Tu Tâm

30/07/201611:26 SA(Xem: 926)
Tu Tâm

ĐẠI CƯƠNG
TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
Thích Nữ Tịnh Quang biên soạn & tuyển dịch
Buddhist Nun Association in California Publishes 2016

6. QUÁN CHIẾU - TU TẬP PHẬT PHÁP 

Tu Tâm
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Thích Nữ Tịnh Quang chuyển ngữ

Bảy câu thơ đầu tiên trong Tám câu thơ dành cho việc tu tâm kết hợp với thực tập những phương pháp nuôi dưỡng lòng từ bi, lòng vị tha, khát vọng để đạt được Phật quả, và v.v...Câu thứ tám trực tiếp hướng đến việc  vun bồi các phạm vi của con đường trí tuệ.

Ba câu đầu trong tám câu thơ của việc Tu tâm cùng với những lời giải thích của Đức Đạt Lai Lạt Ma được thuyết vào ngày 08 Tháng 11 năm 1998 tại Washington DC.  Năm câu còn lại được trích từ cuốn sách Transforming the Mind của Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Tu tâm: Câu 1

Với một quyết tâm để đạt được mục đích cao nhất
Vì lợi ích của tất cả chúng sinh
Vốn quí hơn cả những viên ngọc như ý,
Nguyện cho tâm tôi mãi mãi hướng đến tình yêu thương chúng sanh

(With a determination to achieve the highest aim
For the benefit of all sentient beings
Which surpasses even the wish-fulfilling gem,
May I hold them dear at all times.

Bốn dòng trên về việc nuôi dưỡng một ý thức duy trì lòng thương yêu tất cả chúng sinh. Điểm chính của câu này đề cập là phát triển một thái độ thúc đẩy bạn xem chúng sinh khác quý giá hơn những đồ trang sức quý báu. Câu hỏi có thể được nâng lên, "Tại sao chúng ta cần phải trau dồi tư tưởng rằng chúng sinhquý báu và giá trị?"

Trong một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng chúng sinh thật sự là nguồn gốc của tất cả những kinh nghiệm của chúng ta về niềm vui, hạnh phúcthịnh vượng, và không chỉ trong phạm vi tiếp xúc của chúng ta ngày này qua ngày khác với mọi người. Chúng ta có thể thấy rằng tất cả những kinh nghiệmchúng ta mong ướctùy thuộc vào sự hợp tác và tương giao với các chúng sinh. Đó là một thực tế rõ ràng. Tương tự như vậy, từ quan điểm của một hành giả trên con đường, nhiều cấp độ chứng ngộ cao mà bạn đạt được và những tiến bộ bạn đang thực hiện trên hành trình tâm linh của bạn phụ thuộc vào sự hợp tác và tương tác với chúng sinh khác. Hơn nữa, ở trạng thái hợp lực của Phật tính, những hành động từ bi thực sự của một vị Phật có thể xuất hiện một cách tự nhiên mà không cần bất kỳ nỗ lực chỉ liên quan đến chúng sinh, bởi vì họ là những người nhận và người hưởng lợi của các hoạt động giác ngộ. Vì vậy, người ta có thể thấy rằng chúng sinh, trong một ý nghĩa, nguồn gốc thực sự là niềm vui của chúng ta, viên mãnhạnh phúc. Căn bản niềm vui và tiện nghi của cuộc sống như thức ăn, chỗ ở, quần áo, và những thứ liên hệ tất cả đều phụ thuộc vào chúng sinh khác, như cả tên tuổidanh tiếng. Cảm xúc của chúng ta thoải máicảm giác an toànphụ thuộc vào nhận thức của người khác đối với chúng ta và tình cảm của họ đối với chúng ta. Hầu hết tình cảm của con người là cơ sở sự tồn tại của chúng ta. cuộc sống của chúng ta không thể bắt đầu mà không có tình cảm, sự nuôi dưỡng , trưởng thành hợp lý của chúng ta…tất cả phụ thuộc vào nó. Để đạt được một tâm trí bình tĩnh, bạn càng có ý thức chăm sóc cho những người khác, sẽ sâu sắc hơn sự hài lòng của bạn. Tôi nghĩ rằng thời điểm mà bạn phát triển ý thức chăm sóc. những người khác đối với bạn tích cực hơn. Điều này là do thái độ của riêng bạn. Mặt khác, nếu bạn từ chối những người khác, họ sẽ đối với bạn một cách tiêu cực. Một điều khác khá rõ ràng với tôi là thời điểm bạn chỉ nghĩ đến bản thân, trọng tâm của toàn bộ tâm trí của bạn thu hẹp, và vì sự hạn hẹp này tập trung những điều không thoải mái có thể xuất hiện rất lớn và mang lại cho bạn cảm giác sợ hãi và khó chịu và cảm giác cảm thấy choáng ngợp bởi đau khổ. Thời điểm bạn nghĩ của người khác với một cảm giác quan tâm, nhờ vậy tâm trí của bạn được mở rộng. Trong đó góc độ rộng lớn, những vấn đề riêng của bạn xuất hiện là không có ý nghĩa, và điều này tạo nên một sự khác biệt lớn. Nếu bạn có một cảm giác chăm sóc cho người khác, bạn sẽ thể hiện một loại sức mạnh nội tâm cho dù hoàn cảnh khó khăn và vấn đề của riêng bạn. Với sức mạnh này, các vấn đề của bạn sẽ có vẻ ít quan trọng và khó chịu. Bằng cách đi xa hơn những vấn đề riêng của mình và chăm sóc người khác, bạn có được sức mạnh nội tâm, tự tin, can đảmý thức hơn về sự yên tĩnh. Đây là một ví dụ rõ ràng về cách suy nghĩ  của một người thực sự tạo nên một sự khác biệt.

Trong The Guide to the Bodhisattva’s Way of Life (Bodhicaryavatara) nói rằng có sự khác biệt hiện tượng giữa nỗi đau mà bạn trải nghiệm khi bạn lấy nỗi đau của người khác như chính bạn và nỗi đau vốn trực tiếp từ đau khổ của riêng bạn. Trong đây, có một yếu tố của sự khó chịu bởi vì bạn đang chia sẻ nỗi đau của người khác; Tuy nhiên, như Shantideva chỉ ra, cũng có một số cố định bởi vì, trong một nghĩa nào đó, bạn đang tự nguyện chấp nhận nỗi đau đó. Trong sự tham gia tự nguyện đối với đau khổ của người khác có sức mạnh và một cảm giác của sự tự tin. Nhưng trong trường hợp sau, khi bạn đang trải qua  những đau khổ của riêng mình, có yếu tố của bất như ý, và một phần vì thiếu kiểm soát, bạn cảm thấy yếu đuốihoàn toàn bị choáng ngợp. Trong giáo lý Phật giáo về lòng vị thalòng từ bi, biểu thức nào đó được sử dụng như "Người ta nên bỏ qua của hạnh phúc của chính mình và yêu mến hạnh phúc của người." Điều quan trọng là phải hiểu những câu phát biểu này liên quan đến việc thực hành tự nguyện chia sẻ nỗi đau của người khác và đau khổ với hoàn cảnh của người. Điểm cơ bản là nếu bạn không có khả năng để yêu chính mình, rồi chỉ đơn giản là không căn bản để xây dựng một ý thức chăm sóc đối với người khác. Tình yêu đối với chính mình không có nghĩa là bạn đang mắc nợ mình. Thay vào đó, khả năng yêu thương bản thân hoặc tử tế với chính mình cần được dựa trên một thực tế rất cơ bản của sự tồn tại con người: tất cả chúng ta có một xu hướng tự nhiên mong muốn hạnh phúc và tránh xa đau khổ. Một khi cơ sở này tồn tại trong việc liên quan đến bản thân, người ta có thể mở rộng nó đối với các chúng sinh khác. Vì vậy, khi chúng ta tìm thấy các câu giáo huấn trong các giáo lý như "quên hạnh phúc riêng mính và trân trọng hạnh phúc của người khác," chúng ta nên hiểu chúng trong bối cảnh tu tập bản thân theo lý tưởng của lòng từ bi. Điều này là quan trọng nếu chúng ta không nuông chiều theo cách ‘cái tôi là trung tâm’ của suy nghĩ  rồi quên đi tác động của các hành động của chúng ta đối với các chúng sinh. Như tôi đã nói trước đó, chúng ta có thể phát triển một thái độ xem xét chúng sinh khác là quí giá trong việc công nhận những phần tốt đẹp của họ đóng vai trò trong kinh nghiệm của chúng ta về niềm vui, hạnh phúcthành công. Đây là việc quán sát đầu tiên. Việc quán sát thứ hai là như sau: thông qua phân tích và suy ngẫm, bạn sẽ thấy được rằng nhiều nỗi khổ, đau đớn, và nỗi đau thực sự là kết quả của một thái độ ‘tự ngã làm trung tâm’ với yêu ái hạnh phúc của chính mình hơn của người khác, trong khi đó nhiều niềm vui, hạnh phúccảm giác an toàn trong cuộc sống của chúng ta xuất phát từ những suy nghĩcảm xúc yêu thương hạnh phúc của các chúng sinh khác. Tương phản hai hình thức của tư tưởngcảm xúc đã thuyết phục chúng ta về sự cần thiết phải coi của hạnh phúc của người khác là quý giá.

