PHỤ LỤC

30/11/20173:54 CH(Xem: 254)
PHỤ LỤC

Phật lịch: 2561; Việt lịch: 4896; Nông lịch: Đinh Dậu
THIỀN QUÁN VỀ SỐNG VÀ CHẾT
Cẩm Nang Hướng Dẫn Thực Hành
The Zen of  Living and Dying
A Practical and Spiritual Guide
Nguyên tác Anh ngữ: Đại Sư Philip Kapleau
Việt dịch: HT Thích Như Điển & TT Thích Nguyên Tạng
Chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc
Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu Ấn Hành 2017




PHỤ LỤC:

PHỤ LỤC A

Giấy Ủy Thác[1]

Chúng ta đang sống trong một thế giới phát triển rất mạnh về những cơ hội điều trị bằng y khoa và qua đó có nhiều sựquyết định có trách nhiệm của bệnh nhân hơn lúc nào cả (1). Một vài quyết định quan trọng liên quan đến y khoa màchúng ta phải làm, khởi lên khi chúng ta đi gần đến sự kết thúc của đời mình. Khi chuẩn bị chu đáo cho sự chết,chúng ta không những chỉ giảm bớt những gánh nặng về sự quyết định cho gia đình, mà chúng ta còn phải chính mình rất phải rõ ràngCon đường tốt nhất để chuẩn bị cho sự ra đi là:

  1. Hãy chuẩn bị trước về giấy ủy thác có sự hướng dẫn về xử dụng thuốc men và tiếp tục viết xuống những ước mong của mình, một cách tốt nhất như chúng ta có thể.
  2. Ủy nhiệm cho một người đáng tin cậy để đối diện với những tình huống bất ngờ, điều mà chắc chắn có thể xảy ra.
  3. Hãy tìm ra những điều hỗ trợ nào mà lúc cận tử nhận được từ những bác sĩ.

 

Sống Với Kỹ Thuật

Trong thế giới phát triển, đời sống trở nên dính liền với kỹ thuật. Chúng ta sanh ra, sống và chết đều ảnh hưởng đếnthế giới kỹ thuật. Cả 80% của chúng ta đều là những người chết trên giường bệnh của bệnh viện (2). Người ta thường nói rằng: Thiên nhiên chưa từng ngược đãi quả tim đã từng thương yêu nó, thế nhưng đối với nhiều người trongchúng ta tình yêu thương đó chỉ nghiêng về một mặt. Chúng ta chỉ là những người yêu chuyện thiên nhiên bằng một phân nửa. Chúng ta đón nhận niềm vui của một sức khỏe tự nhiên, thế nhưng chúng ta cũng chống trả lại những bệnh tật tự nhiên, điều mà chúng ta cũng dễ bị mắc phải.

Qua thuốc men, chúng ta có thể giảm thiểu cơn đau và sự không mấy thoải mái của mỗi cá nhân để nâng cao giá trịcủa cuộc sống và tuổi thọ của cuộc đờiChúng ta chọn lựa dứt khoát khi làm nhiều việc trong quá khứ và sẽ xảy ra với chúng ta ngày hôm nay. Chúng ta kiểm soát sự sanh để kéo dài sự sống và cũng có nhiều cơ hội khi chúng tamuốn sự chết như thế nào. Vâng! chúng ta còn sợ hãi và bất an khi gặp một việc nên quyết định cho cuối cuộc đờicủa mình, bởi vì từng sự quyết định ấy với chúng ta còn lạ lẫm, và chúng nó có những hậu quả của giây phút cuối cùngTuy nhiên chúng là những sự hiện hữu không thể đối nghịch lại trong thế giới, nơi mà tạo ra cho chúng ta có thể có được nhiều sự chọn lựa.


Sự Tự Quyết Của Bệnh Nhân

Theo truyền thống thì nhiệm vụ của bác sĩ phải điều trị chăm sóc và chữa trị cho bệnh nhân. Thời gian gần đây sự tự quyết của bệnh nhân trở thành một ưu việt về đạo đức (3). Quyền tự quyết định và tự quản được hiểu rằng như là cái quyền để được từ chối sự chữa trị. Quyền này đã trở thành nền móng căn bản dựa vào luật pháp sau đây, trong những trường hợp của từng thời kỳ ở nơi đâu mà vai trò là: “Mỗi người với tuổi thành niên và có một tâm thức vững vàng có quyền tự quyết định được những gì sẽ xảy ra với chính thân thể của mình” (4). Quyền tự quản của bịnh nhân cũng còn được nới rộngbao gồm cả phạm vi của sự từ chối chữa trị của đại diện bịnh nhân (5) và quyền lợi tối thiểucủa bệnh nhân cho việc chết (6). Một điều khó khăn phát sanh là khi mà chúng ta chẳng thể tự mình nói lên hay diễn tả sự mong muốn của chúng ta để nhận sự trị liệu - hay là chúng ta bị bỏ mặc một mình.

Sự quyết định này khi nào chúng ta thật sự không thể làm gì được hoặc diễn đạt, để chấp nhận một sự chữa trị y khoa, thường được do bác sĩ quyết định. Họ thường thử nghiệm xem chúng ta tự nguyện về sự đồng ý đó hay là khả năng quyết định hoàn toàn không có. Sự đồng ý ấy đòi hỏi nơi chúng ta rằng phải hiểu rõ về sự nguy hiểm và sự lợi lạc của bất cứ một vài quyết định y khoa nào. Điều này chỉ giới hạn riêng cho một vấn đề này.

Sự quyết định trị liệu ấy phải là việc tự nguyện và được hướng dẫn - nghĩa là phải dựa trên những tin tức chính xácđược cung cấp bởi bác sĩ.

Bác sĩ phải có hiểu biết về tình huống của bệnh nhân và quán sát xem bịnh nhân phải như sau đây không:

1. Biểu hiện chọn lựa sự chữa trị.

2. Nắm bắt hướng dẫn thông tin y khoa và phải biết rằng cần chữa trị trong một thời gian lâu dài.

3. Thảo luận về những điểm cần yếu

4. Dự đoán một tình huống nguy hiểm nhỏ nhoi sẽ phải tiếp nhận.

Việc tiếp theo là chúng ta phải thể hiện việc quyết định cho sự lựa chọn của chúng ta thật rõ ràng. Nếu chúng takhông tỉnh táothần kinh rối loạn hay vô lực, điều này chắc chắn không thể để xảy ra và cho sự hướng dẫn không thểthực hiện được. Điều này dẫn đến sự cần thiết trong trường hợp tinh thần không minh mẫnVì vậy điều cần thiết làchúng ta phải chuẩn bị trước trong khi chúng ta có đủ thời gian và điều kiệnCon đường tốt nhất để thực hiện cho việc này là hãy viết lại những lời ủy thác cho những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai. Bất cứ ai là vị thành niên đều phải làm điều này. Có một vài tình huống nổi tiếng và gây sự tranh luận liên quan đến sự tự quản của bịnh nhân liên hệ giữa những người ở tuổi giữa 20 - 30 và trong tình trạng có sức khỏe tốt trước khi họ trở thành bại liệt, giống nhưtrường hợp của Karen Quinlan và Nancy Cruzan.

