắm lấy nó mà chỉ có thể chứng ngộ nó. Chứng ngộ nó qua tu tập tất cả những hành động tốt khi được thực hiện trong tinh thần không có ngã và không có đối tượng của ngã.”

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

    Áp đặt một cái tên cho một cái gì đó mà người ta nghĩ là một

 vật hay một trạng tháiphân chia nó với những vật khác và những trạng thái khác. Nhưng khi các ông theo đuổi cái gì nằm bên dưới cái tên, các ông sẽ thấy sự vi tế càng vĩ đại hơn không có sự phân chia. Vi trần không thực sự là vi trần. Cũng vậy, thế giới không phải là thế giới mà chỉ gọi như thế.

               Luận Đạo Thanh Tịnh

 

     Tu-bồ-đề hỏi phật (buddha) có nghĩa là gì?”

     Phật đáp: “Phật là thực tại chơn như. Một người thấu hiểu trọn vẹn tất cả những yếu tố của tồn sinh là một vị phật.”     

     Rồi Tu-bồ-đề hỏi: “Giác ngộ có nghĩa là gì?”      

     Phật đáp: “Giác ngộ là một cách nói rằng tất cả sự vật được thấy trong bản tánh không tịch nội tại, Như tánh, tính kỳ diệu không thể nắm bắt của chúng. Danh từ và lời nói chỉ là ngẫu nhiên, nhưng cảnh giới thấy không có phân chia, không nhị nguyên, là giác ngộ.”

     Tu-bồ-đề hỏi: “Nếu có người muốn biết tánh không, người ấy nên làm thế nào để thấy nó?”

     “Người muốn thức ngộ tánh không nên sùng mộ thực tại, phát triển thiện xảo sống trong thế gian, và bồi dưỡng bạn bè có cùng tâm ấy. Thiện xảo chỉ có thể phát triển trong sự hiện diện của thực tại, không cách nào khác. Được phú bẩm thiện xảo, người bố thí không có ý niệm về bố thí và sống trong thức ngộ rằng tất cả những yếu tố của tồn sinh khôngbản thể tối hậu.”

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     Con mắt sáng được gọi như thế bởi vì nó đem cái thấy lại cho mọi người. Nó làm mỗi người có thể nhập vào thực tại không tạo tác và không nhân duyên, mỗi người theo cách riêng của mình.  

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

    Cái gì không phải của mình, hãy buông xả đi; buông xả nó sẽ cho mình điều tốt và an lành. Những cái không phải của mình là gì? Thân không phải của mình – hãy buông xả đi. Cảm giác đến rồi đi; đừng chiếm giữ nó, hãy buông xả đi. Nhận thức và sự vật được nhận thức không phải của mình, hãy buông xả đi. Cách bộ não làm việc và hình thành ý tưởng chẳng phải của mình, hãy buông xả đi. Buông xả và không chiếm giữ sẽ tốt và phúc lợi cho mình.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Như dấu chân của bất cứ sinh vật nào bước đi trên trái đất đều có thể đặt vào trong dấu chân voi, to lớn hơn tất cả – dù vậy, chú tâm là phẩm chất duy nhất bảo đảm cho sự thanh thản của tâm trong tất cả mọi lúc.

     Chú tâm khiến cho những ý nghĩ phúc lợi chưa phát sinh phát sinh. Nó cũng làm cho những ý nghĩ tai hại đã phát sinh biến mất. Nơi người chú tâm, cái tốt sẽ được nhận ra.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Phật nhận thấy Sigala, một gia chủ, vỗ tay và rồi hướng về bốn phương cũng như bầu trời ở trên và trái đất ở dưới. Phật biết đây là nghi thức phòng ngừa ma quỉ và hỏi Sigala:

     “Tại sao gia chủ lại thực hiện nghi lễ kỳ lạ này?”

     “Ngài nghĩ rằng tôi phải bảo vệ gia đình tôi khỏi bị ảnh hưởng của ma quỉ là kỳ lạ ư? Tôi biết rằng ngài, Ôi Phật, tin rằng phù chúvô dụng, nhưng tôi biết rằng khi thực hiện nghi lễ này là tôi tôn vinh cha tôi và giữ những lời giáo huấn của ông linh thiêng.”

     “Anh làm tốt, Sigala, để tôn vinh cha anh và giữ những lời giáo huấn của ông ta. Và đó là bổn phận bảo vệ nhà cửa và gia đình của anh. Tôi thấy không có gì sai trong sự thực hiện nghi thức của cha anh, nhưng tôi không nghĩ anh hiểu nghi lễ ấy. Hãy để tôi, người cha tinh thần của anh, giải thích:

     “Bảo vệ nhà cửa của anh chỉ bằng những nghi lễ thần bí thì không đủ, anh phải bảo vệ nó bằng làm những việc thiện nữa. Với những hành vi thiện anh nên hướng đến cha mẹ anh ở phương đông, thầy anh ở phương nam, vợ con anh ở phương tây, và bạn bè anh ở phương bắc. Bên trên, hãy thờ phụng thần, và bên dưới, hãy tôn vinh tất cả những ai phụng sự anh. Đó là sự bảo vệ đích thực mà cha anh muốn anh có, và khi anh thực hiện nghi lễ này anh sẽ được nhắc nhớ đến nó.”

     Lúc ấy Sigala nhìn Phật như là cha của mình và nói, “Con chưa bao giờ biết những gì mình làm và bây giờ con biết.”  

               Kinh Trung Bộ

  

  Cái tâm chiếu sáng không bao giờ vắng mặt mà chỉ bị những ý nghĩ và xúc cảm người ta đặt lên nó nhuộm màu. Nếu thấy được sự tự do sáng láng của tâm này, các ông tu dưỡng nó trước bất cứ điều gì khác, giữ nó trọn không vướng mắc gì cả.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Một người lính đến hỏi Phật: “Người ta nói rằng ngài phủ nhận sự hiện hữu của linh hồn. Những người nói như vậy là nói sự thật hay là họ đang đem chứng cứ sai lầm chống lại ngài?”

     Phật đáp: “Theo một cách, họ đang nói sự thật; mặt khác, theo một cách khác họ không nói sự thật. Tôi dạy rằng không có thực tại riêng rẽ nào là ngã cả. Mặt khác, tôi thực sự dạy rằng có nhận thức. Người hiểu linh hồn là tâm nhận thức và nói rằng nhận thức hiện hữu là dạy chân lý đưa đến sự trong sánggiác ngộ.”

     Người lính hỏi: “Vậy thì ngài có tin hai sự vật hiện hữu? Thế giới như chúng ta nhận thức bằng các giác quan của chúng ta, và cái tâm?”

    Phật đáp: “Những gì tôi nói là như vầy: Tâm của anh là tinh thần, và thế giớigiác quan nhận thức cũng vậy. Tinh thần thì phi thời gian và nó thống trị toàn bộ hiện hữu như là đại luật dẫn dắt tất cả chúng sinh trong sự tìm cầu chân lý. Nó biến đổi thiên nhiên thô thành tâm, và không một chúng sinh nào là không thể chuyển hóa thành khí cụ chứa chân lý.”

               Kinh Phạm Võng

 

     Phản chiếu về sự khởi đầu và sự chấm dứt của sự vật là cảm thấy an lạc khi mình thấy niềm vui vô biên của các thế giới ở bên kia các thế giới.

    Hãy nhìn tâm nhận thức của mình, nó vốn thanh tịnh, và hãy tự phấn khích mình. Hãy nhìn tính trong sạchthế giới được dựng lập trên đó và tự sửa mình cho đúng. Hãy nhìn bên trong và tìm thấy an lạc. Đừng cảm thấy nghi ngờ nữa.

     Khi không còn tùy thuộc vào danh và sắc, bạn sẽ thực sự trở thành người cầu tìm.

     Bạn là ông chủ và bạn cũng là con đường. Bạn còn có thể nhìn vào chỗ nào khác ư? Như thương nhân thuần con ngựa quí, bạn nên tự làm chủ mình.

     Người cầu tìm có lòng tin nơi đạo sẽ đi qua bên kia đạo và thấy sự chấm dứt của khổ.

     Người cầu tìm đi qua bên kia đạo khiến cho thế gian giác ngộ, y như mặt trăng chiếu sáng khi nó ra khỏi các đám mây.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Những ngọn gió khác nhau đến từ mọi hướng. Vài ngọn trong sạch, vài ngọn mang theo bụi bẩn, vài ngọn nóng hay lạnh, những cơn gió dữ và những làn gió nhẹ hiền lành. Cũng vậy, những cảm giác phát sinh trong thân – thích thú hay không thích thú hay trung tính. Khi một người thiền định thấy những cảm giác như thấy những ngọn gió, đến và đi, trong sạch hay vẩn bụi, dữ hay hiền, người ấy sẽ hiểu chúng một cách trọn vẹnthoát khỏi sự tùy thuộc vào chúng. Khi hiểu các cảm giác một cách hoàn toàn, người ấy sẽ thấy bên kia thế giới nhân duyên này.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Rỗng lặng và vô ngã

     Là bản tánh của tất cả các pháp.

     Không chúng sinh riêng rẽ nào

     Tự hữu trong thực tại.

 

     Không có chấm dứt hay khởi đầu,

     Cũng không có đoạn giữa.

     Tất cả là hư huyễn,

     Như ảo ảnh hay giấc mộng.

     Tất cả chúng sinh trên thế gian

     Đều ở bên kia vòng ngôn ngữ.

     Bản tánh tối hậu của chúng sinh,

     thanh tịnhchân thật,

 

     Như hư không vô biên.

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     Người mà tâm biết được tính trong sáng của trí tuệ toàn hảo thì không bao giờ sợ hãi hay lo âu. Vì sao? Bởi vì khi là một với sinh lực của trí tuệ, mẹ của tất cả chư Phật, người ấy có sức mạnh ở lại trong cảnh giới quán sát không bị phân chia ngay cả khi không ngừng và thiện xảo dấn mình trong hành động từ bi. Người trí tuệ có khả năng hành động bởi vì tập trung vào lời nguyện đơn thuần: “Nguyện cho tất cả chúng sinh không bao giờ lìa bỏ con đường giác ngộ, là bản tánh chân thật của họ và không có sự tự hữu riêng rẽ.”

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     Một người bị vướng mắc nhiều với cái thân hang động, người ấy thấy rằng rất khó xa lìa nó. Những người lúc nào cũng thèm muốn khoái lạc thì khó giải thoátchắc chắn không ai có thể giải thoát cho họ được, chỉ có họ là có thể tự giải thoát cho chính họ mà thôi. Đôi khi chỉ có sự chết đem lại sự tỉnh ngộ những cái cuối cùng, và rồi người ham nhục lạc, đắm chìm sâu trong thân xác, sẽ kêu lên: “Cái gì sẽ xảy ra với tôi sau khi tôi chết?”

     Con đường hướng đến giải thoát là tự mình tu luyện sống trong hiện tại không muốn trở thành bất cứ cái gì. Hãy từ bỏ trở thành cái này hay cái kia, hãy sống không có ham muốn, và kinh nghiệm giây phút hiện tại với tất cả sự chú ý. Rồi các ông sẽ không sợ chết hay tìm sự tái sinh nhiều lần nữa.

                       Tập Kinh

 

     Có người hỏi Phật: “Tôi muốn biết về cảnh giới của bình an, cảnh giới của cô tịch và của cách ly tịch tĩnh. Làm sao một người có thể trở nên bình tĩnh, độc lập, và không muốn nắm bắt bất cứ cái gì?”

     Phật đáp: “Người ta làm điều ấy bằng cách phá bỏ sự mê hoặc ‘tôi hiện hữu’. Bằng cảnh giác và chú ý, người ấy bắt đầu buông bỏ những thèm muốn khi chúng phát sinh. Nhưng khi bắt đầu thực hiện bất cứ điều gì, người ấy nên ý thức về sự kiêu mạn bên trong. Người ấy nên tránh nghĩ mình giỏi hơn, tệ hơn hay bằng người khác, vì đó là chỉ là so sánhnhấn mạnh cái ta.

     “Người ấy nên tìm sự bình an bên trong và không tùy thuộc vào nó ở bất cứ nơi nào khác. Vì khi một người tĩnh lặng bên trong, thì không thể tìm thấy cái ta. Dưới sâu của đại dương không có sóng, nó yên tĩnh và không bị phá vỡ. Người bình an cũng như vậy. Người ấy bình lặng, không có bất cứ sự nắm bắt nào. Người ấy đã buông bỏ nền tảng của ngã và không còn tạo kiêu mạnham muốn nữa.”

                       Tập Kinh

 

     Tôi đã dạy con đường không tạo ra sự phân biệt giữa bên trong và bên ngoài giáo lý. Vì trên phương diện chân lý ắt không có vật gì như là “bàn tay nắm chặt” của ông thầy, giấu đi một tri kiến cốt yếu nào đó đối với học trò. Bí mật là dấu hiệu của giáo pháp sai lầm.

               Kinh Trường Bộ

 

     Magandiya hỏi Phật: “Quan điểm của ngài là gì, ngài sống như thế nào, và định mệnh tương lai của ngài là gì?"

     Phật đáp: “Khi nghiên cứu tất cả những quan niệm mà người ta cố chấp giữ, tôi không nói, ‘Tôi tuyên bố điều này’ hay ‘Tôi tuyên bố điều đó’. Quán sát tất cả những quan niệm của con người nhưng không chấp giữ chúng, tôi tìm cầu chân lý và đã tìm được sự bình an bên trong.”

     “Nhưng một người trí tuệ miêu tả như thế nào sự bình an bên trong mà ngài đã tìm được mà không qui chiếu với một trong những hệ thống suy lý, không nhận một trong những quan niệm của con người mà ngài không chấp giữ?”

     “Người ta không đạt được bình an bằng suy lý, truyền thống, kiến thức, nghi thức, hay quan điểm, cũng không đạt được nó mà không có sự trợ giúp của bất cứ cái nào trong những cái đó. Bằng cách lấy những yếu tố đó làm phương tiện và không nắm giữ chúng như là cứu cánh trong đó người ta tìm thấy bình antrong sáng.”

     “Nhưng nếu ngài nói rằng người ta không đạt được sự trong sáng bằng truyền thống hay quan điểm và cũng không đạt được nó nếu thiếu những cái đó,” Magandiya khăng khăng, “vậy thì đối với tôi dường như ngài đang nói chuyện phi lý.”

     “Bởi vì cố chấp quan điểm của mình mà ông tiếp tục hỏi những câu hỏi này,” Phật đáp, “ông bị những ý niệm dự tưởng ám ảnh và ông đang bám chặt vào chúng. Tôi không tin ông có nghe bất cứ điều nào tôi nói; vì thế ông xem nó là phi lý. Ông đang tìm một cái gì đó cao hơn. Nhưng đối với người đã tìm được sự trong sáng thì không có những ý nghĩ về cao hơn hay bằng nhau hay thấp hơn như thế, bởi vì nghĩ theo cách đó thì liền đi vào tranh luận. Tại sao người trí tuệ phải tranh luận, nói, ‘Đây là sự thật’ hay ‘Đây là nói dối’? Và nếu người ấy không có những ý nghĩ về bằng nhau hay không bằng nhau như thế, thì người ấy sẽ tranh luận với ai?

     “Người tự tại rong chơi trong thế gian, thoát khỏi những ý kiếnquan điểm, không chấp giữ chúng, không nhập cuộc tranh luậnbàn cãi. Như hoa sen vươn lên trên cọng sen không bị bùn nước vấy bẩn, cũng vậy người trí tuệ nói về sự bình an và không bị quan niệm của thế gian ô nhiễm.”

                       Tập Kinh

 

     Này Mahamati (Đại Huệ), bất nhị có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là ánh sáng và bóng tối, dài và ngắn, đen và trắng, chỉ có thể kinh nghiệm trong mối tương quan với nhau; ánh sáng không độc lập với bóng tối, đen không độc lập với trắng. Không có đối nghịch mà chỉ có quan hệ. Cũng vậy, niết-bàn và thế giới bình thường của đau khổ không phải là hai vật mà là quan hệ với nhau. Không có niết-bàn ngoại trừ nơi nào có thế gian đau khổ; không có thế gian đau khổ nào tách rời niết-bàn. Vì hiện hữu không loại trừ nhau.

                       Kinh Lăng Già

 

          Đệ tử Punnaka hỏi Phật: “Vì sao những người khôn ngoan trên thế giangiáo sĩ, nhà cai trị, và những người khác – luôn luôn hiến tế thần?”

     Phật đáp: “Họ hiến vật tế thần bởi vì họ muốn giữ đời sống của họ như vậy và không có bất hạnh nào xảy ra khi họ già.”

     “Nhưng, thưa Phật,” Punnaka hỏi, “tuổi già của họ có khác đi với những hiến dâng đầy quan tâm này không?” 

     “Những cầu nguyện, tán tụng, hiến dâng, và hy vọng của họ tất cả đều đặt trên căn bản của những sở hữu, quả báo, thèm khát khoái lạc. Những người chuyên môn cầu nguyện này đều thèm khát sự tiếp tục hiện hữu. Nhưng nó không làm cho tuổi già của họ đổi khác.”

    “Thưa Phật, xin hãy nói cho con biết, nếu tất cả những hiến tế của những người chuyên môn ấy không làm cho họ vượt qua được tuổi già, thì ai từng vượt qua được?”   

     Phật nói: “Khi một người đã hiểu thế gian một cách thấu triệt, từ đỉnh đến đáy, khi không một cái gì trên thế gian làm người ấy lay động nữa, thì người ấy trở thành người không có bối rối, sợ hãi, run rẩy, và thèm muốn dục vọng. Người ấy đã vượt qua bên kia tuổi già và qua bên kia sinh tử.”

                       Tập Kinh

 

     Có người hỏi Phật: “Đến mức độ nào thì một người có thể được gọi là người nói đạo?”

     Phật đáp: “Nếu một người dạy đạo để vượt qua bên kia bạo lực chuyên chế của sự vật vật chất và dạy làm cách nào để vượt qua bên kia tình cảm, nhận thức, xung động, và ý thức – giảng dạy sự không dính mắc những cái đó – thì người ấy có thể gọi là người nói đạo. Nếu người ấy tự mình cố gắng vượt qua bên kia sự lôi kéo của thế giới vật chấtcảm thấy không dính mắc với nó, thì có thể nói người ấy đang sống hợp với đạo. Nếu người ấy được giải thoát do sự vượt qua bên kia và không dính mắc, thì ông có thể nói người ấy đã tìm được niết-bàn ở đây và bây giờ.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Shariputra (Xá-lợi-phất) hỏi: “Khi một người theo đạo đạt được đại minh tri của trí tuệ toàn hảo thì người ấy có ham muốntu dưỡng sự toàn tri, tri kiến vô biên không?”

     Phật đáp: “Một người theo đạo đạt được như thế không bao giờ ham muốn hay tu dưỡng tri kiến vô biên. Chính thái độ không ham muốn và không tu dưỡng đó tiết lộ mọi sự với người ấy và người ấy thấy tất cả những cơ cấu khả hữu – theo các đối tượng của các giác thức đối với chư Phật – trong bản tánhtrong sáng. Tính trong sáng này, sự thực, một cách đơn giản chỉ là toàn bộ sự tỉnh giác của một vị Phật. Cũng vậy, người theo con đường bây-giờ-tỉnh-giác trở thành hòa nhập trong trí tuệ vô biên và tức khắc nở hoa như là chính sự toàn tri.

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     Miêu tả sự tỉnh giác của mình, Phật nói: “Sinh, sinh! Diệt, diệt! Ở ngay ý nghĩ đó, này các tỳ kheo, ở đó phát sinh trong tôi cái thấy về sự vật không có trong tâm trước kia. Tri kiến phát sinh – như thế là sắc, như thế là sự sinh của sắc, như thế là sự diệt của sắc. Sự nhận biết phát sinh – như thế là sự sinh của nó, như thế là sự diệt của nó. Và cảnh giới ở trong cái hiểu về sinh và diệt – đó cũng phát sinh.”

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Ananda (A-nan-đa) nói: “Tình bạn với những gì đáng yêu, sự kết giao với những gì đáng yêu, sự thân thiết với những gì đáng yêu – ấy là một nửa của đời sống thánh thiện.”

     Phật đáp: “Chớ nói vậy, A-nan-đa. Đó là toàn thể, không phải một nửa, của đời sống thánh thiện. Một người được phúc đức như thế với những gì đáng yêu sẽ phát triển con đường hiện thể đúng, sự suy nghĩ không còn nắm bắt những cái gì không thật, mục đích quan tâm và sẵn sàng, sự quán xét không bị ràng buộctự do. Sự kết giao với những gì đáng yêu là toàn thể đời sống thánh thiện.”

Kinh Tương Ưng Bộ

 

             Rohitassa hỏi: “Trong khi đang tiếp tục đi trên đường đạo, có nơi nào người ấy có thể tìm được một chỗ không có sinh, không có chết, không có suy tàn, không có chấm dứt, và không có tái sinh nữa không? Dọc theo đường đạo có chỗ nào người ta có thể thấy được sự chấm dứt hay sự đi đến chấm dứt của hiện hữu?”

     Phật đáp: “Không, bạn ơi, không có nơi nào có bản tánh đó. Khi bạn đang đi theo đường đạo, bạn không thể biết sự chấm dứt hay thấy sự chấm dứt hay sự đi đến chấm dứt của hiện hữu. Tuy nhiên, bạn có thể chấm dứt được phiền não và đau buồn của mình – sự thực, bạn có thể chấm dứt nó ở đây và bây giờ. Vì trong chính thân này, dài một mét tám, với tất cả những ấn tượng giác quan, ý nghĩ, và ý niệm của nó, ở đây tôi tuyên bố với bạn, là thế giới và nguồn gốc của thế giới, sự tận cùng của thế giới, và cũng là con đường đưa đến sự chấm dứt đó.”

 

     Chỗ tận cùng của thế giới không đến được bằng du hành

     Song trừ phi đến được chỗ tận cùng của thế giới    

     Thì không có sự giải thoát khỏi phiền não.

 

     Người có trí tuệ và sống cuộc đời từ ái

     Bắt đầu biết thế giới. Người ấy sẽ đi đến tận cùng thế giới.

     Và lúc ấy y sẽ không ham muốn thế giới này

     Hay bất cứ thế giới nào khác.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Tôi sẽ dạy các ông về Tất Cả. Hãy lắng nghe kỹ. Thế nào là Tất Cả? Ấy là mắt và đối tượng có thể thấy được, tai và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, tâm và ý. Đây là Tất Cả.

     Nếu có người nào nói, “Cái Tất Cả này không đủ. Tôi sẽ công bố một cái Tất Cả khác,” có thể làm được điều ấy không? Có thể người nói tin là có thể làm được, nhưng y không thể đưa ra một cái Tất Cả nào khác.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Trong vùng núi Hi-mã-lạp-sơn có một vùng đất gồ ghề và khó đi qua, khỉ cũng như người không thể sống ở đó được. Và có một vùng đất khác khỉ có thể sống được nhưng người thì không. Cũng có những thung lũng rất thú vị mà cả khỉ lẫn người đều có thể sống được. Trong các thung lũng này, thợ săn đặt bẫy có nhựa thông dính trết trên những cây có khỉ để bắt chúng. Khỉ nào không tò mò và tham lam, khi thấy cái bẫy nhựa thông ấy liền tránh đi. Nhưng khỉ nào ngu và tham lam sẽ đến chỗ nhựa thông và đưa chân vào đó. Lúc ấy chân nó bị dính chặt. Nó liền đưa chân kia nắm lấy nhựa thông, và chân này cũng bị dính chặt. Để giải thoát hai chân, nó cố gắng dùng các chân của nó, nhưng khi các chân bị dính hết, nó dùng miệng. Khi miệng bị dính nữa thì nó bị dính cả năm chỗ, vì thế nó nằm xuống và kêu la. Người thợ săn nghe tiếng kêu la, liền đến bắt nó.

     Một người đi lang thang sai chỗ cũng giống như vậy. Thế nào là sai chỗ? Tự mình vướng mắc vào sự thích thú của năm giác quan, bị mắc bẫy và làm nô lệ của đam mê thích thú, đó là sai chỗ, sự bị nô lệ đó vượt quá nhu cầu và phạm vi của đời sống.

     Các ông nên dạo bước ở những chỗ của mình, phát hiện hòa hợp với chân tánh. Thế nào là chỗ của mình? Ấy là mục trường thanh tẩy và chú tâm nhiệt thành, nơi mà sự không hài lòngtham lam được đặt sang một bên vì thế gian. Đó là chỗ riêng của mình, phạm vi của bản tánh.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Có một nhân duyên lớn mà tôi đã thâm nhậpnhận ra. Nhận ra nó, bây giờ tôi có thể tuyên bố, dạy, và định nghĩa nó, trình bày cho tất cả hiểu.

     Cái gì là nhân duyên của thế gian này?

     Thân là nhân duyên của thế gian. Với thân và sắc đi đến xúc cảm, nhận thức, ý thức, và tất cả những hoạt động khắp suốt thế gian. Sự sinh của sắc và sự diệt của sắc – mọi sự vật được tâm nghe, cảm, và biết, tìm kiếmđạt đến – tất cả đây là thế gian hiện thân, để thâm nhậpnhận ra.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Hôm nay lài nở hoa tươi,

     Hoa héo hôm qua đã rụng rồi.

     Hãy để cho lòng ham, ghét cũ

     Rụng rơi như những cánh hoa kia.

 

     Tĩnh lặng nơi thân, khẩu, và ý,

     Khi đặt tất cả ham muốn thế gian sang một bên,

     Mình sẽ biết chính mình là tĩnh lặng. 

    

    Tự khuấy động mình để khảo sát mình,

    Hãy canh chừng và chăm chú,

    Canh chừng cái ngã này và sống an lạc.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Khi đủ nhân và duyên, mắt hiện diện. Khi không đủ nhân và duyên, mắt không hiện diện. Điều này cũng đúng với thân, thức, tâm, và nhận thức.

                       Kinh Kim Cương

 

     Hãy để tôi nói với các ông về trung đạo. Mặc y phục thô và dơ bẩn, để tóc mọc rối bời, kiêng cữ ăn thịt hay cá, không làm sạch người mê hoặc. Hành hạ xác thịt bằng sự khó nhọc quá độ không đưa đến chiến thắng vinh quang các giác quan. Tất cả sự đau khổ tự gánh chịu vẫn vô dụng chừng nào cảm giác về ngã còn thống trị.

     Nên bỏ đi sự tự bận rộn với chính mình, rồi ăn uống một cách tự nhiên, tùy theo nhu cầu của cơ thể. Tùy thuộc vào sự thèm ăn ngon của mình – dù bị bỏ đói hay đắm mình trong đó – có thể đưa đến trở thành nô lệ. Quả thực, giữ thân thể khỏe mạnh là một bổn phận, nếu không tâm sẽ không khỏe mạnh và trong sáng.

     Đây là trung đạo.

                       Pháp Thoại II

 

     Người ta không biết không có nghĩa là người ta không biết giống như bò hay dê. Ngay cả những kẻ vô minh cũng tìm đường đi đến thực tại. Nhưng, khi tìm, họ thường hiểu nhầm những gì họ gặp phải. Họ theo đuổi tên gọi và phạm trù thay vì đi sang bên kia cái danh để đến cái thực.

                       Kinh Trường Bộ

 

     Một hôm một đệ tử thông minh sáng láng của Phật hỏi Phật ông ta có thể đưa người em trai của mình gia nhập tăng già hay không. Phật hoan hỉ đồng ý.

     Nhưng người em, mặc dù hiền lànhdịu dàng, hóa ra lại chậm chạp và kém trí. Anh ta không hiểu những gì mình học và xin được về nhà để không lãng phí thì giờ của Phật hay làm cho người anh thất vọng.

     “Con chẳng cần phải bỏ cuộc,” Phật nói. “Con không nên bỏ việc tìm giải thoát chỉ vì con thấy mình dường như đần độn. Con có thể buông bỏ tất cả những triết lý con đã được dạy và thay vì chỉ tụng một câu chân ngôn thôi – ta sẽ dạy nó cho con ngay bây giờ. Phật ban cho ông tăng trẻ câu chân ngôn và bảo ông ta đi đi với lòng thương mến.

     Nhưng chẳng bao lâu ông tăng trở lại, lần này còn xấu hổ hơn nữa. “Thưa Phật thương mến của con, con không thể nhớ được câu chân ngôn Ngài đã cho con và vì thế con không thể tu tập được nữa.”

     Phật từ ái lặp lại chân ngôn cho ông ta. Nhưng ông ta trở lại hai lần nữa, mỗi lần đều quên. Vì thế Phật cho ông ta một hình thức đã được đơn giản hóa. Nhưng khi chân ngôn đơn giản ấy cũng vuột khỏi tâm ông tăng, ông ta hầu như không dám đến viếng Phật trở lại.

     “Còn có một phiên bản ngắn hơn nữa,” Phật mỉm cười bảo ông ta. “Nó chỉ có hai âm tiết. Xem con có thể nhớ nó được.”

     Nhưng ông tăng không thể nhớ được. Ông ta sụp xuống và khóc trong am của mình. Người anh thấy vậy rất tức giận, cảm thấy rằng thanh danh của mình bây giờ đã bị ô uế. Ông ta bảo ông tăng trẻ hãy về nhà, vì thế cậu thanh niên rời am và buồn bã tìm lối men theo đường đi.

     Khi cậu ta đến gần một vườn cây thì gặp Phật từ vườn cây đang đi đến. Phật mỉm cười và nắm lấy tay cậu. Họ cùng nhau đi đến một ngôi chùa nơi có hai ông tăng già đang quét dọn. Phật nói với họ: “Từ nay chú tăng trẻ này sẽ ở đây với các ông. Hãy tiếp tục quét, khi chổi của các ông đưa tới đưa lui, hãy niệm chân ngôn hai âm tiết này, tôi sẽ nói cho các ông ngay bây giờ. Hãy tiếp tục không ngừng cho đến khi tôi trở lại.”

     Ông tăng trẻ ngồi xuống và lắng nghe hai cây chổi chuyển động, tới lui trên sàn nhà. Ông ta nghe nhịp điệu thì thầm của chân ngôn khi nó được niệm đi niệm lại. Chuyện này tiếp diễn nhiều tuần lễ, và trước khi Phật trở lại, ông tăng trẻ đã tìm được sự giải thoát viên mãn và hai vị tăng già cũng vậy.

               Kinh Trung Bộ

 

     Vì tâm không phải thân,

     Không gì khác diệt nó được.

     Nhưng vì trói buộc với thân,

     Nó bị đau khổ của thân tổn hại.

               Kinh Bồ-đề Hành

 

     Một người theo đạo Jaina (Kỳ-na) tranh luận với Phật: “Ngài nói rằng tất cả vạn vật đang biến đổi và do đó không có ngã thường hằng. Nhưng cây cỏ tùy thuộc vào đất mà sinh trưởng, cũng vậy con ngườivật chất và có nhu cầu, tình cảm và vân vân. Vì thế tôi nói rằng hình hài vật chất này và mọi vật liên hệ với nó là ngã của tôi.”

     “Vậy thì ông có quyền lực để biến đổi hình dạng của ông cao hơn hay thấp hơn không?” Phật hỏi.

     “Không,” người Jaina giáo thừa nhận.

     “Có phải những vật thể vật chất là thường hằng?"

     “Không.”

     “Vậy thì, có trí tuệ hay không khi nghĩ rằng những vật thể vật chất vô thường, như hình dạng của ông, là thuộc về ông hay là chính ông?”

     “Không, nghĩ như vậy là sai,” người Jaina giáo nói, “và tôi xin lỗi nếu tôi đã nói bừa. Làm sao các đệ tử của ngài đạt đến mức hiểu biết như ngài?”

     “Thấy một cách trực tiếp và thức ngộ tất cả mọi điều, ngay cả ý nghĩ và tình cảm như thực, họ có thể nói: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi.’ Bằng cách này họ được giải thoát khỏi sự ràng buộc mê hoặc của họ với chính họ.”

               Kinh Trung Bộ 

 

     Thế giới được hiểu theo cách của tâm

     Thế giới được hành động theo cách của tâm

     Tất cả những điều tốt và xấu

     Trên thế gian hiện hữu theo cách của tâm.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Một người bà-la-môn tên là Sangarava tắm mỗi sáng và chiều trên dòng sông như thế ông ta có thể rửa sạch được bất cứ tội gì đã phạm trong ngày.

     Phật nói với ông ta: “Nếu tắm có thể rửa sạch hết tội lỗi, thì tất cả ếch nhái, rùa, và cá sấu đều thoát được tội lỗi! Cái hồ thực là cái hồ điều thiện, với nét trang nhã là bờ hồ để tắm. Trong sạch và không ô nhiễm, nó xoa dịu tất cả những ai tự nhảy vào. Hãy nhảy vào nước thiện và học bơi.”