Có một thực tế liên quan đến việc nuôi dưỡng những suy nghĩcảm xúctrân trọng hạnh phúc của người khác: chính sự tự quan tâm và mong muốn của chúng ta được đầy đủ như một sản phẩm phụ của tác động thực tế đối với các chúng sinh. Như Je Tsong Khapa chỉ trong Great Exposition Path to Enlightenment (Lamrim Chenmo), "càng nhiều học viên tham gia vào các hoạt độngsuy nghĩ là tập trung và trực tiếp hướng đến sự hoàn thành hạnh phúc đối với người khác, sự hoàn thành hay thực hiện khát vọng riêng của mình sẽ đến như là một sản phẩm phụ mà không phải thực hiện một nỗ lực riêng biệt." Một số bạn có thể đã thực sự nghe lập luận này, điều mà tôi thực hiện khá thường xuyên, trong một số ý nghĩa những vị Bồ tát, những hành giả từ bi của Phật đạo, là các bậc khôn ngoan, trong khi những người như chúng ta là những người ngu ngốc ích kỷ. Chúng ta chỉ nghĩ về bản thâncoi thường người khác, và kết quả là chúng ta luôn luôn không hài lòng và có một thời gian đau khổ. Có khi nào suy nghĩ khôn ngoan hơn, có phải không? Đây là niềm tin của tôi. Một vài câu hỏi đưa ra, "Chúng ta có thể thực sự thay đổi thái độ của chúng ta?"

Câu trả lời trên cơ sở kinh nghiệm nhỏ của tôi là, không do dự, "Vâng!" Điều này khá rõ ràng với tôi. Điều mà chúng ta gọi là "tâm" là khá đặc biệt. Đôi khi nó là rất cứng đầu và rất khó thay đổi. Nhưng với nỗ lực liên tục và với niềm tin dựa trên lý trí, tâm của chúng ta là đôi khi khá trung thực. Khi chúng ta thực sự cảm thấy rằng có một vài điều cần phải thay đổi, sau đó tâm của chúng ta có thể thay đổi. Chỉ có mong muốn và cầu nguyện sẽ không biến đổi tâm của bạn, nhưng với niềm tinlý trí, lý do chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của riêng bạn, bạn có thể biến đổi tâm của bạn. Thời gian hoàn toàn là một yếu tố quan trọng ở đây, và với thời gian, thái độ tinh thần của chúng ta chắc chắn có thể thay đổi. Một điểm mà tôi nên thực hiện ở đây là một vài người, đặc biệt là những người tự coi mình là rất thực tếthực tiễn, là quá thực tếbị ám ảnh với thực tiễn, họ có thể nghĩ rằng, "Ý tưởng mong muốn hạnh phúc cho tất cả chúng sinhý tưởng vun bồi tư tưởng ước vọng hạnh phúc đối với tất cả chúng sinh là không thực tế và quá lý tưởng. Chúng không đóng góp bất kỳ cách nào đối với việc thay đổi tâm của người hay đạt được vài loại rèn luyện tâm linh, vì chúng hoàn toàn không thể thực hiện. Một số người có thể suy nghĩ trong điều kiện như vậy và cảm thấy rằng có lẽ là một cách tiếp cận hiệu quả hơn sẽ bắt đầu với một vòng tròn chặt chẽ với những ai mà họ có sự tương tác trực tiếp. Họ nghĩ rằng sau này người ta có thể mở rộngtăng cường các thông số. Họ cảm thấy đơn giản là không có điểm suy nghĩ về tất cả chúng sinh kể từ khi có một số lượng vô hạn của chúng. Họ có thể hình dung một số loại kết nối với những người đồng loại của họ trên hành tinh này, nhưng họ cảm thấy rằng chúng sinh vô hạn trong hệ thống thế giới nhiều và vũ trụ không có gì để làm với kinh nghiệm riêng của họ như là một cá nhân. Họ có thể hỏi, "có ý nghĩa gì trong sự cố gắng tu dưỡng tâm với nỗ lực bao gồm trong phạm vi của nó với mọi chúng sinh?" Theo một cách nào đó có thể là một sự phản đối hợp lệ, nhưng những gì là quan trọng ở đây là để hiểu tác động của việc nuôi dưỡng tình cảm vị tha đó.

 Vấn đề là để cố gắng phát triển phạm vi của sự đồng cảm của con người trong một cách có thể mở rộng đến bất kỳ hình thái nào của cuộc sống vốn có khả năng cảm giác đau đớnkinh nghiệm hạnh phúc. Đó là vấn đề của việc xác định một sinh vật sống như một chúng sinh. Đây là loại tình cảm là rất mạnh mẽ, và không cần được xác định, trong điều kiện đặc trưng, với từng chúng sinh để có kết quả. Lấy ví dụ, tính chất phổ quát của vô thường. Khi chúng ta có sự suy nghĩ về mọi vật và và sự kiệnvô thường, chúng ta không cần phải cân nhắc mọi điều tồn tại trong vũ trụ để cho chúng ta thuyết phục về sự vô thường. Đó không phải là cách vận hành của tâm. Vì vậy, điều quan trọng là phải đánh giá cao điểm này.