Làm Bản Chỉ Thị Trước

Chỉ thị trước cho phép bệnh nhân không những chỉ cự tuyệt là sự không mong muốn được chữa trị, mà cũng còn đòi được điều trị như ý họ muốn. Mục đích của việc chỉ thị trước là dự phòng cho tương lai của những sự quyết địnhchữa trị và chuẩn bị hướng dẫn cho những người chăm sóc cũng như cho những thành viên trong gia đình. Những sự chỉ thị này chỉ có đóng một vai trò khi mà bệnh nhân chẳng còn khả năng để trực tiếp cung cấp sự điều trị như đã thảo luận bên trên. Nếu mà người bịnh chẳng thể cho biết cách thức để quyết định cho tương lai của họ thì gia đình và bác sĩ phải quyết định điều này trong một không khí của sự nguy cấp và không chắc chắn. Sự chỉ thị trước cho ta biết tiếng nói về quan điểm của bệnh nhân khi mà họ chẳng thể nói trực tiếp được. Họ chẳng thể lấy đi được quyền được chữa trị của cá nhân, mà phải được bảo tồn và được gia tăng trong tương lai.

Sự chỉ thị trước này đã trở nên nổi tiếng kể từ khi chúng được áp dụng bởi Tổng Thống Nixon và Jackie Kennedy. Tổng Thống Bill Clinton và bà Hillary Clinton cũng đã báo tin cho biết về mục đích của họ để cung cấp trước sự chỉ thị cho sự chăm sóc và chữa trị trường hợp của chính họ (7). Tất cả những bệnh viện ở Hoa Kỳ nhận được sự tài trợ củaLiên Bang đều phải cung cấp những hướng dẫn in ra giấy về sự ủy nhiệm khi chấp nhận một bệnh nhân (Tuy nhiên, họ không được đòi hỏi từ bệnh nhân phải điền vào giấy ủy nhiệm ấy) (8).

Nếu trường hợp mà bạn bị mất khả năng trước khi lập ra sự ủy thác đó thì làm sao? Nếu bạn chẳng có những người thân gần gũi, thì phải cần chọn một người đại diện để bảo chứng. Năng lực của người bảo hộ ấy dựa trên quyết địnhcủa tòa án, để làm sao khi đã được tòa chỉ định người bảo hộ ấy phải hành động linh hoạt nhất để đại diện cho quyềnlợi của người được chữa trị (9). Một người bảo hộ do tòa án quyết định sẽ khó mà đương đầu như một người mà bạn đã tin tưởng ủy thácTuy nhiên nếu tình trạng của bạn cho phép một sự hướng dẫn chữa trị, cho phép nhân viên ấy và cung cấp những hướng dẫn qua một ước muốn của người đang sống là lý tưởng nhất (10).

Nhân Viên Chăm Sóc Sức Khỏe

Điều quan trọng nhất về vấn đề chỉ thị trước là chọn một người để chăm sóc sức khỏe, còn gọi là một người được ủy nhiệm hay một người đại diện, có thể quyết định thay thế cho bệnh nhân. Đa số những quyết định chăm sóc sức khỏemà cần phải làm, liên quan đến sự chăm sóc hằng ngày và chữa trị, hoặc những lý do thay thế  chứ không phải chỉ lúc cần rút dây. Bởi vì không có một phương tiện nào hơn để thông báo những phương tiện y khoa, nên vì vậy mà phải có một người nhân viên chăm sóc, người mà có thể trả lời cho những việc không thể dự đoán được.

Một sự thảo luận sâu xa về sự  tự do chọn lựa của bạn với bác sĩ là yếu tố để làm rõ sự mong cầu của chính bạn. Sau đó bạn phải nói lên những quyết định và những cảm nghĩ của mình với người chăm sóc ấy. Ngoài ra việc chỉ định một người lo vấn đề sức khỏe cho bạn phải được viết xuống vào đơn. Không có gì có thể thay thế bằng mặt đối mặt, liên hệ với nhau trong việc giúp đỡ của người được ủy thác hiểu được quan điểm của bạn. Bạn cũng phải thảo luận vấn đề này với gia đình của bạn, để tránh bớt sự ngỡ ngàng và giảm đi sự bất hòa có thể xảy ra sau đó.

Từ chối không được cung cấp thức ăn và nước uống là trường hợp đặc biệt trong một vài tiểu bang. Thông thường thì nước và thức ăn không được bị từ chối trong khi còn chữa trị. Hơn nữa giả định được có thức ăn uống của bịnh nhân mạnh hơn là điều chữa trị cần thiết. Như thế bạn cần phải chuyển đạt nhu cầu của bạn rõ ràng trong mẫu đơn, nếu bạn không cần có thực phẩm và nước và bạn phải nói rằng trong trường hợp nào thì sự đo lường này được áp dụng.

Di Chúc Sống

Điều được biết nhiều về những chỉ thị trước là di chúc sống, được viết ra nhằm để ngăn lại sự cực đoan kéo dài trong quá trình của việc chết. Dĩ nhiên di chúc sống chỉ có giá trị nếu bịnh nhân đã đến điểm cuối của điều kiện y khoa và không còn hy vọng nào để hồi phục. Di chúc sống giới hạn cho việc từ chối chữa trị. Bởi vì nó được giới hạn trong những gì mà nó bao trùm lên, nên nó không phải là sự thay thế chọn lựa những người được ủy thác. Một sự giới hạnkhác của di chúc sống không có người được ủy thác, có thể bác sĩ của bạn đã không để ý đến trừ trường hợp bạn có người ủy thác để giải thích và để hiệu hóa nó (11). Tuy nhiên, nếu tiểu bang của bạn cho phép hợp lý điều đó thì một sự kết hợp trực tiếp mà cả hai cách chuẩn bị trước chọn lựa người được ủy thác và cung cấp những sự hướng dẫncần thiết qua giấy ủy thác là lý tưởng nhất. Không những vậy, nếu bạn chẳng có ai để làm người ủy thác của bạn, thì một di chúc sống có thể thay thế với một cơ hội tốt nhất cho sự gởi gắm sự mong muốn của bạn.

Hãy nhớ rằng, sự chỉ định trước này tổng quát phải là sự giới hạn chủ yếu cho sự từ chối trong việc chữa trị. Chúng cũng là cơ hội của bạn để diễn đạt trình độ chữa trị mà bạn mong muốn. Ví dụ như sự chỉ định trước của bạn có thể xác minh được mức độ mong muốn của bạn về sự giảm đau mà bạn muốn, cũng như trong trường hợp nào thực phẩm cũng như nước uống mà bạn mong phải ngưng cung ứng. Sự chỉ định trước cho chúng ta một cơ hội để chia sẻ cho sự quyết định cá nhân về đề tài này.

