Phật Giáo, Vật lý Lượng Tử và Tâm

30/07/201610:37 SA(Xem: 2714)
Phật Giáo, Vật lý Lượng Tử và Tâm

ĐẠI CƯƠNG
TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
Thích Nữ Tịnh Quang biên soạn & tuyển dịch
Buddhist Nun Association in California Publishes 2016

5. CĂN BẢN KHOA HỌC, LUẬN LÝ HỌC,
TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

 

Phật Giáo, Vật lý Lượng Tử và Tâm

Jon Cartwright Thích Nữ Tịnh Quang chuyển ngữ

 

Sự hội ngộ của Vật lý với Triết học Phật giáo

 

Một trong những khía cạnh thú vị của vật lý lượng tử từ quan điểm của Phật giáo là hạt, trong vật lý cổ điển đã cho là những mảnh nhỏ của vật chất, hiện nay đang được coi như là tiến trình bao hàm sự phát triển liên tục và thay đổi hàm số sóng. Quá trình này chỉ cung cấp sự xuất hiện của các hạt rời rạc và định vị ở khoảnh khắc chúng đang được quan sát.

Vì vậy, các hạt luôn luôn thay đổi và không có bất kỳ sự tồn tại cố hữu độc lập của các hành động quan sát. Cho nên, tất cả mọi thứ gồm trong các hạt cũng là vô thườngliên tục thay đổi, và không có cơ sở tĩnh hoặc cố định cho sự tồn tại của nó có thể được tìm thấy.

 Do đó, ở một mức độ rất tổng quát, quan điểm khoa học về thế giới đã gặp gỡ với quan điểm Phật giáo. Phật giáo là một "triết học vận hành" đang nắm giữ nền tảng cơ bản về sự thực đó là sự thay đổi, tiến trình, và vô thường. Trở thành là cơ bản hơn tồn sinh, và sự tồn tại thực sự chỉ là vô thường trong chuyển động chậm.

Quan điểm ngược lại là thuyết Thực thể cho rằng những thực thể hằng chuyển hoặc các chất làm cơ sở cho các hiện tượng. Trong quá trình chuyển biến từ cổ điển đến vật lý hiện đại, lý thuyết nguyên tử đã thay đổi từ hiện trạng thuyết thực thể trong thỏa thuận với quan điểm hằng chuyển của Phật giáo về thực tại.

Hơn nữa, khi chúng ta nhìn vào sự tương tác của sóng-hạt với người quan sát, chúng ta còn tìm thấy sự tương ứng thú vị giữa triết học Phật giáovật lý lượng tử như trình bày dưới đây:

Quan sát viên là một phần của hệ thống

Những tương tác kỳ lạ của các hạt cơ bản với tâm của người quan sát ('quantum weirdness - siêu lượng tử’) vốn đã tương tác đến triết học. Có hai quan điểm đối lập: (i) Siêu lượng tử sản xuất tâm, với (ii) tâm sản xuất siêu lượng tử.

(i) Siêu lượng tử sản xuất tâm

Những nhà duy vật đã gợi ý rằng siêu lượng tử cung cấp một phương tiện để lấp khoảng cách giải thích (được gọi là ‘The Hard Problem ') giữa các chức năng thần kinh như người máy não bộ, và các cảm giác chủ thể của tâm như kinh nghiệm định tính và 'ý thức'.

Các nhà Duy vật cho rằng hiệu ứng lượng tử cung cấp một phương hướng tạo ra hoạt động tinh thần phi cơ học từ một căn bản vật chất thuần túy. Những gợi ý này đã gặp một số phản đối, và dường như không có khả năng giải thích để lấp đầy khoảng trống. (xem The Penrose-Hameroff Conjecture).

(ii) Tâm sản xuất siêu lượng tử

Ngược lại, các nhà triết học Phật giáo khẳng định tâm là một khía cạnh cơ bản của thực tại, đó là ‘tiên đề’, với ý nghĩa không cắt xén về căn bản vật chất, chẳng hạn như đối với các hoạt động vật lý trong não bộ.

Classical prediction vs. quantum observation

 

Những nhà Phật học coi tâm như là tác động chính của thực thể, như không -thời gian trong đó chúng ta sống và tác động, và có tình trạng của chúng ta. Tâm ‘tiên đề’ này không thể giảm bớt các sự kiện khác. Đó là bao hàm và là nền tảng trong tất cả các hiện hữu và trong tất cả sự hiểu biết.