Trong câu đầu tiên, có một tham chiếu rõ ràng với môi giới ‘tôi’: "Nguyện cho tôi luôn luôn quí trọng người khác." Có lẽ một cuộc thảo luận ngắn gọn về sự hiểu biết của Phật giáo về điều này, ‘tôi’ phân biệt có thể hữu ích trong phạm vi này. Nói chung, không có ai tranh luận rằng người ta - bạn, tôi và những người khác - tồn tại. Chúng ta không đặt câu hỏi về sự tồn tại của ai đó trãi qua những kinh nghiệm đau khổ. Chúng ta nói, "Tôi thấy người nào đó" và "Tôi nghe người nào đó," và chúng ta liên tục sử dụng ngôi đại từ đầu tiên trong cách nói của chúng ta. Không có tranh chấp về sự tồn tại của các cấp độ thông thường về ‘ngã’ mà tất cả chúng ta kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Tuy nhiên, câu hỏi xuất hiện khi chúng ta cố gắng để hiểu những gì mà cái ‘ngã’ hay ‘tôi’ thực sự là. Trong việc dò xét những câu hỏi này chúng ta có thể cố gắng để mở rộng phân tích một chút ngoài cuộc sống hằng ngày - chúng ta có thể, ví dụ, nhớ lại chính chúng ta trong  thời thanh thiếu niên. Khi bạn có một hồi ức của một cái gì đó từ tuổi trẻ của bạn, bạn có một cảm giác gần gũi định nghĩa với các trạng thái của cơ thể và cảm nhận của bạn về  cái ‘ngã’ ở tuổi đó. Khi bạn còn trẻ, đã có một ‘bản ngã’. Khi bạn già đi có một ‘bản ngã’. Ngoài ra còn có một ‘bản ngã’ tràn ngập cả hai giai đoạn. Một người có thể nhớ lại những kinh nghiệm của mình ở tuổi trẻ. Một người có thể suy nghĩ về kinh nghiệm của mình ở tuổi già, và như vậy. Chúng ta có thể thấy một sự nhận dạng gần gũi với trạng thái cơ thể của chúng tacảm giác nhận thức của chúng ta về ‘ngã’, ‘tôi’. Nhiều triết gia và, đặc biệt, các nhà tư tưởng tôn giáo đã tìm cách để hiểu bản chất của cá nhân, ‘cái ta’ hay ‘tôi’ đó duy trì tính liên tục theo thời gian. Điều này đặc biệt quan trọng trong truyền thống Ấn Độ. Các trường phái ngoài Phật giáo tại Ấn Độ nói về atman,  tạm dịch là ‘ngã’ hay ‘linh hồn’;  và trong các truyền thống tôn giáo khác không thuộc Ấn Độ, chúng ta thường nghe bàn luận về ‘linh hồn’ của con người và v.v...Trong bối cảnh Ấn Độ, atman có ý nghĩa riêng biệt của một môi giới độc lập với các sự kiện thực nghiệm của cá nhân. Trong truyền thống Ấn Độ giáo, ví dụ, có một niềm tin vào sự luân hồi, đã truyền cảm hứng cho rất nhiều cuộc tranh luận. Tôi cũng đã tìm thấy tài liệu tham khảo cho các hình thức nhất định về thực hành thần bí trong đó một ý thức hay linh hồn chiếm lấy cơ thể của một người mới chết. Nếu chúng ta tin vào sự luân hồi, nếu chúng ta tin vào linh hồn nhập vào thân thể khác, rồi một số loại liên quan tùy thuộc của các sự kiện thực nghiệm của cá nhân phải được thừa nhận. Nhìn chung, các trường phái phi Phật giáo tại Ấn Độ có nhiều ít để kết luận rằng ‘tự ngã’ thực sự đề cập đến môi giới độc lập hoặc atman. Nó đề cập đến những gì là độc lập của cơ thể và tâm của chúng ta. Toàn bộ truyền thống Phật giáo đã từ chối sự lường gạt để thừa nhận một ‘bản ngã’, một atman, hay một linh hồn độc lập của thân và tâm.nTrong các tông phái Phật giáo, có sự đồng thuận về quan điểm mà cái ‘ngã’ hay ‘tôi’ phải được hiểu theo nghĩa của sự kết hợp của thân và tâm. Chính xác hơn, những gì chúng ta đề cập khi chúng ta nói ‘tôi’ hoặc ‘ta’, đã có ý kiến ​​khác nhau ngay cả trong số những nhà tư tưởng Phật giáo. Nhiều tông phái Phật giáo giữ lập trường phân tích cuối cùngchúng ta phải đồng nhất ‘bản ngã’ với ý thức của cá nhân. Qua phân tích, chúng ta có thể thấy như thế nào về thân thể của chúng ta là một nhóm thực thể tùy thuộc những gì tiếp tục xuyên qua thời gian thực sự là ý thức của một con người.

Tất nhiên, các nhà tư tưởng Phật giáo khác đã bác bỏ sự di chuyển để đồng nhất cái ‘tôi’ với ý thức. Nhà tư tưởng Phật giáo như ngài Buddhapalita (Phật Hộ) và Chandrakirti (Nguyệt Xứng) đã bác bỏ những vấn đề tìm kiếm một số loại vĩnh cửu, tồn tại, hoặc bất tử đối với ‘tự ngã’. Họ đã lập luận rằng loại lý luận là, trong một nghĩa nào đó, thâm căn cố đế nhằm nắm bắt một cái gì đó. Một phân tích về bản chất của cái ‘ngã’ cùng những dòng này sẽ không mang lại gì cả vì các nhiệm vụ liên quan ở đây là siêu hình; nó là một cuộc tìm kiếm tự siêu hình trong đó, Buddhapalita và Chandrakirti lập luận rằng, chúng ta sẽ vượt ra ngoài lãnh vực  của sự hiểu biết về ngôn ngữ hàng ngày và kinh nghiệm hàng ngày. Do đó tôi, người, và môi giới phải được hiểu hoàn toàn về cách mà chúng ta trải nghiệm cảm giác của chúng ta về ‘tự ngã’. Chúng ta không nên đi xa hơn mức độ của sự hiểu biết thông thường về ‘tự ngã’ và bản thân. Chúng ta nên phát triển một sự hiểu biết về sự tồn tại của chúng ta trong phạm vi tồn tại của cơ thể và tinh thần của chúng ta, như thế cái ‘tôi’ và người là trong một ý nghĩa được hiểu là sự chỉ định phụ thuộc vào thân và tâm. Chandrakirti sử dụng ví dụ về một chiếc xe ngựa trong trong sự hướng dẫn của ông tới Trung Đạo (Madhyamakavatara). Khi bạn chấp nhận khái niệm về xe ngựa để phân tích, bạn sẽ không bao giờ tìm thấy một số loại siêu hình học hoặc giá trị thật thực sự của xe ngựa độc lập với các bộ phận cấu thành xe ngựa. Nhưng điều này không có nghĩa là xe không tồn tại. Tương tự như vậy, khi chúng ta nói đến ‘tự ngã’, phân tích bản chất của ‘tự ngã’ như vậy, chúng ta không thể tìm thấy một cái ‘tôi’ độc lập của thân và tâm làm nên sự tồn tại của cá nhân hoặc chúng sinh. Sự hiểu biết về ‘tự ngã’ này như là yếu tố độc lập cũng phải được mở rộng với sự hiểu biết của chúng ta đối chúng sinh khác. Một lần nữa, các loài hữu tình khác là đều ở trong thế tồn tại phụ thuộc thân và tâm. sự tồn tại của cơ thể và tinh thần dựa trên các uẩn, đó là những thành phần tâm-vật lý của chúng sinh.

Tu tâm: câu 2

Bất cứ khi nào tôi tiếp xúc với ai,

Nguyện cho tôi xem mình là thấp nhất trong tất cả,

Và, từ tận đáy lòng của tôi,

Cư xử với người khác một cách tôn kính.

 

(Whenever I interact with someone,
May I view myself as the lowest amongst all,
And, from the very depths of my heart,
Respectfully hold others as superior.)

 

Câu đầu tiên chỉ ra sự cần thiết trau dồi tư tưởng liên hệ đến tất cả chúng sinh khác bằng sự quý trọng. Trong câu thứ hai, ý chỉ rằng thực hiện việc công nhận sự quý báu của chúng sinh khác, và ý thức chăm sóc mà bạn phát triển trên cơ sở đó, không nên y cứ vào cảm giác của sự thương hại đối với chúng sinh, đó là với ý nghĩ rằng họ thấp kém. Thay vào đó, những gì đang được nhấn mạnh là một cảm giác chăm sóc cho chúng sinhghi nhận sự quý báu của họ dựa trên sự tôn trọngcung kính như một hữu tình cao cả. Tôi muốn đề cập ở đây là chúng ta nên hiểu lòng từ bi như thế nào trong bối cảnh Phật giáo. Nói chung, trong Phật giáo truyền thống, từ bitình thương được xem là hai mặt của cùng một điều. Từ bi được cho là mong muốn đồng cảm là mong mỏi thấy (đối tượng của từ bi) chúng sinh thoát khỏi đau khổ. Tình thươngmong ước là mơ ước hạnh phúc cho người khác. Trong bối cảnh này không nên nhầm lẫn lòng từ bi và tình thương theo nghĩa thông thường. Ví dụ, chúng ta trải nghiệm một cảm giác gần gũi đối với những người yêu thương chúng ta. Chúng ta cảm thấy một cảm giác của lòng từ bi và sự đồng cảm với họ. Chúng ta cũng có tình thương mạnh mẽ đối với những người này, nhưng thường thì tình thương hoặc lòng từ bi là có liên quan đến bản ngã: "vì-và-bạn tôi," "chồng tôi," "con tôi," và v.v....Điều gì xảy ra với loại tình yêu hay lòng từ bi như vậy, điều này có thể mạnh mẽ, là bởi nó đang bị đánh động với chấp thủ theo sau, vì nó liên quan đến tự ngã. Một khi có sự chấp thủ thì có tiềm năng cho sự phát sinh tức giận và hận thù. Ví dụ, nếu lòng từ bi của một người đối với một người nào đó đang bị tác động với sự chấp thủ, nó có thể dễ dàng đổi ngược cảm xúc của nó dù sự cố nhỏ. Sau đó, thay vì muốn người đó được hạnh phúc, thì họ có thể muốn người đó phải đau khổ.