Những Vấn Đề Rắc Rối

Một người viết ra sự chỉ thị như vậy và sự việc này còn nằm trong tương lai. Thông thường người nào có sự chọn lựa việc ngưng chữa trị chẳng thể thay đổi tâm của họ sau đó (12). Quá trình của việc tạo ra cho việc chỉ định trước như vậy để giúp cho bạn suy nghĩ xuyên suốt và làm ổn định sự chọn lựa chữa trị của bạn. Thế nhưng cũng có nhữngtrường hợp người ta có sự hồi phục lại từ một tình huống đang mê man, mà cho rằng không bao giờ tỉnh lại được (13). Và điều này dễ hiểu rằng sẽ nổi dậy một câu hỏi bất an rằng, có phải là đúng đắn cho sự từ chối được chữa trịtiếp tục không? Tuy nhiên, đây là những trường hợp ngoại lệ. Có rất ít người hồi phục lại sau khi bị mê man cả tháng, để trở lại sống cuộc sống bình thường (14).

Sự chỉ định trước này có thể là sự nguy hiểm có thể xảy ra. Chúng ta có thể nghĩ rằng một bệnh nhân vì lý do tài chánh eo hẹp của HMO nên bịnh nhân này trở thành nạn nhân do sự lừa đảo của những người trách nhiệm trong bệnh viện, vì muốn tiết kiệm tiền, nên đã từ chối điều trị sớm cho bệnh nhân ấy và vì sự thiếu trách nhiệm này sẽ gia tăng tốc độ để bệnh nhân ấy phải bị chết. Vấn đề này sẽ ít trầm trọng hơn nếu có một người được ủy thác.


Nguồn Giúp Đỡ

Cách thức hướng dẫn để thực hiện sự chỉ định trước có thể xem được từ sự chọn lựa cho sự qua đời ở số:

200 Varick street, New York, NY 10014 USA,

Tel. (800) 989-9455;

website: www.choices.org;

email: cid@choises.org.

Tại Âu Châu, có thể liên hệ với cơ quan:

World federation of right-to-die societies,

61 Minterne Avenue,

Norwood Green, Southall, Middlesex,

England UB2 4HP;

Tel. (44) 181-574-3775.

Ở Đức:

Busdesarbeitsgemeinschaft Hospiz,

Renkerstr. 45,

52355 Dürren, Deutschland;

Tel. 02421-599472,

Fax: 02421-599473 và

Internet: www.hospiz.net

Bạn cũng có thể yêu cầu luật sư của bạn làm một mẫu đơn cho việc chỉ định trước này. Một lời khuyên là bạn nên dùng một mẫu đơn được chấp nhận nơi bạn ở. Tuy nhiên bạn cũng có thể điều chỉnh để thích hợp với sự chọn lựa của bạn. Xử dụng mẫu đơn đã được thừa nhận nơi bạn cư trú thì hợp pháp và quen thuộc đối với những người chăm sóc sức khỏe của bạn. Bạn hãy có hai người lớn làm chứng cũng như chưởng khế cho việc chỉ định này. Một giấy copy có dấu ấn của chưởng khế ở Đức không cần thiết, nhưng ở Hoa Kỳ thì nên có những bản copy để gởi cho bác sĩluật sư, những người gần gũi trong gia đình của bạn và ngoài ra thì bất cứ người nào trong vai trò có thể quyết định về sự chữa trị y khoa của bạn. Hãy để một bản copy cho việc chỉ định này ở nơi nào dễ thấy và có thể xử dụng trong trường hợp khẩn cấp.

Sự Trợ Tử Của Bác Sĩ (Y Tá)

Cái gọi là sự trợ tử do bác sĩ (y tá) đã phân chia quan niệm quần chúng ở Hoa Kỳ ra làm hai phe. Những người chống đối sợ chính việc này như sự chọn lựa di truyền của Nazi, những người hỗ trợ thì cho rằng đây là một câu hỏi đơn giản cho người tự quyết định của cá nhân: "Sự trợ tử của Bác Sĩ và y tá", đây là con đường tốt nhất cho sự diễn tảhành trình này, bởi vì sự yêu cầu của bệnh nhân cho việc chết cao cả cũng như sự trợ giúp của bác sĩ, y tá lúc cuối của cuộc đời liên hệ rất nhiều, không phải chỉ là sự quyết định đơn độc của sự trợ giúp cho việc chết kia. Sự giảm đau hay sự giảm nhẹ khác, hoặc là chăm sóc cho an toàn, sự liên hệ hỗ tươngkính trọng trước sự tự quyết định của bệnh nhân và tôn trọng ngay cả sự phán quyết của bác sĩ, y tá tất cả đều là quan trọng. Chúng ta cần phải tìm hiểuthêm về những đề tài này với bác sĩ trong khi chúng ta còn minh mẫn để có thể hiểu rõ rằng chúng ta sẽ nhận được sự giúp đỡ nào.

Nhiều người nhìn vai trò của bác sĩ gắn liền với người bệnh - một sự làm việc chung cho đến khi qua đời. Điều nàyvượt qua khỏi sự kéo dài đơn lẻ của sự sống và ngay cả bao gồm sự giúp đỡ cho một vài người nào đó để họ ra đi (15). Điều chắc chắn rằng đa số bác sĩ sẽ nỗ lực để giúp bệnh nhân của họ hồi phục không mong muốn đề cập đếntrường hợp cuối cùngTuy nhiên có một vài bệnh nhân đau khổ mặc dù những bác sĩ đã cố gắng hết sức (16). Mặc dầu câu hỏi về quyền để trợ tử của bác sĩ đem đến nhiều lo âuTuy nhiên điều này cũng không đúng nếu mà lập tứctừ chối (17). Ở phần dưới đây tôi muốn tranh luận về một vài điểm chính này.

Bệnh Tâm Trí Không Thể Chữa Trị

Những bác sĩ, y tá trợ tử chỉ được làm theo sự quyết định của những người bệnh muốn chết. Tình trạng tinh thần mà những hậu quả của sự quyết định không thể nắm bắt được, những đè nén có thể chữa trị hoặc những cảm giác thất vọng tạm thời làm cho bệnh nhân càng muốn chết hơn (18). Trong những hoàn cảnh này thì việc trợ tử của bác sĩ, y tá cho người muốn chết không thể là lý do chính đángẢnh hưởng của việc dẫn đến sự ra đi cố tình rất là nặng nề, cho nên cần phải suy nghĩ cho thật kỹ cũng giống như đã thảo luận trước đây ở phần 6 về “Tự tử và trợ tử.”