Tâm nhận thức, rõ ràng, và đối với Phật tử là nền tảng trong tất cả sự giải thích, và là một trong ba căn bản chủa chức năng hiện tượng (hai cái khác là quan hệ nhân quả và cấu trúc).

Thế thì Siêu lượng tử từ đâu đến?

Đối với những nhà Phật học, những siêu vật thể ở quy mô nhỏ nhất của vật lý là kết quả của nhận thức của chúng ta thuôc về sự bao hàm của tâm trong sự phát triển thực thể - đó là ‘chủ thể quan sát là một phần của hệ thống’.

Sự tham gia của tinh thần này thực sự cũng biểu hiện về sự kiểm chứng cẩn thậnphạm vi hàng ngày của chúng ta về thực tại, nhưng chúng ta không nghĩ về nó, trừ khi nó được chỉ ra một cách cẩn thận, như câu chuyện xe ngựa của vua Milinda.

Tuy nhiên, khi chúng ta nhìn vào những nền tảng của thực tại, sự tham gia của tâm quan sát trở nên rõ ràng vô cùng. Hành động quan sát biến tiềm năng thành thực thể.

Quan sát giải quyết các câu hỏi về những gì là ‘hạt’  thực sự "là" xuyên qua một sự kết hợp của tiềm lực vốn có của hạt và cách thức mà nó được quan sát. Đối với một cuộc thảo luận về các chi tiết thí nghiệm về sự tương tác tâm/vật mới nhìn thấy lượng tử Phật giáo.                                                                                                                

Vậy vật thể Lượng tử phù hợp với Triết học Phật giáo như thế nào?

Hai khía cạnh của triết học Phật giáoliên quan đến các quan sát ở cấp độ lượng tử là Tứ pháp ấn và Ba đặc tính phụ thuộc của hiện sinh. Những giáo lý này được thành lập nhiều thế kỷ trước  trước khi vật lý hiện đại đã tiến hóa, và đã được bắt nguồn từ phân tích triết họcthiền định quy mô quan trọng của thế giới. Tuy nhiên sự mô tả của chúng về thực tại lượng tử là khá chính xác, như chúng dự báo rằng:

(1) Các hạt không mãi tồn tại. Không hạt là ‘một bản chất trong chính nó' với một đặc tố riêng biệt. Một hạt vốn đã tồn tại sẽ không thể phá hủy, đơn nhất và bất khả phân.

(2) Các hạt không nằm ngoài nhân.

(3) Các hạt đều có những phần, vị , chúng không thể tồn tại như những điểm bất khả phân.

(4) Các hạt không phải là "thường trú" trong ý nghĩa có một sự không thay đổi, bất biến.

(5) Các hạt tồn tại bởi sự tương tác với cái tâm của một người quan sát.

…và những gì chúng ta thực sự thấy là...

(1) Các hạt không thể hoạt động như một thực thể độc lập. Chúng chỉ có thể tương tác với những phần của vũ trụ bằng cách biến đổi một vài điều về chính nó - ví dụ gluons hay photons. Sở hữu của chúng chỉ có thể được biết đến bởi những xúc tác của chúng với các hạt khác, và do đó không thể hoàn toàn tự thành lập.

(2) Các hạt trở thành sự tồn tại của sự kiện đầy năng lượng. Mẹ của tất cả các biến cố năng lượng là Big Bang, trong đó hầu hết các hạt hiện hữu kết thành sự tồn tại. Nhưng kết quả năng lượng tự nhiên như tia vũ trụ và sự phân rã beta tiếp tục sản xuất các hạt, và các sự kiện năng lượng nhân tạo trong máy gia tốc hạt biến chế tạo ra các hạt kế tiếp bởi hadronization và sự sáng tạo của các cặp hạt-phản hạt.

(3) Các hạt nhỏ nhất (quark và lepton) không có những bộ phận bởi vì chúng có thể chất bất khả phân, nhưng theo trường phái Trung Đạo, chúng có phần hướng và vì thế là bị phân chia bên trong. Nếu ngay cả những hình sắc nhỏ nhất có các bộ phận, nó tụ thành tất cả các hình thức lớn kết hợp lại thành những phần đặc trưng.(- Ocean of Nectar p 164)

Nhưng theo triết lý Phật giáo, hạt không có các phần tập hợp thì không tồn tại, làm thế nào chúng ta có thể thoát được sự thoái hóa vô hạn của sự xây dựng các khối nhỏ thậm chí khối hình thành nhỏ nhất, tất cả các con đường cứ như thế tiếp diễn?