Lòng từ bi và tình yêu đúng trong phương diện tu tập của tâm dựa trên nhận thức đơn giản là người khác giống như bản thân mình, mong muốn hạnh phúcvượt qua đau khổ của mình và người một cách tự nhiên, ai cũng có quyền tự nhiên để thực hiện những khát vọng cơ bản. Sự đồng cảm mà bạn phát triển đối với một người dựa trên nhận thức về thực tế cơ bản là lòng từ bi phổ quát. Không có yếu tố của định kiến, không có yếu tố phân biệt đối xử. Lòng từ bi này có khả năng mở rộng đến tất cả chúng sinh khi chúng cũng có yếu tố trải nghiệm những đau đớnhạnh phúc. Như vậy, các tính năng cần thiết của lòng từ bi thật sự là nó là bao hàm và không thiên vị hay kỳ thị. Vì vậy, tu tâm trong việc nuôi duỡng lòng từ bi trong truyền thống Phật giáo đầu tiên liên quan đến việc nuôi dưỡng một tư tưởng điềm tĩnh, hoặc tâm xả đối với tất cả chúng sinh. Ví dụ, bạn có thể quán chiếu hiện thực rằng một người nào đó có thể là bạn, người thân của bạn và v.v…trong cuộc sống này dù người này đã là (theo quan điểm Phật giáo) kẻ thù tồi tệ nhất của bạn trong một kiếp trước. Tương tự như vậy, bạn áp dụng cùng một loại lý do để một người nào đó bạn coi là kẻ thù: mặc dù người này có thể là tiêu cực đối với bạn và là kẻ thù của bạn trong cuộc đời này, anh ta hoặc cô ấy có thể là người bạn tốt nhất của bạn trong một kiếp trước, hoặc có thể đã có liên quan đến bạn, và v.v…Bằng cách quán chiếu vào bản chất biến động của các mối quan hệ với người khác vốn có tiềm năng tồn tại trong tất cả chúng sinh là bạn và thù, như thế, bạn có thể phát triển định tâm, và xả tâm.

 Việc thực hành phát triển hoặc nuôi dưỡng tính buông xả bao hàm một hình thái của sự thoát ly, nhưng điều quan trọng là phải hiểu ý nghĩa thoát ly ra sao. Đôi khi người ta nghe về việc tu tập thoát ly trong Phật giáo, họ nghĩ rằng Phật giáo đang ủng hộ cho thái độ thờ ơ đối với tất cả mọi thứ, nhưng đó không phải là trường hợp này. Đầu tiên, có thể nói, tu tập thoát ly là cởi bỏ tất cả những cảm xúc phân biệt đối xử đối với người khác dựa trên những tính toán về thân hay sơ. Bạn đặt nền tảng trên những điều mà bạn có thể trau dồi lòng từ bi đúng bao quát cho tất cả chúng sinh khác. Giáo lý Phật giáo về sự xả ly không bao hàm việc phát triển một thái độ buông bỏ hoặc thờ ơ với thế giới hay cuộc sống.

          Chuyển sang một dòng khác của câu, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là phải hiểu được ý nghĩa "Nguyện cho tôi xem mình là thấp nhất trong tất cả" được biểu đạt trong phạm vi này. Chắc chắn nó không phải là nói rằng bạn nên đưa bạn vào những suy nghĩ sẽ dẫn bạn hạ thấp lòng tự trọng, hoặc bạn sẽ bị mất tất cả cảm giác hy vọngcảm thấy chán nản và suy nghĩ: "Tôi là người thấp nhất trong tất cả. Tôi không có khả năng, tôi không thể làm bất cứ điều gì và không có quyền lực." Đây không phải là loại cảm nghiệm thấp kém đang được đề cập ở đây. Suy nghĩ tự thân như là thấp hơn so với những người khác thực sự phải được hiểu trong phạm vi liên hệ. Nói chung, con ngườivượt trội so với động vật. Chúng ta được trang bị những khả năng phán xét giữa đúng và sai và có suy nghĩ về tương lai và v.v…Tuy nhiên, người ta cũng có thể lập luận rằng ở những khía cạnh khác con người là kém hơn so với động vật. Ví dụ, động vậtthể không có khả năng để đánh giá giữa đúng và sai trong một ý thức đạo đức, và chúng có thể không có khả năng nhìn thấy những hậu quả lâu dài về hành động của chúng, nhưng trong cõi súc sinhít nhất một ý nghĩa nào đó về trật tự. Ví dụ, nếu bạn nhìn vào các thảo nguyên châu Phi, động vật ăn thịt con mồi trên các động vật khác chỉ khi cần thiết là khi chúng đang đói. Khi chúng không đói, bạn có thể nhìn thấy chúng cùng tồn tại khá hòa bình. Nhưng con người chúng ta, mặc dù khả năng của chúng ta biết đánh giá giữa đúng và sai, đôi khi hành động lại không có tính tham lam tinh khiết. Lắm khi chúng ta tham gia vào các hành động hoàn toàn không ngoài tính đam mê - chúng ta giết hại không ngoài một cảm giác  ‘thể thao’ như khi chúng ta đi săn bắn hoặc câu cá. Vì vậy, trong một nghĩa nào đó, người ta có thể lập luận rằng con người đã được chứng minh là kém hơn so với động vật. Vì thế, trong điều kiện tương đối như vậy mà chúng ta có thể coi mình là thấp hơn so với những người khác. Một trong những lý do cho việc sử dụng từ ‘thấp hơn’ là để nhấn mạnh một cách bình thường rằng khi chúng ta phát sinh những cảm xúc bình thường của sự giận dữ, hận thù, chấp thủ, và tham lam,

          Chúng ta làm như vậy mà không có bất kỳ ý nghĩ của sự kiềm chế. Thường thì chúng ta hoàn toàn không ý thức gì về tác động hành vi của chúng ta đối với các chúng sinh khác. Nhưng bằng cách cố nuôi dưỡng thận trọng về sự suy nghĩ  đối với người khác là cao cả và xứng đáng với sự tôn kính của bạn, bạn sẽ cung cấp cho mình với một nhân tố kềm chế. Và rồi, khi những cảm xúc phát sinh, chúng sẽ không được mạnh mẽ như khiến cho bạn bất chấp tác động của các hành động của mình đối với chúng sinh. Đó là những nền tảng nhận thức về người khác là tốt hơn mình như được gợi ý.

Tu Tâm: Câu 3

Trong tất cả những việc làm của tôi, nguyện cho tôi thâm nhập tâm mình,
Và khi những cảm xúc phiền não phát sanh-
Khi chúng gây nguy hiểm cho chính tôi và người khác-
Nguyện cho tôi hùng lực đối đầu với chúng và cản trở chúng.

 

(In all my deeds may I probe into my mind,
And as soon as mental and emotional afflictions arise-
As they endanger myself and others-
May I strongly confront them and avert them
.)