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Thân này không phải của mình, cũng không thuộc về người khác. Nên xem nó như là sản phẩm của toàn bộ lịch sử. Về điểm này, người trí tuệ sẽ phản chiếu về bản tánh của nhân duyên, nói: Nếu cái này sinh, cái kia sẽ sinh, nếu cái này không sinh, cái kia sẽ không sinh.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Có hai loại hạnh phúc. Có loại hạnh phúc của đời sống không phạm vào khoái lạc tình dục, và có loại hạnh phúc của đời sống phạm vào khói lạc tình dục, một loại đi tới ý thức mới. Trong hai loại này, hạnh phúc đi tới vĩ đại hơn.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Phật nói chuyện với Uttara, đệ tử trẻ của một vị thầy gọi là Parasariya.

     “Này Uttara, thầy Parassariya có dạy anh làm cách nào để kiểm soát các giác quan không?

     “Dạ có, thưa Phật, thầy ấy có dạy chúng tôi cách kiểm soát các giác quan của mình.”   

     “Ông ấy dạy làm thế nào?”

     “Chúng tôi được dạy không xem sắc tướng bằng mắt, không nghe âm thanh bằng tai. Đó là cách kiểm soát các giác quan.”

     “Nhưng trong trường hợp đó, Uttara, thì người mù và người điếc phải hoàn toàn kiểm soát được các giác quan của họ, vì một người thì không thấy và người kia thì không nghe.”

     Uttara im lặng.

     “Này Uttara, thầy Parasariya dạy anh một cách và ở đây chúng tôi dạy một cách khác. Hãy để tôi nói anh nghe chúng tôi dạy cái gì. Khi một tăng nhân thấy sắc tướng bằng mắt, thường sinh ra cảm giác thích hay không thích. Lúc ấy tăng nhân ấy hiểu rằng thích hay không thích đã phát sinh nhưng không cái nào là không thể tránh được mà tùy thuộc vào nhân duyên. Vì thế tăng nhân ấy tiến tới một cảnh giới trong đó có sự tĩnh lặng và thấy rằng làm như thế thì thích hay không thích biến mất và tăng nhân ấy thấy sự vật như thực. Đó là cách tăng nhân ấy kiểm soát các giác quan của mình. Đó là những gì chúng tôi dạy.”

               Kinh Trung Bộ

 

     Những người suy tưởng về ngã thường thấy nó theo một trong mấy cách. Họ thấy thân là ngã, hay ngã có thân, hay họ thấy thân là phần của ngã, hay ngã gồm trong thân. Nhưng trong tất cả những cách này cảm giác về “ngã hiện hữu” không bao giờ bị bỏ rơi, vì người ta không thấy sự phát sinh và suy vong và con đường nhân duyên mà xem thân và ngã như những thực thể kiên cố.

                       Tập Kinh

  

     Tâm này như con cá khi ra khỏi nước tự vẫy đập và ném mình lung tung, ý nghĩ của nó theo sau từng khát vọng.

     Cái tâm lang thang như thế thì yếu kém và không vững vàng, bị lôi cuốn đây đó, khắp mọi nơi. Kiểm soát nó và biết được niềm an lạc của giải thoát thì tốt biết bao.

     Và sự mê hoặc của những ý nghĩ vẫn còn vô kỷ luật làm sao, vi tế làm sao. Làm cho chúng yên tĩnh và làm chủ được chúng là con đường an lạc chân thực.

     Đặt chiếc dây cương lên cái tâm lang thang, người cầu tìm nhất tâm dừng lại những ý nghĩ của mình. Y không còn phóng ra những ý nghĩ ương bướng bất thường và thấy bình an.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Được sinh ra làm người là khó và sống cuộc sống của người là khó, và càng khó hơn nữa là tỉnh giác, vươn lên và đi theo.

     Song lời dạy thì đơn giản: “Ngừng làm điều xấu, học làm điều tốt. Và hãy làm cho tâm mình thanh tịnh.

     “Đừng nói hay làm điều gì khiến ai đau đớn. Hãy ăn uống điều độ. Hãy sống trong cô tịch bên trong. Và hãy tìm ý thức sâu kín nhất.” Đây là lời dạy. 

                       Kinh Pháp Cú

 

     Tâm nhận thức của các ông đã sẵn quang minh và chiếu sáng. Nhưng các ông nhuộm màu nó bằng tất cả những chấp trước của mình. Không dễ gì hiểu được điều này, và nhiều người không hiểu. Họ không tu dưỡng tâm nhận thức của họ. Nhưng tâm ấy, quang minh và chiếu sáng, vốn không có tất cả mọi dính mắc, bởi vì chúng đến rồi đi. Các ông nên hiểu điều này và vì các ông nên có sự tu dưỡng tâm nhận thức.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Này các tỳ kheo, thân không phải là ngã. Từ xa xưa, thân phát triển theo duyên và duyên ấy cũng không có ngã. Vậy thì làm sao thân, phát triển từ một cái gì đó không có ngã, là ngã được? Cũng vậy, những ý nghĩý tưởng xuất hiện do ảnh hưởng của tất cả chúng sinh qua thời gian – làm sao những ý nghĩý tưởng là ngã được? Cũng vậy, những cảm giácnhận thức liên quan với thân và tâm – làm sao chúng có thể là ngã được? 

               Kinh Tương Ưng Bộ   

 

     Khi chơi đàn tỳ bà, sự chơi ấy không phải từ chỗ tích trữ có trước mà đến. Khi nhạc ngừng, nó không đi bất cứ nơi nào khác. Nó xuất hiện do cách cấu trúc của cây đàn và sự chơi của người trình diễn. Khi ngừng chơi, nhạc không còn hiện hữu.

     Cũng vậy, tất cả các thành phần kết hợp của con người, cả vật chất và phi vật chất, xuất hiện, diễn vai trò của chúng, và ra đi.

     Cái chúng ta gọi là một người là đem các thành phần ấy lại với nhau và những hành động của các thành phần ấy với nhau. Ở đó, không thể tìm thấy một cái ngã thường hằng nào cả. Song vẫn có một nghịch lý. Vì có đường đi và có sự đi, nhưng không có người đi. Có hành động nhưng không có người hành động. Không khí di động nhưng không có gió. Ý tưởng về một cái ngã đặc biệt là một sai lầm. Hiện hữu trong sáng và rỗng lặng.

                Luận Đạo Thanh Tịnh

 

     Nếu tâm trở nên vững như đá

     Và không lay động nữa

     Trong thế giới mọi vật đang lay động,

     Tâm sẽ là người bạn vĩ đại nhất của ta

     Và đau khổ sẽ không đến trên đường đi của ta.

                       Kệ Trưởng Lão

    

     Ai sẽ siêu việt thế gian này? Ai sẽ siêu việt cõi chết, và cõi trời cũng như với tất cả chư thiên? Ai sẽ tìm được con đường chân chính và sáng soi của đạo?

     Các người sẽ [làm những điều đó]. Cũng như người góp nhặt hoa khám phá những đóa hoa trang nhã nhất và hiếm có nhất, các người cũng sẽ góp nhặt các giáo lýsiêu việt thế gian này.

     Khi các người biết rằng thân chỉ là bọt nước trên đầu sóng, không có thực như bóng nước trong sa mạc, các người sẽ bẻ gãy những mũi tên khát vọng đầy hoa. Vô hình, các người sẽ trốn thoát diêm vươngtiếp tục du hành.

     Mùi thơm của gỗ chiên đàn, hoa huệ, hoa lài không thể không thể đi ngược gió, nhưng các người sẽ đi ngược gió. Mùi thơm của việc làm điều thiện đi tất cả mọi hướng, ngay cả những nơi tận cùng trái đất.

     Hoa sen mọc sáng ngời làm sao nơi rác rến bên đường. Mùi thơm ngạt ngào của nó khiến trái tim nhẹ nhàng.

     Các người cũng vậy, những người tỉnh giác, sẽ chiếu sáng

 

bóng tối chung quanh, tỏa hương thơm trí tuệ của mình.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Hãy tìm một chỗ chỉ có một mình mình. Hãy tự luyện tập theo cách sau đây: Khi hít vào, hãy kinh nghiệm đang hít vào. Khi thở ra, hãy ý thức đầy đủ rằng mình đang thở ra. Nếu ôm ấp và tu tập cách này, sẽ có kết quả lớn. Bất cứ các ông làm điều gì và bất cứ các ông ở đâu, cũng sẽ được vững vàng, an tĩnh, và tập trung nếu các ông trở nên ý thức hơi thở của mình.

                       Kinh Trung Bộ

 

     Hãy phát triển phép thiền định như nước. Làm như thế, các người sẽ thấy rằng ý nghĩấn tượng chiếm hữu các người sẽ trôi đi. Y như người ta tắm rửa thân bằng các thứ chất lỏng, mồ hôi và nước miếng, mủ và máu, nhưng nước không phiền hay gớm ghiết – như thế phép thiền định nước này sẽ đem lại bình an cho các người.

                       Kinh Trung Bộ

 

     Một người đang bị bối rối hỏi Phật: “Tôi nghe nói rằng một vài vị tỳ kheo thiền định với những mong muốn, những tỳ kheo khác thiền định mà không mong muốn gì, và những tỳ kheo khác nữa thì lạnh lùng với kết quả. Cách nào tốt nhất?”

     Phật đáp: “Dù họ thiền định với mong muốn hay không, nếu họ có ý niệm sai và phương pháp sai, họ sẽ không có được kết quả nào từ sự thiền định của họ. Hãy nghĩ điều này. Giả sử có người muốn có dầu, y bỏ cát vào một cái bát, rồi rắc ít muối vào. Dù ép nó thế nào, y cũng sẽ không có được dầu, vì đó chẳng phải là phương pháp. Một người khác cần sữa. Y bắt đầu vắt cặp sừng của con bò cái tơ. Dù có mong muốn nào hay không, y cũng sẽ không có được sữa từ sừng bò, vì đó chẳng phải là phương pháp. Hoặc nếu có người đổ đầy một bình nước rồi khuấy nó để lấy bơ, y sẽ chỉ được nước.

     “Nhưng nếu có người thiền định với thái độ tốt, với sự chú ý và tâm niệm đúng, thì dù y có mong muốn hay không, y sẽ có nội kiến tốt. Cũng như đổ những hạt có chất dầu vào một cái bát và ép chúng, hay lấy sữa bò bằng cách vắt vú con bò, hay đổ kem vào bình và khuấy nó. Ấy là phương pháp đúng.”

                       Kinh Trung Bộ

 

    Đây là cách các ông nên quán sát. Thế giới là một ý tưởng trong tâm mà chữ thế giới được buộc vào đó. Ở bên kia ý tưởng này là sự huyền bí của tính hiện hữu. Nhưng không thể giải thoát con người khỏi sự ràng buộc vào ý tưởng ấy – vào cái làm họ mù lòa trước thực tại – mà không có phương pháp thích hợp. Như vậy các ông nên đi con đường toàn hảo ba-la-mật của bố thí, [trì giới?], nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí tuệ. Tuy nhiên, trong khi đi theo các sinh hoạt này, các ông nên giữ ý thức rằng thế giới là hư huyễn. Vì những người không biết mà các ông dấn thân vào việc làm năng động và mạnh mẽ cũng như trong thiền định và chú ý qui nhất. Khi hiểu rằng không có trí tuệ, các ông không thể làm được điều gì cho người khác, ấy là sự tỉnh giác rằng những gì mình đang làm vừa là thiết yếu vừa là hư huyễn.

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     Cần thiết phải tu dưỡng một giới luật nào đó của tâm, vì một cái tâm không giới luật luôn luôn tìm được lý do miễn giảm cho hành vi ích kỷ và thiếu suy nghĩ. Khi cái tâm không theo giới luật, cái thân cũng không theo giới luật, và lời nói và hành động cũng thế.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Tu-bồ-đề nói: “Nếu con hiểu đúng, một người ước mong đạt được trí tuệ toàn hảo nên quán xét cách sự vật tồn tại trên thế gian và nên tu tập đầy đủ và thâm sâu các ba-la-mật (lục độ) nhưng không nên tin đó là thực tại tối hậu, y cũng không nên lấy đó làm khái niệm và chủ thuyết.”

     Phật đáp: “Đúng vậy, Tu-bồ-đề. Người quán sát hiện hữu theo cách này biết bản tánh của hữu vivô vi và khiến cho mình trở thành người thiện xảo trong việc chỉ ra chân lý cho người khác.”

     Tu-bồ-đề hỏi: “Nhưng đấy có phải chỉ dành cho những người trí tuệ và thông minh?”

     “Không, không phải,” Phật đáp, “Điều này mở ra cho tất cả, ngay cả những người trí kém và những ai không thể chú ý. Cánh cửa mở rộng cho bất cứ ai muốn đi con đường này – nhưng không mở ra cho người lười biếng và vô cảm.”

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     Chóng vánh là thế gian này

     Thành và hoại chính là bản tánh

     Sự vật phát sinh thành và lại diệt

     Hạnh phúc kỳ diệubình an.

Phẩm Nhân Duyên

 

     Khi các ông nghĩ về một đối tượng, đôi khi xảy ra những ý nghĩ ác, bất thiện kết nối với ghét và mê hoặc đi vào tâm các ông. Cách để loại bỏ chúng là tập trung vào một đối tượng khác thiện lành. Như một người thợ mộc giỏi loại bỏ cái móc thô bằng cái móc đẹp, như vậy những ý nghĩ ác sẽ biến mất. Khi những ý nghĩ ác ra đi, tâm sẽ trở nên yên tĩnh, hợp nhất, và tập trung một lần nữa.

                       Kinh Trung Bộ

 

     Đây chính là con đường ấy,

     Vì không con đường nào khác đưa đến

     Cái thấy thanh tịnh.

     Nếu theo nó,

     Đau khổ sẽ dứt.

     Vì ta biết làm sao loại bỏ

     Những cái gai mê hoặc, ta vén mở con đường.

     Chính các người nên luôn luôn cố gắng.

     Chư Phật chỉ dạy thôi.

     Những ai đi trong quán sát

     Tự giải thoát họ khỏi ràng buộc với chính mình.

               Kinh Pháp Cú

 

          Phật nói với các tỳ kheo: “Mùa mưa đã đến, tôi muốn an cư

 

trong ba tháng này. Tôi thích người khách viếng duy nhất của tôi

 

là người mang thức ăn cho tôi.”

     Cuối ba tháng, Ngài nói:

     “Này các tỳ kheo, nếu những người thuộc các tín ngưỡng khác hỏi các ông, ‘Phật tu tập thiền định gì trong những ngày mưa?’ các ông nên nói, ‘Ông ấy dùng mùa mưa tu tập thiền định chú tâm vào hơi thở ra vào.’ Này các tỳ kheo, bằng cách này, tôi chú tâm hít vàochú tâm thở ra. Khi thở một hơi dài, tôi biết nó dài; và khi thở ra tôi biết ‘tôi thở ra một hơi dài.’ Với hơi thở ngắn cũng vậy, biết nó vào và biết nó ra. Trong chú tâm, tôi ý thức toàn bộ quá trình ấy.

     “Tôi cũng tu tập quán thân bằng cách này. Khi đứng, tôi ý thức tôi đang đứng; khi ngồi, biết toàn bộ về ngồi; và khi nằm, kinh nghiệm đầy đủ về nằm. Bằng kinh nghiệm mỗi khoảnh khắc, tâm tôi không còn bám vào thế gian nữa.

     “Sự chú tâm vào hơi thở ra vào, vào quán sát thân, vào giữ ý thức từng khoảnh khắc, là một việc làm cao quí và là con đường tuyệt diệu, đưa đến sự tự tại của tâm và đến trí tuệ.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Thực tại như thực trở thành cái thấy chân chính của người thiền định. Nghĩ về thực tại như thực trở thành suy nghĩ chân chính. Nhận thức về thực tại như thực trở thành nhận thức chân chính. Nhiếp tâm về thực tại như thực trở thành nhiếp tâm chân chính. Hành động của thân và ngữ lúc ấy cùng thẳng hàng với thực tại như thực. Người thiền định phát triển và viên mãn theo cách này.

                       Kinh Trung Bộ  

 

     Purna, một trong các tỳ kheo của Phật, muốn dạy thiền định cho người Suner ở phương tây, một dân tộc điên rồ và nguy hiểm. Phật nghĩ rằng một ý tưởng như thế là quá nhiệt tình nhưng muốn trắc nghiệm Purna.

     “Nhưng Purna, đó là những người bạo động, tàn nhẫn, và hung hãn. Khi họ tức giận và nguyền rủa ông, ông nghĩ thế nào?”

     “Con nghĩ rằng họ vốn tử tế và tốt bụng mặc dù họ nói lời lăng nhục con. Và ít ra họ không đánh hay ném đá con.”

     “Nhưng giả sử họ đánh ông ném đá ông, ông nghĩ thế nào?”

     “Con nghĩ họ tử tế và tốt bụngít nhất họ không dùng tới chùy và kiếm.”

     “Và nếu họ thực sự dùng chùy và kiếm tấn công ông?”

     “Con vẫn nghĩ họ tử tế và tốt bụng vì đưa con thoát ra khỏi cái thân không may mắn này.”

     “Ô, hay lắm, hay lắm, Purna. Với tất cả đức nhẫn nhục toàn hảo và thánh thiện như vậy chắc chắn ông có thể đi và sống với những người bạo động đó. Đi đi, Purna – ai biết, ông có thể có khả năng độ được một ít người và chỉ cho họ con đường giải thoát.”

                       Kinh Trung Bộ

 

     Không nên tưởng tượng mình là một với mắt hay độc lập với nó hay là chủ nhân của nó. Với tai và tất cả các giác quan khác, kể cả tâm, cũng vậy. Cũng không nên tưởng tượng mình là đồng nhất với thế giới hay chứa trong thế giới hay độc lập với nó hay là chủ nhân của nó.

     Bằng cách này, thoát khỏi tưởng tượng, người ta không còn bám vào sự vật thế gian nữa. Khi không còn bám vào nữa, thì không còn xao động, bất an, và lo âu. Không còn lo âu, thì có thể đạt đến những chỗ sâu kín của mình và hiểu rằng chỗ đã bị mất bây giờ là chỗ đầy đủ.

                Kinh Tương Ưng Bộ  

 

     Kẻ nào mong thoát được nghi ngờ

     Nên chú ý và cảnh giác;

     Nhìn vào cả tâm và thân

     Y sẽ thấy nguyên nhân và nguồn gốc.

                       Tập Kinh

 

     Trong bóng đêm u tối, bỗng có ánh chớp lóe lên, người ta sẽ nhận ra các vật; cũng vậy, người với ánh chớp nội kiến lóe lên thấy phù hợp thực tại – “Đây là cách phiền não tác động, đây là cách nó phát sinh; đây là cách nó có thể đi đến chấm dứt; đây là con đường đưa đến chấm dứt.”

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Khi quán thân bằng cách ở bên trong thân, các ông không nên vướng vào tất cả các thứ ý tưởng về thân; cũng vậy, khi quán cảm giác bằng cách ở bên trong cảm giác, các ông không nên đi vào các ý tưởng; điều này cũng áp dụng cho quán tâm bằng cách ở bên trong tâm và quán các ý nghĩ bằng cách ở bên trong các ý nghĩ. Ý nghĩ chỉ là những đối tượng của tâm và các ông không nên gắn ghép mình vào bất cứ dòng ý tưởng nào kết nối với chúng. Bằng cách này, để các ý tưởng sang một bên, tâm các ông sẽ trở nên an tĩnh và cố định vào một điểm. Rồi tâm sẽ đi vào thiền định không có ý nghĩ phân biệt, hân hoanvui vẻ.

                       Kinh Trung Bộ

 

      Này Tu-bồ-đề, tất cả những người tìm chân lý nên phát khởi chủ ý thanh tịnhtrong sáng. Khi phát khởi chủ ý này, họ nên làm theo tinh thần này: Không nên dựa vào sắc tướng, âm thanh, mùi vị, xúc chạm, hay đối tượng của tâm. Họ nên phát khởi chủ ý với tâm không trụ ở bất cứ chỗ nào.

                       Kinh Kim Cương

 

     Tu-bồ-đề hỏi: “Vị hành giả muốn độ tất cả chúng sinh làm cách nào có thể tìm được sự giác ngộ thức tỉnh trí tuệ toàn hảo và viên mãn?” 

     Phật nói: “Sự tỉnh giác vi tế nhất này xảy đến qua sự chú ý từ giây phút này đến giây phút khác. Bằng cách chú ý, có sự hòa hợp với cách sự vật hiển lộ, như là sắc tướngý thức. Hành giả thức tỉnh trí toàn hảo do trở nên vui sướng vì không có những ám ảnh của thói quen, danh tự, kinh nghiệm của giác quan, tình cảm cá nhân, không có sự sợ chết và tất cả thất vọng đi kèm.

     “Tự do kinh nghiệm toàn bộ sự khởi hiện và sự vận hành tùy thuộc vào nhau của nó mà không tin nó là thực tại tối hậu, hành giả tránh hai lỗi căn bản – rằng thế giới tương đối này có gốc rễ với bất cứ một nền tảng kiên cố nào, và lỗi ngược lại là những hình tướng hóa hiệnchúng ta thấy đều là hư huyễn không liên can gì đến thân xác và đạo đức đúng đắn đối với mọi lưu huyển của tâm.”   

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

    

     “Này Xá-lợi-phất, có chuyện có ai trong những người theo tôi nghĩ rằng sau khi biết được giác ngộ viên mãn họ nên dẫn dắt tất cả chúng sinh đến niết-bàn không?”

     “Không, thưa Thế Tôn.”

     “Nhưng đó sẽ là chủ ý của họ. Họ không nên để mình bị vướng kẹt mà tin như vậy. Con đom đóm không nghĩ rằng ánh sáng của nó có thể chiếu sáng đại lục Ấn Độ hay phát sáng khắp cả. Cũng vậy, những người theo ấy không nghĩ rằng, sau khi đạt giác ngộ viên mãn, họ có thể dẫn dắt tất cả chúng sinh đến niết-bàn. Nhưng mặt trời, khi đã mọc, chiếu ánh sáng của nó khắp cả Ấn Độ. Cũng vậy, một người theo đạo tỉnh giác khi đã giác ngộ viên mãn, cũng không có ý cố gắng dẫn dắt tất cả chúng sinh đến niết-bàn.” 

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa

 

     Mặt trời chiếu sáng ban ngày, và hiền nhân chiếu sáng trong trí tuệ. Mặt trăng chiếu sáng ban đêm, và hiền nhân chiếu sáng trong quán sát. Nhưng người gác ngộ chiếu sáng trong ánh quang minh tâm linh, cả ngày lẫn đêm.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Dhotaka hỏi Phật: “Con rất muốn nghe Ngài nói. Xin Đại đạo sư hãy giải thích cho con: một đệ tử theo lời dạy của Thầy có thể tìm được niết-bàn cực lạc không?”

     Phật đáp: “Bất cứ người học nào theo lời dạy của tôi cũng tìm được niết-bàn cực lạc nếu người ấy thực sự muốn làm thế, và nếu người ấy viễn ly các khái niệm và biết được cách sự vật hiện hữu.”

     Dhotaka lễ bái và nói: “Ở đây, ngay trước con, có người không có gì cả mà thấy mọi sự vật. Con tôn vinh Ngài, thưa Ngài. Xin giải thoát cho con khỏi những bối rối.”

     Phật đáp: “Khiến cho một người nào thoát khỏi bối rối không phải là việc làm của tôi. Khi ông hiểu được những lời dạy có giá trị nhất, thì chính ông có thể vượt qua đại dương.”

     “Xin hãy thương xót con. Xin dạy cho con cách xa lìa, như vậy con có thể biết được sự vật như thực, như vậy con có thể bắt đầu sống trong bình anđộc lập, khiến cho con tự do như sống giữa không trung.”

     “Tôi sẽ giải thích rằng sự bình an đó không đặt căn bản trên những khái niệm và mong muốn, và có thể đạt được nó ngay đây và bây giờ. Khi ông hiểu được sự bình an này ông sẽ thấy rằng sự bám giữ thế gian này của ông đã được buông ra.

     “Ở mọi hướng,” Phật nói, “trên, dưới, chung quanh, và bên trong, ông thấy sự vật ông biết và nhận thức. Hãy đặt nó xuống. Đừng để ý thức trú trên các sản phẩm của hiện hữu và những sự vật đến và đi, vì ở đó không có an nghỉ hay vơi nhẹ. Khi ông hiểu rằng vì cho rằng những sự vật của thế gian này đương nhiên là toàn bộ thực tại, ông bị ràng buộc vào thế gian, rồi cái hiểu này sẽ giải thoát ông ra khỏi sự tùy thuộc vào các đối tượng và sẽ làm cho sự khao khát và thèm muốn hiện hữu liên lục của ông ngừng lại. Rồi thay vào đó ông có thể buông bỏ sự bám giữ và can thiệp vào sự vật như thực.

                       Tập Kinh

 

     Nghe những lời trên, một người khác, Jatukkani, hỏi: “Như mặt trời kiểm soát thế gian bằng sức nóng và ánh sáng của nó, ngài, bậc Đạo sư, dường như kiểm soát tham dục và khoái lạc. Con chỉ hiểu được chút ít. Làm sao con có thể tìm ra và biết được con đường từ bỏ thế giới của sinh và già này?”

     “Phật đáp: “Hãy để cho lòng ham thích khoái lạc của ông mất đi. Hãy xem buông bỏ thế gian đem lại sự tĩnh lặng sâu xa như thế nào. Không có gì để ông nắm giữ và cũng không có gì để ông xua đuổi đi. Hãy sống trong hiện tại nhưng đừng bám vào đó, rồi ông có thể đi từ chỗ này đến chỗ khác trong bình an. Có một trạng thái tham lam nhập vào và thống trị cá nhân. Nhưng khi sự ham thích ấy đi rồi, như chất độc ra khỏi thân và chết sẽ không còn

 

làm ông kinh sợ nữa.”

                       Tập Kinh

 

   Một đệ tử hỏi: “Vì tất cả mọi người khác nhau đến lắng nghe lời Thầy nói, xin hãy nói cho chúng con biết về con đường Thầy đã tìm thấy và biết được.”

     Phật đáp: “Khi ông lấy sự vật là vì khao khát, bám lấy, và nắm giữ. Ông nên buông bỏbuông bỏ trọn khắp, trên, dưới, chung quanh, và bên trong. Dù cho vật ông đang nắm giữ là gì cũng chẳng có gì khác biệt. Khi ông nắm giữ là ông đang mất tự do. Hãy nhận ra điều này và không nắm giữ gì cả. Rồi ông sẽ không còn là một tạo vật của dính mắc, bị buộc vào quyền năng của tử vong.”

                       Tập Kinh

 

     Nghe những lời trên, một người khác, Upashiva, hỏi Phật: “Đối với con, con không thể nào vượt qua được biển lớn dục vọng mà không có sự trợ giúp. Xin hãy nói cho con biết những gì giúp con tìm được cách vượt qua.”

     Phật bảo: “Có hai điều ông có thể dùng giúp ông vượt qua. Một là nhận thức rằng tánh không hiện hữu, và một nữa là sự tỉnh giác rằng sự thực tất cả sự vật đều là rỗng lặng và kỳ diệu.”

     “Thưa Đại Đạo sư, Upashiva nói, “khi người ta không chấp trước và thèm muốn, khi đã buông bỏ mọi sự vật và tùy thuộc vào tánh không, người ta sẽ thường hằng ở trong cảnh giới ấy phải không?”

     “Khi ông không có ham muốn khoái lạc nhục cảm và khi ông tỉnh giác với tánh không, ông tự do trên con đường vô thượng và điều đó sẽ không thay đổi. Ấy giống như ngọn lửa bị cơn gió lốc thổi. Trong chớp nhoáng, ngọn lửa đã ra đi. Tương tự, người ấy bỗng nhiên được tự do và không còn lời nào có thể nói được. Khi buông bỏ tất cả những cách hiện hữu của ngã và khi thấy tất cả mọi hiện tượng là rỗng lặng, thì tất cả những cách miêu tả về cái này cũng biến mất.”

                       Tập Kinh

       Hãy thiền định về cái ở bên kia ngôn từbiểu tượng. Hãy bỏ những đòi hỏi của ngã. Bằng cách bỏ như thế các ông sẽ sống một cách an tĩnh.

                       Tập Kinh

     “Có phải khổ là do tự mình gây nên, thưa Phật thiện lành?” Ca-diếp (Kassapa) hỏi.

     “Không, Ca-diếp.”

     “Vậy, do người khác chăng?”

     “Không, Ca-diếp.”

     “Vậy thì do cả hai, mình và người khác?”

     “Không, Ca-diếp.”

     “Vậy do ngẫu nhiên chăng?”

     “Không, Ca-diếp.”

     “Vậy thì không có khổ chăng?”

     “Không, Ca-diếp, không phải không có khổ. Vì ở đó khổ.”

     “Vậy thì có lẽ ngài không biết hay không thấy nó, thưa Phật.”

     “Không phải tôi không biết khổ hay không thấy nó. Tôi biết rõ nó và thấy nó.”

     “Nhưng đối với tất cả các câu hỏi của tôi, thưa Phật, ngài đều đáp không – song ngài nói ngài biết khổ và thấy nó. Xin hãy dạy tôi về khổ.”

     “Này Ca-diếp, có hai cái thấy sai. Một nói rằng tự mình là tác giả của toàn thể hành vi và tất cả hậu quả khổ một mình mình gánh lấy và như vậy đây là theo thường hằng. Một nữa nói rằng ấy là những hành vi do người khác làm đem lại đau khổ cho mình.

     “Ông nên tránh cả hai cái thấy này. Ở đây chúng tôi dạy cách khác. Tất cả những hành vi, dù là của mình hay của người khác, đều do vô minh tạo duyên, và đó là nguồn gốc của toàn bộ sự khổ này. Bằng cách chấm dứt vô minh nơi chính mình, và bằng cách diệt vô minh nơi người khác, trí tuệ hiện ra và khổ dứt.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

     Trong một ngôi nhà có đầu hồi, tất cả những cây đòn tay đều qui về cây đòn dông, chúng được gắn cố định vào cây đòn dông và kết hợp với nhau một cách đều đặn. Cũng vậy, bất cứ trạng thái nào không đúng của tâm hiện hữu, chúng đều có gốc rễ nơi vô minhkết hợp với nhau ở đó. Vô minh về cái thiện là nguyên nhân của việc làm sai lầm. Do đó, các ông phải sống trong chú tâm và tự tu luyện trong đó.

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

    Như cây có rễ mạnh không bị tổn thương, dù bị chặt xuống, nó lại mọc lên. Cũng vậy, khi ham muốn không bị tận diệt, đau khổ phát sinh và lại phát sinh.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Con đường cao quí là con đường tốt nhất trong tất cả mọi con đường, không có ham muốncảnh giới tốt nhất, và người có mắt thấy là người hạnh phúc nhất.

     Con đường cao quí là con đường dẫn đến giải thoát khỏi mê hoặc, dẫn đến quang minh.

     Người thấy con đường này và đi theo nó đến chấm dứt phiền não.

     Tự mình phải nỗ lực; người tỉnh giác chỉ là chỉ đường. Những ai đã bước vào con đường ấy và những ai thiền định sẽ giải thoát mình khỏi những ràng buộc hư huyễn.

     Mọi sự vật đang thay đổi. Chúng phát sinh và ra đi. Người thức ngộ điều này được giải thoát khỏi đau khổ. Đây là con đường soi sáng.

     Hiện hữu là biết đau khổ. Hãy thức ngộ điều này và thoát khỏi đau khổ. Đây là con đường sáng ngời.

     Không có ngã tách rời đau khổ. Người hiểu điều này là được tự tại. Đây là con đường trong sáng.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Những ai sợ tất cả sự khổ trên thế gian và những ai sợ chết, đều tìm cầu niết-bàn. Nhưng họ không biết rằng thế gian, chết, và niết-bàn không tách rời nhau. Họ tưởng rằng sẽ tìm được niết-bàn qua sự hủy diệt các giác quan, không biết rằng thế gian của các giác quanảo ảnh hay phép lạ khi người ta không còn chụp lấy nó.          

Kinh Lăng Già

 

     Không có lửa nào như tham và không có tội ác nào như oán ghét. Không có đau buồn nào như bị ràng buộc vào thế gian này; không có an lạc nào như giải thoát.

     Khỏe mạnh là phúc đức vĩ đại nhất, bằng lòng là sự giàu có tốt nhất; tin cậy là mối quan hệ tốt đẹp nhất; niết-bàn là an lạc cao nhất.

     Nếm được vị ngọt ngào của cô tịch và hài lòng bên trong, ai sống theo luật của vũ trụ thì không sợ hãiđau khổ.

     Vui là gặp được những bậc tỉnh giác như thế, và sống với họ là hạnh phúc.

     Đi cùng với kẻ ngu khiến cuộc hành trình dài và khó, và đi cùng với kẻ thù cũng khổ như vậy. Nhưng đồng hành với người trí tuệ thì vui thích như gặp bạn bè.

     Hãy theo những người trí tuệ, những người thông minh, và những người tỉnh giác. Hãy theo họ như mặt trăng theo con đường của những vì sao.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Nếu muốn loại bỏ kẻ thù, cách đúng là nhận ra rằng kẻ thù của mình là mê hoặc.