Triệu Chứng Cơ Thể Không Thể Chữa Trị Được

Lòng mong cầu để được chết thường được liên đới với việc giảm đau hoặc là những cơn đau không thể chữa trị được. Vì lý do này tất cả các điều kiện để giảm đau cho bệnh nhân phải được áp dụng trước khi một bác sĩ trợ tử được đề cập đến. Một sự nhấn mạnh trong việc chăm sóc giảm nhẹ sự đau đớn, trong đó có việc giảm đau, đang nhận được trợ giúp trong nhiều tiểu bang (ở Hoa Kỳ). Bác sĩ trợ lý và những người điều trị ung thư là những người có khả năng nhất để làm giảm đau (19).

Sự Dễ Bị Thiệt Thòi Của Những Người Thiếu Quyền Lợi

Những thành viên của một thiểu số, những người bị tật bẩm sinh, người già và những người nghèo khó thì thường hay bị tổn thương trong cộng đồng và với họ thường bị thành kiến trong một xã hội, nên không có một sự bảo vệ nào hết. Tại vì nhóm người này họ không có quyền lực nên họ sợ rằng họ có thể nhanh chóng ra đi. Qua sự điều tra thì cho thấy rằng vì điều này đại đa số người nghèo, những người già cả và những người da đen thường hay bị chối từsự trợ tử hợp lý do của Bác Sĩ ở Hoa Kỳ, mặc dầu rằng đa số những người Hoa Kỳ đều hỗ trợ về việc này (20).

Sự Phản Đối Của Y Sĩ

Kể cả khi chúng ta cho rằng sự tự quyết của bệnh nhân là việc ưu tiênChúng ta không thể đòi hỏi từ một bác sĩ từ bỏđi phẩm chất trung thực về đạo đức cá nhân để mà làm hài lòng những sự mong cầu của bệnh nhân (21). Nhiều bác sĩ đã làm rõ sự sai biệt giữa trách nhiệm của họ là "trước tiên không làm hại ai cả", và giúp cho người bệnh cố tình kết thúc được cuộc sống của họ. Họ lo ngại rằng sự trợ giúp kia có thể trở thành trách nhiệm nghề nghiệp của họ. Bác Sĩcó sự lo âuquan tâm về việc này cũng có thể chối từ không tham dự việc trợ tử. Những luật lệ đã được thêm vào gần đây sẽ làm hợp lý hóa việc trợ tử của bác sĩ (ở Hoa Kỳ) trong việc chết đi cũng là sự bảo vệ để bác sĩ làm việc đó (22).

Luật Về Sự Hỗ Trợ Của Người Y Sĩ

Năm 1991 bác sĩ Timothy Quill đã cho xuất bản một quyển sách để hướng dẫn giới thiệu về những việc làm của ông ta, giúp cho những bịnh nhân bị bệnh nặng muốn được chết (23). Thế nhưng những hành động đã được áp dụngrộng rãi, lỗi thời cho những người già cả, mà họ thường được giấu kín (24). Thực tế thì bác sĩ Quill mong muốn mang đến cho người khác qua tác phẩm của ông ta những sự thảo luận công khai về cách thực tập này cũng như chấm dứtsự thực hành giấu giếm (25).

Hai trường hợp được xử lý qua Tòa án kể cả trường hợp thứ nhất của Bác Sĩ Quill là người bị cáo đã được kết hợpcùng với sự quyết định của Tòa án tối cao của Hoa Kỳ. Tòa án đã đưa ra quy định giới hạn về quyền được chết ở một số tiểu bang khi bệnh nhân chối từ về việc trị liệu. Theo trên thì không có bệnh nhân nào được có quyền tự lựa chọnsự trợ tử dưới hiến pháp của Hoa Kỳ (26). Ở một vài tiểu bang được trợ giúp sự tự sát vẫn còn được xem như việc giết người (27).

Cho đến khi những tiểu bang ở Hoa Kỳ cho phép bác sĩ hành nghề tự do với sự đồng ý của bệnh nhân của họ để trợ giúp về việc ra đi cuối đời, chỉ giới hạn cho những sự có thể của người bệnh để từ chối cách trị liệu nào đó và giữ nguyên cách trị liệu đó. Điều mà cả hai đều có thể áp dụng được. Ví dụ như sự xử lý của thuốc để giảm đau có thể tăng thêm kết quả của sự trấn áp hơi thở và làm cho đời sống ngắn lại. Kết quả muốn đạt được là muốn được giảm đau và điều không muốn mà không tránh được, nhưng vẫn được hợp pháp - kết quả có thể dẫn đến sự chết.


Kết Luận

Qua kết quả nghiên cứu gần đây có 53% các bác sĩ chăm sóc về bịnh nhân AIDS có hướng dẫn ít nhất trợ tử cho một bệnh nhân (28). Người ta nên chấp nhận sự thật này hoặc giả bám với quan niệm cũ xưa về vai trò của một vị bác sĩ?Hiệp hội y khoa bác sĩ (A.M.A.) đã chống lại sự trợ tử của bác sĩ và đề xuất rằng phải cần chăm sóc bệnh nhân khác hơn thì sẽ loại ra việc trợ tử đó (29). Những người khác đưa ra những phương án cho việc điều hành trực tiếp của việc trợ tử của các bác sĩ (30). Những phương án, những sự hướng dẫn và những thủ tục cần thiết có thể nhận được từ một vài nhóm bác sĩ, mặc dù trên thực tế thì quá trình ấy đang là bất hợp pháp (31). Kết luận của câu hỏi này là không có, cho nên mỗi người trong chúng ta phải tự tìm câu trả lời cho chính mình.

 

PHỤ LỤC B

Việc Chăm Sóc Ở Bệnh Viện

Phong trào chăm sóc của bệnh nhân đã được làm sống dậy ở Anh hay ở Mỹ bởi những cơ quan chăm sóc sức khỏechuyên môn vì họ không hài lòng với chất lượng quan tâm có được đối với những người bệnh tật không thể trị liệuđược và cho những ai sắp sửa mất. Điển hình là trước khi được chăm sóc, những bệnh nhân nầy được đưa vào trong một bộ phận đặc biệt được chăm sóc trong bệnh viện, được đối xử như là một vật dụng hơn là một thực thể của mộtcon người đang chết, mặc dù với một ý đồ tốt nhất. Thay vì chúng sanh ấy được giúp đỡ chữa trị và thoải mái ở những giây phút cuối cùng, họ bị cướp đoạt nhân phẩm và sự tĩnh lặng do những cơ quan cũng như máy móc chế tạo ra để giúp đỡ cho họ. Thay vào đó những người gần chết nầy họ phải nằm ở nhà, tách biệt bởi những người thân của họ, bởi sự kiệt sức cả hai bên, bởi những cảm giác tội lỗi, bởi căn bịnh và sự đau đớn của nó hoặc là bởi những toa thuốc an thần để làm giảm cơn đau.