This infinite regress...


...doesn't happen with the building blocks of matter

 

Độ phân giải của mâu thuẫn hiển nhiên này đến với những khám phá về vật lý lượng tử trong những năm đầu thế kỷ XX. Khi các nhà vật lý đã đến giai đoạn nhận ra vật thể siêu nhỏ nghĩa là không còn có thể, họ đã thực sự tìm thấy các hạt bằng số cực giản. Tuy nhiên những hạt này không còn rời rạc với ‘vật’ nhưng bị nhòe ra thành vô số các xác suất xoắn với ‘thành phần’- một sự liên tục của các xác suất phân bố theo một hàm sóng với không gian 'phần hướng'. Và  thậm chí chúng có thể được ở trong nơi cùng một lúc.

(4) Tất cả các hạt hiển thị 'vô thường tinh tế' – chúng không duy trì tình trạng chính xác từ một khoảnh khắc kế tiếp. Trong hạt nhân, những protons và neutronsc liên tục biến đổi các meson để giữ chúng với nhau. Ở lớp ngoài của nguyên tử các electrons là không bao giờ ở một vị trí đơn độc trong quỹ đạo của chúng, nhưng sự rung động giống như một làn sóng đứng trên một sợi dây.

(5) Hành động quan sát biến tiềm năng thành thực tế, giải quyết những câu hỏi về những gì là hạt thực sự "là" xuyên qua một sự kết hợp của tiềm lực vốn có của hạt và phương thức mà nó được quan sát.

Các phương trình toán học của vật lý lượng tử không mô tả sự tồn tại thực tế - chúng dự báo tiềm năng tồn tại. Nghiên cứu các phương trình của cơ học lượng tử đối với một hệ thống bao gồm các hạt cơ bản tạo ra một loạt các vị trí tiềm năng, giá trị và các thuộc tính của các hạt phát triển và thay đổi theo thời gian. Nhưng đối với bất kỳ hệ thống nào chỉ là một trong những trạng thái tiềm năng có thể trở thành thực thể, và - đây là sự phát hiện mang tính cách mạng của vật lý lượng tử - thúc đẩy những dạng tiềm năng nhằm giả định một giá trị là hành động quan sát.

Vật chấtnăng lượng không ở trong bản thân hiện tượng, và không trở thành hiện tượng cho đến khi chúng được quan sát. Đối với một cuộc thảo luận về các chi tiết thí nghiệm mới nhận ra được Phật giáo lượng tử.






Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 168444)
01/04/2012(Xem: 16009)
08/02/2015(Xem: 24762)
10/10/2010(Xem: 99416)
10/08/2010(Xem: 103158)
08/08/2010(Xem: 107383)
21/03/2015(Xem: 11253)
27/10/2012(Xem: 56157)
Kim Sơn Bảo Thắng Tự tọa lạc gần đỉnh Fansipan, được xây dựng từ cuối năm 2015 và chính thức hoàn thiện, khánh thành sau hai năm triển khai thi công (tháng 1/2018). Từ Kim Sơn Bảo Thắng Tự đi dọc theo con đường La Hán xuống là Đại tượng Phật A Di Đà cao 21,5m, được đúc bằng đồng theo kỹ thuật hiện đại nhất hiện nay. Đây là bức tượng Phật bằng đồng cao nhất Việt Nam tới thời điểm này.
Sáng ngày 7/10/2018, Thượng toạ Thích Chân Tính trụ trì Chùa Hoằng Pháp - Việt Nam cùng chư Tôn đức Tăng – Ni tại Hoa Kỳ đã long trọng tổ chức Lễ Đặt đá Xây dựng Chùa Hoằng Pháp tại Tp. Sacramento, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Đến chứng minh và tham dự có đức Trưởng lão Hoà thượng Thích Thắng Hoan, Trưởng lão HT. Thích Tuệ Minh, HT. Thích Thông Hải, HT. Thích Đồng Trí, cùng chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử tại Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cuối tuần qua, đông đảo Phật tử đến từ hơn 50 trung tâm tu học, cơ sở tự viện khác nhau đã thực hiện cuộc tuần hành tại San Francisco cùng với hàng ngàn người khác kêu gọi quan tâm đến hiện tượng biến đổi khí hậu.