               Kinh Hoa Nghiêm

 

     Tu-bồ-đề hỏi Phật, sự vật dường như kiên cố và tách biệt, thực sự hiện hữu bằng cách nào?

     Phật đáp: “Sự thực hữu của chúng không dính dáng gì đến ảo tưởng về ngã. Hiện tướng của sự vật và sự kiện dường như kiên cố và tách biệt là kết quả của vô minh, phóng tưởng ý niệm về tính cá thể trên thế gian. Những ai tin rằng tất cả những gì họ gặp và tất cả những gì xảy ra trong tâm họ là hoàn toàn thực là đang cố gắng tự mình cắm rễ sâu vào danh sắc và những ý tưởng ước lệ, và hậu quả là họ đau khổ. Họ men theo ý tưởng sai lầm rằng để hiện hữu thì cơ cấu phải là vật chất. Lý luận sai lầm này khiến họ trở thành mù lòa trước bản tánh thanh tịnh, không bản chất, nhưng vận hành đúng của tất cả mọi sự vật và các quá trình. Những người mù lòa như thế sống bên trong những tập hợp phức tạp của những ý niệmcảm xúc tôn giáo hay thế gian mà họ tin là cuối cùng và đã được thiết định, và do đó là thực.

     Họ phóng tưởng thế giới tự tạo này trên những ý niệm về quá khứ, vị lai, và giây phút hiện tại. Họ cố kết tinh thực tại thành những hình dạng và phạm trù thường hằng. Bằng cách này họ che màn con đường thông sáng, con đường tâm linh vén mở tính trong sáng nội tại, sự tự do, và tính trong suốt sáng ngời của Thực Tại.”

        Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa 

 

     Một người ẩn tu, Bhaddiya, bước đi trong những nơi cô tịch và ngồi ở dưới gốc của những cây to lớn. Người ta thường nghe ông ta cảm thán, “A, cực lạc, cực lạc!”

     Những tăng nhân luôn luôn nghe chuyện này tin rằng ông ta ắt đang ám chỉ cuộc sống giàu sang mà ông ta đã từ bỏ. Họ nói với Phật những gì họ nghĩ. Phật phái một người trong bọn họ đến đón Bhaddiya về, và khi Bhaddiya đến, Phật hỏi:

     “Người ta thường nghe ông nói đi nói lại, “A, cực lạc, cực lạc!” Cái gì khiến ông cảm thán như vậy khi ông ở trong rừng?”

 

     “Thưa Phật, trước kia tôi đã hưởng thụ cuộc sống vương giả ở hoàng cung, có vệ binh bảo vệ cho tôi – trong khu vực cũng như trên mặt đất. Nhưng dù được bảo vệ như thế, tôi vẫn sợ hãi, lo âu, run rẩy, hoảng hốt. Nhưng bây giờ, ngài thấy đó, tôi sống trong rừng dưới gốc cây và những nơi cô tịch, và dù tôi chỉ một mình, tôi cảm thấy chẳng có gì để sợ. Vì vậy tôi tin tưởng và không sợ hãi và sống thoải mái, không giật mình, với lòng thanh thản, và cảm thấy tự nhiên như một con vật hoang dã. Đó là điều khiến tôi cảm thán, “A, cực lạc, cực lạc!”

     Phật tôn vinh ông ta bằng bài kệ này:

 

     Với người bên trong không có ý nghĩ giận dữ,

     Đã vượt qua mình là nhân vật nào đó, ông này hay ông kia,

     Người ấy không sợ hãi và đầy an lạc.

     Dù thần cũng không thể có được sự tịch tĩnh này.    

                Kinh Phật Tự Thuyết

 

     Khi Phật đang dạy những người theo ngài ở Trúc Lâm bên cạnh Bãi Nuôi Sóc gần thị trấn Rajgir. Một người bị bịnh cùi sống bằng cách xin ăn trong trấn đang đi bất chợt thấy đám đông đang lắng nghe Phật nói, và có rất nhiều người nên hy vọng có thể có bố thí thực phẩm. Nhưng khi đến gần hơn, anh ta nghĩ, Không, chẳng có thức ăn ở đây. Đây là Phật đang ban cho lời dạy. Ta cũng có thể lắng nghe.

     Phật đang muốn biết, trong tất cả những người này, ai có khả năng hiểu được lời dạy. Phật chợt thấy một người bị bệnh cùi, đang ngồi tách rời đám đông, và nghĩ – Với những bất hạnh của mình, anh ta sẽ hiểu. Vì vậy Phật nói về bố thílòng từ thiện, về những nguy hiểm của sự bám vào cuộc sống nhục dục, và vui sướng biết bao là sự giải thoát khỏi những đòi hỏi của cái ta. Phật thấy vẻ mặt của người bị bệnh cùi trở nên dịu đi và phấn khởi. Vì thế Phật nói về các chân lý mà những bậc tỉnh giác khám phá cho chính mình – những cách thức cuộc sống do nhân duyên qui định và phá bỏ sự ràng buộc với những nhân duyên ấy.

     Như tấm vải trắng không vết bẩn sẵn sàng để nhuộm, vì vậy trong tâm của người bị bệnh cùi phát sinh tri kiến thanh tịnh và không tỳ vết về cái không do nhân duyên qui định và phi thời gian. Anh ta thấy rằng cái gì có sinh ắt phải chết nhưng cái không sinh thì không chết. Anh ta thấy chân lý, nhảy ùm vào chân lý, vượt sang bên kia nghi ngờ, và hết sạch mọi nghi vấn, với tất cả niềm tin từ chỗ ngồi đứng dậy, vẹt lối đi qua đám đông đến Phật. Anh ta cảm thán:

     “Thật kỳ diệu! Y như là ngài đã nâng dậy kẻ bị té ngã, khám phá ra điều bí ẩn, chỉ ra con đường cho người bối rối, bày ra ánh sáng trong bóng tối. Cầu mong ngài chấp nhận con làm đệ tử của ngài, là người từ đây cho đến cuối đời, con sẽ nương náu nơi chân lý.”

     Phật nói: “Con là người đã sẵn sàng thọ nhận lời dạy và chiếu

 

vẻ đẹp của con đến nhiều người.”

                Kinh Phật Tự Thuyết

 

     Phật đang dừng lại gần Kosambi. Các tăng nhân ở Kosambi luôn luôn tranh luận, cãi cọ, và làm thương tổn nhau bằng những lời thô bạo. Một người đến gặp Phật và nói cho ngài nghe về tình trạng ấy, và thêm: “Nếu ngài từ bi đến với các vị tăng ấy thì tốt lắm.”

     Phật đến và nói các vị tăng: “Đủ rồi, các tỳ kheo. Không tranh luận, cãi vả, biện bác, hay bàn luận nữa.”

     Nhưng khi Phật đi, họ bắt đầu trở lại. Có người yêu cầu, “Xin hãy trở lại và ở lại một chút. Ngài không lấy làm phiền và sẽ đem lại sự yên tĩnh cho tình thế.”

     Vì vậy Phật trở lại lần thứ hai, rồi lần thứ ba. Sau lần thứ ba, ngài dậy vào lúc sáng sớm, lấy y bát và đi đến Kosambi khất thực. Khi ăn trưa xong, trở lại và nói với các tăng nhân ấy:

     “Không một ai trong các ông cảm thấy ngu khi tất cả các ông đồng loạt chửi bới nhau. Dù các ông đang chia rẽ tăng già, cũng không ai nghĩ gì về điều đó. Với trí óc lang thang, các ông đi khắp tất cả lãnh vực suy lý, mà không biết mình đang đi đâu hay cái gì dẫn mình đi. Nếu các ông tiếp tục nghĩ “Người đó hành hạ ta,” giữ nó làm mối bất bình và ấp ủ mãi, sự tức giận của các ông sẽ không bao giờ nguôi. Nếu các ông có thể buông ý nghĩ gây phẫn nộ ấy xuống, sự tức giận của mình sẽ vơi đi. Phẫn nộ sẽ không bao giờ chấm dứt được phẫn nộ, nó sẽ y như bắn đạn thia lia. Chỉ để nó xuống là sẽ chấm dứt được tình trạng khó lường đó. Ngay cả những kẻ vô lại chém giết và trộm cắp cũng có thể biết đồng đội với nhau – tại sao các ông lại không thể?

     “Hãy tìm một người bạn để cùng sống với nhau giữ mối quan hệ đó, tránh những nguy hiểm làm thương tổn người khác. Hãy ở lại với bạn mình và trở nên quan tâmvui vẻ. Nếu các ông không thể tìm được ai làm bạn, thì hãy tiếp tục đi một mình. Thà chịu sống một mình còn hơn là sống với kẻ ngu. Hãy hành trình một mình, không quan ngại, không làm chuyện xấu, như con voi đực trong rừng voi.”

                       Phẩm Vô Ngã

     Phật kể chuyện với chúng tỳ kheo:

 

     “Một người trẻ góa vợ rất yêu mến cậu con trai bé nhỏ của anh ta. Nhưng trong lúc anh ta đi xa kinh doanh, toàn thể ngôi làng bị bọn côn đồ đốt cháy thành bình địa, chúng bắt lấy cậu bé mang theo. Khi người cha trở về chỉ thấy đổ nát tan hoang, trái tim anh ta tan nát. Anh ta cho rằng hài cốt đã thành than của một trẻ là con của mình, vì thế anh ta tổ chức lễ hỏa táng, góp nhặt những tro xương, và luôn luôn theo mang trong một cái túi đặc biệt.

     “Một hôm người con trai thực của anh ta tìm cách trốn thoát được bọn côn đồ và tìm được đường trở về nhà cũ. Cha của cậu đã xây lại ngôi nhà. Khi cậu đến, vào lúc đêm khuya, và gõ cửa, cha của câu hỏi, ‘Ai đó?’

     “ ‘Là con, con trai của cha đây. Xin cho con vào đi.’

     “Người cha, vẫn mang tro cốt và buồn bã một cách vô hy vọng, nghĩ rằng đây chỉ là một cậu bé khốn nạn nào đó trêu chọc mình và anh ta hét lên, ‘Hãy cút đi!’

     Cậu bé lại gõ cửa và gọi nhiều lần nữa, nhưng người cha luôn luôn trả lời cùng cách ấy, và cuối cùng cậu bé đành bỏ đi, không bao giờ trở lại nữa.”

     Khi kể xong câu chuyện, Phật thêm, “Nếu các ông bám vào một ý tưởng và cho đó là chân lý không thể thay đổi, thì khi bản thân chân lý đến và gõ cửa nhà các ông, các ông sẽ không thể mở cửa và chấp nhận nó.”

                Kinh Phật Tự Thuyết   

 

     Này các tỳ kheo, dù cho các ông có nội kiến thanh tịnh và trong sáng, nhưng các ông cứ bám vào đó, ưa thích nó, tàng trữ nó, thì các ông không hiểu là giáo lý giống như cái bè đưa các ông sang sông đến bờ bên kia nhưng rồi phải bỏ xuống và không mang theo.

                       Kinh Trung Bộ

 

     Có những người khổ nhưng không hiểu vì sao mình khổ. Họ không biết khổ phát sinh như thế nào hay khi nào nó chấm dứt hay làm sao để chấm dứt khổ.

     Họ không hiểu rằng nắm giữ là một trong những nguyên nhân của khổ. Người ta nắm giữ tình thế, họ tự ràng buộc chính mình. Nhưng thường thì việc này kết quả ở trong cái khổ mới. Họ nắm giữ sự vật vì vô minh bởi vì họ bối rối và không sáng suốt, và như thế họ lang thang bất tận. Nếu họ có thể ngừng hành động vì xung động, có thể bước đi hướng về tri kiến, có thê buông thả sự nắm giữ, họ sẽ không tiếp tục khổ nữa.

     Xúc chạm, điểm mà các giác quan gặp đối tượng, làm say mê một số người. Nó kích thíchnắm chặt đến nỗi họ bị những cơn triều dục vọng quét sạch và trôi theo con đường bất định. Nhưng dù cảm giácthích thú hay không hay chỉ là trung tính, nên luôn luôn nhớ rằng nó là một kinh nghiệm mong manh và nên thấy sự khởi đầu và chấm dứt của nó. Đó là cách buông thả sự nắm giữ. 

     Tất cả những sự vật thích thú của thế gianâm thanh ngọt ngào, sắc tướng đáng yêu, tất cả những mùi vị, xúc chạm và ý nghĩ thú vị – tất cả những thứ này đồng ý đem lại hạnh phúc nếu không nắm bắt và chiếm giữ chúng.

     Nhưng nếu chỉ xem chúng là những khoái lạc cho riêng mình dùng và thỏa mãn, và không xem chúng như những điều kỳ lạ nhất thời, chúng sẽ đem đến đau khổ.

     Hãy phòng bị nghịch lý này, vì nếu các ông mù quáng không thấy cách sự vật hiện hữu, các ông sẽ không thể làm được điều gì, dù cho các ông có ở ngay trên chóp đỉnh của nó.

     Lời dạy về cách sự vật hiện hữu không phải là con đường đưa đến giác ngộ cho người nào vẫn còn đầy dục vọng hay vẫn còn ao ước là nhân vật này hay nhân vật nọ. Nhưng những ai hiểu nó sẽ trở thành những người khác biệt, đánh tan tất cả mọi sức mạnh lầm lẫn.

                       Tập Kinh

 

     Ajita hỏi: “Cái gì che mù thế gian và khiến nó khó thấy? Cái gì ô nhiễm thế giantỏ ra đe dọa nó?

     Phật đáp: “Vô minh che mù, phóng dật và và tham lam khiến nó không thể thấy được. Cơn đói tham dục làm ô nhiễm thế gian, và đau khổ gây nên sự sợ hãi to lớn nhất.

                       Tập Kinh

      “Dường như những dòng sông tham dục đang chảy khắp mọi hướng.” Ajita nói, “Làm sao chúng ta có thể ngăn chận và giữ chúng lại? Chúng ta có thể dùng cái gì để đóng các cánh cổng ngăn lụt lại?”

     Phật nói: “Cái đập chú tâm có thể ngăn được bất cứ dòng sông nào. Chăm sóc và tưởng nghĩ là những vật ngăn chận lụt. Với trí tuệ ông có thể đóng cánh cổng ngăn chận lụt.

                       Tập Kinh

 

     Nếu bất cứ một người ẩn tu hay theo đạo nào không hiểu một cách khách quan rằng sự hưởng thụ các khoái lạc giác quan là sự hưởng thụ, sự bất mãn về tính nhất thời [của các khoái lạc giác quan] là sự không hài lòng, và sự giải thoát khỏi bạo lực [của các khoái lạc giác quan] là sự giải thoát – thì không thể có chuyện họ sẽ hiểu đúng sự ham muốn các khoái lạc giác quan là gì hay họ sẽ có thể làm cho ai hiểu được điều ấy. Nhưng nếu họ thực sự hiểu một cách khách quan sự sinh và diệt của các khoái lạc giác quan, sự không thỏa mãn thường xuyên của họ là sự không thỏa mãn, và con đường giải thoát họ khỏi ràng buộc, họ sẽ có thể chỉ dẫn người khác đi đến mục đích đó.

                       Kinh Trung Bộ

 

     Ông nên thăm dò sâu xa và trực tiếp sự đau buồn của tâm và tìm ra cái gì đã được tạo ra và ai là người đang đau khổ. Không có sự hiểu biết này, ông không thể phát triển sự trong sáng và khả năng giúp người khác được. Một người có thể thành thạo trong việc mở các nút thắt, nhưng nếu không bao giờ thấy có cái nút ở trước mình, làm sao người ấy mở nó? Không nhìn rõ và trực tiếp, ông sẽ bị khóa lại trong thời giankhông gian và không thể nào giải thoát mình khỏi thế giới vật chất được.

        Kinh Lăng Nghiêm

 

     Những người Kalama ở Kesaputta đến hỏi Phật:

    “Có mấy vị tỳ kheo và sư đến Kesaputta. Họ nói rất nhiều về những ý kiến riêng của họ, và họ khinh thường và chỉ nhận chút ít những ý kiến của người khác. Khi lắng nghe họ, chúng tôi không khỏi có sự nghi ngờ. Chúng tôi do dự giữa ai là người nói sự thật và ai là người nói dối.”

    “Này những người Kalama, các ông nghi ngờ là phải. Các ông có thể do dự lắm, vì sự do dự của các ông hoàn toàn liên quan với vấn đề mở rộng nghi ngờ

    “Vậy, hãy lắng nghe, hỡi những người Kalama. Chớ theo tán gẫu và tin đồn, không theo những gì người khác bảo, không theo những gì mình nghe nói, cũng không theo uy quyền của những lời dạy tương truyền. Đừng theo lý luận, đừng xen cái này giữa cái kia, đừng biện luận về các phương pháp, đừng vì thích một quan niệm, cũng đừng sợ người dạy và nghĩ phải chiều ý ông ta.

    “Thay vì thế, này các Kalama, khi từ bên trong chính mình các ông biết rằng những lời dạy đó không tốt, khi đưa vào tu tập chúng đưa đến mất mát hay đau khổ, lúc ấy các ông phải tin chính mình và từ chối những lời dạy đó.”

                Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Sakka hỏi Phật:

    “Có phải các vị đạo sư khác nhau đều hướng đến cùng một mục đích hay tu tập cùng một qui phạm hay mong muốn cùng một điều không?”

     “Không, Sakka, họ không như vậy. Vì sao? Thế gian này được tạo bằng hàng vạn trạng thái hiện hữu khác nhau, và người ta bám dính vào trạng thái này hay trạng thái khác và trở nên ương ngạnh chiếm hữu trạng thái ấy, nói, “Chỉ cái này là đúng, mọi cái khác đều sai.” Ấy giống như một lãnh thổ mà họ tin là của họ. Vì thế tất cả những đạo sư khác nhau không dạy cùng một mục đích hay cùng một qui phạm, họ cũng không mong muốn cùng một điều.

    “Nhưng nếu ông tìm thấy chân lý ở bất cứ tôn giáo nào hay triết lý nào, thì hãy chấp nhận chân lý đó mà không có thành kiến.”

                       Kinh Trường Bộ

 

    Một người hỏi Phật:

    “Đời sống dường như là một mớ lộn xộn

    Lộn xộn bên trong và lộn xộn bên ngoài.

    Thế hệ này bị làm cho lộn xộnhy vọng.

    Vì thế xin hỏi Phật câu này:

    Ai sẽ thành công hóa giải sự lộn xộn này?

 

Phật đáp:

    “Khi một người trí, có có suy nghĩ và tốt,

    Phát triển tâm thức vĩ đại hơn,

    Y sẽ hiểu mớ lộn xộn ấy.

    Là người theo chân lý, nhiệt tâm và trí tuệ,

    Y sẽ thành công hóa giải mớ lộn xộn này.”

                Kinh Tương Ưng Bộ

 

    Chân lý thì cao quí ngọt ngào; chân lý có thể giải thoát các ông khỏi tất cả bệnh tật. Trên thế gian không có vị cứu tinh nào như chân lý.

    Hãy tin tưởng chân lý, dù cho các ông có thể không có khả năng hiểu nó, dù cho sự ngọt ngào của nó có khía cạnh đắng cay, dù cho ban đầu các ông có thể lùi bước trước nó. Hãy tin vào chân lý.

    Chân lý tuyệt hảo như vậy. Không ai có thể thay đổi nó, cũng không ai có thể cải thiện nó. Hãy tin vào chân lý và sống với nó.

     Cái ta ở trong cơn nóng lạnh; cái ta luôn luôn thay đổi, như giấc mộng. Nhưng chân lýtoàn thể, cao cả và trường tồn. Không có gì bất tử trừ chân lý, vì chân lý đơn độc hiện hữu mãi mãi.

                       Kinh Trung Bộ

 

        Trên thế gian này thỉnh thoảngxuất hiện một người thấy được chân lý, một người thức tỉnh trọn vẹn, được chân lý hộ trì, tràn đầy an lạc, một bậc thầy trí tuệ và điều lành, một vị Phật. Ông ta tự biết và thấy suốt khắp vũ trụ này, và khi biết như vậy, ông ta làm cho người khác biết tri kiến của mình. Chân lý, phát sinh đáng yêu, phát triển đáng yêu, thành tựu đáng yêu, ông ta tuyên bố như thế. Ông ta làm cho người ta biết đến một đời sống mới, với tất cả sự trọn vẹn của nó.

        Kinh Tam Minh

    Khi sắp diệt độ, Phật nói với những người theo ngài:

    “Hãy nắm chặt chân lý làm ngọn đèn chiếu sáng bóng tối. Chỉ tìm sự cứu độ nơi chân lý thôi.

    “Những ai hoặc bây giờ hoặc sau khi tôi chết mà nắm chặt chân lý làm ngọn đèn của mình và không tìm ánh sáng ở bất cứ nơi nào khác – họ sẽ đạt được Niết-bàn.”

                       Kinh Trung Bộ  

 

    Những ai bàn cãi hay tranh luận mà không hiểu chân lý là bị lạc mất trong những hình thức của tri kiến tương đối, chạy đây chạy đó và cố chứng minh cái thấy của họ về bản thể của ngã.

    Nếu các ông nhận ra cái ngã trong ý thức tận cùng bên trong của mình, nó sẽ hiện ra trong tính thanh tịnh của nó. Đây là diệu tạng, không phải là lãnh vực của những ai chỉ sống bằng lý trí.

    Tự tánh thanh tịnh và không thuộc các phạm trù hữu cùng hay vô cùng, Đại Tâm là cái kỳ diệu không ô nhiễm, bị nhiều người hiểu sai.

                       Kinh Lăng Già

 

    Chân lý ấy quả thực chưa bao giờ được Phật thuyết giảng, thấy rằng người ta phải nhận ra nó bên trong chính mình.

                       Kinh Lamkara

 

    Ai đi vào nơi cô tịch,

    Tâm an tĩnh và thấy hướng đi,

    Tuệ giácchân lý đến với y

    Niềm hoan hỉ không gì sánh kịp.

                       Kinh Pháp Cú

 

    Một người Bà-la-môn đang chuẩn bị nghi lễ tế lửa. Phật nói với ông ta:

    “Này Bà-la-môn, ông không nên tưởng tượng rằng tuệ giác đến với ông chỉ bằng cách đặt củi trên lửa. Ông phải tin chân lý ở bên trong ông để làm phong phú thêm đời sống tinh thần của ông, không phải tin những nghi thức bên ngoài. Xa lìa cách đặt các sự vật lại với nhau, tôi nhóm lên ngọn lửa bên trong. Ở đây cái lưỡi được kiểm soát là cái thìa hiến tế và trái tim là bàn thờ lửa ấy.

               Kinh Tăng Chi Bộ

   

     Đừng bao giờ nghĩ rằng tôi tin tôi nên đặt ra một “hệ thống giảng dạy” để giúp người ta hiểu đạo. Chớ bao giờ ấp ủ một ý nghĩ như thế. Những gì tôi công bốchân lý như tôi đã khám phá và một “hệ thống giảng dạy” không có ý nghĩa gì cả bởi vì không thể cắt chân lý ra từng mảnh và sắp xếp thành một hệ thống.”

               Kinh Kim Cương

   

     Một trong những người theo Phật thúc giục ngài biểu diễn phép lạ để lôi cuốn những người không tin. Phật đáp:

    “Tôi không thích và sẽ không dùng những gì gọi là phép lạ của năng lực huyền thuật và bói toán. Tôi và những người theo tôi chỉ lôi cuốn những người không tin bằng phép lạ của chân lý.”

                       Kinh Trường Bộ

 

     Như chữ xe chỉ là một phương tiện diễn đạt làm sao trục, thân, bánh, và gọng được ghép lại với nhau theo cách tương hệ nào đó, nhưng khi chúng ta nhìn chúng từng cái một thì không có xe nào cả theo nghĩa tuyệt đối. Cũng như chữ nhà là cách diễn đạt làm sao gỗ và những vật liệu khác đứng liên hệ với nhau trong một không gian nào đó, nhưng theo nghĩa tuyệt đối thì không có nhà nào cả. Cũng vậy, chữ nắm tay là cách diễn đạt khi các ngón tay và ngón tay cái trong tương quan với nhau, và cây chỉ thân, cành, lá, và v.v…, nhưng theo nghĩa tuyệt đối thì không có nắm tay hay cây nào cả. Cũng vậy, những chữ thực thể sống độngngười chỉ là những cách diễn đạt mối tương hệ của thân, tình cảm, và ý thức, nhưng khi xem xét các yếu tố của hiện thể từng cái một, chúng ta thấy không có thực thể nào ở đó. Theo nghĩa tuyệt đối chỉ có danh và sắc và sự huyền bí mà chúng biểu hiện. Những ý tưởng như “tôi” và “tôi là” không phải là tuyệt đối.

                Luận Đạo Thanh Tịnh

 

    Hãy chấp nhận lời tôi khi các ông đã xem xét chúng cho chính mình; đừng chấp nhận chúng chỉ vì lòng kính trọng của các ông đối với tôi. Những ai chỉ có niềm tin nơi tôi và yêu mến tôi sẽ không tìm thấy tự do cuối cùng. Nhưng những ai có niềm tin nơi chân lýquyết tâm trên đường đạo, sẽ tìm thấy tỉnh giác.

                       Kinh Trung Bộ

 

    “Này các tỳ kheo, nếu người ta nói xấu tôi hay nói xấu lời dạy hay tăng già, các ông không nên vì ác ý của họ mà chấp giữ bất cứ ý nghĩ thù địch nào đối với họ hay bất cứ sự khinh khi nào, cũng đừng nên lo phiền gì cả. Vì nếu các ông tức giận hay không hài lòng thì các ông sẽ bị thương tổn nhiều hơn họ. Quả thực, nếu các ông cảm thấy tức giận hay không hài lòng, thì các ông có thể biết được cái gì là có ý tốt và cái gì là có ý xấu của người khác không?”

    “Dạ không, chúng con không thể biết được.”

    “Như vậy, nếu những người khác nói xấu tôi hay lời dạy hay tăng già, với thiện chí các ông nên làm sáng tỏ điều không đúng sự thật nơi những gì họ nói và làm cho họ rõ ràng bằng cách nói, ‘Vì lý do này, điều đó sai; vì lý do này, điều đó không đúng; những điều này không có bên trong chúng tôi.’ ”

                       Kinh Trường Bộ

 

    Trong tất cả các loại thuốc thế gian

    Ngàn biệt và vạn khác

    Không thuốc nào như Chân lý

    Vì thế, Ôi những người theo ta, hãy uống thuốc này.

                       Kinh Pháp Cú

 

    Một ít người vượt qua sông đến bờ bên kia. Số còn lại chạy lên chạy xuống bên này dòng nước.

    Nhưng những ai theo đuổi chân lý sẽ đến được bơ bên kia, và vượt qua cõi tử, rất khó vượt qua.

    Khi lìa bỏ con đường u tối, người trí sẽ theo con đường sáng. Khi từ bỏ sự an toàn, y sẽ vào cô tịch bên trong, khi biết con đường ấy khó.

    Khi gạt bỏ ham muốn và tự giải thoát mình khỏi những sở hữu, người trí sẽ tự loại bỏ tất cả những ý nghĩ đen tối của mình.

     Với lòng đầy quan tâm đến chân lý, với năng lực, tập trung, và bình tĩnh, không bám vào gì cả và khắc phục tất cả những ý nghĩ đen tối, người ấy tỉnh giác và nhập niết-bàn nơi thế gian này. 

                       Kinh Pháp Cú

 

    Kiểm soát lời nóiý nghĩ của mình là tốt. Người cầu tìm có kiểm soát cảm thấy tự dovui vẻ. Hãy lắng nghe người cầu tìm nào canh chừng lưỡi của họ và nói năng một cách khôn ngoan. Một người như thế khiêm hạ và không đề cao mình. Người ấy theo chánh pháp trong đời sống hàng ngày của mình. Khi mình làm chủ sự tập trung của mình, mình sẽ vui thích trong cô tịch bên trong và thiền định.

    Người cầu tìm yêu chân lý và luôn luôn tư duy về chần lý sẽ luôn luôn được chân lý hộ trì.

    Hãy làm rỗng con thuyền của mình, hỡi người cầu tìm, và ngươi sẽ đi nhanh hơn. Hãy làm nhẹ lô đồ ham muốnquan niệm, và ngươi sẽ đến được niết-bàn sớm hơn.

                       Kinh Pháp Cú

 

    Bất cứ ai, dù chỉ trong một giây, cảm thấy tin tưởng thanh tịnhtrong sáng khi nghe chân lý sẽ kinh nghiệm niềm an lạc không thể đo lường. Vì sao? Bởi vì, vào giây phút đó, người đó không bị vướng kẹt trong khái niệm ngã về hay về chúng sinh hay về thọ mạng. Người đó không bị vướng kẹt trong khái niệm về hư không. Người đó không có sự chú ý gì về ý niệm rằng cái này hay cái kia là dấu hiệu, hoặc cái này hay cái kia không phải là dấu hiệu.

    Vì nếu ông bị vướng kẹt trong ý niệm, thì sẽ bị vướng kẹt trong ngã. Và dù nếu ông bị vướng kẹt trong các ý niệm về hư không, thì ông cũng bị vướng kẹt trong ngã. Đó là lý do tại sao chúng ta không nên để mình bị dính mắc trong niềm tin rằng sự vật hoặc hiện hữu hoặc không hiện hữu. Đây là ẩn nghĩa khi tôi nói rằng giáo lý của tôi là chiếc bè phải bỏ lại khi ông thấy chân thể.

                       Kinh Kim Cương

    Này các tỳ kheo, đời sống được hứa khả này không phải sống để lừa dối người ta, hay để cải hóa họ. Nó không phải sống để vì được hay danh vọng hay tiếng tăm hay lợi ích tiền bạc. Không có ý niệm nào về “hãy để tôi lôi cuốn sự chú ý của người ta bằng cách là nhân vật này hay nhân vật kia.” Không phải như vậy, này các tỳ kheo, đời sống được khả hứa này là sống để thấy rõ sự vật và hiểu chúng.

                Kinh Phật Tự Thuyết

 

    Một người tham vấn hỏi Phật: “Người ta cố chấp vào những niềm tin sở thích của họ. Họ càu nhàu với nhau, nói, ‘Giữ chân lý này thì anh được cứu độ; bác bỏ nó thì anh bị mất.’ Họ cãi nhau theo cách này và gọi nhau là đồ ngu. Cách nào đúng, khi tất cả bọn họ đều tỏ ra là người thông thạo?

    Phật đáp, “Nếu vì bất đồng ý kiến mà cho là ngu, thì tất cả những người ấy đều ngu, vì mỗi người có quan niệm riêng của mình. Tôi không gọi bất cứ cái gì là đúng nếu nó liên quan đến việc gọi nhau là kẻ ngu, bởi vì điều đó có nghĩa chiếm hữu ‘chân lý’ làm của riêng của mình.”

    Người tham vấn lại hỏi, “Nhưng cái gì khiến cho những ‘người thông thạo’ này rao giảng quan niệm của họ và gọi nó là chân lý? Làm như thế có phải là sự thừa kế của loài người hay chỉ là một cái gì đó đem lại cho họ sự hài lòng?”

    Phật đáp, “Lìa khỏi ý thức, không một chân lý tuyệt đối nào hiện hữu. Lý luận sai tuyên bố cái thấy này đúng và cái thấy kia sai. Họ vui sướng trong sự chấp giữ những ý kiến khiến họ cả quyết rằng bất cứ ai không đồng ý với họ thì sẽ có kết cuộc xấu. Nhưng không một người tìm cầu chân thực nào trở nên bị vướng kẹt trong toàn bộ vấn đề này. Hãy bình yên đi qua và đi con đường không ô nhiễm, không lý thuyết, tham dục, và giáo điều.”

                       Kinh Trung Bộ

 

    Du sĩ Bhaggava cáo buộc Phật nói rằng vũ trụ tạo thành là do ngẫu nhiên. Phật đáp:

    “Tôi nghe những người khác thuộc giáo phái của ông, Bhaggava, nói rằng khi tôi tỉnh giáctìm thấy chân lý, nó đẹp, tôi đã ở lại trong trạng thái cực lạc đó và rồi xem vũ trụ là xấu và vô nghĩa khi so sánh.

    “Nhưng, Bhaggava, tôi không bao giờ dạy điều đó. Đây là những gì tôi thực sự nói: ‘Bất cứ khi nào có người tỉnh giáctìm thấy cái đẹp, thì người ấy quả thực biết đẹp là gì.”

                       Kinh Trung Bộ

 

    Tu-bồ-đề hỏi: “Thưa Thế Tôn, Thế Tôn nói rằng một người theo đạo không cần phải xây dựng điều tốt và hạnh phúc. Tại sao thế?”

    Phật đáp: “Này Tu-bồ-đề, một người theo đạo chân thực sẽ biểu hiện điều tốt và hạnh phúc nhưng sẽ không bị vướng kẹt trong những khái niệm về điều tốt và hạnh phúc. Đó là lý do tại sao tôi nói người ấy không cần dựng lập điều tốt và hạnh phúc, đấy chỉ là những cái bẫy khái niệm, vì điều tốt và hạnh phúc sẽ ở đó mà không có bất cứ khái niệm nào về chúng.”