Gia đình của người bệnh chết thường sầu não với sự căng thẳng về tâm sinh lýtinh thần cũng như tài chánh. Điều nầy thường thường dẫn đến những cơn bịnh cả hai mặt thể xác và tinh thần cho toàn gia quyến. Trong khi đó đối với người bệnh đang chết những sự căng thẳng nầy thường được tạo ra bởi chương trình điều trị và cơ quan môi trường được thiết lập cho những ai là những người sẽ được hồi phục, chẳng phải cho những người đang chết.

Sự tìm kiếm cho những điều kiện tốt hơn để chăm sóc cho người mất dẫn đến một sự tái phát hiện của khái niệm bệnh viện chăm sóc thuộc thời trung cổ. Chữ “hospice” xuất xứ từ tiếng Latin và chữ nầy chỉ cho bệnh viện, và sự chăm sóc ở bệnh viện thuộc thời trung cổ; hoặc một nơi chốn thuộc bệnh viện, mở cánh cửa cho những người nào cần đến sự giúp đỡ nhiều nhất: Như những người đi hành hương, những kẻ đi du lịch xa nhà, những người bệnh hoạn và cho những ai không thể trị liệu được bệnh tật. Những nơi chăm sóc như thế thường rộng rãi, được tổ chức rất tốt và khá nổi tiếng – như nơi chăm sóc của bệnh viện thời trung cổ ở Rhodes (bệnh viện thời trung cổ cho nhữngLinh Mục, ở vào thời kỳ đầu của Thập Tự giá (1069-1099) đã được tồn tại). Trong khi những loại khác thì giản đơn hơn của những nhà ở thôn quê, nhưng tất cả cũng đều có chung một ý tưởng phụng sự. Dù đó được tổ chức bởi những vị tu sĩ hay nữ tu, những tín đồ, hoặc đơn giản là những người cảm thấy được ân trên gọi để chăm sóc những người khác, ở phần tốt nhất của họ, bao gồm một trạng thái tinh thần mà bây giờ đã bị biến mất đi bởi sự tiến hóa của những nhà thương trong hiện tại.

Tất nhiên nhiều vấn đề liên quan về việc chết chóc mà chúng ta đang có ở Phương Tây. Arnold Toynbee đã cho rằng: “Cái chết không mang đặc tính của người Mỹ”. Sự chết làm cho chúng ta sợ hãiquan niệm thần thoại của chúng ta -thần thoại về quyền năng của kỹ thuật, thần thoại của biên giới luôn luôn mới mẻ và có thể chinh phụcthần thoại về sự vĩnh cửu tạo tác của chúng ta.

Sự phủ nhận về cái chết dẫn đến sự chối từ một cuộc sống sau đó và ở trong hoàn cảnh (phạm vi) nầy sự chăm sóc của các bệnh viện hiện đại được trở thành một sự khẳng định về lòng từ bi cho cuộc sống, với năng lực để cứu vớt những người sống cũng như những người chết. Sự chăm sóc cả thời xa xưa và hiện đại đều đã được xây dựng trên sự xác tín yên tĩnh là sự chết giống như sự sống, đó là một loại hành hương xuyên suốt qua từ cái không có sự bắt đầu và chẳng có một sự chấm dứt nào cả.

Ở tại một nơi chăm sóc bệnh nhân, chẳng phải được cho là một người không thể chữa được và đang chết, mà là mộtcon người mang với một chứng bệnh (ví dụ như một cơn đau), mà có thể được chữa trị và thường được kiểm soátchặt chẽ hơn. Biện pháp chữa trị giảm đau nầy không hướng đến việc kéo dài cuộc sống, nhưng là một việc làm tăng lên chất lượng cho cuộc sống đó. Những chứng bệnh được trị liệu có ý nghĩa bằng phương cách hỗ tương tác dụng, nghĩa là chúng nó không được cho là đang bị đơn độc với nhau. Như một ông Giám Đốc bệnh viện ở Anh nói với nhân viên rằng: “Hãy đừng chữa trị chỉ cho cơn đau mà bạn hãy chữa trị theo tình huống”. Tất cả điều nầy ảnh hưởngđến thái độ có tính cách lạc quan của những nhân viên đang chăm sóc, bệnh nhân và gia đình của họ. Mục đích tối thượng của sự chăm sóc bao gồm sự linh hoạt, để cho người bịnh thấy không có sự đau đớn khổ tâm, để giúp họ có một cuộc sống đầy đủ nhất cho đến khi họ chết.

Đa số những nơi chăm sóc đều cổ động mọi người nên giữ ở nhà, điều mà thích ứng bởi vì sự chăm sóc được giới hạn bởi không gian cho những người cần nó nhất. Điều quan trọng hơn, khi mà gia đình có thể cung cấp đầy đủ toàn bộ cho sự chăm sóc đầy đủ thì có được cơ hội để phát triển cá nhân, để giải quyết những vấn đề của gia đình tích tụtừ lâu và sau khi bệnh nhân chết có ít hơn cơ hội mà tội lỗi và sự nghi hoặc bởi chính mình. Những người làm côngviệc thiện nguyện thường quyết định sự trợ lực cho gia đình để giữ lại người ấy ở nhà xuyên qua những kinh nghiệmkhó khăn. Những nhân viên chăm sóc thường làm việc cả ngày lẫn đêm 24 tiếng đồng hồ và 7 ngày trong tuần.

Tất cả những bệnh viện cung cấp những dịch vụ chăm sóc. Việc chăm sóc nầy có thể được ở riêng trong khu nhà của nơi chăm sóc hoặc là một căn phòng nào đó trong một tầng lầu của bệnh viện; nơi có những nhân viên được đào luyện để làm việc chăm sóc ấy. Nhưng một điều chung cho việc thiết lập những nơi nầy là bịnh nhân được cho phépnghỉ ngơi. Những cơn đau của họ được cẩn thận quan tâm đến và gia đình cũng như người thân của họ đến thăm họkhông giới hạn.

Một phần quan trọng của chương trình chăm sóc tốt là sự trợ giúp của những người làm thiện nguyện. Những người làm thiện nguyện thường có khả năng đáp ứng được những nhu cầu căn bản của người bịnh. Bởi vì chẳng có một người nào trả tiền công cho họ, họ đặc biệt có khả năng giúp những người bịnh để giữ lấy giá trị của chính họ. Những người làm thiện nguyện nầy là một phần quan trọng của đời sống tinh thần ở nơi chăm sóc ấy và họ thường trở thànhnhững người bạn gần gũi nhất của người đang chết hơn là những người làm chuyên môn như có thể làm được. Khi họ cung cấp thời gian nghỉ ngơi cho các gia đình ngồi canh chừng trong thời điểm của cái chết hoặc đơn giản hơn họcung cấp sự có mặt trong quá trình chết. Họ đã mang lại một tinh thần phụng sự cho cuộc sống.