 

Câu này thực sự chạm đến trái tim đối với những gì có thể được gọi là thực chất của việc thực hành Phật Pháp. Khi chúng ta nói về Pháp trong chủ đề của giáo lý Phật giáo, chúng ta nói về Niết bàn, hay giải thoát khỏi đau khổ. Giải thoát khỏi đau khổ, niết-bàn, hay tịch-diệt là đúng pháp. Có nhiều cấp độ của sự chấm dứt - ví dụ, kềm chế từ việc sát sinh hoặc giết người có thể là một hình thức của Pháp. Nhưng điều này không thể được gọi là Pháp Phật đặc biệtkềm chế khỏi việc sát hại là một cái gì đó mà ngay cả một người không theo đạo, có thể áp dụng như một kết quả của việc tuân thủ pháp luật. Bản chất của Pháp trong truyền thống Phật giáotrạng thái tự do khỏi khổ đau và phiền não (Skt. Klesha, Tib. Nyonmong) nằm ở gốc của khổ đau. Câu này giải quyết như thế nào để chống lại những phiền não hoặc những cảm xúc phiền nãotư tưởng. Người ta có thể nói rằng đối với một hành giả Phật giáo, kẻ thù thực sự là kẻ thù bên trong - những phiền nãocảm xúc. Đó là những phiền não làm tăng trưởng đau đớn và khổ sở. Nhiệm vụ thực sự của một người học Phật Pháp là để đánh bại kẻ thù bên trong này. Từ khi áp dụng phương pháp giải trừ những phiền nãocảm xúc là nằm ở trung tâm của sự thực hành Phật Pháp và là trong một vài ý nghĩa nền tảng của pháp, câu thứ ba cho thấy rằng nó là rất quan trọng để nuôi dưỡng chánh niệm ngay từ đầu. Cách khác, nếu bạn để cho những cảm và suy nghĩ xúc tiêu cực nảy sinh trong bạn mà không cần bất kỳ phương pháp của sự kềm chế, không có bất kỳ chánh niệm đối với sự tiêu cực của chúng,  thì có nghĩa rằng bạn đang đem lại cho chúng  một sự tung hoành tự do. Chúng có thể phát triển đến điểm đơn giản là không có cách nào để đối đầu với chúng. Tuy nhiên, nếu bạn phát triển chánh niệm đối với sự tiêu cực của chúng, rồi khi chúng xảy ra, bạn sẽ có thể dập tắt chúng ngay sau khi chúng phát sinh. Bạn sẽ không cho chúng cơ hội hay không gian để phát triển thành những cảm xúc tư tưởng tiêu cực toàn diện. Tôi nghĩ rằng, phương thức mà câu thơ thứ ba này cho thấy chúng ta áp dụng một thứ thuốc giải độc là ở cấp độ của việc trải nghiệm biểu hiện và cảm giác của xúc cảm. Thay vì có gốc của cảm xúc chung chung, những gì đang được đề xuất là việc áp dụng các thuốc giải độc phù hợp với những cảm xúcsuy nghĩ cụ thể tiêu cực. Ví dụ, để đối phó với sự tức giận, bạn nên trau dồi tình thươnglòng từ bi. Để đối phó với sự dính mắc vào đối tượng, bạn nên trau dồi tư tưởng về những bất tịnh của đối tượng đó, bản chất không ham muốn của mình, và v.v...Để đối đầu với một sự kiêu ngạo hay tự hào của chính mình, bạn cần phải suy ngẫm về những thiếu sót trong bạn và có thể làm phát sinh một cảm giác của sự khiêm nhường. Ví dụ, bạn có thể suy nghĩ về tất cả mọi thứ trên thế giới về những gì mà bạn hoàn toàn không biết. Lấy người phiên dịch ký hiệu ở đây trước mặt tôi. Khi tôi nhìn cô ấy và xem những cử chỉ phức tạp mà cô ấy thực hiện sự phiên dịch, tôi không biết manh mối những gì tiếp diễn, và để thấy rằng hoàn toàn là một kinh nghiệm khá khiêm tốn. Từ kinh nghiệm cá nhân của riêng tôi, bất cứ khi nào tôi có một chút khởi động cảm giác tự hào, tôi nghĩ về máy tính. Điều này thực sự chận đứng cảm giác đó ngay!

Tu tâm: Câu 4

Khi tôi nhìn thấy chúng sinh bất hạnh
Bị áp lực bởi sự  phũ phàng và khổ đau thống thiết,
Nguyện cho tôi yêu thương họ - vì họ là (những người mà tôi) hiếm thấy-
Giống như tôi đã phát hiện ra châu báu!  

 (When I see beings of unpleasant character
Oppressed by strong negativity and suffering,
May I hold them dear-for they are rare to find-
As if I have discovered a jewel treasure!)

          Câu này đề cập đến trường hợp đặc biệt liên quan đến những người bên lề xã hội, có lẽ vì hành vi của họ, sự xuất hiện của họ, cảnh cùng cực của họ, hoặc  họ gặp phải một số bệnh tật. Bất cứ ai thực hành bồ đề tâm phải chăm sóc đặc biệt của những người này, nếu như gặp họ, bạn đã tìm thấy một kho báu thật sự. Thay vì cảm giác tránh xa, một hành giả thực sự của nnguyên tắc vị tha nên tham gia và coi như những  thách thức về sự quan hệ. Trong thực tế, cách chúng ta tương tác với mọi người của loại này có thể cho chúng ta một động lực tuyệt vời với việc thực hành tâm linh của chúng ta.

Trong phạm vi này, tôi muốn chỉ ra những ví dụ tuyệt vời do nhiều anh chị em Kitô giáo tham gia vào các ngành nghề nhân đạo và chăm sóc đặc biệt hướng đến các thành viên bất hạnh của xã hội. Một ví dụ như trong thời đại chúng ta là Mẹ Teresa, người đã cống hiến cuộc đời mình để chăm sóc cho những người khốn cùng. Cô ta đã minh họa lý tưởng như được mô tả trong câu này.

Đó là điều quan trong là khi tôi gặp các thành viên của các trung tâm Phật giáo ở các bộ phận khác nhau của thế giới, tôi thường chỉ ra cho họ rằng đó không phải là đủ cho một trung tâm Phật giáo chỉ đơn giản là để có các chương trình giảng dạy hoặc thiền. Có, tất nhiên, các trung tâm Phật giáo rất ấn tượng, và một số trung tâm tu tập, nơi các nhà sư phương Tây đã được đào tạo rất tốt và họ có khả năng chơi âm nhạc (clarinet) trong phong cách truyền thống Tây Tạng! Nhưng tôi cũng  đề cập với họ sự cần thiết phải mang phương diện xã hội và chăm sóc vào chương trình hoạt động của họ, do đó các nguyên tắc trình bày trong giáo lý Phật giáo có thể đóng góp cho xã hội.

Tôi vui mừng để nói rằng tôi đã nghe được một số trung tâm Phật giáo đang bắt đầu áp dụng các nguyên lý Phật giáo về mặt xã hội. Ví dụ, tôi tin rằng ở Úc có các trung tâm Phật giáo được thiết lập để hỗ trợ cho những người hấp hối, và chăm sóc bệnh nhân AIDS. Tôi cũng đã nghe nói về các trung tâm Phật giáo tham gia vào một số hình thức của giáo dục tinh thần trong các nhà tù, nơi mà họ cung cấp cho các cuộc đàm luậntư vấn phục vụ. Tôi nghĩ rằng đây là những ví dụ tuyệt vời. Dĩ nhiên, không may  hơn khi những người như vậy, đặc biệt là các tù nhân, cảm thấy bị từ chối bởi xã hội,  không chỉ là nó đau đớn sâu sắc đối với họ, nhưng cũng từ một quan điểm phóng khoáng hơn, nó là một tổn thất cho xã hội. Chúng ta không cung cấp cơ hội cho những người này để tạo nên một sự đóng góp đóng xây dựng xã hội khi họ thực sự có tiềm năng để làm như vậy. Do đó, tôi nghĩ rằng điều quan trọng đối với xã hội là như một toàn thể không từ chối những người như vậy, nhưng để nắm lấy chúng và hiểu biết những đóng góp tiềm năng mà họ có thể làm. Bằng cách này, họ sẽ cảm thấy họ có một vị trí trong xã hội, và họ sẽ bắt đầu nghĩ rằng họ có thể nên có có cái gì đó để cung cấp.

Tu tâm: Câu 5 & 6

Khi những người khác vì ghen tuông
Đối xử với tôi một cách sai lầm bằng sự lạm dụng, vu khống, và khinh bỉ,
Nguyện cho tôi chịu phần thua thiệt về mình
Và dành cho người ta sự chiến thắng.  

 (When others, out of jealousy
Treat me wrongly with abuse, slander, and scorn,
May I take upon myself the defeat
And offer to others the victory.)