                       Kinh Kim Cương

 

    Một du tăng gọi là Vaccha hỏi Phật rằng Phật có còn hiện hữu sau khi chết không? Phật đáp:

    “Này Vaccha, ý niệm rằng tôi hiện hữu hay không hiện hữu sau khi chết – những ý niệm như thế dẫn đến rừng già rậm rạp và sa mạc khô cằn, đến những rối rắm tựa như bị vướng vào gai. Chúng đem đến giận dữ, mê hoặc, và tranh luận, chúng không đem lại bình an, tri thức, hay trí tuệ đưa đến giác ngộ. Tôi không chấp nhận bất cứ ý niệm nào như thế.”

    “Vậy thì Phật có niềm tin nào của riêng mình?”

    “Vacca, tôi không dính dáng gì đến niềm tin hay lý thuyết, mà chỉ tuyên bố những gì tôi biết. Tôi tuyên bố bản tánh của sắc, nó phát sinh như thế nào và biến mất như thế nào; bản tánh của thọ (nhận thức), nó phát sinh như thế nào và biến mất như thế nào. Và bởi vì tôi đã hoàn toàn từ bỏ tất cả những vọng tưởng, tà kiến, và tưởng tượng về bản tánh của ngã hay bất cứ cái gì liên quan đến ngã, tôi được giải thoát khỏi ngã.”

    “Nhưng,” Vacca vẫn khăng khăng hỏi tiếp, “khi một người đạt

 được sự giải thoát của tâm chết, người ấy đi đâu và người ấy tái

sinh ở chỗ nào?”

    “Chữ tái sinh không phù hợp.”

    “Vậy thì người ấy không tái sinh?”

    “Nói rằng người ấy không tái sinh cũng không phù hợp. Nếu ông nói rằng người ấy vừa tái sinh vừa không tái sinh hoặc người ấy không tái sinh cũng không phải tái sinh, thì cũng không phù hợp.”

    “Con hoàn toàn bối rối, thưa Phật, và niềm tin của con nơi ngài cũng biến mất.”

    “Đừng bối rối làm gì. Đây là một pháp môn thâm sâu và khó hiểu. Hãy tưởng tượng phía trước ông có một ngọn lửa. Ông thấy nó đang cháy và biết rằng nó chỉ có thể cháy khi có nhiên liệu. Rồi ông thấy nó tàn mất. Bây giờ có người hỏi ông, lửa ấy đi phương nào – đông, tây, nam, hay bắc? Ông nói thế nào?”

    “Con sẽ nói rằng câu hỏi như thế không phù hợp, thưa Phật. Vì lửa tùy thuộc vào nhiên liệu, và khi không còn nhiên liệu, người ta nói lửa tắt vì thiếu dưỡng chất.”

    “Cũng giống như vậy, Vacca, cái thân qua đó người ta có thể thấy chân lý sẽ chết đi, như lá cây cọ, không có bất cứ tương lai nào. Nhưng cái mà nó là chân lý, cái mà nó chính là hiện hữu, thì ở đó mặc dù nó thâm sâuvô cùng khó hiểu. Giống như đại dương, người ta không thể thăm dò được. Vì thế, nói rằng tôi sẽ tái sinh hay sẽ không tái sinh, là không phù hợp.”

                       Kinh Trường Bộ

 

    Chú ý là con đường đến sự sống chân thực;

    Lơ đãng là con đường đến sự chết.

    Người chú ý không chết;

    Người lơ đãng thì giống như kẻ đã chết rồi.

                       Kinh Pháp Cú

 

    Một hôm Malunkyaputta đến nói với Phật, “Thầy không nói với chúng con thế giới này thường còn hay không, linh hồn có là một với thể xác hay không, ngã có hiện hữu sau khi chết hay không. Nếu thầy có thể giải thích được những điều này, con sẽ tiếp tục làm tăng nhân, nếu không, con sẽ từ giã.”

    Phật đáp: “Tôi có hứa với ông tôi sẽ giải thích tất cả những điều ấy khi ông đến gia nhập với chúng tôi ngay lúc ban đầu không? Hay ông đã qui định điều kiện ông phải biết những điều đó?”

    “Dạ không,” Malunkyaputta thú nhận.

    “Vậy hãy lắng nghe tôi nói. Giả sử có người bị một mũi tên bắn bị thương và khi y sĩ giải phẫu đến, người ấy nói với y sĩ, ‘Đừng rút mũi tên ra cho đến khi tôi biết ai đã bắn, nó làm bằng loại cây gì, do ai chế tạo, và đã dùng với loại cung gì.’ Chắc chắn người ấy sẽ chết trước khi anh ta tìm ra câu trả lời. Cũng vậy, nếu ông nói ông sẽ không làm tăng nhân nữa trừ phi tôi giải quyết tất cả những câu hỏi về thế giới, thì ông hầu như sẽ chết mà không được thỏa mãn.

    “Là một người theo chân lý thì không tùy thuộc vào bất cứ câu trả lời nào như thế. Dù thế giới thường còn hay chóng vánh, đều có khổ và tôi dạy cách hiểu nó. Lời dạy của tôi không tùy thuộc vào tôi có hiện hữu sau khi chết hay không, bởi vì tôi quan tâm đến sự khổ ở đây và bây giờ. Tôi đã giải thích với tất cả các ông những gì nên giải thíchkhông giải thích những gì không liên quan đến sự chấm dứt khổ và tìm được an lạc.”

                       Kinh Trung Bộ

 

    Một lần, hai người bà-la-môn rất già, cả hai đều đã 120 tuổi, đến gặp Phật. Họ ngồi xuống trước Phật và nói:

    “Chúng tôi là những người bà-la-môn già yếu. Chúng tôi đã không làm được điều gì cao quí hay đặc biệt đáng giá. Vì thế giờ đây không có gì làm giảm được nỗi sợ chết của chúng tôi. Xin làm ơn chỉ cho chúng tôi con đường đến an lạc.”

    Phật nói: “Được, này những người bà-la-môn, các ông thực đã già yếu và bây giờ các ông đầy lo sợ. Thế giới này tràn ngập già, bệnh, và chết. Nhưng nếu các ông có thể thực hành một ít tuệ giác trong những hành vi của mình, một ít kiểm soát trong lời nói của mình, một ít quán chiếu trong những ý nghĩ của mình, thì điều đó sẽ cho các ông một nơi qui ynương náu.

    “Đời các ông đã gần qua rồi. Không ai được miễn già và chết. Nhớ sự chết và giữ nó trong tâm, hãy thực hành những hành vi tốt đem lại hạnh phúc cho người khác. Người thực hiện hành vi tốt và có suy nghĩ sẽ trở nên hòa hợp thân, ngữ, và ý. Người ấy sẽ thấy rằng chết không đáng sợ mà quả thực đem lại hạnh phúc.”

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Thiện tri thứcxuất hiện hay không, cuộc sống vẫn có nhân duyên minh định của nó, đó là tất cả những hiện tượng đều có nguyên nhân, sinh ra và sẽ chết. Tất cả những sự vật do duyên hợp đều vô thường. Và có bậc trí tuệ xuất hiện hay không, qui luật của đời sống đã được lập thành gây nên đau khổphiền não. Và có bậc tỉnh giác xuất hiện hay không, nhân duyên thứ ba của đời sống là không có ngã thường hằng. Người giác ngộ viên mãn hiểu điều này. Người ấy sẽ tuyên bố, “Tất cả những sự vật do duyên hợp không phải là ngã.”

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Kutadanta cáo buộc Phật: “Người ta bảo tôi rằng ngài dạy qui luật sống và đạo, song ngài phá đổ tôn giáo. Những người theo ngài khinh thường nghi lễ và bỏ hiến tế. Nhưng sự kính trọng chư thần chỉ có thể bày tỏ qua hiến tế. Bản chất của tôn giáothờ phụng và hiến tế.”

    Phật đáp: “Vĩ đại hơn giết hại những con bò là hy sinh cái ta. Người nào từ bỏ những ham muốn xấu xa của mình sẽ thấy việc giết hại thú vật nơi bàn thờvô dụng. Máu không có năng lực làm sạch, nhưng từ bỏ những hành động làm hại sẽ làm cho trái tim toàn vẹn. Tốt hơn thờ phụng thần linhđi theo con đường thiện.”

                       Kinh Trường Bộ

 

    Moghavagan đến với Phật. Con đến tham vấn ngài, bậc đại thánh. Con sợ chết. Có cách nào nhìn thế gian mà không bị diêm vương nhìn thấy?”

    Phật đáp: “Hãy nhìn thế gian là rỗng lặng. Đây là cách vượt qua sự chết. Hãy ngừng suy nghĩ về mình như là một thực thể thực sự hiện hữu. Nếu ông nhìn thế gian theo cách này, ông sẽ

 

không bao giờ bị diêm vương thấy cả.”  

                       Tập Kinh

 

    Một ẩn sĩ, nổi tiếng là một người giác ngộ, đã có quyết định chân thành rằng mình thực sự chưa được giải thoát trọn vẹn. Ông ta nghĩ giáo lý của Phật sẽ giúp mình và ông ta đã du hành vượt qua Trung Ấn Độ cho đến khi ông ta đến thành phố Savatthi, nơi Phật đang dừng lại. Ông ta đến trung tâm thiền định của Phật và yêu cầu được gặp Phật.

    “Ngài đang đi khất thực,” ông ta được bảo như thế. “Hãy đợi ở đây và nghỉ đi một chút, rồi ông sẽ sớm được gặp ngài.”

    “Tôi không thể đợi được,” ẩn sĩ đáp. “Hãy chỉ đường cho tôi, tôi sẽ đi tìm ngài.”

    Ông ta lại ra đi và đến trung tâm thành phố. Ở đó ông ta thấy Phật, vây quanh là một bầu không khí bình an và hài hòa, đi cùng với cái bát khất thực của ngài từ nhà này sang nhà khác. Ẩn sĩ quì gối xuống và ôm lấy hai bàn chân Phật.

    “Ngài đã được giải thoát trọn vẹn,” ông ta nói với Phật. “Xin vui lòng dạy tôi phép tu đem lại cho tôi sự giải thoát.”

    “Vui lòng thôi,” Phật nói, “nhưng chẳng phải ở đây, đây không phải là nơi và lúc làm như vậy. Hãy đi đến trung tâm thiền định của tôi và đợi tôi.”

    “Không, tôi không thể đợi được.”

    “Một chốc cũng không được sao?”

    “Không, một chốc cũng không được, tôi có thể chết hay ngài có thể chết. Bây giờ, thưa ngài, đây là lúc. Xin dạy tôi ngay bây giờ.”

    Phật nhìn ông và thấy rằng chết đã gần kề. Phật nhận thấy rằng phải dạy ngay tức khắc. Nhưng dạy cái gì trong lúc đứng giữa đường? Phật quyết định nói vắn tắt giáo lý thiết yếu trong một vài lời.

    “Trong thấy,” Phật nói, “chỉ nên có thấy. Trong nghe, chỉ nên có nghe; trong ngửi, nếm, sờ, chỉ có ngửi, nếm, sờ; trong suy nghĩ, chỉ có ý nghĩ.”

    Vị ẩn sĩ đã được tâm thanh tịnh như thế mà những lời ấy đã nói cho ông ta tất cả những gì ông ta cần. Không một phán quyết, không một đánh giá, giải thoát tâm khỏi tất cả những tùy thuộc của nó bằng một kinh nghiệm đơn giản về sự vật như thực. Ông ta ngồi xuống ở đó trên đường và rồi an định chú ý của mình vào sự trong sáng, và khi cái chết đến, ông ta đã tìm được giải thoát.

                       Kinh Tiểu Bộ

 

    Phật đã được cảnh báo rằng một tên cướp và là kẻ sát nhân tên là Angulimala đang ở tại một vùng quê mà ngài muốn đi ngang qua. Angulimala rất hung dữ và phá hoại nên chỉ những nhóm đông người mới đi bộ qua được vùng đất ấy. Thói quen của y là cắt lấy một ngón tay của mỗi nạn nhân và đeo nó quanh cổ y, cho y biệt danh là Chuỗi Ngón Tay.

    Không lo ngại gì vì những trình báo đó, Phật bắt đầu đi qua vùng đất này một mình. Angulimala thấy Phật đang đi đến và kinh ngạc thấy rằng không có ai đi cùng với ngài. Y quyết định giết ngài và mang kiếm theo, tiến đến phía sau Phật. Nhưng lạ lùng thay y thấy rằng mặc dù Phật đang bước đi một cách bình thường, nhưng y không thể nào bắt kịp ngài.

   “Hãy đứng yên, ẩn sĩ!” y hét lên.

   “Tôi đang đứng yên, Angulimala. Anh cũng đứng yên đi.”

   Angulimala nghĩ, ‘Những người thánh thiện này được cho là nói thật, song người này, trong khi đang đi, lại nói rằng ông ta đang đứng yên.’

    “Ông bảo tôi đứng yên, nhưng tôi đâu có đi,” y hét lớn, “trong khi ông đang bước đi mà lại nói mình đang đứng yên. Làm sao có chuyện ông đang đứng yên mà tôi thì không?”

    Phật quay lại. “Chân tôi di động nhưng tâm tôi yên tĩnh,” Phật nói. Chân anh đứng yên nhưng tâm anh lúc nào cũng động trong lửa giận dữ, thù hận, và ham muốn nóng nảy. Vì thế, tôi yên tĩnh nhưng anh thì không.”

    Angulimala kích động vì sự thật này. Y nghĩ, ‘Từ lâu ta đã để ý đến hiền nhân, nhưng ẩn sĩ này hiểu rõ toàn thể bản tánh của ta. Ta sẽ nhận lấy lời dạy của ông ấy và bỏ đi cái tâm nóng nảy của ta.’

    Y ném thanh kiếm của y vào một cái hố và quì xuống bên chân Phật. “Xin hãy giải thoát cho con,” y cầu xin.

    Phật nhìn anh ta với lòng từ bi. “Đi nào, tỳ kheo,” ngài nói, với câu nói đó ngài đã ban cho anh ta vị thế mà anh ta cầu xin, và cả hai tiếp tục cùng đi với nhau.

                       Kinh Trung Bộ

 

    Tất cả run lên khi có vũ khí,

    Mọi người ai cũng sợ chết;

    Vì người khác hay vì chính mình,

    Không nên giết hay gây chết chóc.

                       Kinh Pháp Cú

 

    Nếu khônggiải thoát, chúng sinh không bao giờ có thể gỡ mình ra khỏi thế gian. Nhưng vì có giải thoát siêu việt thế gian, chúng sinh có thể trở thành không vướng mắc.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Trong khi Phật ở thành phố Shravasti, ngài gọi chúng tỳ kheo đến và nói, “Tôi sẽ dạy các ông cách tốt nhất để sống tự tại có nghĩa là gì.”

   “Chúng con đang lắng nghe,” chúng tỳ kheo đáp.

   Phật nói:

 

   Đừng theo đuổi quá khứ,

   Cũng đừng đánh mất mình vào tương lai.

   Vì quá khứ không còn hiện hữu,

   Và tương lai thì chưa có ở đây.

    Bằng cách nhìn sâu vào sự vật như thực,

    Trong giây phút này, ở đây và bây giờ,

    Người tìm cầu sống an tĩnhtự do.

    Các ông nên chú ý hôm nay,

    Vì chờ đến ngày mai thì quá trễ.

    Chết có thể đến mang chúng ta đi một cách bất ngờ –

    Làm sao chúng ta có thể chống lại?

    Người nào biết

    Sống chú ý như thế nào

    Đêm và ngày

    Là người biết

    Cách tốt nhất để sống tự tại.

Kinh Trung Bộ

 

     Nếu tố chất của người tìm chân lý không hiện hữu nơi mọi người,

    Sẽ không có sự hồi hướng tách rời ham muốn,

    Cũng không thể có ước mong đạt đến Niết-bàn,

    Cũng không có sự tìm cầu hay quyết tâm đạt nó.

                Luận Đạo Thanh Tịnh

 

     Có một cõi không có đất không có nước không có lửa không có không khí, vì nó ở bên kia lãnh vực vật chất; nó cũng không phải là cõi hư không vô cùng hay ý thức, vì nó ở bên kia lãnh vực của tâm. Không có nhân duyên của vô, cũng không có cảnh giới của thế giới này hay thế giới khác, không mặt trời cũng không mặt trăng. Đây là cái không phải do tạo tác mà có.

    Tình trạng này tôi không gọi là phát sinh hay biến mất, không chết cũng không sinh. Nó vô sắc và không có sự thay đổi. Nó thường hằng, không bao giờ sinh và không bao giờ diệt. Tìm thấy nó là chấm dứt phiền não.

    Ở đó cái bất sinh, không tạo tác, không hình tướng, và không nhân duyên này. Nếu không có cái bất sinh, không tạo tác, không hình sắc, và không nhân duyên này thì không có sự siêu việt từ thế giới của cái sinh, tạo tác, hình tướng, và có nhân duyên.

    Nhưng này các tỳ kheo, vì có cái bất sinh, không tạo tác, không hình tướng, và không nhân duyên, cho nên có thể có sự siêu việt cho cái sinh, tạo tác, có hình tướng, và có nhân duyên.

                Kinh Phật Tự Thuyết

     

     Có người hỏi Phật: “Ý thức chỉ có một cực điểm duy nhất hay nhiều cực điểm?”

    Phật đáp: “Một và nhiều. Khi nhận ra một trạng thái của ý thức, thì sẽ thấy trạng thái kế tiếp. Như thế có nhiều và có một.”

    Rồi lại hỏi: “Cái nào trước, ý thức hay tri thức?”

    “Ý thức phát sinh trước rồi đến tri thức. Rồi người ta có thể nói, ‘Bởi vì ý thức, tôi biết đây là một sự kiện.”

                       Kinh Trường Bộ

 

    Những quả đời trước của một người là gì? Chúng ta không bao giờ có thể biết được những quả của đời trước bằng suy nghĩ hay ước đoán và như thế chúng ta không nên suy lý về chúng. Cố tìm ra chúng là đem lại phiền não và phân tán. Đừng tự đặt mình làm quan tòa của người khác hay có những ức đoán về động cơ của họ. Ông có thể tự hủy hoại mình bằng cách bám vào những phán quyết về người khác.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Do không hiểu, không thấu triệt bốn điều nên chúng ta phóng chạy một cách rất sai lạc, lang thang rất lâu trong vòng sinh tử này, cả ông và tôi. Gì là bốn? Điều thiện, nhiếp tâm, trí tuệ, và giải thoát. Khi hiểu và thấu triệt bốn điều này, thì sự ham muốn tồn sinh nông cạn bị nhổ rễ, và cái đưa đến sự luân hồi liên tục với những nhân duyên giống nhau bị chấm dứt. Không còn cuộc hành trình không ngừng nữa.

                       Kinh Trường Bộ

 

    Giả sử một người thợ vàng dùng kềm đưa vàng vào lò lửa để làm nó tan ra. Nếu anh ta thổi khí nóng quá nhiều, nó sẽ quá nóng, nhưng nếu anh ta phun nước quá nhiều, nó sẽ nguội đi. Nếu anh ta liên tục lấy ra và nhìn nó, nó sẽ không đạt đến độ tinh luyện. Nhưng nếu anh ta thỉnh thoảng làm tất cả những điều đó, nhận biết bản tánh của vàng, nó sẽ đổ khuôn dễ dàng và sáng ánh.

    Cũng vậy, có ba phẩm tính mà người tu tập nên chú ý – tập trung, quyết tâm, và bình tĩnh. Nếu người ấy chú ý đúng những điều này và đúng lúc, thì tâm người ấy sẽ trở nên như vàng, uyển chuyển, sáng ngờithuần khiết.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Ý nghĩ ở đâu? Người ta không bao giờ có thể thấy nó hay hiểu rõ được. Giống như ảo ảnh của huyễn thuật, vì với tưởng tượng ý nghĩ tô màu thế gian. Khi tìm ý nghĩ và không thể thấy nó, người ta tìm nguồn gốc của nó. Và dường như ở đâu có đối tượng thì ý nghĩ phát sinh. Không có đối tượng, ý nghĩ không phát sinh. Ý nghĩ có thể nhìn thấy ý nghĩ không? Không. Giống như lưỡi kiếm không thể tự cắt nó, hay đầu ngón tay không thể tự sờ nó, vì thế ý nghĩ không thể thấy ý nghĩ.

        Luận Đại Thừa Tập Bồ-tát Học

 

    Khi thấy trí bát-nhã lần đầu, một nhận thức mới hiện ra không tùy thuộc vào bất cứ cấu trúc nào. Sự truy cầu vĩ đại của người tìm cầu bây giờ nở hoa khi những cánh cửa mênh mông và huyền bí khác nhau bật mở ra chỉ ở sự tiếp xúc của nhận thức mới.

     Có cánh cửa mở ra cho viễn cảnh của tự tánh vô tánh, là chân tánh của thế giới hiển hiện. Có cánh cửa giải thoát chỉ từ một nhận thức từng phần hay viễn tượng vẩn bùn của chân tánh này. Và có cánh cửa mở trực tiếp vào sự chứng ngộ chính thống chân tánh này.  

    Có cánh cửa kỳ diệu mở vào cường độ của quang cảnhâm thanh, màu sắc và vẻ đẹp. Và có cánh cửa quân bìnhthư thái qua đó người ta nhìn trong kính úy tất cả những cấu trúc vô hạn của thế giới như nhìn bầu trời đêm nạm đầy sao. Và có cánh cửa vào niềm an lạc tuyệt vời mà không bao giờ muốn chiếm lấy làm của riêng những kho tàng của thế gian hay chiếm hữu ngay cả niềm an lạc như thế. Cuối cùng, có cánh cửa của chính sự tỉnh giác toàn bộ.

        Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa

 

    Có ba cách thấy cuộc sống. Trong một cách, người ta bám chặt. Trong một cách khác, họ đi quá mức. Trong cách thứ ba, họ thấy đúng.

    Trong cách thứ nhất, người ta thấy khoái lạc trong tất cả sự vật của cuộc sống – nơi các sở hữu và những gì xảy ra, nơi gia đình và sự tiếp nối. Khi có giáo lý tuyên bố những lời khuyên không chấp trước và đi qua bên kia mệnh lệnh của cái tôi, tim họ không nhảy lên và họ không bị lôi về phía nó.

    Trong cách thứ nhì, người ta phiền não vì thù hận cuộc đời. Chỉ vì bám vào cuộc sống, song họ nguyền rủa nó và biến nó thành điều xấu quá đà.

    Trong cách thứ ba, người ta thấy cuộc sống như thực – mãi mãi hiện hữu và ngừng hiện hữu. Họ tự nguyện chấp nhận nó, nhưng không bám vào nó và không thất vọng. Đó là họ bắt đầu biết cái không nhân duyên.

 

    Ai thấy hữu là hữu

    Là đi qua bên kia hữu đó

    Và được giải thoát khỏi ham muốn thọ cảm.

    Trong cái như thực đó, y lãnh hội hữu.

    Không còn mong sinh hay tử,

    Y tìm thấy chân nghĩa của sự chấm dứt hữu.

        Kinh Phật Thuyết Như Vậy   

  

     Nếu ông tìm cầu chân lý, ông nên quán xét sự vật theo cách ý thức của ông khi ông quán xét không bị xao lãng bởi những gì ông tìm thấy, hay bị phân tán và tản mạn; cũng không bị cố định hay đặt định. Sẽ có sự siêu việt sinh, tử, và thời gian cho người không bị lay chuyển.

 

    Dù đi, đứng, hay nằm,

    Duỗi tay chân hay co lại,

    Hãy chú ý khi làm tất cả những điều này,

    Bên trên, ngang qua, và trở lại.

    Đặt bất cứ cái gì vào thế gian,

    Hãy để mình là người chú ý xem sự chuyển động

    Của tất cả những vật hữu vi.

        Kinh Phật Thuyết Như Vậy

 

    Nếu muốn biết quá khứ,

    những gì tạo nên mình,

    hãy nhìn mình hiện tại,

    vì đó là quả quá khứ.

    Nếu muốn biết vị lai,

    hãy nhìn mình hiện tại,

    vì đó là nhân vị lai.

                       Kinh Trung Bộ

 

     Này Tu-bồ-đề, một người cần cứu độ chúng sinh trước tiên cảm thấy như thế nào? Người ấy trở nên ý thức về loại thông sáng trí tuệ chỉ cho người ấy thấy chúng sinh vì đang trên đường đến tự hủy diệt. Rồi tâm đại bi giữ lấy người ấy. Người ấy quan sát thế gian, và những gì thấy được làm người ấy đầy xao động. Vì thế nhiều người mang gánh nặng hành động sẽ đem lại cho họ sự trừng phạt riêng trong tỉnh thức; những người khác sinh ra trong hoàn cảnh không may mắn họ không biết gì về chân lý; và những người khác nữa kết cuộc bị giết trong chiến tranh hay bị bao vây trong mạn lưới tà kiến hay không tìm được lối đi; và còn những người khác nữa có được sinh ra trong may mắn và bắt đầu tìm được tự do nhưng lại bị mất nó.

    Vì vậy, một người như thế phóng chiếu tình bằng hữu và bi tâm vĩ đại khắp tất cả những chúng sinh này và chú ý đến họ, nghĩ, “Tôi thích cứu độ những chúng sinh này, tôi thích giải thoát họ ra khỏi tất cả mọi đau khổ.” Nhưng người ấy không biến sự ham thích của mình thành ràng buộc, vì người ấy không bao giờ quay lưng lại với sự giác ngộ viên mãn. Vì người ấy biết rằng chỉ khi nào ý nghĩ của mình được trí tuệ toàn hảo hộ trợ thì chúng sẽ kết quả. Chỉ từ lãnh vực của trí tuệ toàn hảo người ấy mới có thể chỉ ra con đường, rọi ánh sáng vào bóng tối, giải thoát người khác, và làm thanh tịnh mắt thấy của tất cả chúng sinh.

        Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa

 

    Nếu có ai nói rằng người ta phải gặt lấy [hậu quả] theo hành vi của mình, nếu có ai nghĩ rằng nghiệp luật là tàn nhẫn, thì người ấy đang nói rằng không có đời sống tâm linh hay sự thuần thục nào cả, cũng không có cơ hội nào để đưa sự bối rối đến chỗ chấm dứt. Nhưng nếu có ai nói rằng những gì một người gặt lấy phù hợp với những hành vi của y, trong trường hợp này, đời sống tâm linhthể hiện hữu và có cơ hội giác ngộ.  

               Kinh Tăng Chi Bộ

     Không thể mong những cái có nhân duyên mà không có cái không nhân duyên. Thế giới của nhân duyên không thể hiện hữu mà không có niết-bàn. Cũng không thể mong có cái không nhân duyên mà không có những cái có nhân duyên – không thể có niết-bàn tách rời thế gian. Tính nhất như của niết-bàn và thế gianchân lý của thực tại. Người trí tuệ sống chân lý này và đồng thời dấn thân làm những việc tốt. Không từng xa lìa sự chứng ngộ chân lý tất cả sự vật đều không có thực thể hay ngã, người ấy phấn khích tất cả chúng sinh tự giải thoát khỏi ý niệm ngã. Tánh không có nghĩa là không có tất cả những quan niệmức đoán. Khi không có tất cả những ức đoán, thế gian giống như một tạo vật của huyễn thuật; thân là cái kỳ lạ và trí là cái kỳ lạ. Chúng là huyễn thuật bằng cách hiện hữu và biến mất. Bất cứ vật gì có bắt đầu và chấm dứt trong thời gian là hư huyễn và huyễn thuật. Chỉ niết-bàn là không có bắt đầu và không có chấm dứt và là bản tánh thực tại của nó, không mê hoặc, ở bên kia hư huyễn.

    Tu-bồ-đề hỏi: “Nên dạy chân lý này cho một người thường bằng cách nào?”

    Phật đáp: “Bằng cách hỏi người ấy như vầy: “Làm thế nào cái đã hiện hữu trong quá khứ bây giờ trở thành không hiện hữu?” Truy vấn này sẽ dẫn đến giác ngộ rằng không có cái gì đã từng hiện hữuthực thể thường hằng hay là ngã thường hằng. Rồi người hỏi sẽ thấy rằng có cả hiện hữu và không hiện hữu.”

        Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa

 

    Nói rằng lời nói gợi ra thực thể thường hằng là một khuyết điểm của ngôn ngữ và người ta không thấy thấu suốt sự lừa dối này. Nhưng chỉ có lời nói thì không thể tạo ra thực tại. Như thế người ta nói đến mục đích tối hậu và tin nó có thực, nhưng nó chỉ là hình tướng của lời nóimục tiêu như thế là không có thực chất. Người nhận ra tánh không của sự vật và khái niệm không tùy thuộc vào lời nói. Trí tuệ toàn hảo thì ở bên kia định nghĩa, và không có đường là đường đi đến trí tuệ.

    Người trí tuệ bước chân trên con đường này vì trực tiếp nhận ra vô thường và vì trực tiếp nhận ra liễu tri. Rồi, đây là trí tuệ toàn hảo. Một người như thế nên đi con đường biết rằng ràng buộclôi cuốn thì không lợi cũng không hại, ngay cả giác ngộ cũng không lợi và cũng không hại, bởi vì trí tuệ toàn hảo không có nghĩa là nâng cao cái lợi hay cái hại cho người đó. Tuy nhiên, dù cho không có chủ ý lợi hay hại, nó thực ban cho phúc đức vô tận.

        Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa

 

    Sakka hỏi: “Nguyên nhân của tự lợi là gì?”

    Phật đáp: “Ấy là nhận thức thế giới như là đối tượng của mình.”

    “Làm sao người ta khắc phục được nhận thức này: thế giới tách rời với chính mình?”

     “Bằng cách làm gia tăng điều tốt và an lạc. Bằng cách này thế giới thôi là đối tượng của mình.”

                       Kinh Trường Bộ

 

    Có con đường phương tiện thiện xảo gọi là “như mặt trời.” Như mặt trời làm cây trồng tăng trưởng, cũng vậy người thiện xảo, giống như mặt trời, có thể làm tăng trưởng hạt giống giác ngộ nơi người khác. Rồi, cũng như mặt trời không bao giờ ngừng ban cho sức nóng, cũng vậy sự thiện xảo của người này an định tất cả chúng sinh bằng bi tâm. Thứ ba, như mặt trời làm tan những vật bị đóng băng, cũng thế người thiện xảo thấy, có thể nói, những phương thuốc trị độc, làm tan những ham muốnchiếm hữu. Như mặt trời lấy đi bóng tối, cũng vậy người này – nhận ra toàn bộ cái đó có nơi những người khác – lấy đi bóng tối vô minh. Và như mặt trời sưởi ấm vạn vật một cách bình đẳng, cũng vậy người thiện xảo làm hoan hỉ tất cả chúng sinh, vì phương tiện người ấy dùng thì như hơi ấm và ánh sáng của mặt trời.

        Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa

 

    Khi người ta đi đến chỗ biết một cách trọn vẹn sự thỏa mãnthế gian có thể tặng cho, thì cũng có thể gây nên sự khốn cùng – khi họ hiểu rằng có thể đạt được sự giải thoát khỏi cả tham dụcphiền não – thì họ được giải thoát khỏi những gông cùm của thế gian, khỏi những nhà giam và giới hạn. Họ sống với trái tim giải thoát. Họ biết được chân nghĩa của thế gian, sự vật sinh và diệt như thế nào, và ý thức siêu việt cả sinh và diệt.  

Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Chúng ta là kết quả của tất cả những gì chúng ta nghĩ; nó được dựng lên trên ý nghĩ của chúng ta và tạo nên bởi ý nghĩ của chúng ta. Với ý nghĩ của mình, chúng ta tạo nên thế giới. Nếu các người nói hay hành động với ý nghĩ ác, phiền não sẽ theo sau các người như chiếc xe theo sau con bò kéo nó.

     Chúng ta là kết quả của tất cả những gì chúng ta nghĩ; nó được dựng lên trên ý nghĩ của chúng ta và tạo nên bởi ý nghĩ của chúng ta. Với ý nghĩ của mình, chúng ta tạo nên thế giới. Nếu các người nói hay hành động với ý nghĩ hài hòa, hạnh phúc sẽ theo sau các người như cái bóng của mình, không bao giờ rời bỏ.

                       Kinh Pháp Cú

   

     Giả sử một người cần gỗ tốt và đi tìm nó. Người ấy gặp một cây to, thẳng đứng – toàn gỗ tốt – nhưng anh ta bỏ qua thân cây và chọn lấy những cành và vỏ dễ hơn thay vào, hy vọng rằng đây là gỗ tốt. Một người khôn hơn liền nói, “Người đó chắc chắn không phân biệt được biệt gỗ tốt và vỏ cây. Chỗ đó không có gì đáp ứng được những gì anh ta cần.” 

    Cũng vậy, yếu tánh của đời sống hiến dâng không bao gồm trong những cái được chóng vánh, danh dự, tiếng tốt, cũng không ở trong cái lợi đến từ sự tuân theo luật lệ luân lý. Nó cũng không ở trong tri thức và nội kiến. Sự giải thoát của tâm chân thực – thân cây – sự giải thoát của tâm là ý nghĩa, yếu tánh, mục đích sống cuộc sống hiến dâng.