Việc chăm sóc bây giờ được mở rộng hơn. Có hơn 2.500 bệnh viện chăm sóc có xe cứu thương như ở Hoa Kỳ; ở Đức có 1.000 nơi như thế (tài liệu tháng 1 năm 2001), có 80 trung tâm chăm sóc khác và 56 trung tâm chăm sóc ngắn hạn. Sự chăm sóc cho những bệnh nhân được cung cấp đầy đủ thuốc men và những sự trợ giúp y khoa bởi nhiều hãng bảo hiểm. Mỗi năm đều có sự quy định hoàn trả lại; hiện tại mỗi ngày nằm là 273,42 DM. Ngoài ra có một sự đóng góp tiền từ quỹ trợ giúp sức khỏe, điều ấy tùy thuộc vào mức độ bịnh của bệnh nhân. Nếu mức độ của người bệnh nằm ở sự chăm sóc cấp 2 thì hãng bảo hiểm và chỗ trợ giúp sức khỏe trả chung cho mỗi ngày là 340 DM. Theo sự chăm sóc và tùy theo từng phần mà có sự cao thấp khác nhau - cho đến 450 DM. Còn 10 phần trăm của quy địnhcần thiết của mỗi người thì chính bịnh viện đài thọ. Phần đóng góp của những người bệnh cho việc chăm sóc nầy không quá 30 đến 60 DM hằng ngàyTrường hợp cần thiết thì bộ xã hội nhận trả cho người bệnh khoản nầy. Trường hợp đặc biệt theo quy định khẩn cấp thì Hội Đoàn của việc chăm sóc cũng có thể đảm nhận chi phí trên. Sự chăm sóc được bao gồm toàn bộ bởi bảo hiểm sức khỏe hoặc bảo hiểm trợ cấp sức khỏe, cũng như đa số hãng bảo hiểm. Nếu bạn có một thân nhân trong gia đình mà bạn muốn giới thiệu cho nơi chăm sóc nào đó, bạn có thể gọi trực tiếp nơi chăm sóc đó hoặc là bạn cũng có thể gọi Bác sĩ của bạn để yêu cầu họ làm việc nầy cho bạn. Lý do luôn được sự giúp đỡ là có Bác sĩ giới thiệu, vì Bác sĩ sẽ được hỏi nơi chăm sóc để chứng nhận với điều hiểu biết của ông ta về bệnh tình của người bệnh không hơn 6 tháng.

Người bệnh không cần quan tâm đến sự chẩn bệnh kia; họ chỉ cần biết rằng không có sự chữa trị gay cấn nào đượcáp dụng nữa.

Những ai ưa thích về việc chăm sóc trong bệnh viện cần phải điều tra thật nhiều về chất lượng của sự cung cấp ấy và ở cấp độ nào của những nơi chăm sóc đó áp dụng căn bản được dựa theo những điều mà bệnh viện đã đưa ra, xử dụng trong sự quan tâm giống như sự lựa chọn Bác sĩ của mình vậy.

Những cơ quan sau đây cung cấp tài liệu cho những việc chăm sóc tại bệnh viện ở Hoa Kỳ:

National Hospice Organization

1901 N. Fort Meyer Drive, Suite 307

Arlington, VA 22209. USA

Tel. 703-243-5900

Website: www.NHO.org

 

Children's Hospice International

1101 King Street, Suite 131

Alexandria, VA 22314. USA

Tel. 703-684-0330

 

Ở Đức có những cơ quan như sau:

Bundesarbeitsgemeinschaft Hospiz (BAG Hospiz)

Renkerstr. 45 - 52355 Düren.

Tel. 02421/599472 Fax. 030/595973

Internet: www.hospiz.net

 

Deutsche Hospiz Stiftung

Im Defdahl 5-10

44141 Dortmund

Tel. 0231/7380730

Internet: www.hospize.de

Địa chỉ của những Bác sĩ trị liệu cơn đau có chất lượng sẽ nhận được ở gần nơi cư trú hay:

Deutsche Schmerzliga e.V.

Hainstr. 2

61476 Kronenberg

Tel. 0700/375 37 53 75

Fax. 0700/3753 75 38

Nếu muốn trả lời qua thơ thì xin dán tem vào một bì thơ mới gởi kèm.

Deutsche Gesellschaft für Palliativmedizin (DGP)

Von-Hompeschstr. 1 (Malteserkrankenhaus)

53123 Bonn

Tel. 0228/6481361

Fax. 0228/681851


PHỤ LỤC C

(Căn cứ theo bản dịch tiếng Đức và tiếng Anh)

Những Điều Cần Phải Làm Khi Có Người Qua Đời: BẢNG LIỆT KÊ

Sau đây là danh sách những điều cần thiết phải làm tiếp cận với cái chết. Một phần của danh sách nầy được kết tạo theo cuốn sách của Ernest Morgan "Cẩm nang sự giáo dục về cái chết và chôn cất đơn giản" (32) và sách của Deborah Whiting Little "Chăm sóc ở nhà cho người ra đi" (33) nếu nội tạng được hiến tặng và những cơ phận ấy chỉ có thể được chấp nhận bởi những trường hợp của việc chết cũng như điều kiện của thân thể - gia đình nên cho bệnh viện biết trước khi chết. Bệnh viện sẽ liên hệ với những phương tiện chuyên chở thích nghi để tiếp xúc với gia đình. Những nội tạng của một người mất tại nhà thì không thể thích nghi cho việc hiến tặng.

  1. Hãy gọi cho Bác sĩ của người mất sau một tiếng đồng hồ. Nếu cần thiết phải thông báo cho Bác sĩ khám tử thithì nên yêu cầu Bác sĩ nhà làm những việc nầy. 