Ở điểm này là khi những người khác khiêu khích bạn, có lẽ vô cớ hoặc không công bằng, thay vì phản ứng một cách tiêu cực, như một hành giả thực sự của lòng vị tha bạn có thể khoan dung đối với họ. Bạn vẫn không tán tâm bằng cách xử lý như vậy. Trong câu kế tiếp chúng ta biết rằng không chỉ nên khoan dung đối với những người như vậy, nhưng thực tế chúng ta nên xem họ như là nhà giáo dục tinh thần của chúng ta. Câu đó như vậy:

Khi một ai đó mà tôi đã giúp,
Hoặc những ai mà tôi đã đặt hy vọng lớn,
Ngược đãi tôi theo bằng cách gây tổn thương trầm trọng,
Nguyện cho tôi có thể vẫn coi người ấy là người thầy quý giá của tôi.

 (When someone whom I have helped,
Or in whom I have placed great hopes,
Mistreats me in extremely hurtful ways,
May I regard him still as my precious teacher.
)

Trong Shantideva’s Guide to the Bodhisattva’s Way of Life, có một sự thảo luận bao quát về cách chúng ta có thể phát triển các loại thái độ này, và làm thế nào chúng ta thực sự có thể thực tập để thấy những người gây hại chúng ta như những đối tượng tu tập tâm linh. Và cũng có thể, trong chương thứ ba của Chandrakirti’s Entry to the Middle Way, có sự truyền cảm sâu sắc và những lời dạy có hiệu quả đối với việc vun bồi lòng nhẫn nhụcbao dung.

Tu tâm: Câu 7

Câu thứ bảy tóm tắt tất cả sự thực tậpchúng ta đã bàn luận như sau:

Tóm lại, nguyện cho tôi có thể đem lại lợi ích và niềm vui

Với tất cả những người mẹ của tôi dù trực tiếp hay là gián tiếp,

Nguyện cho tôi âm thầm nhận chịu hết

Tất cả những đau thương của các người mẹ của tôi.

 

(In brief, may I offer benefit and joy
To all my mothers, both directly and indirectly,
May I quietly take upon myself
All hurts and pains of my mothers.
)

Câu này trình bày sự thực tập Phật giáo được gọi là "thực hành cho và nhận" (tong len), và bằng phương pháp trực quan của cho và nhận mà chúng ta thực tập sự cân bằng và trao đổi giữa mình với người khác.

"Trao đổi chính mình với tha nhân" không nên hiểu theo nghĩa đen bằng việc biến mình thành người khác và người khác thành chính mình. Điều này là không thể được. Ở đây nó có nghĩa là là một sự xoay ngược thái độ mà người ta thường có đối với mình và người. Chúng taxu hướng chỉ nghĩ đến cái gọi là ‘tôi’ này như một cốt lõi trân quí ở trung tâm của chính chúng ta, một cái gì đó thực sự là giá trị để chăm sóc đến mức mà chúng ta sẵn sàng bỏ qua những hạnh phúc của người khác. Ngược lại, thái độ của chúng ta đối với người khác thường giống như sự lơ là; nhiều lắm, chúng ta có thể có một vài sự quan tâm đối với họ, nhưng ngay cả điều này có thể chỉ đơn giảnduy trì ở mức độ của một cảm giác hay một cảm xúc. Chúng ta khác với tất cả mọi ngườichúng ta có sự hướng đến hạnh phúc của họ nhưng chẳng lấy làm quan trọng đối với chúng ta. Vì vậy, điểm thực hành đặc biệt này là đảo ngược thái độ này như thế chúng ta làm giảm cường độ của sự chấp và thủ mà chúng ta bám víu vào chính mình, và thường xem hạnh phúc của người khác là không đáng kể và quan trọng.

 Khi tu tập phương pháp này, ở chỗ có một sự gợi ý rằng chúng ta nên chịu phần hại và đau khổ về mình; tôi nghĩ rằng nó rất quan trọng để cân nhắc cẩn thậnđánh giá chúng trong ý nghĩa phù hợp của chúng. Điều gì đang thực sự được đề xuất ở đây là nếu trong tiến trình thực hành con đường tâm linhhọc hỏi của bạn mà suy nghĩ về hạnh phúc của người khác, bạn được dẫn dắt thực tập những khó khăn nhất định hoặc thậm chí đau khổ thì bạn nên hoàn toàn chuẩn bị cho điều này. Các kinh văn không gợi ý là bạn nên ghét chính mình, hoặc hà khắc  với chính mình, hoặc bằng cách nào đó chỉ muốn đau khổ cho chính bản thân bạn một cách cưỡng ép. Quan trọng là phải biết rằng điều này không có ý nghĩa.

Một ví dụ khác chúng ta không nên hiểu sai kinh văn Tây Tạng trong môt câu một câu nổi tiếng sau, "Nguyện cho tôi có sự can đảm nếu cần thiết để tu tập từ kiếp này đến kiếp khác, trong vô số kiếp, ngay cả trong các cõi địa ngục đau khổ nhất." Mấu chốt được nói ở đây là trình độ can đảm của bạn nên như thế nếu điều này đòi hỏi bạn như là một phần của quá trình phục vụ cho người khác hạnh phúc, rồi thì bạn cần phải có sự sẵn sàng và cam kết chấp nhận nó.

Một sự hiểu biết đúng đắn về những đoạn văn này rất quan trọng, bởi vì nếu không bạn có thể sử dụng chúng để tăng cường bất kỳ cảm giác của lòng ‘tự căm ghét’, nghĩ rằng nếu ‘tự ngã’ là hiện thân của việc ‘tự thấy mình là trung tâm’, cần phải đày chính mình vào quên lãng. Đừng quên rằng cuối cùngđộng lực đằng sau ước muốn theo đuổi một đường tâm linh này là để đạt được hạnh phúc tối cao, vì vậy, chỉ khi tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân người ta cũng đang tìm kiếm hạnh phúc cho người khác. Thậm chí từ một quan điểm thực tế, người nào đó phát triển lòng từ bi đích thực hướng tới những người khác, trước  tiên người đó phải có một cơ sở trau dồi lòng từ bi, và cơ sở đó là khả năng kết nối với cảm xúc của chính mình và chăm sóc cho hạnh phúc của chính mình . Nếu một người không có khả năng làm điều đó, làm thế nào người ấy có thể tiếp cận với những người khác và quan tâm đối với họ? Chăm sóc cho người khác đòi hỏi phải chăm sóc cho bản thân.

Việc thực hành cho và nhận (tong len) bao gồm sự tu tập lòng nhân ái và từ bi: thực hành việc chia sẻ dung nhiếp việc thực hành lòng từ bi, trong khi thực hành việc tiếp nhận cũng nhấn mạnh việc tu hạnh từ bi.

Tôn giả Tịch Thiên (Shantideva) chỉ ra một cách thú vị việc thực hành này trong sự hướng dẫn của ngài ở trong Guide to the Bodhisattva’s Way of Life.  Nó là một trực quan để giúp chúng ta nhận biết những nhược điểm của ‘tự thấy mình là trung tâm’, và cung cấp cho chúng ta các phương pháp để đối đầu với nó. Một mặt bạn hình dung tự ngã bình thường của riêng mình, cái tôi đó hoàn toàn không thấu được hạnh phúc của người khác và là biểu hiện ‘tự thấy mình là trưng tâm’. Đây là bản ngãchỉ quan tâm đến hạnh phúc của riêng mình, đến mức mà nó thường sẵn sàng để khai thác người khác khá kiêu ngạo để đạt được kết quả của nó. Mặt khác, bạn hình dung một nhóm chúng sinh đang đau khổ, không được bảo vệ và không có nơi nương tựa. Bạn có thể tập trung sự chú ý vào những cá nhân cụ thể nếu bạn muốn. Ví dụ, nếu bạn muốn để hình dung một người nào đó bạn  biết rõ và quan tâm, và là người đau khổ, rồi bạn có thể lấy người đó như là một đối tượng cụ thể quán chiếu của bạn và khởi động hoàn toàn sự  thực hành cho và nhận trong mối quan hệ với anh ta (hoặc cô ta). Thứ ba, bạn xem mình là một người thứ ba quan sát vô tư trung lập, thử quan sát nhiều hệ trọng ở đây. Cô lập chính bạn vào vị trí của người quan sát trung lập khiến cho nó dễ dàng hơn đối với bạn để thấy những hạn chế về việc ‘tự thấy mình là trung tâm’, và nhận ra sự công bằnghợp lý như thế nào khi cân nhắc chính mình với hạnh phúc của chúng sinh khác.