                       Kinh Trung Bộ

   

     Một tăng nhân có thể rất hiền lành, rất ôn hòa, khi không có lời nói thô bạo nào tấn công ông ta. Nhưng khi những lời nói thô bạo hướng đến ông ta, thì lúc ấy ông ta phải thật sự hiền lànhôn hòa.

                       Kinh Trung Bộ

 

    Hai điều sẽ đưa ông đến tri kiến tối thượng. Những gì là hai? Tĩnh lặng và minh sát.

    Nếu ông phát triển tĩnh lặng, ông có thể mong được lợi ích gì? Tâm ông sẽ phát triển. Lợi ích của tâm đã phát triển là ông không còn là nô lệ cho những xung động của mình.

    Nếu ông phát triển minh sát, nó sẽ đem lại lợi ích gì? Ông sẽ phát triển trí tuệ. Và điểm quan trọng của phát triển trí tuệ là nó đem lại cho ông sự giải thoát khỏi vô minh mù lòa.

    Một cái tâm bị xung động không suy xétvô minh hạn chế không bao giờ có thể phát triển hiểu biết chân chính. Nhưng bằng tĩnh lặng và minh sát, tâm sẽ tìm được giải thoát.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Trước khi dạy người khác, ông phải biết những gì ông đang dạy một cách thông suốt. Như vậy tu tập liên tục là rất quan trọng cho chính ông. Không tự mình kinh nghiệm những gì ông đang dạy, ông không thể dạy đúng cho người khác. Một người bị chìm trong bùn không thể kéo người khác cũng bị chìm trong bùn ra khỏi bùn được.

                       Kinh Trung Bộ

 

    Một người bà-la-môn nói với Phật: “Về phần tôi, tôi nói thế này, đây là cái thấy của tôi. Nếu tôi nói những gì tôi thấy hay nghe hay cảm biết, thì không có kết quả nguy hại gì.”

    Phật đáp: “Này bà-la-môn, về phần tôi, tôi không nói rằng mọi sự vật mà một người thấy, nghe, hay cảm biết thì nên nói hay không nên nói. Đó là vấn đề thời gian. Nên ý thức cái gì đúng lúc và cái gì không đúng lúc. Có thể nói một cách công khai và bị hiểu lầm. Nhưng nếu nói công khai đúng lúc và đúng cơ hội, thì ông nên nói.”

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Này các tỳ kheo, con sư tử, vua của các loài thú, từ hang của nó ra vào buổi tối. Nó vươn mình và quan sát tất cả bốn hướng. Khi làm như vậy rồi, nó gầm lên ba tiếng lớn. Rồi nó bắt đầu đi tìm mồi.

    Khi các con thú nghe tiếng gầm ấy, chúng run rẩy và chấn động. Những con sống trong hang thì chui rúc vào hang. Những con ở dưới nước thì vội vàng xuống nước. Chim thì bay lên ngọn cây.

    Trong các ngôi làng, những con voi lôi và xé những sợi đai da cho đến khi chúng phá vỡ hết. Rồi chúng kinh hãi chạy tới chạy lui, để phân chảy ra ngoài. Như thế là quyền lực của sư tử, vua của các loài thú, hùng mạnh và oai nghi.

    Cũng vậy, các tỳ kheo, khi một bậc hiền xuất hiện trên thế gian, một người giác ngộ, trí tuệđạo hạnh toàn hảo, một người biết tất cả  mọi thế giới và một bậc thầy của tất cả những ai có thể dạy được, dạy: “Đây là ngã, đây là nguồn gốc của ngã; đây là sự giải thoát ngã; đây là con đường đưa đến sự giải thoát đó” – rồi thì, này các tỳ kheo, bất cứ thần gì ở đó, sống trong những lầu trời, khi nghe giáo lý này họ rơi vào sợ hãi, chấn động và run rẩy, như nghe tiếng gầm của sư tử.

    “Dường như mặc dù chúng ta nghĩ mình thường hằng, chúng ta không phải thế. Chúng ta nghĩ mình ổn định, chúng ta không phải thế. Mặc dù chúng ta nghĩ mình trường tồn mãi mãi, chúng ta sẽ không như thế. Vậy thì dường như chúng tavô thường, không ổn định, không trường cửu, và đầy cái ta.”

    Này các tỳ kheo, đây là cách một người có tiềm năng và giác ngộ như thế có thể ở trong thế giới của người và thần. Việc của các ông là trở thành như vậy.

               Kinh Tăng Chi Bộ

   

     Khi tất cả hàng vạn dòng nước chảy ở những nơi khác nhau, mỗi dòng có màu và vị riêng, nhập vào đại dương, chúng hòa lẫn và trở thành một vị duy nhất, một tên duy nhất. Cũng vậy, ngu sitrí tuệ cả hai trở thành một trong tâm tỉnh giác. Khi một người đầu tiên bắt đầu theo con đường ấy, dường như có sự khác biệt rằng đây là ngu si và đó là trí tuệ. Nhưng về sau, khi thâm nhập sâu hơn, người ta thấy không có sự khác nhau giữa ngu sitrí tuệ.

                Luận Đạo Thanh Tịnh

 

    Người ta mất con mắt trí vì vô minh, nghi ngờ, và tà niệm. Nhưng khi họ nhận ra bản tánh của thực tại, con mắt trí lại chiếu sáng một lần nữa. Người thường chỉ thấy qua các giác thức của thân. Như thế họ thấy sự vật tựa như mỗi vật thể có bản tánh tối hậu riêng và khác với tất cả những gì còn lại, và họ bám vào niềm tin này. Nhưng khi họ tìm thấy con mắt trí sáng ngời, họ nhận ra rằng tất cả mọi thực thể rốt ráo không có thật mà niết-bàn là thực tại chân như.

               Kinh Lăng Nghiêm

 

    Tu-bồ-đề hỏi: “Nếu tất cả mọi ý nghĩcảm xúc đều không có gì gọi là ngã, làm sao một đệ tử tu học mà không có ngã, làm sao y trở nên giải thoát?”

    Phật đáp: “Nếu người đệ tử ý thức rằng tự tánh ở bên trong tất cả mọi chúng sinh không phải là cái mà chúng ta gọi là ngã thực tế, rằng một cấu trúc do nhân duyên như thế là cái ngã khôngthực thể vĩnh cửu nhưng sự thật một cách đơn giản chỉ là tự tánh của chúng sinh – rồi người đệ tử ấy không mất chỗ đứng trong cõi bình antrí tuệ.

        Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa

 

     Du sĩ Sakuladayi hỏi Phật: “Quá khứ là gì và vị lai là gì?”

    Phật đáp: “Quá khứ hãy để đấy và hãy quên đi vị lai. Tôi sẽ dạy ông thế nào là bây giờ.”

     Khi duyên này có, thì duyên kia có,

     Với cái này sinh, thì cái kia cũng sinh,

     Khi cái này không hiện hữu, thì cái kia không hiện hữu,

     Với cái này diệt, thì cái kia cũng diệt.

                       Kinh Trung Bộ

 

    Ông tăng Meghiya, thị giả của Phật, bị một vườn xoài đẹp bên bờ một con sông hấp dẫn – một chỗ tuyệt hảo để thiền định, ông ta nghĩ. Ông ta hỏi Phật xem ông ta có thể đến đó không. Nhưng Phật nghi ngờ.

    “Hãy đợi một chút, Meghiya, cho đến khi có một thầy khác cùng đi với con. Chỉ hai chúng ta ở đây thôi.”

    Nhưng Meghiya tiếp tục cầu xin, và cuối cùng Phật đáp, “Ồ, khi con nói đến tinh tấn thiền định, Meghiya, thực không có gì ta có thể nói được. Hãy làm theo ý con muốn.”

    Vì thế Meghiya đi đến vườn xoài để thiền định. Nhưng ông ta kinh ngạc, ba ý nghĩ bất ổn và sai lầm bắt đầu lấp đầy tâm ông ta – mong ước những cảm giác khoái lạc, những ý nghĩ có ý xấu, và một ước muốn nhất định có hại. “Thật kỳ lạ,” ông ta nói với chính mình, “sau khi xuất gia làm tăng nhân không nhà, ta vẫn còn bị những ý nghĩ ghê gớm này tấn công.” Ông ta trở về gặp Phật và kể lại những gì đã xảy ra.

    “Meghiya, khi con chưa đạt được giải thoát, có năm điều con cần giúp con làm cho tâm an ổn. Một là một người bạn tốt. Một nữa là tu tập trong cách hành xử trung thực. Kế tiếp, con cần sự khuyên nhủ đúng đắn giúp con làm ý nghĩ của mình an tĩnh và làm tâm con giác ngộ. Thứ tư, con nên thật sự nỗ lực loại bỏ những tâm trạng bất thiện. Và cuối cùng, con cần trí tuệ để thấy những cái do duyên sinh và sự sụp đổ của những sự việc xảy ra.”

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Khi nếm được hương vị ngọt ngào của cô tịch và tĩnh lặng, người sống theo Pháp thoát khỏi sợ hãiđau khổ.

    Gặp được những người đã tỉnh giác như thế là niềm vui, và sống với họ là hạnh phúc.

    Cùng đi với những người không giác ngộ khiến cuộc hành trình dài và khó, và cũng đau khổ như đi với kẻ thù. Nhưng đồng hành với những người trí tuệ thì thú vị như gặp được bạn bè.

    Hãy theo người trí tuệ, người thông minh, và người tỉnh giác. Hãy đi theo họ như mặt trăng đi theo con đường của những vì sao.

                       Kinh Pháp Cú

 

     Hãy để cho một người tự là ngọn đèn cho chính y và học trí tuệ. Khi thoát khỏi mê hoặc, y sẽ đi sang bên kia sinh tử.

    Ai chỉ nghĩ đến thế gian này thì không thể là người đi theo bậc tỉnh giác. Tất cả mọi sự vật trên thế gian này đang thay đổi,

 

nhưng giác ngộ mãi mãi tồn tại.

                       Kinh Pháp Cú

 

    Kutadanta hỏi: “Thưa Phật, niết-bàn ở đâu?”

    “Niết-bàn ở bất cứ nơi nào ông sống trong chân lý và điều thiện.”

    Kutadanta hỏi tiếp: “Vậy thì, nếu con hiểu đúng ý Phật thì niết-bàn không ở chỗ nào cả. Trong trường hợp đó, bởi vì nó không có chỗ, nên nó không hiện hữu.”

    Phật đáp: “Ông không hiểu ý tôi. Bây giờ hãy lắng nghe và trả lời những câu hỏi của tôi. Gió ở chỗ nào?”

    “Không chỗ nào cả.”

    “Vậy thì chẳng có cái gì là gió hết, phải không?

    Kutadanta không trả lời.

    Phật hỏi: “Rồi trí tuệ ở chỗ nào? Trí tuệ có địa phương không?”

    “Trí tuệ không có chỗ ở.”

    “Vậy thì không có trí tuệ, không có giác ngộ, và không có cứu độ bởi vì niết-bàn không phải là một địa phương?”

    “Thưa Phật, con cảm thấy ngài đang công bố một giáo pháp vĩ đại, nhưng con không thể nắm lĩnh hội được. Dường như con bị lạc mất. Chẳng hạn, cái ngã của con ở chỗ nào? Có một phẩm tính đặc biệt của con khiến con khác với mọi vật khác và cũng khác với tất cả những “ngã” khác. Và con muốn cái “ngã” đó, cái ngã của riêng con, tiếp tục. Vậy, cái “ngã” đó ở đâu?”

    Phật hỏi: “Thực sự ở đâu? Cái ngã mà ông bám vào đó thì luôn luôn ở trong thay đổi. Những năm qua ông đã là một đứa bé, rồi một thanh niên, và bây giờ là một người đàn ông. Cái nào là ngã thật của ông – cái của ngày hôm qua, cái của ngày hôm nay, hay là cái của ngày mai, cái nào ông thích giữ lại?”

    Kutadanta chậm chạp trả lời: “Con thấy con đã hiểu lầm sự vật và mặc dù con thấy khó đương đầu với ánh sáng, chân lý mà bây giờ hé sáng lên con đến nỗi không có ngã nào tách rời và tiếp tục hiện hữu. Con sẽ qui y nơi lời dạy của ngài và tìm ra cái nào tiếp tụctrường tồn mãi mãi nơi chân lý.

                       Kinh Trung Bộ

   

     Này các tỳ kheo, thế nào là thế giới? Mắt và hình tướng, tai và âm thanh, mũi và các mùi, lưỡi và các vị, thân và những vật thể tiếp xúc được, tâm và những đối tượng của nó – những cái này hình thành thế giới như chúng ta biết.

    Khi mắt và hình tướng ở đó, thì nhãn thức phát sinh. Từ thức này đến thọ cảm; cái được thọ cảm đó được suy nghĩ qua; cái được suy nghĩ qua đó được phóng ra ngoài như là thế giới bên ngoài.

    Vậy, tôi tuyên bố rằng nằm trong cái thân dài một mét tám này với nhận thứcsuy nghĩ của nó là thế giới, sự bắt đầu của thế giới, sự chấm dứt của thế giới, và con đường đưa đến sự chấm dứt của thế giới.

                       Kinh Trung Bộ

 

     Này A-nan-đa, các cửa ra vào và cửa sổ của chánh điện này đều mở và quay mặt hướng đông. Có ánh sáng khi mặt trời hiện lên trên bầu trời và có bóng tối giữa đêm khi trăng tàn hay bị ẩn khuất trong sương mù hay mây. Cái thấy của ông không bị trở ngại qua các cửa ra vào và cửa sổ khi chúng đều mở nhưng bị ngăn ngại khi có tường vách hay ngôi nhà. Này A-nan-đa, bây giờ hãy xem tôi trả mỗi trạng thái thay đổi này về với nguyên nhân và nguồn gốc của nó như thế nào. Những căn nguyên này là gì? Về các nhân duyên thay đổi, ánh sáng có thể trả về với mặt trời. Vì sao? Bởi vì không có ánh sáng không có mặt trời, và vì ánh sáng đến từ mặt trời, có thể trả nó về nguồn gốc của nó. Có thể trả bóng tối về với trăng tàn, sự thông suốt về với các cửa ra vào và cửa sổ mở, sự ngăn ngại trở về với tường vách và ngôi nhà, nguyên nhân về với sai biệt, tánh không về với cái trống không tương đối, môi trường hỗn độn về với vô ý thức, và nhận thức rõ ràng về với cảnh giới tỉnh giác. Trên thế gian không có gì vượt qua bên kia những nhân duyên này. Bây giờ khi tánh nhận thức của ông gặp phải tám nhân duyên này, thì nhận thức của ông có thể trả về đâu? Nếu trả về với sự sáng, ông sẽ không thấy bóng tối khi không có ánh sáng. Mặc dù các nhân duyên này như ánh sáng, bóng tối, và v.v… khác biệt nhau, cái thấy của ông không khác biệt, cái thấy của ông vẫn là như thế.   

    Tất cả các nhân duyên có thể trả về với các nguyên nhân ngoại giới hiển nhiên không phải là ông, nhưng cái không thể trả về bất cứ nơi nào, nếu nó không phải là ông, nó là cái gì? Vì thế, ông nên biết rằng tâm ông cơ bản là kỳ diệu, sáng ngời, và thanh tịnh và bởi vì sự vướng mắc của ông với các sự vật thế gian ông có đã che lấp mất nó. Bằng cách này ông đã bị vướng vào vòng luân hồi vô tận trở thành cái này hay cái kia, đắm chìm và trôi nổi trong biển sinh tử vô tận. Bây giờ ông hãy tự tỉnh giác với cái tâm sáng láng của ông.

               Kinh Lăng Nghiêm

 

      “Này Tu-bồ-đề, khi ông hành trì bố thí, ông không nên dựa vào bất cứ vật gì làm nguyên nhân bố thí. Ông không nên dựa vào lời nói, vì lời nói chỉ là nhãn hiệu. Nếu ông hành trì bố thí không dựa vào nguyên nhân và nhãn hiệu, ông không thể nghĩ đến an lạc. Tu-bồ-đề, ông nghĩ rằng hư không ở hướng đông có thể đo lường được chăng?

   “Thưa không, Thế Tôn.”

    “Hư không ở hướng tây, hướng bắc, hương nam, hay ở các hướng trên hay dưới có thể đo lường được chăng?”

    “Thưa không, Thế Tôn.”

    Cũng vậy, Tu-bồ-đề, nếu ông không dựa vào bất cứ khái niệm nào khi ông hành trì bố thí, thì kết quả an lạc không thể đo lường được như hư không vậy.

               Kinh Kim Cương

   

     Phẩm tính trong sáng, an tĩnh, không tỳ vết, như mặt trăng – nơi mà người ta buông bỏ những gông cùm ràng buộc con người vào sự trở thành cái này hay cái kia, hết cái này đến cái khác – đây là cái tôi gọi là trí tuệ.

    Người nào đã đi qua bên kia chu kỳ thô bạo và nguy hiểm của mê hoặc và sự lặp đi lặp lại, bỏ nó lại phía sau, người nào quán sát, không nắm giữ, và không hoài nghi – tôi gọi người ấy là trí tuệ.

                       Tập Kinh

  

     Tu-bồ-đề hỏi: “Có thể tìm thấy trí tuệ toàn hảo qua tư duy hay lắng nghe những câu nói hay qua các dấu hiệu và vật tượng trưng, như vậy có thể nói ‘Đây là nó’ hay ‘Nó ở đây’ không?”

    Phật đáp: “Không, Tu-bồ-đề. Trí tuệ toàn hảo thì không thể học hay phân biệt hay suy nghĩ hay tìm thấy bằng các thức. Đây là vì không một cái gì trên thế gian này rốt ráo có thể giải thích được, mà chỉ có thể kinh nghiệm nó, và như thế tất cả mọi sự vật đều là như thực. Không bao giờ có thể kinh nghiệm trí tuệ toàn hảo tách rời với tất cả sự vật. Thấy tánh Chơn Như của sự vật, hiện thể rỗng lặng, là thấy sự vật như thực. Theo cách này, trí tuệ toàn hảo và thế giới vật chất không phải hai, chúng không bị phân chia. Kết quả tánh Chơn Như, hiện thể rỗng lặng, trí tuệ toàn hảo thì không thể biết được bằng lý trí. Cũng không thể biết được sự vật thế gian, chúng chỉ hiểu được qua danh và ý niệm. Nơi nào không có sự học hay tìm tòi, không có khái niệm hay ngôn từ qui ước, ở đó người ta có thể nói rằng có trí tuệ toàn hảo.”

                Kinh Tiểu Phẩm Bát-nhã

 

    Khi một người sống chân chính và hành động độ lượng, người ấy lãnh hội được cách sự vật hiện hữu. Người ấy không tùy thuộc vào những mối ràng buộc; người ấy không có tức giận và ác cảm; những gì người ấy làm trở thành hành động toàn hảo.

    Tính thanh tịnh của hành động quân bình toàn hảo có căn cứ nơi cái thấy cách sự vật hiện hữu như thực – đây là sự giải thoátchấm dứt vô minh.

                       Tập Kinh

 

    Chớ sợ làm điều tốt. Đó là một tên khác của hạnh phúc, vì tất cả đó là thân mậtthích thú – câu nói “làm tốt” này.

 

    Ai sống tốt,

    Lâu dài, đem an lạc

    Hãy để y độ lượng, bình an,

    Và tu dưỡng làm điều lành.

 

    Bằng cách hành trì ba điều này,

    Ba điều đem an lạc này,

    Người trí sống không hối tiếc

    Thế giới của y thấm nhuần an lạc.

        Kinh Phật Thuyết Như Vậy

 

     Ông nên là một hòn đảo cho chính mình, một nơi nương náu cho chính mình, không tùy thuộc vào bất cứ ai hay cái gì khác mà chỉ nương náu nơi chân lý và không gì khác hơn chân lý. Và làm thế nào ông trở thành một hòn đảo hay nơi nương náu cho chính mình?

    Bằng cách này. Ông xem và quán sát thân mình là sự hợp tạo của tất cả các lực của vũ trụ. Một cách mãnh liệt và chú tâm ông lèo lái tự thân mình bằng cách kiềm chế những bất bình của mình với thế giới quanh ông. Cũng bằng cách đó, hãy quan sátchiêm nghiệm cảm giác của mình và dùng cách kiềm chếtự chủ giống như vậy chống lại sự nô lệtham dục. Bằng cách xem sự ràng buộc với thân và cảm giác của mình là chướng ngại đối với chân lý, ông trú trong sự tự chủ mãnh liệt và sự giải thoát khỏi những sợi dây ràng buộc đó.

    Đây là cách ông sống như một hòn đảo cho chính ông và một nơi nương náu cho chính ông. Ai trú trong cách quán chiếu này, là hòn đảo do chân lýnương náu nơi chân lý – người ấy sẽ ra khỏi bóng tối và nhập vào ánh sáng.

                       Kinh Trường Bộ

 

    Bình an chân thật sẽ tự động phát sinh

    Khi tâm trở nên tự do không ràng buộc,

    Khi biết rằng sự vật thế gian

    Không bao giờ có thể cho những gì mình thực mong muốn.

                       Kệ Trưởng Lão

 

    Người ta nên có khả năng sống mà không có sự chịu đựng cảnh nghèo. Lúa thóc và những thứ cần thiết khác nên tặng cho nông dân. Vốn làm ăn nên cung cấp cho thương nhân, và lương hợp lý nên trả cho người làm việc. Khi người ta có sự an ninh và có thể kiếm được lợi tức tương xứng, họ sẽ bằng lòng, không sợ hãilo âu. Vì vậy, quốc gia sẽ được hòa bình và sẽ không có tội ác.

                       Kinh Trường Bộ

 

    Nếu con bò đực đi thẳng khi đàn bò đang băng qua đường, tất cả đàn sẽ đi thẳng, bởi vì nó dẫn đường. Con người cũng vậy. Nếu một người được cho là cao nhất sống lương thiện, những người khác cũng sống như vậy. Cả nước sống hạnh phúc nếu người cai trị sống chân chính.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Phật nói với A-nan-đa: “Này A-nan-đa, thực không dễ gì dạy con đường giải thoát cho người khác. Trong khi dạy sự giải thoát cho người khác, cách tốt nhất trước tiên là phải minh định năm điều rồi mới dạy. Năm điều gì? Khi ông dạy người khác, ông phải nghĩ:

 

    ‘Tôi sẽ dạy họ theo cách dần dần và nhạy bén.

    Tôi sẽ nói với mục đích trong tâm.

    Tôi sẽ nói với sự dịu dàng.

    Tôi sẽ không nói để được bất cứ thứ gì.

    Tôi sẽ không nói với cái thấy làm hại bất cứ người nào.’

 

    “Nếu ông minh định năm điều này, lời dạy của ông sẽ được đón nhận.”

               Kinh Tăng Chi Bộ

   

     Ai nghĩ mình bằng hay thấp hơn hay cao hơn người khác sẽ bị vướng mắc trong tranh luậnchính lý do này. Nhưng những ý nghĩ như bằng, thấp hơn, và cao hơn thì không ở nơi một ngươi không bị những so sánh như thế làm xao động.

    Tại sao một người trí tuệ phải tranh luận với người khác, khi nói: “Đây là sự thật” và “Đây là dối láo”? Nếu một người như thế không bao giờ thích thú với ý nghĩ về bằng, thấp hơn, hay cao hơn, thì người ấy sẽ tranh luận với ai?

    Bậc hiền nhân đã giải thoát mình khỏi sự tùy thuộc vào người khác và sự tùy thuộc vào ngôn từ và không còn ràng buộc với kiến thức thì không làm điều gì hại chân lýcan dự tranh cãi với người khác.

                       Tập Kinh

 

    Giàu sang không phải tốt cũng không phải xấu, đời sống không phải tốt cũng không phải xấu. Tất cả tùy thuộc vào những gì làm với sự giàu sang. Nếu giàu sang có được một cách phi pháp và tiêu xài một cách ích kỷ, nó sẽ không đem lại hạnh phúc.

    Nhưng nếu giàu sang đến thông qua phương tiện hợp pháp không hại người khác, thì người ta có thể vui vì nó. Nên nhớ những nguy hiểm của sự ràng buộc với nó và chia xẻ nó với người khác để tạo những mục đích tốt. Nếu một người có thể giữ trong tâm mình rằng không phải giàu sang, cũng không phải mục đích tốt, mà mục đíchgiải thoát khỏi thèm khát và muốn được, thì giàu sang sẽ đem lại hạnh phúc. Người ta nên giữ sự giàu sang không chỉ cho mình mà cho tất cả chúng sinh

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

    Sống trong rừng cách xa những người khác không phải là ẩn tu chân thật. Ẩn tu chân thật là không bị ràng buộc với sức mạnh của thích và không thích. Nó cũng là không có tâm thái rằng một người phải là đặc biệt bởi vì người ấy đang đi con đường đạo. Những người tự tách mình đến những khu rừng xa thường cảm thấy mình cao hơn những người khác. Họ nghĩ rằng vì họ cô độc họ đang được hướng dẫn theo cách đặc biệt và những người sống cuộc sống bình thường không bao giờ có thể có kinh nghiệm đó. Nhưng đó là tự phụ và không giúp ích gì cho người khác. Người ẩn tu chân chính là một người có ích dụng cho người khác, giúp họ bằng ngôn ngữ tình thương và tấm gương cá nhân.

        Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa

 

    Tu-bồ-đề hỏi: “Một người hành trì tất cả sáu ba-la-mật (lục độ) bằng cách nào?”

    Phật đáp: “Bằng cách không nhận thức nhị nguyên. Thông hiểu tính nhị nguyên này, người ấy dạy thực tại cho tất cả chúng sinh. Với năng lực thể xác, người ấy du hành rộng rãi để dạy. Với năng lực tinh thần, người ấy đề phòng những ý niệm như “thường hay vô thường”, “thiện hay ác”, v.v… phát sinh. Với ba-la-mật trí tuệ, người ấy không xem bất cứ vật gì rốt ráo là có thực, nhưng phục vụ tất cả chúng sinh với chú tâm thương yêu, như thế tinh tấn, nhẫn nhục, và thiền định sẽ khởi dậy nơi họ. Nhưng dù cho có chú ý đến chi tiết nhỏ nhất của bất cứ điều gì phải làm, người ấy cũng không bao giờ nắm giữ hay cố gắng tạo nghĩa tối hậu cho nó, bởi vì người ấy biết nó không có bản thể trường tồn của riêng nó.

        Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa

 

     Phật được một người bà-la-môn mời ăn trưa ở nhà ông ta. Nhưng khi Phật đến, người bà-la-môn chào đón ngài một cách kỳ lạ, bằng cách tuôn ra những lời chửi mắng.  

    Một cách lịch sự, Phật hỏi: “Khách mời có đến nhà ông không, hỡi người bà-la-môn tốt?”

    “Có.”

    “Ông có chuẩn bị gì cho họ không?”

    “Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng một bữa tiệc lớn.”

    “Chuyện gì xảy ra nếu họ không đến?”

    “Thì chúng tôi vui vẻ tự ăn.”

    “Vậy, này bà-la-môn, ông đã mời tôi dùng bữa và ông đã làm trò giải trí cho tôi bằng những lời thô bạo. Tôi không muốn gì từ sự chuẩn bị của ông. Vậy, hãy vui lòng nhận lại và tự ăn đi.”

    Phật bảo các đệ tử của mình: “Thù hận không chấm dứt được thù hận, chỉ từ ái có thể chấm dứt được thù hận.”

                       Bổn Sinh

 

    Hãy từ bỏ làm ác. Điều này có thể làm được. Nếu không khả dĩ đúng, tôi không yêu cầu các ông làm thế. Nhưng vì nó khả hữu và vì nó đem lại phúc lợian lạc, tôi yêu cầu các ông: hãy từ bỏ làm ác.

    Hãy tu dưỡng làm thiện. Điều này có thể làm được. Nếu nó đem đến sự tước đoạt và phiền não, tôi không yêu cầu các ông làm như vậy. Nhưng vì nó đem lại phúc lợian lạc, tôi yều cầu các ông: hãy tu dưỡng làm thiện.

               Kinh Tăng Chi Bộ

 

     Một người bà-la-môn hỏi Phật: “Vì niết-bàn hiện hữu và đạo cũng hiện hữu, và vì ngài hiện hữu như một người khuyên nhủ, tại sao một số người theo ngài đạt niết-bàn mà một số thì không?”

    “Này ba-la-môn, hãy để tôi hỏi ông một điều. Ông biết đường đi đến thành Rajgir không?”

    “Biết, chắc chắn vậy.”

    “Bây giờ giả sử một người đến hỏi ông đường đi đến đó. Ông có thể bảo anh ta: ‘Con đường này đi đến Rajgir, vậy hãy đi theo nó một lúc. Sau một thời gian anh sẽ thấy một ngôi làng và rồi một phố chợ nhưng phải tiếp tục đi nữa. Sau một vài dặm, anh sẽ thấy Rajgir với những công viên, rừng và ao hồ thích thú.’ Nhưng mặc dù người ấy đã được ông chỉ dẫn cẩn thận, anh ta vẫn có thể đi sai đường về hướng tây, trong khi một người khác, cũng nghe những chỉ dẫn đó, đi theo và đến Rajgir một cách dễ dàng. Bây giờ, vì Rajgir hiện hữu và đường đến Rajgir hiện hữu, và vì ông hiện hữu như một người khuyên bảo, ông nghĩ tại sao người này đi sai đường và người kia đi đúng đường?”

    “Tôi thực không thể làm gì được trong việc này, thưa Phật. Tôi chỉ là người chỉ đường.”

    “Đúng vậy. Mặc dù niết-bàn hiện hữu và đường đến niết-bàn hiện hữu và tôi, một người khuyên nhủ, cũng hiện hữu, một số người theo tôi sẽ đạt được mục đích bất biến ấy nhưng số khác sẽ không đạt được. Tôi không thể làm gì được trong việc này. Tất cả những gì tôi có thể làm là chỉ đường.”

                       Kinh Trung Bộ

 

    Có một số người ước mong hoàn thiện chính mình và tự tu luyện theo cách này: “Chúng ta sẽ thuần hóa cái ngã đơn độc duy nhất, chúng ta sẽ làm bình an cái ngã đơn độc duy nhất, chúng ta sẽ đưa cái ngã đơn độc duy nhất đến niết-bàn.” Nhưng những người với bi tâm không nên tu luyện mình theo cách ấy. Trái lại, họ nên nói thế này: “Tôi sẽ đặt ngã của riêng tôi vào Thực Tại, như thế tất cả thế gian có thể được giúp đỡ, tôi sẽ đặt tất cả chúng sinh vào Thực Tại và tôi sẽ dẫn toàn thể thế giới vô lượng chúng sinh đến niết-bàn.

    Tất cả những người bi mẫn nên khích lệ tâm họ nghĩ: “Mọi chúng sinh, hoặc sinh qua bào thai hay sinh theo cách nào khác, hoặc có nhận thức hay không, chúng ta nên đưa về hướng giải thoát tự do vô biên. Khi số chúng sinh vô lượng vô biên này được giải thoát, chúng ta không nên tin rằng có chúng sinh nào đó đã được giải thoát! Vì sao? Ấy là vì không một người bi mẫn nào thực sự bi mẫn mà giữ ý niệm về ngã, chúng sinh, hay một cá nhân riêng rẽ.

               Kinh Kim Cương

 

    Như một con bò mẹ với một chú nghé con để mắt trông chừng nó ngay cả khi nó ăn cỏ, cũng vậy đối với một người để mắt canh chừng tất cả có thể làm được như vậy cho những người khác đang theo đường đạo.

               Kinh Trung Bộ

 

    Phật nói với chúng tỳ kheo:

 

    “Người ta biết các ông là tăng nhân. Nếu họ hỏi các ông, “Này tăng nhân các ông! Tăng là gì?’ Hãy nhận mình là tăng nhân nhưng hãy nói với mình, ‘Chúng ta đang tu tập những điều tạo nên một tăng nhân. Bằng cách này, là một tăng nhân sẽ trở thành một hành động thực sự, mục đích của chúng ta được thực hiện một cách đúng đắn. Và cách dùng những vật chúng ta cần để sống sẽ trở nên có kết quả và sáng tạo, và khi chúng từ giã thế giới này, nó sẽ không cằn cỗi mà phong nhiêu và đầy kết quả.’ Đối với những người không phải tăng nhân cũng vậy. Tuy nhiên, đây là nói với các ông.

   Những điều mà các ông nên tu tập là gì? Hãy tu luyện mình thành tận tâm và khéo léo, quan tâm người khác. Các ông có thể nghĩ, “Chúng ta đã làm như vậy. Đủ tức là đủ và nó đã được thực hiện. Chúng ta đã hoàn thành tất cả những gì chúng ta cần làm như những tăng nhân. Chẳng còn gì nữa để làm.’