    Nếu sự chết xảy ra tại bệnh viện thì hãy báo cho y tá tin rằng người ấy đã chết. Y tá sẽ gọi Bác sĩ để chứng nhận cho việc người ấy đã qua đời. Thông thường nếu không có việc hiến tặng nội tạng của thân thể thì gia đình có thể dùng thời gian nầy để vĩnh biệt lần cuối, trước khi tử thi đưa ra khỏi phòng (giữ lạnh). Cho nên cũng phải báo tin cho cơ quan lo an táng liền sau đó.
  2. Nếu thể xác được hiến tặng cho trường y khoa thì nên gọi trường để thông báo cho họ biết việc người hiến tặng đã chết và dàn xếp lo việc chuyên chở.
  3. Nếu việc mai táng đã chuẩn bị đầy đủ thì nên báo cho cơ quan an táng, khi mà bạn muốn cho họ chở xác ấy đi.
  4. Nếu đã chọn được cơ quan an táng rồi thì hãy cho cơ quan nầy biết thời điểm nào có thể mang xác đi.
  5. Nếu muốn cả người khiêng quan tài đi theo cùng thì bạn (gia đình) phải chọn lựa và bạn hãy nói thời điểm chôn cất với cơ quan an táng nầy.
  6. Hãy thông báo với những người quen trong gia đình và người quen bằng điện thoại và hãy báo cho những người chung quanh biết về vai trò quan trọng của tang lễ.
  7. Hãy liệt kê những người trong gia đình, bạn bè gần gũi và những chủ nhân hay những hiệp hội thương mại của người quá vãng và thông báo cho họ biết bằng điện thoại qua sự ra đi kia.
  8. Hãy chuẩn bị đầy đủ thức ăn nước uống cho những ngày tới và hãy chăm sóc một số việc cần làm như dọn dẹp sạch sẽ nhà cửa. Khi việc chuẩn bị thực phẩm đầy đủ rồi thì hãy tâm niệm rằng cũng còn có thể có thêm nhiều người thân quen và bạn bè từ xa đến nữa.
  9. Nếu trẻ con cần được chăm sóc thì phải chuẩn bị cho những điều cần thiết nên làm.
  10. Hãy tổ chức chu đáo nơi ăn chốn ở cho người thân và bạn bè đến viếng.
  11. Hãy quyết định rằng ai sẽ nhận được tiền phúng điếu ấy cho người chết. Nếu bạn không muốn họ đi vòng hoa và những hoa trang trí khác. Nếu ông bà muốn nhận hoa, thì hãy suy nghĩ sau khi chôn cất sẽ làm gì với hoa ấy.
  12. Hãy đăng cáo phó trên tờ báo hằng ngày và trong nầy thường bao gồm tuổi tác, nơi sinh ra, nguyên nhân của việc qua đời, nghề nghiệp, bằng cấp, thành viên của hiệp hội hay những thành tích đặc biệt của người mất, tên tuổi của những thành viên trong gia đình, cũng như thông báo việc phúng điếu thay thế cho hoa. Một điều ngớ ngẩn là nếu cho biết ngày giờ làm lễ tiễn đưa lần cuối (bởi vì những tên trộm cũng nắm bắt được thông tin nầy, khi nào thì nhà của người chết bỏ trống).
    Hãy thông báo về việc ra đi nầy trên báo chí và việc đăng tải nầy không phải là không tốn tiền.
  13. Nếu người chết, sống một mình thì bạn cũng phải cho biết là thư từ phải gởi đến địa chỉ nào.
  14. Hãy cho luật sư và người bảo quản tài sản của bạn biết về những tài sản liên hệ và hãy khai báo nơi cơ quanhành chánh về người chết và nhận trực tiếp giấy khai tử (từ 10 - 15 tờ). Vì những giấy tờ nầy có nhiều cơ quancần đến.
  15. Hãy viết thư thông báo cho những bạn bè gần xa và những người quen, biết về cái chết ấy.
  16. Hãy tìm ra những cơ quan bảo hiểm hay bảo hiểm nhân thọ cũng như những tài sản được thừa hưởng đang có từ các ngân hàng.
  17. Hãy liệt kê tất cả những khoản nợ và phải trả cho việc vay mượn từng đợt, việc chuyển tên tài sản qua ngườithừa kế thường kéo dài một khoảng thời gian. Cũng như vậy những sự thanh toán tài chánh khác cũng bị trễ nải, hãy thương lượng với những cơ quan tài chánh về sự chậm trễ trong việc trả tiền. Với trường hợp không được vi phạm những quy định của hợp đồng bảo hiểm.
  18. Hãy gởi lời cảm tạ đến những người chia buồn qua điện thoại cũng như đi hoa phúng điếu hay những đồ kỷ niệm khác; ngoài ra cũng cảm ơn những ai đã giúp cho thực phẩm, chăm sóc trẻ con hay những vấn đề khác, hãy gởi đến họ  những lời cảm ơn chân thànhbao gồm cả những y tá hay những cơ quan y tế chuyên nghiệp, những ai mà đã giúp đỡ cho người qua đời trước đó.

 

PHỤ LỤC D

An Ủi Người Có Tang: Những Điều Nên Làm Và Không Nên Làm

  1. Hãy thể hiện sự quan tâm và lo lắng tận tình.
  2. Hãy chia buồn những gì đã xảy ra với thân nhân của người đã mất và sự đau khổ của họ.
  3. Hãy cho phép họ biểu hiện nỗi khổ đau mà họ cảm nhận và muốn chia sẻ.
  4. Hãy sẵn sàng để lắng nghe, giải quyết và giúp đỡ trẻ con hoặc những điều gì khác xem như cần thiết trong lúc đó.
  5. Hãy cho phép họ nói nhiều về người yêu thương của họ và thường xuyên như họ muốn.
  6. Hãy nhắc lại những ký ức đặc biệt và những giá trị yêu thương của người đã mất.
  7. Hãy xác nhận rằng họ (thân nhân) đã làm hết khả năng có thể và người chết cũng đã nhận được sự chăm sóc về y khoa đầy đủ hoặc là với bất cứ điều gì mà bạn biết là     đúng mà khả quan về vấn đề chăm sóc cho người đã ra   đi.
  8. Bạn hãy đặt câu hỏi họ chi tiết như “Lần cuối tôi đã nói chuyện với bạn, tôi nhớ rằng...” – “Tôi đã nghĩ về bạn rất nhiều và muốn biết sự việc tiếp diễn như thế nào từ thời ấy...”
  9. Hãy cảm ơn thân nhân của người mất đã chia sẻ sự đau đớn của họ.
  10. Hãy gởi đến họ một vài sự quan tâm của cá nhân.
  11. Hãy đừng nói rằng: “Đó là theo ý Chúa” “Tôi biết bạn nghĩ như thế nào” – “Thời gian sẽ là liều thuốc thần diệu”.
  12. Hãy đừng bao giờ nói: “Chúa đã dạy cho bạn, hãy tin tưởng Ngài nhiều hơn và làm tăng trưởng niềm tin của bạn”.
  13. Hãy đừng nói: “Hãy mạnh mẽ lên, vì có nhiều người khác cần đến bạn”.
  14. Hãy đừng bao giờ nói: “Sự việc có thể tệ hại hơn. Dẫu      sao đi nữa thì vợ bạn vẫn còn sống sót” – “Ít ra thì cũng        có một cháu còn sống sót” – “Đó là một cháu gái, mà điều bạn luôn mong đợi là bé trái” – “Đứa bé đó chắc là bị bệnh tật bẩm sinh”.
  15. Hãy đừng bao giờ nói: “Những việc nầy không phải xảy    ra ngẫu nhiên như vậy. Nó phải có một lý do chính đáng nào đó khác”.
  16. Hãy đừng hỏi qua loa: “Mọi việc như thế nào rồi?”.
  17. Bạn hãy đừng bao giờ để cho thấy sự bất lực của bạn để giúp đỡ và làm ngăn cách bạn gần gũi với người thân quen.
  18. Hãy đừng tìm cách ngăn cản sự sầu thảm, bởi vì bạn cảm thấy không thoải mái.
  19. Hãy đừng ngăn cản khi nhắc đến tên của những người đã mất, vì sợ rằng hồi tưởng lại sự đau đớn của thân nhân.