Như một kết quả của sự quán tưởng, dần dần bạn bắt đầu cảm thấy một mối quan hệ với người khác và một sự đồng cảm sâu sắc với nỗi khổ của họ, và ở điểm điểm này bạn có thể bắt đầu thiền quán sự thực của cho và nhận.

Để thực hiện thiền quán về nhận, nó thường khá hữu ích để thực tập quan sát người khác. Đầu tiên, bạn tập trung sự chú ý của bạn vào chúng sinh đau khổ, và cố gắng phát triển và tăng cường lòng từ bi của bạn đối với họ, đến khi bạn cảm thấy rằng đau khổ của họ là gần như không thể chịu nổi. Tuy nhiên, lúc bạn nhận ra rằng bạn không có thể làm gì nhiều để giúp họ trong một ý nghĩa thiết thực. Vì vậy, để rèn luyện mình trở nên hiệu quả hơn, với một động lực từ bi mà bạn quán chiếu khi cảm nhận đau khổ của họ, nguyên nhân đau khổ của họ, suy nghĩ tiêu cựccảm xúc của họ, và v.v...Bạn có thể làm điều này bằng cách hình dung tất cả khổ đau và tiêu cực của họ như là một luồng khói đen, và bạn hình dung làng khói này hòa tan vào trong bạn.

Trong phạm vi của thực hành này, bạn cũng có thể quán tưởng việc chia sẻ những phẩm chất tích cực của bạn với người khác. Bạn có thể suy tư về bất cứ hành động xứng đáng mà bạn đã làm, bất kỳ tiềm năng tích cực mà có thể bên trong bạn, và cũng có bất kỳ kiến thức tâm linh hay cái nhìn sâu sắc mà bạn có thể đạt được. Bạn gửi chúng ra cho các chúng sinh khác, để họ cũng có thể thưởng thức những lợi ích đó. Bạn có thể làm điều này bằng cách hình dung những phẩm chất của mình trong  hình thái  hoặc là một ánh sáng lấp lánh hoặc một dòng ánh sáng trắng, thâm nhập vào chúng sinh khác và tan biến trong họ. Đây là cách thực tập cho và nhận.

 Tất nhiên, loại thiền quán này sẽ không có ảnh hưởng trọng yếu vào người khác bởi vì nó là một sự hình dung, nhưng những gì nó có thể làm là giúp tăng trưởng sự quan tâm của bạn đối với người khác và sự đồng cảm của bạn với sự đau khổ của họ, đống thời cũng hỗ trợ việc giảm sức mạnh của ‘tự thấy mình là trung tâm’. Đây là những lợi ích của việc thực hành.

Đây là cách bạn tu luyện tâm mình để nuôi dưỡng khát vọng vị tha nhằm giúp chúng sinh khác. Khi điều này phát sinh cùng với ước nguyện để đạt được toàn giác thì bạn mới nhận ra được bồ đề tâm, đó là phát nguyện vị tha để trở thành hoàn toàn giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Tu tâm: câu 8

Nguyện hết thảy chỉ còn bất nhiễm
với sự nhiễm ô tám điều vướng mắc trần tục này;
Và nguyện cho tôi nhận ra tất cả mọi thứ là ảo tưởng,
Hết chấp trước, được giải thoát từ buộc ràng. 

 (May all this remain undefiled
By the stains of the eight mundane concerns;
And may I, recognizing all things as illusion,
Devoid of clinging, be released from bondage.
)

Hai dòng đầu tiên của câu này rất là quan trọng đối với một hành giả chân chính. Tám điều vướng mắc trần tục nói chung là những thái độxu hướng thống trị cuộc sống của chúng ta. Đó là: hưng phấn khi được ai đó khen; chán nản khi bị ai đó xúc phạm, mạ lị hoặc chê bai; cảm thấy hạnh phúc khi bạn có kinh nghiệm thành công;  buồn rầu  khi bạn gặp thất bại; cảm giác sung sướng khi bạn đạt được sự giàu có; cảm giác đau khổ khi bạn trở nên nghèo nàn; hài lòng khi bạn có danh tiếng; và cảm thấy nản lòng khi bạn thiếu sự thừa nhận (Đây còn gọi là bát phongtám ngọn gió đời: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, và lạc).

Một người tu tập thực sự phải đảm bảo sự nuôi dưỡng lòng vị tha của chính mình là không bị ô nhiễm bằng những suy nghĩ. Ví dụ, nếu như tôi cho cuộc nói chuyện này mà thậm chí có suy nghĩ nhỏ còn trong tâm của tôi với hy vọng mọi người ngưỡng mộ tôi, rồi tôi biết rằng động cơ của mình bị ô nhiễm bởi các đặc điểm trần tục, hoặc những gì mà người Tây Tạng gọi là "tám vướng mắc thế tục.” Điều này rất quan trọng để kiểm tra chính mình và đảm bảo rằng không có như thế. Tương tự như vậy, một hành giả có thể áp dụng lý tưởng vị tha trong cuộc sống hàng ngày của mình, nhưng nếu  bất thình lình ông ta lại cảm thấy tự hào về điều đó và nghĩ, "à, tôi là một hành giả tuyệt vời," ngay lập tức tám điều vuớng mắc thế tục lại làm ô nhiễm sự tu tập của ông ta. Sự áp dụng tương tự nếu một người thực tập cho rằng, "Tôi hy vọng mọi người ngưỡng mộ những gì tôi đang làm," mong muốn nhận được lời khen ngợi đối với nỗ lực lớn mà ông ta đang làm. Tất cả đều này là những vướng mắc trần tục làm hỏng sự thực hành của chúng ta, và điều quan trọng để đảm bảo rằng điều này là không để xảy ra ý nghĩ như thế,  vì vậy chúng ta mới tiếp tục thực hành thanh tịnh của chính mình.   

Như bạn có thể thấy, những hướng dẫn mà bạn có thể tìm thấy trong giáo lý lo-jong chuyển hóa tâm rất mạnh mẽ. Chúng thực sự khiến bạn suy nghĩ. Ví dụ có một đoạn nói:

“Nguyện cho hoan hỷ khi ai đó khinh thường tôi, và nguyện cho tôi không có phấn khích khi ai đó ngợi khen tôi. Nếu tôi vui vì được khen thì ngay lập tức làm tăng sự kiêu ngạo, niềm tự hào, và ngã mạn của tôi; nhưng nếu tôi hoan hỷ trong những lời chỉ trích, thì ít nhất nó sẽ mở mắt cho tôi thấy những thiếu sót của chính mình.”

Đây thực sự là một cảm tính mạnh mẽ.

Đến lúc này, chúng ta đã thảo luận về tất cả sự thực hànhliên quan đến việc vun trồng những gì được gọi là "quy ước Bồ đề tâm," ý nguyện vị tha để hoàn thành viên mãn giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Bây giờ, hai dòng cuối cùng của Tám câu liên quan đến việc thực hành vun trồng những gì được gọi là "tối thượng Bồ đề tâm," trong đây đề cập đến sự phát triển thâm sâu vào bản chất tối hậu của thực tại.

Sự phát sinh trí tuệ là một phần của lý tưởng Bồ tát, như được thể hiện trong sáu hoàn thiện, nói chung, như chúng ta đã thấy ở trên, có hai khía cạnh chính với đạo lộ và trí tuệ Phật giáo. Cả hai đều được bao gồm trong sự định nghĩa của sự giác ngộ, đó là tính bất nhị của hình thức hoàn thiệntrí tuệ hoàn thiện. Việc thực hành trí tuệ hoặc cái nhìn sâu sắc tương quan với sự hoàn thiện của trí tuệ, trong khi sự thực hành phương tiện thiện xảo hay các phương pháp tương quan với sự hoàn thiện của hình thức.

Con đường Phật giáo được trình bày trong một khuôn khổ chung của những gì được gọi là Nền tảng, Đạo, và Quả. Đầu tiên, chúng ta phát triển một sự hiểu biết về bản chất cơ bản của thực tế trong phạm vi của hai cấp bậc thực tại, sự thật thông thường và chân lý tối thượng, đây là nền tảng. Sau đó, trên con đường thực tế, chúng ta dần dần tu tập thiền quán và thực hành tâm linh như một toàn thể  trong phạm vị của phương pháptrí tuệ. Quả sau cùng của con đường tâm linh của hành giả xuất hiện trong chiều hướng bất nhị của hình thức hoàn thiệntrí tuệ hoàn thiện. Hai dòng cuối cùng là:

“Và nguyện cho tôi nhận ra tất cả mọi thứ là ảo tưởng,
Hết chấp trước, được giải thoát từ buộc ràng.”    