    “Nhưng tôi nói và tôi phản đối – chớ ngừng sự truy cầu của mình trong khi vẫn còn cái gì đó để khám pháthực hiện. Cần phải làm gì nữa? Các ông phải tu luyện mình, nói: ‘Chúng ta trở nên không ô uế trong cách hành xử của mình, sáng ngờitrong sạch. Chúng ta sẽ không đề cao mình và hạ thấp bất cứ ai khác.’”

                       Kinh Trường Bộ

 

    Một người con trai duy nhất được cha mẹ rất thương yêu, lại không cẩn thận, thô lỗ và không chịu học gì cả. Cha mẹ hy vọng cậu con trai ít ra cũng chăm sóc thửa đất, nhưng cậu ta lười biếng và bẩn thỉu, gây cho họ nhiều phiền muộn. Láng giềng khinh khi cậu ta, cuối cùng cha mẹ hầu như cũng ghét cậu ta. Điều cuối cùng làm cậu ta động tâm và cậu ta nhận tu tập tôn giáocầu nguyện nhưng chỉ giúp được chút ít. Khi nghe người ta nói về Phật, cậu ta đến gặp ngài và yêu cầu được làm người theo ngài.

    Phật đáp: “Nếu con thích ở với ta và thấy thích nghi với cách đó, điều đầu tiên để con học là cư xử đúng cách. Hãy trở về nhà học cách làm như cha mẹ con muốn, hãy tiếp tục tụng những lời cầu nguyện của con, và làm việc chăm chỉ trong đời sống hàng ngày của con. Đồng thời, hãy tự làm cho mình sạch sẽ, mặc quần áo thích hợp, và đừng tự chểnh mảng nữa. Khi con học được điều đó rồi, hãy trở lại với ta và con có thể được cho phép trở thành một trong người theo ta.”

                       Kinh Pháp Cú

 

    Hai vương quốc đang sắp sửa chiến tranh giành quyền làm chủ một con đê.

    Khi Phật thấy các vị vua và quân đội sẵn sàng đánh nhau, ngài yêu cầu họ cho ngài biết nguyên nhân của cuộc tranh chấp này là gì. Khi đã nghe cả hai bên, Phật nói:

    “Con đê có giá trị cho những người sống trên đó của cả hai vương quốc. Nhưng ngoài điều đó ra, nó có giá trị nội tại nào không?

     “Nó chẳng có giá trị nội tại nào cả.”

    Phật nói tiếp: “Khi các ngài đi đến chỗ đánh nhau, không phải là nhiều binh sĩ của các ngài sẽ bị giết và chính các ngài cũng có thể mất mạng sao?”

    “Phải, nhiều người sẽ bị giết và mạng sống của chúng tôi sẽ bị nguy hiểm.”

    “Có phải máu của con ngườigiá trị nội tại kém hơn một mô đất không?”

    Cả hai vua đều nói: “Không. Sinh mạng của binh sĩ và trên hết sinh mạng của các vua là vô giá.”

    Phật kết luận: “Các ngài sẽ đóng cọc làm móc giới cái vô giá đối lại với cái không có giá trị nội tại gì cả không?”

    Hai vua hết tức giận và đi đến một hiệp ước hòa bình.

                       Kinh Trường Bộ

 

    Đừng sống một cách không suy nghĩ, trong phân tán và với những mục tiêu mê hoặc, bên ngoài Pháp phổ biến.

    Hãy tự đánh thức mình và theo con đường giác ngộ qua thế gian với năng lực và niềm vui.

    Hãy theo con đường giác ngộ với sự an lạc qua thế giới này và bên kia.  

    Hãy xem thế gian này như bọt nước, như bóng nước trong sa mạc. Không để bị ràng buộc, và chết không thể chạm đến mình.

    Hãy nhìn thế giới lấp lánh này, nó giống như chiếc xe vua. Kẻ ngu bị nó lôi cuốn nhưng người trí không bám vào nó.

    Mặt trăng hiện ra từ phía sau các đám mây và làm thế giới sáng lên. Người thắng phục vô minh cũng chiếu sáng như vậy.

    Còn hơn tất cả hạnh phúc trên trần gian hay ở cõi trời, vĩ đại ơn quyền lực ngự trị tất cả mọi thế giới, là niềm vui của bước đầu tiên trên chính đạo.

                       Kinh Pháp Cú

 

    Phật đang ở lại nhà của Migara. Một buổi tối Phật đang ngồi trên hành lang khi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) đến viếng ngài và ngồi xuống bên cạnh. Một đám rước các thánh nhân đi qua, một vài người tóc dài, một vài người khỏa thân, một vài người có móng tay dài. Khi thấy họ, vua từ chỗ ngồi đứng lên, phủ áo một bên vai, và quì một chân trước họ, giơ hai bàn tay lên và xưng tên của mình, Vua Ba-tư-nặc (Rajah Pasenadi). Sau khi họ đi qua, vua hỏi Phật:

    “Ngài nghĩ trong những người đó ai là người tỉnh giác và đã đến con đường tỉnh giác?”

    “Điều này không thể biết được, Đại vương (Rajah). Vì có tiếp xúc với người nào đó trong thời gian lâu Đại vương mới biết được đức hạnh, bằng cách giao tiếp Đại vương mới biết được sự toàn vẹn, trong những lúc phiền phức Đại vương mới biết nghị lực, và bằng cách nói chuyện thâm sâu Đại vương mới biết được trí tuệ.”

    “Thật là tuyệt diệu Thế Tôn đã tặng cho câu trả lời đó,” nhà vua bình phẩm, “vì những người này thực sự là những người tình báo của tôi. Họ đi đây đó, mặc y phục như những thánh nhân, và thẩm tra khu vực cho tôi trước khi tôi hành động như một quan tòa. Khi họ tắm rửa và mặc y phục màu trắng, họ sẵn sàng cho tất cả mọi khoái lạc thân xác.”

    Phật trách vua, nói:

 

    Nên tự mình trinh sát,

    Không nên là người của ai,

    Không nên sống tùy thuộc vào kẻ khác,

    Cũng không nên loanh quanh trao đổi thánh thần.

                Kinh Phật Tự Thuyết

 

    Khi Phật đang dừng lại ở Savatthi, một thương gia giàu có bố thí ba ngày, để giữ sự giàu sang của ông ta. Một góa phụ được nhiều ưu đãi cũng tặng một số lượng lớn, và tin tức về hai sự bố thí này lan khắp Ấn độ. Rồi người khắp mọi nơi bắt đầu hỏi, “Công đức kiếm được do bố thítùy thuộc vào số lượng lớn hay đúng hơn là phù hợp với phương tiện của người [bố thí]?”

    Khi các tỳ kheo nghe những câu hỏi này, họ yêu cầu Phật xác định vấn đề. Phật nói:

    “Không những số lượng cho sinh ra quả báo mà còn động cơ từ thiện ở phía sau nữa. Vì thế, dù là cho ít như một nắm bột gạo với tấm lòng trong sạch cũng sẽ đem lại quả báo lớn.”

    Lời nói này đã được người ta lặp đi lặp lại khắp Ấn Độ. Người ta bố thí hợp với phương tiện của họ, cho người hành khất, người lang thang, và tăng nhân hành cước. Họ cung cấp nước uống trong sân nhà của họ và đặt ghế ngồi bên đường đi. Một làn sóng từ thiện lan khắp xứ sở.

                       Kinh Tiểu Bộ

 

    Khi Phật sắp diệt độ, ngài nói với đồ chúng: “Như trái đất có đồi và cỏ, dược thảocác loại hạt cho tất cả chúng sinh dùng, chân lý mà tôi dạy cũng vậy. Nó cho mùi vị kỳ diệu và là thuốc chữa lành những bệnh tật của loài người. Tôi đã đưa các ông đến trú một cách bình yên trong kho tàng vĩ đại này. Nhưng nếu các ông có nghi ngờ gì, thì các ông phải hỏi bây giờ. Bất cứ các ông có nghi ngờ gì, tôi cũng sẽ cố gắng trả lời các ông.”

    “Thưa Thế Tôn, chúng con hiểu những ý niệm về vô ngã, về không có trạng thái thường còn, và về sự khổ gây ra cho người do tin rằng mình có ngã và nó thường còn. Người ấy giống như một người say thấy đồi và sông, trăng và sao quay tròn chao đảo quanh mình. Một người như thế sẽ không bao giờ hiểu vô ngã và sẽ mãi lang thang bất tận trong cảnh khốn cùng. Ấy là bởi vì một trạng thái không đáng mong muốn như thế mà chúng con tu dưỡng ý niệm vô ngã.”

    Lúc ấy Phật tỉnh dậy từ sự tịch tĩnh của cái chết đang đến và nói, “Hãy lắng nghe kỹ! Các ông dùng ẩn dụ người say nhưng các ông chỉ hiểu lời nói mà không hiểu ý nghĩa! Người say tin thế giới đang quay khi nó không quay. Các ông vẫn nghĩ ngã là một cái gì đó nếu các ông tin mình nên vô ngã để tự cứu mình. Các ông tin mình nên xem thườngvô thường, tịnh là bất tịnh, lạc là khổ. Nhưng đây là những khái niệm và các ông không thấu hiểu ý nghĩa. Ý nghĩachân ngãchân thật. Thường hằnghiện hữu. An lạc là niết-bàn, và thanh tịnh là sự vật như thực.

    “Các ông không nên tu tập những ý niệm vô thường, khổ, bất tịnh, và vô ngã như là những vật thể có thực như hòn đá hay tảng đá mà thay vì hãy tìm ý nghĩa. Các ông nên dùng phương tiện thiện xảomọi nơitu dưỡng những ý niệm thường, lạc, và tịnh vì tất cả chúng sinh. Nếu các ông làm như vậy, các ông sẽ như người thấy ngọc trong nước bùn giữa đá hòn đá tảng, và chờ cho nước yên lặng trước khi khéo léo lượm nó lên. Tu dưỡng ý niệm ngã cũng giống như tu dưỡng thường, lạc, và tịnh.”

    Chúng tăng khựng lại. Họ nói, “Thưa Thế Tôn, theo tất cả những gì Thế Tôn đã dạy và nói, đã yêu cầu chúng con tu vô ngã, dẫn đến buông bỏ ý niệm ngã. Nhưng bây giờ Thế Tôn bảo chúng con nên tu dưỡng ý niệm ngã – điều này có nghĩa là gì?

    “Hay lắm,” Phật đáp. “Bây giờ các ông hỏi về ý nghĩa. Các ông nên biết rằng, như một y sĩ, các ông nên tìm đúng thuốc cho chứng bệnh. Như một y sĩ, tôi xem xét các chứng bệnh của thế gian. Tôi thấy những người thường tin họ có ngã và bất cứ người nào họ gặp cũng có ngã. Họ nghĩ ngã ở bên trong thân. Nhưng không phải thế. Vì không phải như thế nên tôi đã chỉ ra sự ngụy biện của tất cả những ý niệm về ngã và cho thấy rằng ngã không ở đó như người ta nghĩ. Trong mọi điều tôi nói tôi đã cho thấy rằng ngã không phải như người ta nghĩ, vì đây là phương tiện thiện xảo, là phương thuốc đúng.

    “Nhưng điều đó không có nghĩa là không có ngã. Cái gì là ngã? Nếu cái gì đó là chân thật, là có thật, là bất biến, là nền tảng của bản tánh thì không thay đổi, đây có thể gọi là ngã. Vì chúng sinh, trong tất cả những sự thật mà tôi đã dạy, có cái ngã như thế. Này các tỳ kheo tăng, đây là để các ông tu dưỡng vậy.

        Kinh Đại bát Niết-bàn (Bắc tạng)  

 

    Quang minh là tâm này, chiếu sáng, nhưng nó bị những chấp trước tô màu. Điều này những người không học không thực sự hiểu được, và vì thế không tu dưỡng tâm. Quang minh là tâm này, chiếu sáng, và nó không bị chấp trước đến viếng. Điều này người theo đạo cao quí thực sự hiểu được; và vì thế đối với họ, có sự tu

dưỡng tâm.

               Kinh Tăng Chi Bộ

(Gil Fronsdal)

 

    Người trí nên chân thật, không kiêu mạn, không tự phụ, không lăng mạ và không ghét. Người trí nên vượt qua bên kia cái xấu của tham lambủn xỉn.

    Để tâm mình được ổn định bình tĩnh, các ông phải có năng lực khắc phục buồn ngủ, trầm trệ, và thụy miên. Không có chỗ cho lười biếng và không có chỗ chứa kiêu mạn.

    Đừng để bị lôi cuốn vào dối láo, đừng để bị dính mắc sắc tướng. Các ông phải thấy suốt tất cả kiêu mạn và đi cùng mà không bạo động.

    Đừng để bị kích động bởi những gì xưa cũ, đừng bằng lòng với những gì mới mẻ. Đừng âu sầu vì những mất mát hay bị dục vọng kiềm chế.

                       Tập Kinh

(H. Saddhatissa)

 

      Hãy dẹp bỏ tất cả mọi chướng ngại, hãy để tâm mình đầy ắp tình thương thấm nhuần một phương thế giới, và cũng thấm nhuần phương thứ nhì, và phương thứ ba, và phương thứ tư. Như thế, toàn thể thế giới rộng lớn, trên, dưới, chung quanh và mọi nơi, cùng nhau tiếp tục thấm nhuần với ý nghĩ đầy tình thương, chan chứa, cao cả, ở bên kia đo lường, không thù hận và ác ý.

                       Kinh Trường Bộ

(Maurice Walshe)

 

    Tất cả run rẩy trước bạo lực.

    Tất cả đều sợ chết.

    Tất cả yêu thích sống.

    Hãy thấy mình nơi người khác.

    Rồi mình có thể làm ai đau đớn được?

    Mình có thể làm hại gì?

 

    Kẻ nào tìm hạnh phúc

    Bằng cách làm những người tìm hạnh phúc đau đớn

    Sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc.

 

    Vì anh em của mình cũng như mình.

    Họ muốn được hạnh phúc.  

    Đừng bao giờ làm hại họ

    Và khi từ giả cuộc đời này 

    Mình cũng sẽ được hạnh phúc.

               Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

    Mùi thơm của chiên đàn,

    Trúc đào hay hoa lài

    Không thể bay ngược gió.

 

    Nhưng hương thơm đức hạnh

    Có thể bay ngược gió,

    Xa đến tận cùng thế giới.

 

    Như vòng hoa được kết từ đống hoa,

    Phong cách sống của mình là từ nhiều hành vi tốt.

               Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

    Một thời đức Thế Tôn đang ở Rừng Jeta (Kỳ-đà). Một vị thần có sắc đẹp khiến người ta sững sờ đến gần đức Thế Tôn và nói:

 

    Nhiều thần và người

    suy nghĩ về điều lành.

    Xin hãy nói về điều lành tối thượng.

 

Phật đáp:

 

    Không kết giao kẻ ngu,

    ở cùng với người trí,

    tôn vinh người có đức,

    là điều lành tối thượng.

 

    Ở chỗ nào thích hợp,

    quá khứ làm điều tốt,

    tự đặt mình đúng hướng,

    là điều lành tối thượng.

 

    Nói hay, tu luyện cao,

    có học, giỏi thủ công

    rèn luyện kỹ luật cao,

    là điều lành tối thượng.

 

    Chăm sóc tốt mẹ cha

    chăm lo vợ và con,

    làm những nghề vô hại,

    là điều lành tối thượng.

 

    Cách cư xử xuất sắc,

    hành động không khiển trách,

    mở tay với thân nhân

    bố thí không vị kỷ,

    là điều lành tối thượng.

 

    Dứt và kiêng điều ác,

    tránh những chất làm say,

    tinh tấn trong tu đức,

    là điều lành tối thượng.

 

    Tôn kính và khiêm nhường,

    bằng lòng và biết ơn,

    nghe Pháp vào đúng thời,

    là điều lành tối thượng.

 

    Nhẫn nhụctùy thuận,

    thăm viếng người đạo hạnh,

    bàn luận Pháp đúng lúc,

    là điều lành tối thượng.

    Sống khổ hạnh, trong sạch,

    thấy chân lý cao quí,

    và chứng ngộ niết-bàn,

    là điều lành tối thượng.

 

    Tâm không lay động khi

    tiếp xúc cảnh thế gian,

    không sầu não, ô nhiễm,

    và [luôn được] an toàn,

    là điều lành tối thượng.

   

    Những người nào làm được

    tất cả những điều này,

    chiến thắng khắp mọi nơi,

    thấy an lạc mọi chỗ,

    là điều lành tối thượng.

        Kinh Điều Lành

(Gunaratara Mahathera)

 

    Vui sao nhìn lên người tỉnh giác

    Và kết bạn đồng hành với người trí.

    Rồi theo những người soi sáng,

    Người trí, người tỉnh giác, người thương yêu,

    Vì họ biết làm việc và nhẫn nhục như thế nào.

 

    Nhưng nếu không tìm được

    Bạn hay thầy đi cùng,

    Thì hãy đi một mình

    Như ông vua cho đi vương quốc,

    Như con voi trong rừng.

    Nếu người đi tìm được

    Người đồng hành đức hạnhtrí tuệ

    Hãy để y vui vẻ đi cùng

    Và vượt qua những nguy hiểm trên đường.

 

    Hãy đi theo họ

    Như mặt trăng đi theo con đường của những vì sao.

               Kinh Pháp Cú

        (Thomas Byrom)

 

     Người đệ tử đã được giáo huấn của các Bậc Cao Quí không xem thân là ngã, hay ngã có thân, hay thân ở trong ngã, hay ngã ở trong thân. Người ấy cũng xem cảm giác, nhận thức, xung động, hay ý thức theo bất cứ cách nào trong những cách đó. Người ấy hiểu mỗi uẩn như thực, là vô thường, khổ, vô ngã, hợp tạo, đầy phiền não. Người ấy không tiếp cận chúng, đuổi bắt chúng, hay quyết định “Ngã cho tôi [“ngã của tôi”] – và điều này trong thời gian dài đưa đến an lànhhạnh phúc của người ấy.

 

    Người đệ tử đã được giáo huấn của các Bậc Cao Quí thấy thân và vân vân: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải tôi, cái này không phải ngã của tôi.” Như thế khi thân và vân vân thay đổi và trở thành cách khác ở đó, từ người ấy, không phát sinh phiền não, sầu muộn, đau khổ, tiếc thương và thất vọng.

               Kinh Tương Ưng Bộ

(L. Freer)

 

    “Này La-hầu-la, con hãy phát triển một tâm thái như đất. Vì trên đất người ta ném những vật sạch và không sạch, phân và nước tiểu, nước miếng, mủ và máu, và đất không phiền hà hay phản đối hay gớm ghiết. Và khi con lớn lên như đất không một tiếp xúc thích thú hay không thích thú nào dính vào hay bám giữ tâm con.  

    “Tương tự, con nên phát triển một tâm thái như nước, vì người ta ném tất cả các vật sạch và không sạch mọi loại vào nước và nó không phiền hà hay phản đối hay gớm ghiết. Cũng tương tự với lửa, nó đốt cháy tất cả các vật, sạch hay không sạch, với gió, thổi tung tất cả, và với hư không, không thiết định chỗ nào.

    “La-hầu-la, con hãy phát triển một tâm thái của tình bằng hữu, vì khi con làm như vậy, ác ý sẽ ít hơn; và có lòng bi mẫn, vì như thế bực tức sẽ trở nên ít hơn, và có niềm vui, vì như thế oán ghét sẽ trở nên ít hơn; và được tĩnh lặng, vì như thế bất hòa sẽ trở nên ít hơn.

                       Kinh Trung Bộ

(A.       L. Basham)

 

    Hãy sống trong vui vẻ,

    Trong thương yêu

    Ngay cả giữa những người oán ghét.

 

    Hãy sống trong vui vẻ,

    Trong khỏe mạnh,

    Ngay cả giữa những người ưu sầu.

 

    Hãy sống trong vui vẻ,

    Trong hòa bình,

    Ngay cả giữa những người phiền não.

 

    Hãy nhìn bên trong.

    Hãy tĩnh lặng.

    Không có sợ hãiràng buộc,

    Hãy biết niềm vui ngọt ngào của đạo.  

                       Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

    “Tôi nấu cơm, tôi vắt sữa bò,” mục phu Dhaniya nói như thế. “Tôi đang sống cùng với láng giềng gần bờ sông Mahi, nhà tôi được che kín, lửa được nhóm lên: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!”

 

    “Tôi thoát khỏi giận dữ, thoát khỏi ương bướng,” Thế Tôn nói như thế. Tôi đang ở gần bờ sông Mahi một đêm thôi, nhà tôi không che kín, lửa tham dục của tôi đã tắt rồi: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!”

 

    “Không thấy lũ mòng ở với tôi,” mục phu Dhaniya nói như thế. “Trên những cánh đồng đầy cỏ những con bò đang dạo chơi, và chúng có thể chịu đựng khi mưa đến: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!”

 

    “Một chiếc bè tốt do tôi làm,” Phật nói như thế. “Tôi đã qua đến Niết-bàn, tôi đã đến bờ bên kia, tôi đã thắng được dòng nước; không còn dùng bè nữa: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!”

 

    “Vợ tôi vâng thuận, không phóng đãng,” mục phu Dhaniya nói như thế. “Nàng đã sống với tôi trong một thời gian dài, nàng hấp dẫn, và tôi không nghe nói nàng có gì độc ác: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!”

 

    “Tâm tôi vâng thuận, thoát khỏi toàn bộ thế gian,” Phật nói như thế. Tâm tôi đã được tu dưỡng và khắc phục cao độ trong một thời gian dài, trong tôi không còn bất cứ điều ác nào: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!”

 

    “Tôi tự cấp dưỡng mình bằng sức tôi kiếm được,” mục phu Dhaniya nói như thế. “Các con tôi tất cả đều gần gũi tôi, khỏe mạnh; tôi không nghe nói chúng có điều gì độc ác: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!’

 

    “Tôi không là người phục dịch của ai,” Phật nói như thế. “Với những gì tôi có được tôi đi đây đi đó khắp thế gian, không phục dịch bất cứ người nào: vì thế, nếu thích, cứ mưa đi, Ôi bầu trời!”

                       Tập Kinh

(V. Fausböll)

 

    Trước khi giác ngộ, trong khi tôi còn là một Bồ-tát chưa giác ngộ, tôi nghĩ: Trong trường hợp của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thế nào là thỏa hiệp, thế nào là nguy hiểm, thế nào là chạy trốn? Rồi tôi nghĩ: Trong mỗi trường hợp, khoái lạc thể xác và niềm vui tinh thần phát sinh tùy thuộc vào năm uẩn này là sự thỏa hiệp; sự kiện tất cả những cái này đều vô thường, khổ, và phải chịu sự thay đổi là nguy hiểm; giới luậtbuông bỏ tham dụcgiới luậtchạy trốn.

    “Bao lâu tôi còn chưa biết bằng tri kiến trực tiếp, như thực, như thế là thỏa hiệp, như thế là nguy hiểm, và như thế là chạy trốn, trong trường hợp năm uẩn này bị chấp trước tác động, chừng ấy tôi chưa tuyên bố là đã khám phá ra giác ngộ vô thượng nơi thế gian với các thần, các Ma vươngthần tính, trong thế hệ này với các tăng nhân và tín đồ bà-la-môn, với các hoàng tử và gia nhân.”

    “Là chính tôi phải chịu sinh, già, bịnh, chết, phiền não, và ô nhiễm, thấy nguy hiểm trong những gì phải chịu những thứ đó và cầu tìm niết-bàn vô thượng không ràng buộc, không sinh, không già, không bịnh, không chết, không phiền não, không ô nhiễm, tôi đã đạt được. Tri thức và thấy là ở trong tôi: Sự giải thoát của tôi là vô song; đây là lần sinh cuối cùng của tôi; bây giờ không có tái sinh nào cả.”

 

    “Tìm nhưng không thấy Kẻ Xây Nhà,

    Ta đã đi qua vô số vòng sinh:

    Ôi đau khổ là sinh rồi lại sinh.

    Kẻ Xây Nhà, bây giờ ta đã thấy ngươi;

    Ngươi sẽ không xây lại ngôi nhà ấy.

    Những cây đà đã gãy;

    Cây đòn dông cũng bị dỡ bỏ rồi.

    Tâm của ta bây giờ đã đạt niết-bàn vô tướng

    Và đã chấm dứt mọi loại khát khao.

               Kinh Tăng Chi Bộ…

(Nyanamoli Thera)

 

    “Giống như một y sĩ tài năng có thể tức thời chữ lành bịnh nhân đang bị đau đớn và bệnh trầm trọng; cũng như, thưa ngài, bất cứ điều gì một người nghe nói về Phật Pháp, dù là thuyết giảng, văn xuôi hỗn hợp, giảng giải hay những phát biểu kỳ diệu, thì sự buồn rầu, thương tiếc, đau đớn, khổ sở và thất vọng sẽ tiêu tan.

    “Tựa như có một cái hồ đẹp với bờ hồ thú vị, nước sạch, dễ chịu, mát và trong suốt, và một người đến đó, nóng cháy và kiệt lực vì sức nóng, mệt nhọc, khô khốc và khát nước, và người ấy bước xuống hồ, tắm và uống nước, và như thế toàn bộ tình trạng của người ấy, mệt nhọc và nóng sốt được dịu bớt; cũng vậy, thưa ngài, bất cứ khi nào một người nghe Phật Pháp, dù là thuyết giảng, văn xuôi hỗn hợp, giảng giải hay những phát biểu kỳ diệu, toàn bộ tình trạng của người ấy, mệt nhọc và nóng sốt đốt cháy trái tim được dịu bớt.”

 

               Kinh Tăng Chi Bộ

(Nyanaponika Thera)

 

    Phật nói:

    “Và đã tôi khám phá ra chân lý sâu xa đó, rất khó nhận thức, khó hiểu, tịch tĩnh và cao vời, chỉ lý luận thôi thì không đạt được, và chỉ những người trí tuệ là có thể thấy được.

    “Tuy nhiên thế gian được tặng cho khoái lạc, sự thích thú khoái lạc, bị khoái lạc quyến rũ. Sự thực những người như thế sẽ khó mà hiểu được luật nhân quả, sự tùy thuộc phát sinh của mọi sự vật. Song có những người mắt họ chỉ bị chút ít bụi phủ: họ sẽ hiểu chân lý ấy.”

 

    Bây giờ cái gì là Sự thật Cao quí về Khổ [Khổ đế]?

    Sinh là khổ; suy tàn là khổ, chết là khổ, phiền não, thương tiếc, đau đớn, buồn phiền, và thất vọng đều là khổ; không được cái mình muốn là khổ; vắn tắt, năm nhóm hiện hữu là khổ.

 

    Bây giờ cái gì là Sự thật Cao quí về Nguồn gốc của Khổ [Tập đế]?

    Ấy là ham muốn, làm dấy lên sự tái sinh mới, bị ràng buộc với khoái lạc và ái dục, lúc ở đây, lúc ở kia, luôn tìm khoái cảm mới. Nhưng sự thèm muốn này phát sinh và cắm rễ ở đâu? Bất cứ nơi nào trên thế gian có những sự vật thích thú và khoái lạc, sự thèm muốn này phát sinh và cắm rễ ở đó. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý đều có thích thú và khoái lạc: ở đó sự thèm muốn này phát sinh là cắm rễ.

    Vật có thể thấy được, âm thanh, mùi, vị, cảm nhận của thân, những đối tượng của tâm đều có thích thú và khoái lạc: ở đó sự thèm muốn này phát sinh và cắm rễ.

    Thức, ấn tượng thức giác, cảm giác sinh ấn tượng thức giác, nhận thức, ý muốn, ham muốn, suy nghĩ, và tư duy đều có thích thú và khoái lạc: ở đó sự thèm muốn này phát sinh và cắm rễ.

 

    Bây giờ, thế nào là Sự thật Cao quí của Sự diệt Khổ [Diệt đế]?

    Ấy là sự tàn lụi hoàn toàndiệt vong của sự ham muốn này, sự buông bỏ, giải thoát và tách rời khỏi nó. Sự diệt của tham, sự diệt của sân, sự diệt của si, thực sự, được gọi là Niết-bàn.

    Và đối với một đệ tử đã được giải thoát như thế, bình an trong tâm, ngoài những gì đã làm không có gì để thêm vào, không còn gì để làm. Như khối đá to lớn rắn chắc không bị gió lay động, cũng vậy không sắc, không thanh, không mùi, không vị, không xúc thuộc bất cứ loại nào, không một vật được ham muốn hay không được ham muốn nào có thể lay chuyển một người như thế; người vững chắc trong tâm đạt được giải thoát.     

    Và một người quan tâm tất cả những tương phản của trần gian này, và không còn bị phiền não bởi bất cứ điều gì trên thế gian, Bậc An Nhiên, thoát khỏi giận dữ, phiền muộn, ước mong, đã vượt qua bên kia sinh và tàn lụi.

    Điều này tôi không gọi là xuất hiện hay biến mất hay trụ hay sinh hay tử. Không có sự dừng trụ hay phát triển hay căn bản nào cả. Đây là sự chấm dứt khổ.

    Từ đây, mục đích của Đời Sống Thánh Thiện không bao gồm trong sự được của bố thí, danh tiếng, không bao gồm trong giữ giới, thiền định, hay con mắt trí. Sự Giải Thoát không lay chuyển đó của tâm: quả thật đó là mục tiêu của Đời Sống Thánh Thiện, đó là yếu tánh của nó, đó là mục đích của nó.

   

    Bây giờ, thế nào là Sự thật Cao quí của Con Đường đưa đến sự diệt khổ [Đạo đế]?

    Tự mình chìm đắm trong khoái lạc nhục cảm, những cái thấp hèn, tầm thường, dung tục, không thánh thiện, không lợi ích; hay tự hiến mình cho việc tự hành xác, đau đớn, không thánh thiện, không lợi ích: cả hai cực đoan này, Bậc Toàn Hảo đã tránh, và đã tìm ra Con Đường Giữa [Trung Đạo], làm cho người ta thấy và biết cả hai, dẫn đến bình an, đến minh tri, đến Niết-bàn.

    Ấy là Tám Con Đường Chân Chính [Bát Chánh Đạo], con đường dẫn đến sự diệt khổ, tức là:

 

  1. Hiểu biết chân chính (chánh kiến)
  2. Suy nghĩ chân chính (chánh tư duy)
  3. Lời nói chân chính (chánh ngữ)
  4. Hành động chân chính (chánh nghiệp)
  5. Sống chân chính (chánh mệnh)
  6. Nỗ lực chân chính (chánh tinh tấn)
  7. Chú tâm chân chính (chánh niệm)
  8. Thiền định chân chính (chánh định).

 

    Đây là Trung Đạo mà Bậc Toàn Hảo đã tìm thấy, làm cho người ta thấy và biết cả hai, đưa đến bình an, đến minh tri, đến giác ngộ.

               Kinh Tương Ưng Bộ

(Nyanatiloka)

 

    Trên thế gian này, có bao giờ ông thấy một người đàn ông hay một người đàn bà tám mươi, chín mươi, hay một trăm tuổi, gầy yếu, xiêu vẹo như mái nhà ở đầu hồi, khòm xuống, tựa vào cây nạng chống, bước đi loạng choạng, không vững, tuổi trẻ đã chạy trốn từ lâu, răng rụng, tóc ngã màu xám và lơ thơ hay không còn sợi nào, nhăn nheo, chân tay lốm đốm vết nhơ không? Và không bao giờ ông có ý nghĩ rằng ông cũng phải chịu suy tàn, và không thể chạy trốn nó sao?

    Trên thế gian này ông không bao giờ thấy xác của một người đàn ông hay đàn bà, một hay hai hay ba ngày sau khi chết, sình lên, màu tím bầm, và đầy hư hoại sao? Và không bao giờ ông có ý nghĩ rằng ông cũng phải chết, và ông không thể chạy trốn được sao?

    Giả sử có người không mù thấy nhiều bọt nước trên sông Hằng khi chúng trôi theo dòng, người ấy nhìn chúng, rồi sau đó cẩn thận quan sát thấy chúng có vẻ như trống rỗng, không có thật, không bản thể đối với người ấy. Tăng nhân thấy tất cả những hiện tượng vật lý, những cảm giác, những nhận thức, những cấu tạo của tâm, và những trạng thái của ý thức – hoặc chúng là của quá khứ, hay hiện tại hay vị lai, xa hay gần cũng y như vậy. Và tăng nhân ấy nhìn chúng, quán sát chúng một cách cẩn thận; và sau khi cẩn thận quán sát, đối với tăng nhân ấy chúng có vẻ là rỗng lặng, là trống không và không có Ngã.

                       Kinh Trung Bộ

(Nyanatiloka)

 

    “Tất cả các hành đều là vô thường; tất cả các hành đều phải chịu khổ; tất cả các hành đều không có ngã.

    “Vì thế, bất cứ cái gì của sắc, thọ, tưởng, hành, hay thức, dù quá khứ, hiện tại, hay vị lai, thuộc bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, cao hay thấp, xa hay gần, thì nên hiểu theo thực tạichân trí tuệ: ‘Cái này không thuộc về ta; cái này không phải là ta; cái này không phải là Ngã của ta.”