(And may I, recognizing all things as illusion,
Devoid of clinging, be released from bondage.
)

Những dòng này thực sự chỉ ra việc thực hành nuôi dưỡng cái nhìn sâu sắc về bản chất của thực tại, nhưng trên bề mặt chúng dường như biểu thị một cách liên quan đến thế giới trong giai đoạn hậu thiền định. Trong giáo lý Phật giáo về bản chất tối hậu của thực tại, hai khoảng thời gian đáng kể được phân tích là; một là thiền quán  thực tại về sự trống rỗng, và cái khác là giai đoạn tiếp theo thời thiền định là khi bạn tham gia tích cực với thế giới hiện thực, như nó là. Vì vậy hai câu này trực tiếp liên quan đến con đường liên quan đến thế giới trong kết quả của sự thiền định về tánh Không. Đây là lý do tại sao các kinh văn nói đến việc nhận diện đúng bản chất ảo giác giống như thực tại, bởi vì đây là cách cảm nhận những điều khi hành giả đạt được từ việc quán chiếu về tính không.

Theo quan điểm của tôi, những dòng này tạo nên một điểm rất quan trọng vì đôi khi người ta có ý tưởng rằng những gì thực sự quan trọng là quán chiếu về tánh Không trong lúc thiền. Họ ít chú ý đến kinh nghiệm cần được áp dụng này là trong thời kỳ hậu thiền định. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng thời kỳ hậu thiền định là rất quan trọng. Toàn bộ các mấu chốt thiền định về bản chất tối hậu của thực tại là để đảm bảo rằng bạn không bị lừa dối bởi những sự xuất hiện thường có thể tự đánh lừa mình. Với sự hiểu biết sâu sắc hơn về thực tại, bạn có thể vượt ra ngoại tại và  liên hệ với nhiều diệu dụng với thế giới phù hợp, hiệu quả, và thực tế hơn.

Tôi thường đưa ra ví dụ về cách mà chúng ta nên liên hệ với láng giềng của chúng ta. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang sống trong một phần riêng biệt của thị trấn, nơi tương tác với những láng giềng của bạn là gần như không thể, nhưng nó thực sự là tốt hơn nếu bạn tiếp xúc với họ hơn là phớt lờ họ. Để làm như vậy một cách khôn ngoan nhất phụ thuộc vào cách mà bạn hiểu tính cách của những người hàng xóm của mình. Ví dụ, nếu người đàn ông sống bên cạnh nhà bạn là rất là tháo vát, sau đó bạn làm thân và hỏi han với ông ta sẽ có lợi ích cho bạn. Đồng thời, nếu bạn biết rõ rằng  ông ta cũng có thể là người rất khó khăn, kiến thứcvô giá nếu bạn duy trì một mối quan hệ thân mậtthận trọng để ông ta không lợi dụng bạn. Tương tự như vậy, một khi bạn có một sự hiểu biết sâu sắc hơn về bản chất của thực tại, rồi sau khi thiền định, khi bạn thực sự nối kết với thế giới bên ngoài, bạn sẽ liên hệ đến người và vật một cách phù hợpthực tế hơn.

Khi kinh văn đề cập đến việc quán sát các hiện tượng như ảo ảnh, nó cho thấy rằng ảo giác giống như bản chất của sự vật chỉ có thể được cảm nhận nếu bạn đã giải phóng mình khỏi sự chấp trước với các hiện tượng như những thực thể riêng biệt độc lập. Một khi bạn đã thành công trong việc giải phóng mình khỏi tâm chấp trước đó, nhận thức về bản chất ảo tưởng như bản chất thực tại sẽ tự động phát sinh. Bất cứ khi nào sự vật xuất hiện với bạn, mặc dù chúng xuất hiện có một sự tồn tại độc lập, khách quan, bạn sẽ biết như là một kết quả của thiền định của bạn rằng điều này là không thực sự là trường hợp. Bạn sẽ biết được rằng mọi thứ không thực và và vững chắc như chúng được thấy. Vì vậy, thuật ngữ ‘ảo giác’ chỉ ra sự chênh lệch giữa cách mà bạn nhận thức sự vật và cách mà chúng thực sự là.

Phát tâm giác ng

Những ai hâm mộ lý tưởng tâm linh của tám câu thơ chuyển hóa tâm thì có lợi ích thêm khi đọc những câu sau đây để phát tâm giác ngộ. Phật tử tu tập nên đọc những câu thơ và suy ngẫm về ý nghĩa của các từ, trong khi cố gắng để nâng cao lòng vị thalòng từ bi của mình. Những người bạn của bạn từ các truyền thống tôn giáo khác có thể rút ra từ lời dạy thiêng liêng của riêng bạn, và cố gắng cam kết để nuôi dưỡng những tư tưởng vị tha trong việc theo đuổi các lý tưởng vị tha.

Với mong muốn giải thoát tất cả chúng sinh
Tôi luôn luôn nương tựa
Đức Phật, Pháp và Tăng đoàn
cho đến khi tôi đạt đến toàn giác.

Nhiệt tâm bằng trí tuệtừ bi,
Hôm nay trong sự hiện diện của Đức Phật
Tôi phát tâm vì sự giác ngộ viên mãn
vì lợi ích cho tất cả chúng sinh.

Nếu vũ trụ còn tồn tại,
Nếu chúng sinh vẫn còn,
Thì nguyện của tôi vẫn tiếp tục
Và xua tan đi những khổ đau của thế giới.

 (With a wish to free all beings
I shall always go for refuge
to the Buddha, Dharma and Sangha
until I reach full enlightenment.    

Enthused by wisdom and compassion,
today in the Buddha’s presence
I generate the Mind for Full Awakening
for the benefit of all sentient beings.

As long as space endures,
as long as sentient being remain,
until then, may I too remain
and dispel the miseries of the world
.)

Kết luận, những ai thích tôi, tự coi mình là đệ tử của Phật, nên thực tập nếu có thể. Đối với những người theo truyền thống tôn giáo khác, tôi muốn nói, "Hãy thực hành tôn giáo của bạn nghiêm túc và chân thành." Và với những người phi-tôn giáo, tôi yêu cầu bạn cố gắng hâm nóng trái tim. Tôi đặt yêu cầu này đối với bạn vì những thái độ tinh thần thực sự mang lại cho chúng ta hạnh phúc. Như tôi đã đề cập trước đây, chăm sóc người khác thực sự có lợi cho bạn.









Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 165446)
30/06/2015(Xem: 10767)
08/02/2015(Xem: 19949)
10/10/2010(Xem: 98759)
10/08/2010(Xem: 102507)
08/08/2010(Xem: 106287)
21/03/2015(Xem: 10430)
27/10/2012(Xem: 55398)
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.
Cuộc thi “Ăn chay an lạc” mong muốn mọi người được ăn chay đúng cách. Bởi trên thực tế, có một nhóm người ăn chay nhưng vẫn chưa có sức khoẻ tốt, thậm chí bị béo phì.. là do ăn nhiều sản phẩm từ bột mì trắng như bánh ngọt, bánh, kẹo, nước ngọt, đồ uống đóng chai. Khi tiêu thụ những thực phẩm này dù là chay nhưng vẫn chưa đúng cách. Ăn chay đúng cần biết kết hợp nhiều rau xanh và vitamin từ thực phẩm khác.
Khóa Tu Học Phật Pháp Bắc Mỹ Lần Thứ 8 năm 2018 sẽ do Thiền Viện Chân Không - Hawaii đảm nhiệm việc tổ chức, địa điểm và thời gian được sắp xếp như sau: - Địa điểm: ALA MOANA HOTEL - 410 Atkinson Drive, Honolulu, Hawaii 96814 - Thời gian: Từ Thứ Ba đến Thứ Hai, ngày 11-17 tháng 9 năm 2018.