               Kinh Tăng Chi Bộ…

(Nyanatiloka)

 

    Đúng vậy, A-nan-đa, nơi người quán sát sự thọ dụng của tất cả các vật khiến cho bám giữ (thủ), thèm muốn (ái) phát sinh; do thèm muốn, có bám giữ; do bám giữ, có quá trình trở thành (hữu); do quá trình trở thành, có tái sinh; do tái sinh, có già và chết (lão và tử), buồn rầu, thương tiếc, đau đớn, phiền não, và thất vọng. Toàn bộ khối đau khổ lại phát sinh như thế trong vị lai.

    “Nhưng, A-nan-đa, ở nơi người quán chiếu sự khốn khổ của tất cả mọi vật khiến cho bám giữ, thèm muốn diệt; khi thèm muốn diệt, bám giữ diệt; khi bám giữ diệt, quá trình trở thành (hữu) diệt, khi quá trình trở thành diệt, tái sinh diệt; khi tái sinh diệt, già, chết, buồn rầu, thương tiếc, đau đớn, phiền não, và thất vọng diệt. Như thế toàn bộ khối đau khổ diệt.

    “Giả sử, A-nan-đa, có một cây lớn và một người mang theo rìu và giỏ đến chặt gốc cây ấy. Sau khi chặt gốc cây, y đào rãnh và nhổ cả rễ cái rễ con và các thớ sợi của chúng. Rồi y cắt cây ấy thành khúc, rồi y chẻ các khúc thành mảnh nhỏ. Rồi y phơi những mảnh gỗ ấy trong gió và dưới ánh mặt trời, rồi đốt và gom tro thành một đống, rồi rê tro trong gió mạnh hay thả trôi trên dòng sông nước chảy nhanh.

    “Cây đó bị chặt gốc như thế chắc chắn sẽ giống như phần gốc còn lại của cây kè, trở thành vô sinh, trở thành không có khả năng mọc mầm lại trong vị lai.

    “Cũng vậy, A-nan-đa, ở nơi người quán sát sự khốn khổ của tất cả các vật, khiến cho sự bám lấy… toàn bộ khối đau khổ diệt.

               Kinh Tương Ưng Bộ

(David Maurice)

 

    Và Thế Tôn đi đến Gayasisa, gần Gaya, cùng với một ngàn tăng chúng.

    Ở đó Thế Tôn đã nói như vầy với tăng chúng: Ôi các tỳ kheo, mọi vật đang cháy. Ôi các tỳ kheo, mọi vật đang cháy như thế nào?

    “Ôi các tỳ kheo, mắt đang cháy, các vật có thể thấy được đang cháy, các ấn tượng do mắt để lại trên tâm đang cháy; sự tiếp xúc của mắt với những vật có thể thấy được đang cháy; cảm giác sinh ra do sự tiếp xúc của mắt với những vật có thể thấy được, dù thích thú, dù đau đớn, dù không thích thú hay không đau đớn, cũng đang cháy. Nó cháy với lửa gì? Tôi tuyên bố với các ông rằng nó đang cháy với lửa tham, với lửa sân, với lửa si; nó đang cháy với những lo âu về sinh, già, chết, buồn rầu, thương tiếc, đau khổ, chán nản, và thất vọng.

    “Tai đang cháy, âm thanh đang cháy,… Mũi đang cháy, các mùi đang cháy,... Lưỡi đang cháy, các vị đang cháy,… Thân đang cháy, vật thể tiếp xúc đang cháy,… Tâm đang cháy, các ý nghĩ đang cháy, tất cả đang cháy với lửa tham, sân, si.

    “Khi quan tâm đến điều này, Ôi các tỳ kheo, người đệ tử đi trên Con Đường Cao Quí, trở nên chán ngán mắt, chán ngán các vật có thể thấy được, chán ngán các ấn tượng của tâm có từ mắt, chán ngán sự tiếp xúc của mắt với những vật có thể thấy được, cũng chán ngán cảm giác sinh ra do sự tiếp xúc của mắt với những vật có thể thấy được, dù thích thú, dù đau đớn, dù không thích thú hay không đau đớn. Người ấy trở nên chán ngán tai, và vân vân…đến các ý nghĩ. Khi trở nên chán ngán tất cả điều đó, người ấy tự mình vứt bỏ nắm giữ; do không nắm giữ, người ấy được giải thoát; khi được giải thoát, người ấy trở nên ý thức rằng mình tự do; và người ấy nhận ra rằng đã hết tái sinh; và rằng không còn trở lại thế gian này nữa.”

    Khi lời giảng giải này được nói ra, tâm của một ngàn tăng nhân đó trở nên tự do, thoát khỏi dính mắc thế gian, và được giải thoát khỏi tất cả rối rắm. 

        Đại Phẩm

(T. W. Rhys-Davis và Herman Oldenberg)

 

    Hãy làm chủ các thức,

    Những gì nếm và ngửi,

    Những gì thấy và nghe.

    Trong tất cả sự vật, hãy là ông chủ

    Của những gì làm, nói và nghĩ.

    Hãy tự do.

 

    Mình có tĩnh lặng không?

    Hãy tĩnh lặng thân mình.

    Hãy tĩnh lặng tâm mình.

 

    Bằng nỗ lực của mình

    Hãy thức tỉnh mình,

    Hãy canh chừng mình,

    Và sống vui vẻ.

 

    Hãy theo chánh đạo.

    Hãy tư duy nó.

    Hãy biến nó thành của mình.

    Hãy sống nó.

    Nó luôn luôn nuôi dưỡng mình.

               Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

  Nagasena (Na-tiên) nói:

    Niết-bàn có cùng một phẩm tính với hoa sen, hai với nước, ba với thuốc, mười với hư không, ba với ngọc như ý, và năm với đỉnh núi. Như hoa sen không bị nước làm bẩn, Niết-bàn cũng không bị tất cả những cấu uế làm bẩn. Như nước mát làm dịu đi nóng gắt, Niết-bàn mát cũng làm dịu đi cơn sốt của tất cả phiền não. Hơn nữa, như nước làm hết cơn khát của những người và thú bị kiệt quệ, khô cạn, khát, và bị sức nóng kiềm chế, Niết-bàn cũng làm hết sự thèm khát hưởng thụ nhục cảm, sự thèm khát hiện hữu nữa, và sự thèm khát thôi hiện hữu. Như thuốc bảo vệ khỏi sự đau khổ do chất độc, Niết-bàn cũng bảo vệ khỏi những phiền não độc hại. Hơn nữa, như thuốc làm hết bệnh, Niết-bàn cũng làm hết tất cả những khổ đau. Cuối cùng, thuốc và Niết-bàn cả hai đều đem lại sự an lành. Và đây là mười phẩm tính Niết-bàn cùng chia xẻ với hư không. Không sinh, già, chết, ra đi hay tái sinh; cả hai đều không thể thắng phục, không thể đánh cắp, không hộ trợ, là những con đường mà theo thứ tự là cho chim và những Bậc Tỉnh Giác, vô ngạivô cùng. Như ngọc như ý, Niết-bàn ban cho tất cả những điều mà một người ước mong, đem lại niềm vui, và chiếu rọi ánh sáng. Như đỉnh núi không lay động, Niết-bàn cũng vậy. Như đỉnh núi không thể đến gần, Niết-bàn cũng không thể đến gần đối với tất cả phiền não. Như không một hạt giống nào có thể mọc trên đỉnh núi, những hạt giống của tất cả mọi phiền não cũng không thể mọc trên Niết-bàn. Và cuối cùng, như đỉnh núi không có tất cả ham muốn hài lòng hay không hài lòng, Niết-bàn cũng vậy.”

         Vua Di-lan-đà Hỏi Đạo

(Edward Conze)

 

Hãy thương mình và hãy tỉnh giác  

Hôm nay, ngày mai, và luôn luôn.

 

Trước hãy an định mình trong đạo,

Rồi dạy người,

Vậy hãy đánh bại buồn phiền.

 

Muốn làm thẳng người tà vạy

Phải làm điều khó trước –

Hãy làm thẳng mình trước.

 

Mình là ông chủ duy nhất của mình.

Ai khác?

Hãy chinh phục chính mình,

khám phá ông chủ.

               Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

    Lúc đó, là mùa gieo trồng, năm trăm cái cày của phú hộ bà-la-môn Kasibharadvaja được đem ra làm việc. Lúc ấy vào buổi sáng, Phật, tự mình mặc y và cầm bát và chiếc y hai lớp, đi đến chỗ công việc của Kasibharadvaja đang tiến hành. Ấy là giờ ăn trưa và thực phẩm đã được người bà-la-môn phân phát. Khi Phật đến chỗ thức ăn đã được phân chia, ngài đứng một bên. Thấy Phật đứng xin bố thí, người bà-la-môn nói như vầy: “Ôi ẩn sĩ, tôi cày và gieo, khi đã cày và đã gieo, tôi ăn.”

   “Này bà-la-môn, tôi cũng cày và gieo, khi đã cày và đã gieo, tôi ăn.”

    “Chúng tôi không thấy ách hay cày hay lưỡi cày hay roi thúc hay bò của Tôn giả Gotama (Cồ-đàm), song ngài lại nói: ‘Tôi cũng cày và gieo, bà-la-môn, khi đã cày và đã gieo, tôi ăn.’” Vì thế Kasibharadvaja nói với Phật bằng kệ:

 

    “Ngài nói là nông dân,

    Nhưng không thấy ngài cày.

    Giờ chúng tôi xin ngài

    Nói cho chúng tôi biết

    Ngài cày bằng cách nào

    Mà chúng tôi không biết?”

 

        Phật nói như vầy:

    “Tin tưởng là hạt giống,

    Tự kiềm là dây cương,

    Trí tuệ là ách, cày;

    Khiêm tốn là cái gọng;

    Tâm là sợi dây thừng;

    Niệm là lưỡi và roi.

    “Thân hành được giữ tốt,

    Nói năng được giữ tốt,

    Điều độ trong thức ăn,

    Tôi biến chân lý thành

    Chất diệt các cỏ dại,

    Tĩnh lặng thành giải thoát.

    “Tinh tấn, bò mang ách

    Chở tôi đến Niết-bàn.

    Tiến tới chẳng dừng lại;

    Đến đó không hối tiếc.

 

    “Cách này cày đã xong;

    Kết thành trái bất tử.

    Hoàn thành việc cày này,

    Trở thành thoát hết khổ.”

               Tập Kinh

(H. Saddhatissa)

 

    Hãy uống sâu.

    Hãy sống trong tịch tĩnh và vui.

    Người trí vui trong đạo

    Theo pháp người tỉnh giác.

 

    Nông dân dẫn nước ruộng

    Thợ làm tên chuốt tên.

    Thợ mộc trở mặt gỗ.

    Người trí hướng tâm mình. 

               Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

    Dù trẻ như thế nào

    Người cầu tìm bắt đầu đi đường đạo

    Chiếu sáng khắp thế gian.

 

    Nhưng ngày đêm

    Người tỉnh giác

    Chiếu ánh sáng tâm linh.

 

    Hãy thiền định

    Hãy sống thanh tịnh.

    Hãy tĩnh lặng.

    Hãy làm việc của mình, với sự làm chủ.

 

    Như mặt trăng,

    Hãy xuất hiện từ phía sau đám mây!

    Chiếu sáng.

               Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

    Rồi, Bahiya, như thế ông phải tự tu luyện mình: Nơi cái được thấy chỉ có cái thấy, nơi cái được cảm biết chỉ có cái cảm biết, nơi cái được tưởng tượng chỉ có cái tưởng tượng. Như thế ông sẽ không có “do đó.” Đó là cách ông phải tu luyện mình. Bây giờ, Bahiya, khi nơi cái được thấy đối với ông sẽ chỉ có cái thấy, nơi cái được nghe chỉ có cái nghe, nơi cái được tưởng tượng chỉ có cái tưởng tượng, nơi cái được nhận biết chỉ có cái nhận biết, rồi, Bahiya, khi ông không có “do đó,” ông sẽ không có “trong đó.” Bahiya, khi ông không có “trong đó,” tiếp theo, ông sẽ không có “ở đây” hay “bên kia” hay “chặng giữa.”

Đó là hết bệnh.

                Kinh Phật Tự Thuyết

(F. L. Woodward)

 

    Này các bạn, tôi biết không cái gì ương bướng như cái tâm không được thuần hóa. Cái tâm không được thuần hóa quả thật ương bướng.

    Này các bạn, tôi biết không cái gì dễ bảo như cái tâm được thuần hóa. Cái tâm được thuần hóa quả thật dễ bảo.

    Này các bạn, tôi biết không cái gì có khuynh hướng đánh mất như cái tâm không được thuần hóa. Quả thật, cái tâm không được thuần hóa có khuynh hướng đánh mất.

    Này các bạn, tôi biết không cái gì có khuynh hướng phát triển như cái tâm được thuần hóa. Quả thật, cái tâm được thuần hóa có khuynh hướng phát triển.

    Này các bạn, tôi biết không cái gì đem lại đau khổ như cái tâm không được thuần hóa, không được kiểm soát, không được chú ý và không được kiềm chế. Một cái tâm như thế mang lại đau khổ.

    Này các bạn, tôi biết không cái gì đem lại niềm vui như cái tâm được thuần hóa, được kiểm soát, được chú ý và được hạn chế. Một cái tâm như thế mang lại niềm vui.

               Kinh Tăng Chi Bộ

(Gil Fronsdal)

 

    Một lần đức Thế Tôn sống gần thành Vương Xá (Rajagaha), trên ngọn Linh Thứu. Vào lúc đó, trong khi tôn giả Sona sống một mìnhcách biệt trong khu Rừng Mát, ý nghĩ này xảy ra với ông:

    Trong các đệ tửnăng lực của đức Thế Tôn thì ta là một. Song, tâm ta không thấy tự do.”

    Bấy giờ đức Thế Tôn, trong tâm thấy được những ý nghĩ của tôn giả Sona, liền rời ngọn Linh Thứu, và nhanh chóng như một dũng sĩ có thể duỗi cánh tay uốn cong hay uốn cong cánh tay đã duỗi ra, ngài xuất hiện trong khu Rừng Mát trước tôn giả Sona. Ngài nói với tôn giả Sona:

    “Này Sona, không phải trong tâm ông đã phát sinh ý nghĩ này sao: “Trong các đệ tửnăng lực của Thế Tôn thì ta là một. Song tâm ta không thấy tự do.’”

    “Phải, thưa Thế Tôn.”

    “Sona, hãy nói tôi nghe, ngày xưa không phải ông là người chơi nhạc rất hay với đàn tỳ bà sao?”

    “Phải, thưa Thế Tôn.”

    “Vậy hãy nói đi, Sona, khi các sợi dây đàn tỳ bà của ông quá căng, lúc ấy đàn tỳ bà của ông có giọng tốt và dễ chơi không?”

    “Chắc chắn là không, Ôi Thế Tôn.”

    “Và khi các dây đàn tỳ bà của ông quá chùng, lúc ấy đàn tỳ bà của ông có giọng tốt và dễ chơi không?”

    “Chắc chắn là không, Ôi Thế Tôn.”

    “Nhưng, Sona, khi các dây đàn tỳ bà của ông không quá căng cũng không quá chùng, mà được điều chỉnh đúng giọng, lúc ấy đàn tỳ bà của ông có âm thanh kỳ diệu và dễ chơi không?”

    “Chắn chắn vậy, Ôi Thế Tôn.”

    “Tương tự như vậy, Sona, nếu áp dụng năng lực quá mạnh sẽ đưa đến bất an, và nếu năng quá yếu sẽ đưa đến chán nản ngã lòng. Vì thế, Sona, hãy giữ năng lực của ông ở mức quân bình và làm quân bình các Cơ Năng Tinh Thần và hãy tập trung sự chú ý của ông bằng cách này.”

    “Vâng, thưa Thế Tôn,” tôn giả Sona đồng ý đáp.

    Từ đó về sau tôn giả Sona giữ năng lực của mình quân bình, và làm cho các Cơ Năng Tinh Thần quân bình, và tập trung chú ý bằng cách này. Và tôn giả Sona, sống một mìnhcách biệt, siêng năng, tinh tấnquyết tâm, đã sớm chứng ngộ ở đây và bây giờ, qua tri kiến trực tiếp của mình, mục đích vô song của đời sống thánh thiện.

               Kinh Tăng Chi Bộ

(Nyanaponika Thera)

 

    Như ở giữa lòng đại dương không có sóng sinh ra, tất cả tĩnh lặng, như vậy hãy để cho người tu tập tĩnh lặng, bất động, và không chỗ nào trào tràn.

                       Tập Kinh

(Dines Anderson và Helmer Smith)

 

    “Được phú cho sự tích tập giới luật cao quí này, sự kiềm chế cao quí này đối với các giác thức, tâm niệmhiểu rõ sự cao quí này, sự hài lòng cao quí này, một tăng nhân đi đến nơi ẩn tu, ngồi xuống, xếp chéo chân, giữ thân mình thẳng đứng, và bắt đầu chú tâm trước mình.

    “Khi đã buông bỏ ham muốn thế gian, người ấy ở với tâm không ham muốn; người ấy làm tâm mình thanh tịnh không ham muốn. Khi đã buông bỏ ác ýoán hận, người ấy ở với tâm từ thiện, đồng cảm với sự an lạc của tất cả chúng sinh; người ấy làm tâm mình thanh tịnh khỏi ác ýoán hận. Khi đã bỏ đi trầm trệ và mơ màng, người ấy ở với nhận thức ánh sáng, chú tâmhiểu rõ; người ấy làm tâm mình tịnh khỏi trầm trệ và mơ màng. Khi đã bỏ đi bất anlo lắng, người ấy ở thoải mái với chính mình, với tâm bình an; người ấy làm tâm mình thanh tịnh khỏi bất anlo lắng. Khi đã buông bỏ nghi ngờ, người ấy ở như một người đã đi qua bên kia nghi ngờ, không bối rối về những trạng thái lành mạnh; người ấy làm tâm mình thanh tịnh khỏi nghi ngờ.

    “Giả sử một người bị bệnh, đau khổ, bệnh trầm trọng, như thế người ấy không thể thưởng thức món ăn và sức mạnh bị suy giảm. Sau một thời gian, người ấy bình phục khỏi bệnh và thưởng thức các món ăn và lấy lại sức mạnh thể xác. Người ấy hồi tưởng điều này, và kết quả người ấy trở nên vui mừngkinh nghiệm an lạc.

    “Lại giả sử một người là một nô lệ, không có sự độc lập, phải phục dịch những người khác, không thể đi chỗ nào mình muốn. Sau một thời gian, người ấy được giải phóng khỏi nô lệ và được độc lập; người ấy không còn phải phục dịch người khác mà là một người tự do có thể đi chỗ nào mình muốn. Người ấy hồi tưởng điều này, và kết quả người ấy trở nên vui mừngkinh nghiệm an lạc.

   “Lại giả sử một người giàu sang với của cải và những vật sở hữu du hành theo một con đường đi qua sa mạc nơi mà thức ăn hiếm hoi và nhiều nguy hiểm. Sau một thời gian, người ấy đi qua khỏi sa mạc và đến một ngôi làng một cách an toàn và ngôi làng ấy an toàn và không có nguy hiểm. Người ấy hồi tưởng điều này, kết quả người ấy trở nên vui mừngkinh nghiệm an lạc.

    “Khi một tăng nhân thấy rằng năm chướng ngại bên trong chính mình đã được bỏ đi, tăng nhân ấy xem đó như thoát khỏi nợ, như có sức khỏe tốt, như được thả ra khỏi nhà tù, như thoát khỏi sự nô lệ, như là nơi an toàn.”

                       Kinh Trường Bộ

(Bhikkhu Bodhi)

 

    Hỡi nữ nhân tự do,

    Hãy tự do

    như mặt trăng được giải thoát

    khỏi nhật thực mặt trời.

    Với tâm tự do,

    không nợ nần,

    hãy vui với những gì mình được cho.

 

    Hãy loại bỏ xu hướng

    tự phán xét mình

    trên, dưới, hay

    bằng người khác.

    Một ni cô có tính trầm tĩnh

    và toàn vẹn

    sẽ thấy được bình an nuôi dưỡng

    và không bao giờ gây chán ngán.

 

    Hãy chứa đầy những điều tốt

    như mặt trăng ngày rằm.

    tròn đầy trí tuệ toàn hảo

    hãy xé toạt

    bóng tối to lớn nặng nề.

    Ta là ni cô, đã tu luyệntrầm tĩnh

    tâm niệm đã thành

    và đã nhập vào an tĩnh như một mũi tên.

    Các yếu tố của thân và tâm phát triển tĩnh lặng,

    hạnh phúc đã đến.

 

    Khắp mọi nơi, sự bám vào khoái lạc đều bị tiêu diệt,

    bóng tối to lớn bị xé toang,

    và [thần] Chết

    ngươi cũng bị tiêu diệt.

               Kệ Ni Trưởng Lão

(Susan Murcott)

 

    Không lửa nào như tham,

    Không tội ác nào như thù hận,

    Không buồn nào như chia ly,

    Không bịnh nào như cơn đói của trái tim,

    Không vui nào như vui giải thoát.

 

    Khỏe mạnh, bằng lòng, và tin tưởng

    là những sở hữu vĩ đại nhất,

    Và giải thoát là niềm vui vĩ đại nhất.

    Hãy nhìn bên trong,

    Hãy tĩnh lặng.

    Hãy giải thoát khỏi sợ hãichấp trước.

    Hãy biết niềm vui ngọt ngào sóng trong đạo.

                       Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

    Vào một dịp, đức Thế Tôn đang ở lại trong xứ Sumbha, ở thị trấn của những người Sumbha, gọi là Sedaka. Ở đó đức Thế Tôn nói với chúng tỳ kheo:

    “Này các tỳ kheo, ngày xưa, một người làm trò nhào lộn trên sào tre, dựng cây sào lên và gọi học trò của ông ta là Medaka-thalika, nói: ‘Này Medakathalika, chàng thanh niên của ta, hãy đến leo lên cây sào này và đứng trên vai ta!”

    “ ‘Dạ, thưa thầy,’ người học trò trả lời người nhào lộn trên sào tre. Rồi người học trò trèo lên cây sào và đứng trên vai thầy. Này các tỳ kheo, lúc ấy người nhảy múa trên sào tre nói với học trò ‘Bây giờ, Medakathalika, chàng thanh niên của ta, anh hãy bảo vệ ta cẩn thận và ta sẽ bảo vệ anh. Canh chừng và đề phòng cho nhau như thế, chúng ta sẽ biểu diễn trò chơi của chúng ta, kiếm được nhiều tiền thưởng, và xuống khỏi sào tre an toàn.’

    “Nghe nói thế, Medakathalika, người học trò liền nói với người nhảy múa trên sào tre: ‘Không! Không! Không được đâu, thầy ơi! Thầy tự lo cho thầy, thầy ơi, và con sẽ tự lo cho con. Như thế mỗi người tự canh chừng và đề phòng cho mình, chúng ta sẽ biểu diễn các trò chơi của chúng ta, kiếm được nhiều tiền thưởng, và xuống khỏi sào tre an toàn.’

    “Cách đó đúng,” đức Thế Tôn nói, “Như người học trò Medakathalika nói với thầy, ‘Con sẽ tự bảo vệ mình,’ này các tỳ kheo, các Niệm Xứ nên được tu tập như thế. Này các tỳ kheo, khi tự bảo vệ mình, người ta bảo vệ người khác; khi bảo vệ người khác, người ta tự bảo vệ mình.

    “ ‘Con sẽ tự bảo vệ mình’: Này các tỳ kheo, các Niệm Xứ nên được tu tập với chủ ý này. ‘Con sẽ bảo vệ người khác’: các Niệm Xứ nên được tu tập với chủ ý này. Khi tự bảo vệ mình, người ta bảo vệ người khác; khi bảo vệ người khác, người ta tự bảo vệ mình.”

               Kinh Tương Ưng Bộ

(John Ireland)

 

    “Này các ỳ kheo, tôi sẽ dạy các ông ngụ ngôn cái bè – để đi qua, không phải để giữ lại. Như một người đang trên cuộc hành trình gặp một dải nước rộng lớn, gần bờ sông với những nguy hiểm và sợ hãi, bờ sông bên kia thì an toàn và không có sợ hãi, nhưng không có thuyền và cũng không có cầu đi qua. Để đi qua từ những hiểm nghèo của bờ sông bên này đến chỗ an toàn của bờ sông bên kia, người ấy nên làm một cái bè bằng những cành nhánh và tùy thuộc vào cái bè, sang đến nơi an toàn. Khi đã làm xong bè, lại xảy ra chuyện cái bè rất hữu dụng và người ấy thắc mắc có nên đội chiếc bè lên đầu hay vác lên vai đem theo hay không. Này các tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào? Người ấy có nên làm như vậy với chiếc bè không?”

    “Không, thưa Thế Tôn.”

    “Người ấy nên làm thế nào, các tỳ kheo?” Khi đã sang đến bên kia, người ấy phải để lại chiếc bè và tiếp tục cuộc hành trình. Này các tỳ kheo, một người làm điều này sẽ làm những gì nên làm đối với chiếc bè. Tôi đã dạy Pháp cho các ông bằng cách này, như ngụ ngôn chiếc bè, để đi qua, không phải để giữ lại. Các ông, những tỳ kheo, hiểu được ngụ ngôn chiếc bè, chớ có bám vào các tâm thái đúng và hơn thế nữa, chớ có bám vào các tâm thái sai.”

               Kinh Trung Bộ

(Christmas Humphreys)

 

    Phật nói: “Nếu người bên ngoài nói lời chống đối tôi, Pháp hay Tăng già, các ông không nên giận dữ vì như vậy sẽ ngăn chận sự tự thắng mình. Tương tự, nếu họ ca tụng chúng ta. Nhưng các ông nên tìm xem điều gì sai điều gì đúng, và thừa nhận sự kiện. Và dù cho sự ca tụng ấy chỉ là những chuyện không quan trọng mà một người chưa vào đạo có thể nói về tôi.”

               Kinh Trường Bộ

(B.       A. F. Rhys Davids)

    Ai sắp khiển trách người khác phải nhận ra bên trong chính mình năm phẩm chất trước khi làm như thế [người ấy có thể nói] như vầy:

    “Đúng lúc tôi sẽ nói, không đúng lúc tôi sẽ không nói. Đúng sự thật tôi sẽ nói, giả dối tôi sẽ không nói. Tôi sẽ nói dịu dàng, không nói thô lỗ. Vì lợi ích của người ấy tôi sẽ nói, khiến người ấy bị thiệt hại tôi sẽ không nói. Tôi sẽ nói với ý định tốt, không nói trong giận dữ.”

                       Luật Tạng

(F. S. Woodward)

 

Không Nói Láo.

    Ở đây có người tránh nói láo và kiêng nói láo. Một người nói sự thật, sùng mộ sự thật, đáng tin cậy, đáng tin tưởng, không phải là người lừa dối người ta. Trong cuộc hội họp, hay giữa nhiều người, hay trong nhóm thân nhân, hay trong xã hội, hay giữa triều đình của vua, được triệu gọi và yêu cầu làm nhân chứng nói những gì biết được, nếu không biết, thì trả lời: “Tôi không biết,” và nếu biết, thì trả lời: “Tôi biết;” nếu không thấy điều gì, thì trả lời: “Tôi không thấy,” và nếu thấy, thì trả lời: “Tôi có thấy.” Như thế người ấy không bao giờ biết nói láo, hoặc vì lợi cho mình hay vì lợi cho người khác, hay vì bất cứ lợi thế gì.

 

Không Nói Thóc Mách.

    Một người tránh thóc mách và kiêng thóc mách. Những gì một người nghe được ở đây, người ấy không lặp lại ở đó, vì như vậy sẽ tạo sự bất hòa ở đó; và những gì một người nghe được ở đó, người ấy không lặp lại ở đây, vì như vậy sẽ gây sự bất hòa ở đây. Như thế là kết hợp những gì bị phân chia; và khuyến khích những cái đã được kết hợp. Hòa thuận làm người hoan hỉ, người ta hân hoanvui vẻ trong hòa thuận; và người ta loan truyền sự hòa thuận ấy bằng lời.

 

Không Nói Thô Bạo

    Một người tránh nói thô bạo, và kiêng nói thô bạo. Một người nói những lời dịu dàng như thế, những lời êm ái, thương yêu như thế, như đi vào tim, lịch sự, thân thiện, và dễ chịu đối với nhiều người.

 

Không Nói Vô Ích

    Một người tránh nói vô ích, kiêng nói vô ích. Một người nói đúng lúc, phù hợp với sự kiện, nói những gì hữu ích, nói về pháp lý và giới luật; lời nói của một người giống như một kho tàng, nói ra đúng lúc, kèm theo biện luận, điềm đạm và đầy ý nghĩa.

 

    Đây gọi là Lời Nói Chân Chính (Chánh Ngữ).

               Kinh Tăng Chi Bộ

(Nyanatiloka)

 

    Này các tỳ kheo, không một phương tiện nào được dùng để đạt công đức tôn giáo có được một phần mười sáu giá trị của từ ái. Từ ái, là tự do của trái tim, thấm nhập tất cả; nó rực rỡ, nó chiếu sáng, nó sáng ngời.

    “Và cùng cách ấy, này các tỳ kheo, khi ánh sáng của tất cả những vì sao không có được một phần mười sáu giá trị của ánh trăng, nhưng ánh trăng thấm nhập nó, rực rỡ, chiếu sáng, và sáng ngời: cùng cách ấy, này các tỳ kheo, không một phương tiện nào được dùng để đạt công đức tôn giáo có một phần mười sáu giá trị của từ ái. Từ ái, là tự do của trái tim, thấm nhập chúng; nó rực rỡ, nó chiếu sáng, nó sáng ngời.

    “Và cùng cách ấy, này các tỳ kheo, cuối mùa mưa, mặt trời, khi lên cao trong bầu trời quang đãng không mây, nó xua tan các khoảng không gian đen tối, nó rực rỡ, chiếu sáng, và sáng ngời: lại cùng cách ấy, khi hết đêm ngôi sao mai rực rỡ, chiếu sáng, và sáng ngời: như thế, này các tỳ kheo, không một phương tiện nào được dùng để đạt công đức tôn giáo có được một phần mười sáu giá trị của từ ái. Từ ái, là tự do của trái tim, thấm nhập chúng: nó rực rỡ, nó chiếu sáng, nó sáng ngời.”

        Kinh Phật Thuyết Như Vậy

(Justin H. Moore)

 

     Một người chôn một kho tàng trong một cái hố sâu, nghĩ: “Nó sẽ hữu dụng lúc cần, hay nếu nhà vua không hài lòng ta, hay nếu ta bị cướp hay bị nợ nần, hay thực phẩm khan hiếm, hay vận xui đến với ta.”

    Nhưng tất cả kho tàng này có thể không lợi ích gì cho người chủ, vì anh ta có thể quên mình dấu nó ở chỗ nào, hay bị ma quỉ lấy trộm, hay kẻ thù hay cả người thân của anh ta có thể lấy mất khi anh ta sơ ý.

    Nhưng với lòng từ thiện, điều tốt, kiềm chế, và tự kiểm soát mình, thì nam cũng như nữ có thể tích lũy một kho tàng khéo cất giấu – một kho tàng không thể đem cho người khác và kẻ cướp không thể lấy được. Người trí tuệ nên làm điều tốt – đó là kho  tàng sẽ không rời bỏ ai.

               Kinh Tiểu Bộ

(A.              L. Basham)

 

  1. mục đích tu luyện, tôi nguyện không sát sinh.
  2. mục đích tu luyện, tôi nguyện không lấy vật gì không được cho.
  3. mục đích tu luyện, tôi nguyện không tà dâm.
  4. mục đích tu luyện, tôi nguyện không vọng ngữ.
  5. mục đích tu luyện, tôi nguyện không bị say sưa để tránh bất cẩn.

    Năm Giới này là chiếc xe hạnh phúc, chiếc xe vận tốt, chiếc xe đưa đến giải thoát. Vì thế, hãy để đức hạnh của chúng ta được thanh tịnh và chiếu sáng.

               (Luật tạng)

(Gil Fronsdal)

    Chừng nào những người theo đạo còn giữ những cuộc hội họp đều đặnthường xuyên, chừng ấy họ còn mong được thịnh vượng và không suy tàn. Chừng nào họ còn gặp nhau trong hòa hợp, chia tay nhau trong hòa hợp, và thực hiện việc làm của họ trong hòa hợp, chừng ấy họ còn có thể mong thịnh vượng và không suy tàn. Chừng nào họ còn không ủy quyền những điều chưa được ủy quyền, và không bãi bỏ những gì đã được ủy quyền, mà còn tiến hành theo những gì đã được ủy quyền bởi các luật lệ huấn luyện; chừng nào họ còn tôn vinh, kính trọng, kính ngưỡng và lễ bái những trưởng lão tồn sinh lâu đời được thọ phong, các bậc cha và các bậc lãnh đạo của tăng già; chừng nào họ không còn làm mồi cho các dục vọng phát sinh trong họ và đưa đến tái sinh; chừng nào họ còn giữ gìn tâm niệm cá nhân của họ, như vậy trong vị lai người tốt trong những người đồng hành của họ sẽ đến với họ, và những người đã đến sẽ cảm thấy thoải mái với họ; chừng nào những người theo đạo giữ bảy điều này và thấy họ làm như vậy, chừng ấy họ có thể mong được thịnh vượng và không suy tàn.

        Kinh Đại-bát Niết-bàn (Nam tạng)

(Maurice Walshe)

 

    “Bây giờ tôi tuyên bố điều này, sau khi quán xét trong các giáo pháp ấy không có gì như giáo pháp mà tôi ôm ấp. Khi thấy tình cảnh đau đớn nơi các quan điểm triết học, không theo bất cứ quan điểm nào trong các quan điểm đó, khi tìm kiếm chân lý tôi đã thấy “bình an bên trong.”

    “Không phải do bất cứ quan niệm triết học nào, không phải do truyền thống, không phải do kiến thức, không phải do đức hạnh và những việc làm thánh thiện mà bất cứ ai cũng có thể nói rằng thanh tịnh hiện hữu. Cũng không phải do sự thiếu vắng quan niệm triết học, do sự thiếu vắng truyền thống, do sự thiếu vắng kiến thức, do sự thiếu vắng đức hạnh cũng như những việc làm thánh thiện; khi đã buông bỏ những cái này mà không theo bất cứ cái nào khác, để người ta, an tĩnhđộc lập, không ham muốn bất cứ chỗ nghỉ ngơi nào.’

    “Người nào nghĩ mình bằng người khác, hay khác biệt, hay thấp, vì lý do đó mà tranh cãi; nhưng người nào không dao động trong ba tình trạng này, đối với người đó những quan niệm “bằng” và “khác biệt” không hiện hữu.

    “Đối với bậc Hiền Nhân những quan niệm ‘bằng’ và ‘không bằng’ không hiện hữu, ông ta sẽ nói, ‘Điều này đúng chăng?’ Hay ông ta sẽ tranh cãi với ai mà nói, ‘Điều này sai chăng?” Ông ta sẽ nhập cuộc tranh cãi với ai?

    “Một người thành tựu hành động không phải do một quan điểm triết học, hay do suy nghĩ trở thành kiêu căng, vì người ấy không thuộc loại đó; không phải do việc làm thánh thiện, cũng không phải do truyền thống dẫn dắt, người ấy không phải được dẫn dắt vào bất cứ nơi yên nghỉ nào của tâm.

    “Với một người không có quan điểm thì không có những sợi dây ràng buộc; với một người được hiểu biết giải thoát thì không có những điên rồ; nhưng những ai nắm giữ các quan điểmquan niệm triết học, họ lang thang trong thế gian làm phiền người ta.”

                       Tập Kinh

(V. Fausböll)

 

    Đừng lập ra những quan điểm thế gian bằng kiến thức, hành xử đạo đức, hay tuân thủ tôn giáo; mặt khác, hãy tránh nghĩ về mình là cao hơn, hay thấp hơn, hay bằng người khác.  

    Người trí buông xả “ngã” và không có những dính mắc, họ không tùy thuộc vào kiến thức. Họ cũng không tranh cãi về quan niệm hay ở trong bất cứ quan điểm nào.

    Với những người không có ước muốn nào đối với các cực đoan “hữu” hay “vô,” ở đây hay ở một cõi hữu nào khác, thì không ở trong các quan điểm do người khác chủ trương.

    Họ cũng không lập thành quan niệm, ít nhất về những quan điểm đã thấy, nghe, hay nghĩ ra. Làm sao người ta có thể gây ảnh hưởng đối với những người trí tuệ không nắm giữ bất cứ quan điểm nào?

                       Tập Kinh

(Gil Fronsdal)

 

    “Nghiệp quả không thể biết được bằng suy nghĩ, và vì vậy cũng không thể suy lý được. Suy nghĩ như thế, người ta sẽ đi đến phân tán và phiền não.

    “Vì thế, A-nan-đa, đừng phán xét người ta; đừng ức đoán về người khác. Người ta bị hủy diệt do chủ trương phán xét người khác.”

              

Kinh Tăng Chi Bộ

(F. L. Woodward và E. M. Hare)

 

    Đi khắp thế gian bằng ý nghĩ,

    Thấy không nơi nào có ai quí bằng ta.

    Vì mỗi người rất quí đối với chính mình

    Đừng để tự coi trọng mình làm hại người khác.

               Kinh Tương Ưng Bộ

(Gil Fronsdal)

 

    Vì thế, A-nan-đa, hãy là ngọn đèn soi cho chính mình, hãy là nơi nương náu cho chính mình. Chớ đem mình đến nương náu bất cứ nơi nào bên ngoài. Hãy giữ chặt Chân Lý làm đèn soi; hãy giữ chặt Chân Lý làm nơi nương náu. Chớ tìm nơi nương náu ở bất cứ ai khác ngoài chính mình. Và A-nan-đa, những người hoặc bây giờ hoặc sau khi tôi chết sẽ là đèn soi cho chính họ, sẽ không đem mình đến nương náu bất kỳ chỗ nào ở bên ngoài, nhưng giữ chặt Chân Lý làm đèn soi và giữ chặt Chân Lý làm nơi nương náu, sẽ không tìm chỗ nương náu nơi bất cứ ai ngoài chính họ – họ sẽ đạt đến đỉnh Cao Nhất. Nhưng họ phải lo học.

Kinh Đại-bát Niết-bàn (Nam tạng)

(T. W. Rhys-Davids)

 

    Rồi Phật nói với chúng tỳ kheo, hãy đi khắp thế gianphúc lợi của đa số, vì hạnh phúc của đa số, vì lân mẫn thế gian, vì an lạc, phúc lợi, và hạnh phúc của trời và người.

                       Luật Tạng

(Geoffrey Parrinder)

 

    Ba giới giống như tấm lưới, hay như bóng nước chập chờn trong sa mạc; như mộng, như huyễn hóa, bằng cách quán như vậy, người ta sẽ được giải thoát.

    Như bóng nước trong sa mạc vào mùa xuân, tâm thấy bối rối; thú vật tưởng là nước nhưng không có thực.

    Ở đây không có gì mà chỉ là ý nghĩ cấu thành, giống như hình ảnh trong hư không; khi hiểu tất cả như thế, thì không có gì để biết.

    Vĩnh cửu hay không vĩnh cửu; một, hai và không hai cũng vậy: đây chỉ là những điều do những người trong tâm vô minh nhầm lẫn phân biệt và bị những sai lầm từ thời vô thủy ràng buộc.

    Hình ảnh thấy trong gương, trong nước, trong con mắt, trong cái bình, và trên viên ngọc; nhưng ở đó không có thực tại nào để bám giữ.

                       Kinh Lăng Già

(D. T. Suzuki)

 

    Nên quán sát tất cả thế gian chóng vánh này:

    Như sao mai, như bọt nước;

    Như ánh chớp trong mây mùa hè,

    Như ngọn đèn leo lét,

    Như ảo ảnh, như giấc mộng.

               Kinh Kim Cương

(A.              F. Price)

  

     “Bồ-tát đến như không đến cũng không đi; Bồ-tát đến như không đi cũng không dừng lại, như không chết cũng không sinh, như không ở cũng không đi, như không khởi hành cũng không khởi dậy, như không hy vọng cũng không bị dính mắc, như không làm cũng không gặt quả, như không sinh cũng không diệt, như không thường hằng cũng không tử vong.

    “Và Bồ-tát còn đến theo cách này: ngài đến nơi nào có từ ái bao trùm tất cả, bởi vì ngài muốn làm cho tất cả chúng sinh đi theo chính đạo; ngài đến nơi nào có tâm đại bi, bởi vì ngài muốn bảo vệ tất cả chúng sinh khỏi đau khổ; ngài đến nơi nào có những hành vi đạo đức, bởi vì ngài muốn sinh ở bất cứ nơi nào mình có thể thích nghi; Bồ-tát đến bất cứ nơi nào có đại thệ nguyện để thực hiện bởi vì năng lực của các bản nguyện; ngài đến từ năng lực thần thông bởi vì ngài đến sau khi tự hiện thân khiến mọi người thấy và hoan hỉ; ngài đến nơi nào không có sự dụng công bởi vì ngài không bao giờ rời xa bước đi của tất cả chư Phật; ngài đến nơi nào không có cho cũng không có nhận bởi vì trong các động tác của tâm hay thân của ngài không có dấu vết dụng công; ngài đến từ các phương tiện thiện xảo của tri kiến siêu việt sinh ra bởi vì bao giờ ngài cũng thích nghi với tâm tánh của tất cả chúng sinh; ngài đến nơi nào các hóa thân thị hiện bởi vì tất cả những cái ấy tựa như ảnh phản chiếu, như hóa thân.

               Kinh Hoa Nghiêm

(D.            T. Suzuki)

              

     “Này Tu-bồ-đề, người nào bắt đầu đi chiếc xe của Bồ-tát nên phát sinh ý nghĩ theo cách này: ‘Nhiều như số chúng sinh có trong đại thiên thế giới chúng sinh, hiểu chữ chúng sinh – hoặc sinh bằng trứng, hoặc sinh bằng thai, hoặc sinh nơi ẩm ướt, hoặc sinh bằng cách biến hóa; có hay không có sắc, có thọ, không có thọ, hay không có thọ cũng không phải không có thọ – cho đến bất cứ đại thiên thế giới chúng sinh bất khả tư nghị nào nghĩ đến: tôi nên dẫn dắt tất cả những chúng sinh này đến Niết-bàn, vào Cõi Niết-bàn mà không bỏ gì lại phía sau. Và nữa, dù vô số chúng sinh đã được dẫn dắt đến Niết-bàn như thế, không một chúng sinh nào được dẫn dắt đến Niết-bàn.’ Vì sao? Nếu nơi một Bồ-tát xảy ra nhận thức có ‘chúng sinh,’ Người ấy không thể gọi là ‘Bồ-tát.’ Vì sao? Người ấy không được gọi là Bồ-tát vì nơi người ấy xảy ra nhận thức có ngã hay có chúng sinh, hay nhận thứcthọ mạng hay có người.”

               Kinh Kim Cương

(Edward Conze)

              

    Xá-lợi-phất (Sariputra): “Thế nào là ba-la-mật bố thí của thế giansiêu thế gian?”

    Tu-bồ-đề (Subhuti): “Ba-la-mật bố thí của thế gian gồm trong: Bồ-tát bố thí một cách tự do cho tất cả những ai hỏi, tất cả thời gian suy nghĩ theo cách sự vật có thật. Sự việc xảy ra với Bồ-tát như vầy: ‘Tôi bố thí, người đó nhận, đây là vật bố thí. Tôi từ bỏ tất cả những sở hữu của tôi không bủn xỉn. Tôi hành động như người biết Phật. Tôi thực hành ba-la-mật bố thí. Tôi, biến món quà này thành tài sản chung của tất cả chúng sinh, cúng dường cho giác ngộ vô thượng, và không nhận lấy bất cứ điều gì. Bằng phương tiện bố thí này và kết quả của nó, nguyện tất cả chúng sinh trong đời này được thuận lợi, và nguyện họ một ngày nào đó nhập Niết-bàn!’ Người ấy bố thí một vật bị ba mối ràng buộc. Ba mối nào? Nhận thức có ngã, nhận thức có người khác, nhận thức có vật bố thí.

   “Mặt khác, ba-la-mật bố thí siêu thế gian gồm trong ba thanh tịnh. Gì là ba thanh tịnh? Ở đây một Bồ-tát bố thí một vật, và Bồ-tát ấy không nhận biết có ta, không nhận biết có người nhận, không nhận biết có vật bố thí; cũng không nhận biếtbáo đáp của sự bố thí. Bồ-tát ấy hiến vật bố thí ấy cho tất cả chúng sinh, nhưng ngài không nhận biếtchúng sinh hay có ta. Ngài cúng dường phẩm vật ấy cho giác ngộ vô thượng, nhưng ngài không nhận biết có sự giác ngộ nào. Đây gọi là ba-la-mật bố thí siêu thế gian.”

        Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa

(Edward Conze)   

                   

    Những ai sợ buồn phiền phát sinh từ vòng sinh tử cầu tìm Niết-bàn; họ không nhận ra rằng giữa sinh tử và Niết-bàn thực sự không có gì khác biệt. Họ thấy Niết-bàn như là sự vắng mặt của tất cả sự hữu, và sự diệt của tất cả tiếp xúc giác quan và đối tượng của các giác thức, họ sẽ không hiểu rằng nó thực sự chỉ là nhận thức bên trong kho chứa các cảm nhận. Từ đó họ dạy Ba Thừa, nhưng chẳng phải giáo pháp nói rằng thực sự không có gì hiện hữu ngoại trừ tâm, trong đó chẳng có hình ảnh nào cả. Vì thế, họ không biết mức độ của những gì đã được tâm của chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai nhận thức, và tiếp tục tin chắc rằng thế gian vượt qua bên kia tầm mắt tâm. Và như thế họ tiếp tục lăn bánh xe

sinh tử.

Kinh Lăng Già

(A.              L. Basham)

   

 “Thưa Thế Tôn! Tựa như một người đến nhà một người bạn thân, uống say, và ngủ gật. Trong khi bạn của người ấy, phải đi làm nhiệm vụ chức trách, buộc một viên ngọc vô giá vào áo của bạn làm quà tặng, và ra đi. Người ấy, đang say và buồn ngủ, không biết gì về việc đó. Khi tỉnh dậy, người ấy ra đi cho đến khi đến một xứ khác, ở đó vì cơm áo người ấy ra sức lao động và cố gắng nhiều, chịu đựng khó nhọc quá mức, và bằng lòng dù cho chỉ kiếm được chút ít. Sau đó, bạn của người ấy bỗng dưng gặp lại bạn mình và nói như vầy: “Chà, ông ơi, làm sao vì cơm áo mà ông đến nỗi này? Ước mong ông được thoải máithỏa mãn cả năm giác quan của ông, trước kia vào năm ấy tháng ấy ngày ấy tôi đã buộc một viên ngọc vô giá vào bên trong áo của ông. Bây giờ cũng như xưa nó vẫn còn đó và vì không biết mà ông đang làm nô lệlo lắng để sống còn. Ôi ngu làm sao! Bây giờ ông hãy đi đổi viên ngọc để lấy những gì ông cần và làm những gì ông sẽ làm, thoát khỏi tất cả cảnh nghèo và thiếu thốn.’ ”   

               Kinh Pháp Hoa

(Bunno Kato và W. E. Soothill)

              

     Ở tại Savatti. Lúc ấy Tôn giả Suradha tiến đến gần đức Phật… và nói:

     “Thưa Thế Tôn, một người nên biết như thế nào, nên thấy như thế nào, về thân này với ý thức và về tất cả những ngoại tướng, để tâm được loại bỏ sự tạo ra ta, tạo ra cái của ta, và ngã mạn, siêu việt phân biệt, đạt tịch tĩnh và khéo giải thoát?”

     “Bất cứ loại sắc nào, Suradha, hoặc quá khứ, vị lai hay hiện tại… xa hay gần – thấy tất cả sắc như thực với tuệ trí đúng như vầy: “Đây không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tôi, người ấy được giải thoát bằng cách không chấp trước.”

     “Bất cứ loại thọ [cảm xúc] nào… Bất cứ loại tưởng [nhận thức] nào…Bất cứ loại hành [ấn tượng] nào… Bất cứ loại [ý] thức nào, hoặc quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, thấy tất cả ý thức như thực với tuệ trí đúng như vầy: “Đây không phải của tôi, tôi không phải là cái này, đây không phải là tôi, người ấy được giải thoát do không chấp trước.”

     “Khi một người biết và thấy như vậy, Suradha, thì về thân này với ý thức và về tất cả những ngoại tướng, tâm được loại bỏ sự tạo ra ta, tạo ra cái của ta, và kiêu mạn, siêu việt phân biệt, đạt tịch tĩnh, và khéo giải thoát.”

     Lúc ấy, Tôn giả Suradha… trở thành một trong các vị A-la-hán.

Kinh Tương Ưng Bộ

(Bhikkhu Bodhi)

     Một hôm, bà-la-môn Janussoni đến gặp Phật và nói với Phật như vầy:

     “Người ta nói, Thầy Gô-ta-ma, ‘Niết-bàn có thể thấy được một cách trực tiếp.’ Bằng cách nào, Thầy Gô-ta-ma, Niết-bàn có thể thấy được một cách trực tiếp, tức thời, mời thỉnh người ta đến xem, đáng được áp dụng, để những bậc trí giả tự thân kinh nghiệm?”

     “Này bà-la-môn, khi một người ham mê nhục dục… suy đồi vì oán ghét…lạc đường trong mê hoặc, bị vùi lấp và đắm chìm trong mê hoặc, rồi người ấy lập kế làm hại mình, làm hại kẻ khác, làm hại cả hai, rồi người ấy trải nghiệm sự đau khổbuồn rầu trong tâm mình. Nhưng khi đã buông bỏ tham dục, oán ghét và mê hoặc, người ấy không lập kế làm hại mình, hại người khác, hay làm hại cả hai; và người ấy không trải nghiệm sự đau khổbuồn rầu trong tâm. Bằng cách này, này bà-la-môn, Niết-bàn có thể thấy được một cách trực tiếp, tức thờithỉnh mời người ta đến xem, đáng được áp dụng, để những bậc trí giả tự thân kinh nghiệm. Vì người ấy đã diệt hoàn toàn tham dục, oán ghét và mê hoặc, bằng cách này, này bà-la-môn, Niết-bàn có thể thấy được một cách trực tiếp, tức thờithỉnh mời người ta đến xem, đáng được áp dụng, để những bậc trí giả tự thân kinh nghiệm.

Kinh Tăng Chi Bộ

(Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi)

    

     Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang ở tại Savatthi, trong Rừng Kỳ-đà (Jeta), tịnh xá của ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Ở đó Thế Tôn nói vơi chúng tỳ kheo như vầy: “Này các tỳ kheo!”

     “Dạ, Thế Thôn!” các tỳ kheo đáp. Thế Tôn nói:

     “Không một sắc tướng nào khác tôi biết, Ô các tỳ kheo, không ngừng ám ảnh như thế tâm của một người đàn ông như sắc tướng của một người đàn bà. Sắc tướng của một người đàn bà không ngừng ám ảnh tâm của một người đàn ông.

     “Không một âm thanh nào khác tôi biết không ngừng ám ảnh như thế tâm của một người đàn ông như âm thanh của một người đàn bà… Không một mùi hương nào khác tôi biết… Không một vị nào khác tôi biết… Không một xúc chạm nào khác, tôi biết, không ngừng ám ảnh như thế tâm của một người đàn ông như sự xúc chạm của một người đàn bà. Xúc chạm của một người đàn bà không ngừng ám ảnh tâm của một người đàn ông.

          “Không một sắc tướng nào khác tôi biết, Ô các tỳ kheo, không ngừng ám ảnh như thế tâm của một người đàn bà như sắc tướng của một người đàn ông. Sắc tướng của một người đàn ông không ngừng ám ảnh tâm của một người đàn bà.

     “Không một âm thanh nào khác tôi biết không ngừng ám ảnh như thế tâm của một người đàn bà như âm thanh của một người đàn ông… Không một mùi hương nào khác tôi biết… Không một vị nào khác tôi biết… Không một xúc chạm nào khác tôi biết không ngừng ám ảnh như thế tâm của một người đàn bà như sự xúc chạm của một người đàn ông. Xúc chạm của một người đàn ông không ngừng ám ảnh tâm của một người đàn bà.”

Kinh Tăng Chi Bộ

(Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi)

 

     Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang ở lại gần Savatthi trong Rừng Kỳ-đà (Jeta) nơi tịnh xá của ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Trong dịp ấy, vào một đêm trời rất tối, Thế Tôn đang ngồi trong bầu không khí trống thoáng và những ngọn đèn dầu đang cháy. Bấy giờ, vào lúc ấy nhiều côn trùng đến với sự bất hạnh và bị tiêu hoại vì rơi vào những ngọn đèn dầu ấy. Thế Tôn nhìn thấy những con côn trùng ấy đến với sự bất hạnh và bị hoại diệt vì rơi vào những ngọn đèn dầu ấy.

 

     Rồi, khi nhận ra ý nghĩa của nó, lúc ấy Thế Tôn thốt ra lời cảm hứng này:

 

     Vội vã tiến xa nhất và lạc mất thể tánh,

     Họ tạo ra ràng buộc mới.

     Giống như những côn trùng rơi vào lửa đang cháy,

     Một số chỉ chủ ý những gì thấy và nghe.

Kinh Phật Tự Thuyết

(John D. Ireland)

 

     Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang ở lại gần Savatthi trong Rừng Kỳ-đà (Jeta) tại tịnh xá của ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Vào dịp đó, Tôn giả Xá-lợi-phất (Sariputta) đang ngồi xếp chéo chân cách không xa đức Thế Tôn, giữ thân thẳng đứng, bắt đầu quán niệm trước ngài.

     Thế Tôn thấy Tôn giả Xá-lợ-phất ngồi xếp chéo chân cách không xa, đang giữ thân thẳng đứng, bắt đầu quán niệm trước mình.

     Lúc ấy, nhận ra ý nghĩa của nó, nhân đó đức Thế Tôn thốt ra lời cảm hứng này:

 

     Như ngọn núi đá rắn chắc

     Đứng vững vàng và không thể lung lay,

     Cũng như vậy, khi mê hoặc diệt,

     Một Tỳ-kheo, như ngọn núi, không lo âu.

Kinh Phật Tự Thuyết

(John D. Ireland)

 

     Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn đang ở lại gần Savatthi trong Rừng Kỳ-đà (Jeta) tại tịnh xá của ông Cấp Cô Độc (Anathapindika). Vào dịp đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên (Mahamoggallana) đang ngồi xếp chéo chân cách không xa đức Thế Tôn, giữ thân thẳng đứng, quán niệm về thân khéo thiết lập bên trong.

     Thế Tôn thấy Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ngồi xếp chéo chân cách không xa, đang giữ thân thẳng đứng, bắt đầu quán niệm về thân khéo thiết lập bên trong.

     Lúc ấy, nhận ra ý nghĩa của nó, nhân đó đức Thế Tôn thốt ra lời cảm hứng này:

 

     Với niệm về thân đã thành,

     Kiểm soát sáu căn tiếp xúc,

     Một Tỳ-kheo luôn luôn tập trung

     Có thể biết được Niết-bàn cho mình.

Kinh Phật Tự Thuyết

(John D. Ireland)

 

     Có thể là, Ô các tỳ kheo, những nhà tu khổ hạnh du phương của một niềm tin khác hỏi các ông: “Tất cả mọi điều có gốc rễ từ đâu? Chúng đến với cuộc tồn sinh thực tế bằng cách nào? Chúng phát sinh ở đâu? Chúng hội tụ ở đâu? Trong tất cả mọi điều, điều gì là trước nhất? Vật gì là chủ tể? Điều gì là quan trọng nhất trong tất cả mọi điều? Điều gì là tinh yếu của tất cả mọi điều? Tất cả mọi điều hòa nhập vào đâu? Chúng chấm dứt ở đâu?”

     Nếu có ai hỏi các ông như thế, này các tỳ kheo, các ông nên đáp như sau: “Tất cả đều có gốc rễ nơi tham dục. Chúng đến với cuộc tồn sinh thực tế qua sự chú ý, phát sinh từ sự tiếp xúc, và hội tụ ở thọ cảm. Điều quan trọng nhất trong tất cả mọi điều là tập trung. Quán niệm làm chủ tất cả. Đỉnh cao là trí tuệ, tinh yếu là giải thoát. Tất cả hòa nhập nơi Bất tử, và Niết-bàn là tột đỉnh của tất cả.”

Kinh Tăng Chi Bộ

(Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi)

 

     Hỡi người cầu tìm!

     Hãy làm trống con thuyền,

     Hãy xả đi lố nặng,

     Mê, tham, và sân.

     Và dong buồm đi nhanh.

 

     Hỡi người cầu tìm!

     Chớ phóng dật.

     Hãy thiền định liên tục.

     Hoặc sẽ phải nuốt lửa

     Và kêu lên: “Thôi! Thôi!”   

  

  Kinh Pháp Cú

(Thomas Byrom)

 

     Tốt hơn ngàn lời rỗng

     là một lời mang đến bình an.

 

     Tốt hơn ngàn câu kệ rỗng

     là một câu kệ mang đến bình an.

 

     Tốt hơn trăm câu rỗng

     là một câu pháp mang đến bình an.

 

     Thắng được chính mình

     tốt hơn thắng ngàn trận.

     Rồi chiến thắng là của ngươi.

   Kinh Pháp Cú

        (Thomas Byrom)

    

     Này các tỳ kheo, khi một bậc thượng nhân sinh vào một gia đình, thượng nhân ấy sinh ra cho điều tốt, an lạchạnh phúc của nhiều người. Không phải cho điều tốt, an lạchạnh phúc của cha mẹ mình, của vợ con mình, của nô lệ, người làm, người giúp việc mình, của bạn bè và đồng nghiệp mình, của tổ tiên, vua chúa, của các thần, của những nhà tu khổ hạnh và bà-la-môn của mình.

     Giống như đám mây mưa lớn, mang sự phát triển đến cho tất cả hoa màu, sinh ra cho điều tốt, an lạc và và hạnh phúc của nhiều

người, như vậy là khi một bậc thượng nhân sinh vào một gia đình.

 

Kinh Tăng Chi Bộ

(Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi)

 

     Bấy giờ Maha-Pajapati, một Gotamid, đến trước Thế Tôn, kính lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên… và nói:

     “Thưa Thế Tôn, vì con, nếu Thế Tôn ban cho con một lời dạy, từ môi của Ngài thì con có thể ở một mình, cô tịch, hăng hái, nhiệt tình và quyết tâm.”  

     (Phật nói:)

     ‘Bất cứ lời dạy nào, này Gotamid, ông có thể tự chắc chắn với mình như vầy: “Những giáo pháp này đưa đến đau khổ, không đưa đến không đau khổ: đưa đến ràng buộc, không đưa đến không ràng buộc: đưa đến sự gia tăng những cái được (của thế gian), không đưa đến sự không gia tăng những cái được (của thế gian): đưa đến ham muốn, không đưa đến không ham muốn: đưa đến không bằng lòng, không đưa đến bằng lòng: đưa đến bè nhóm, không đưa đến cô tịch: đưa đến lười biếng, không đưa đến nghị lực: đưa đến hoan hỉ trong cái xấu, không đưa đến hoan hỉ trong cái tốt”: những lời dạy như thế, này Gotami, ông có thể khẳng định chắc chắn rằng, “Đây không phải là Pháp. Đây không phải là Giới luật. Đây không phải là Ý chỉ của Đạo sư.”

Luật tạng

(E. L. Woodward)

 

Thư Mục

 

In the Buddha’s Words, An Anthology of Discourses from the Pali Canon edited and introduced by Bhikkhu Bodhi, Wisdom Publications, USA 2005.

Dhammapada, The Sayings of the Buddha translated from Pali by Thomas Byrom, Shambhala Publictions Inc.,USA 1976.

Numerical Discourses of the Buddha, An Anthology of Suttas from the Aguttara Nikāya translated from Pali by Bhikkhu Nyanaponika Thera and Bhikkhu Bodhi, Buddhist Publication Society, Sri Lanka, 1999.

The Brahmajāla Sutta and its Commentries translated from Pali by Bhikkhu Bodhi, Buddhist Publication Society, Sri Lanka, 1992.

The Dhammapada edited by Anne Bancroft, Element Books Limited, USA 1997.

The Dhammapada and the Sutta Nipata translated from Pali by Max Muller and Viggo Fausboll, Eremitical Press 2011.

The Dhammapada, Teachings of the Buddha translated from Pali by Gil Fronsdal, Shambhala Publications Inc., USA 2005.

The Connected Discourses of the Buddha (Sayutta Nikāya) translated from Pali by Bhikkhu Bodhi, Wisdom Publications, USA 2000.

The Long Discourses of the Buddha (Dīgha Nikāya) translated from Pali by Maurice Walshe, Wisdom Publictions, USA 1995.

The Middle Length Discourses of the Buddha (Majjhima Nikāya) translated from Pali by Bhikkhu Ñāṇamoli and Bhikkhu Bodhi, Wisdom Publications, USA, 1995.

The Numerical Discourses of the Buddha (Aguttara Nikāya) translated from Pali by Bhikkhu Bodhi, Wisdom Publications, USA 2012.

The Udāna and the Itivuttaka, Two Classics from the Pali Canon translated from Pali by John D. Ireland, Buddhist Publication Society, Sri Lanka 1997.

The Path of Purification (Visuddhimagga) by Bhandantācariya Buddhaghosa, translated from Pali by Bhikkhu Ñāṇamoli, Buddhist Publication Society, Sri Lanka, 1999.

Buddhism in Translations translated from Pali by Henry Clark Warren, Havard University Press, USA 1976.

Sayings of the Buddha translated from Pali Nikāyas by Rupert Gethin, Oxford University Press, USA 2008.

Some Sayings of the Buddha translated from Pali by F. L. Woodward, Oxford University Press, USA 1973.

Teachings of the Buddha edited by Jack Kornfield, Shambhala Publictions Inc., USA 1993.

The Debate of King Milinda (an Abridgement of The Milinda Pañha) edited by Bhikkhu Pesala, Motilal Banarsidass, Delhi, India1998.

The Pocket Buddha Reader edited by Anne Bancroft, Shambhala Publictions Inc., USA 2001.

Great Disciles of the Buddha, Their Lives, Their Works, Their Legacy by Nyanaponika Thera & Hellmuth Hecker, Wisdom Publications, USA, 2003.

Buddha Nature Sutras, Translation of Nirvana Sutra, the Srimaladevi Sutra and the Infinte Life Sutra translated by Kosho Yammoto, and by Tsultrim Gyurme, copyright of Dr. Tony Page, and of Paul Reid, USA 2014.

The Diamond Sutra, Text and Commentaries translated from Sansrit and Chinese by Red Pine, Counterpoint, USA 2001.

The Flower Ornament Scripture, A Translation of The Avatamsaka Sutra translated from Chinese by Thomas Cleary, Shambhala Publications Inc., USA 1993.

The Lankavatara Sutra translated from Sanskrit by Daisetz Teitaro Suzuki, Routledge & Kegan Paul Limited, London UK 1968.

The Lankavatara Sutra translated from Chinese by Red Pine, Counterpoint, USA 2012.

The Large Sutra of Perfect Wisdom translated from Sanskrit by Edward Conze, University of California Press, USA 1975.

The Perfection of Wisdom in Eight Thousand Lines & Its Verse Summary translated from Sanskrit by Edward Conze, Four Seasons Foundation, USA 1995.

The Threefold Lotus Sutra translated from Chinese by Bunnō Katō, revised by W. E. Soothill, Kosei Publishing Co., Tokyo Japan 1990.

The Śūragama Sūtra (Leng Yen Ching) translated from Chinese by Charles Luk, Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd., India 2003.

The Shurangama Sutra translated from Chinese and published by the Buddhist Text Translation Society, USA 2003.

The Holy Teaching of Vimalakīrti translated from Tibetan version by Robert A. F. Thurman, The Pennsylvania State University Press, USA 1998.

The Vimalakirti Nirdesa Sutra translated from Chinese by Charles Luk, Shambhala Publictions Inc., USA 1972.

Chư Tập KinhYếu Đoàn Trung Còn dịch, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội VN 2004.

Kinh Lăng Già Tâm Ấn Thích Thanh Từ dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, Hoa Kỳ 1987.

Kinh Lăng Nghiêm Trí ĐộTuệ Quang dịch, Viện Phật Học Huyền Cơ, Sài Gòn VN 1965.

Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Thích Trí Tịnh dịch, Viện Phật Học Quốc Tế xuất bản, USA 1989.

Kinh Pháp Hoa Thích Trí Tịnh dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, USA 1997.   


pdf_download_2
Đôi Lời Phật Dạy PDF




Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 166026)
30/06/2015(Xem: 11088)
08/02/2015(Xem: 20396)
10/10/2010(Xem: 98859)
10/08/2010(Xem: 102595)
08/08/2010(Xem: 106451)
21/03/2015(Xem: 10558)
27/10/2012(Xem: 55529)
Cứ mỗi mùa Phật Đản về, là hoa đăng trên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè lung linh sắc màu huyền ảo..
Đức Đạt Lai Lạt Ma hội thoại với dân Việt Nam tại Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng cũng như một nhóm người Việt tại nơi cư trú của ngài ở thị trấn Dharamsala, Ấn Độ
Hôm nay đã là 07 tháng 04 âm lịch. Đại lễ Phật đản thường được tổ chức 2 ngày khác nhau, hoặc là mồng 8 tháng 4 hoặc là rằm tháng 4, tùy theo môn phái và địa phương. Vậy nên từ lâu, mùa Phật đản được hiểu là từ mồng tám đến rằm tháng tư âm lịch. Tháng 4 âm lịch này, không ít người ăn chay cả tháng. Nhiều người ăn chay trọn tuần lễ Phật đản từ mồng 8 đến rằm. Tháng này là mùa ăn chay. Hạnh phúc thay.