 

PHỤ LỤC E

Thiền Quán

Thiền Quán Là Gì?

Mặc dù có nhiều hình thức thiền quán khác nhau. Hình thức cao nhất là sự luyện tâm thuộc lãnh vực tinh thần vớimục đích - tạo thành thói quen - cột tâm mình lại và có thể giữ cho thanh tịnh ở trạng thái thoải mái của thân thể vật lýcủa mình. Ở phương diện nầy thì thiền quán sẽ là phương tiện cho sự phát hiện của chính mình. Thiền cũng có thể là một phương pháp giải phóng tâm thức khỏi sự nhiễm ô và những chướng ngạiví như sự tham đắm, sự sân hậnác ý, sự vô tình, sự bất an, sự lo lắng và không biết tàm quí. Cho đến khi nào những hạt bụi của những sự chướng ngại kia được tẩy sạch từ tấm kiếng của tâm, xuyên qua phương pháp Thiền định chúng ta có thể gặp được những pháp như là chân lý tự nhiên, không bị ảnh hưởng bởi tâm thức hay sắc thái cảm xúc khởi lên. Sự gặt hái được kết quả khiêm nhường nhất của thiền định là sự nhẫn nại và sự yên tĩnh của hệ thống thần kinh và làm tuần hoàn vật lýtâm thức cũng như những năng lượng tinh thần. Điều cuối cùng có thể so sánh với một cục pin, được phát động qua máy một loại năng lượng đặc biệt (có thể gọi là năng lực của sự giác ngộ) mà người ngồi thiền có thể gom giữ lại nơi đan điềnCho phép họ phản ứng lập tức khi một việc gì cấp bách xảy đến và không hao sức hoặc mất đi năng lực. Cứ thế từng bước lại từng bước những sự phẫn nộtham lam và mê muội và sự thiền định sẽ mang chúng ta trở lại thế giớiyên lặng rỗng không, trong ánh sáng của cái không trong suốtchúng ta thực sự đã ở trong ngôi nhà của mình. Thực tập ấy sẽ phát triển rộng lớn hơn về sức sống, sự bình đẳngchánh niệm và những trách nhiệm trong mọi tình huống trong cuộc sống của họ. Thiền định vì thế cũng là một sự thực tập để chữa bệnh, giúp cho bên trong chúng ta đượcyên ổn và tâm thức mạnh mẽ hơn.

Thiền Quán Ở Nơi Vắng Lặng Và Trong Công Việc Hằng Ngày

Nói chung nội dung của thiền quán có giá trị được biết đến nhiều ở thể thức là ngồi. (Ngồi ở đây theo Thiền học dùng để chỉ cho một tập quán của loại hình thiền quán nầy), một sự vững vàng, một uy thế không động đậy và cố gắng tập trung tư tưởng nơi tâm. Cứ mỗi một động tác phải tròn đầy với chánh niệm và rõ biết trong sáng, thì đó chỉ là sự thực tập thiền quán. “Thiền quán có nghĩa là rõ biết những gì đang xảy ra - ở trong thân thể của chúng ta, trong cảm giáccủa mỗi người, trong tâm thức và trong thế giới nầy”.

Cả hai phương cách thiền tọa và thiền tập trong cuộc sống hằng ngày đều hỗ trợ cho nhau. Nếu bạn mỗi ngày ngồi trong một thời gian nhất định thì sẽ phát triển được những loại năng lượng đặc biệtNăng lượng nầy giúp bạn thực hiện được những công việc hằng ngày với tâm thức chánh niệm và rõ biết. Ngược lại nếu bạn thực hành hằng ngàynhững công việc với tâm chánh niệm - Dù là trong lúc làm việc với máy vi tính, tham dự các cuộc họp, xây những viên gạch, đang nấu bữa ăn tối, đang chơi đùa với trẻ con hoặc bất cứ làm những việc gì khác - điều nầy rất là dễ dàng để rỗng không và kiểm soát tâm của bạn, khi mà bạn ngồi thiền tọa.

Người nào cũng có thể tọa thiền được. Không đòi hỏi một năng khiếu đặc biệt nào cả. Không lệ thuộc bất cứ một nội dung những triết học hay tôn giáo, nó dành cho mọi người và cho bất cứ ai. Nếu bạn đã sẵn sàng để thiền tập thì bạn có thể dễ dàng thích hợp với phương pháp tâm linh của bạn để cho sự thiền tập theo sau đó. (Thiền quán trên cái chết và đặc biệt là quán niệm cho người qua đời ở thời điểm chết và trạng thái trung ấm giữa người mất và sự tái sanh đã có diễn tả trong phần I và phần II).

Đừng chờ đợi cho đến khi bạn bị bệnh nặng rồi mới bắt đầu tập thiền. Hãy bắt đầu ngay khi mà bạn còn khỏe mạnh. Với tâm niệm thực hànhthiền tập sẽ giúp cho cuộc đời của bạn sâu sắc và trong sáng hơn.

Nếu bạn đã sẵn sàng thực tập thiền thì hãy tìm một không gian - như trong phòng của bạn, dưới tầng hầm hay trên nóc nhà trống, hay một góc ngoài vườn sau nhà hay một chỗ nào yên lặng như vậy. Bởi vì những âm thanh quấy rốinhất là giọng nói của con người. Bạn nên vì thế mà xa lánh như có thể, chẳng trực tiếp nghe radio hay truyền hình ... những âm thanh ấy nên tránh xa, nếu có thể được. Mặt khác những âm thanh tự nhiên như tiếng hót của chim, tiếng dế kêu hay tiếng mèo kêu, con chó sủa - chúng là những âm thanh bình thường chẳng phải là điều chướng ngại to lớn cho việc tập thiền. Đặc biệt lợi điểm như có những giọt nước mưa nhỏ xuống, hay những giọt nước tung toé từ giếng nước hay thác nước, cả hai âm thanh như vậy cũng có thể tạo nên sự yên tĩnh trong tâm hồn của những hành giả thực tập thiền.

Trong lúc ngồi thiền bạn hãy ngồi đối diện với một bức tường, một bức màn, một lối chắn ngang hoặc trước những tờ giấy dán tường đơn giản không kiểu cách. Một màu vàng nâu hoặc màu kem để cho đỡ chói mắt và mắt tốt nhất là chỉ mở một nửa, để cho thoải mái đôi mắt nhất (Hãy xem phần tiếp theo ở dưới “Mắt và tay”). Một khoảng cách từ 60 - 90 cm giữa đầu gối và bờ tường là tốt nhất. Nếu bạn ngồi quá gần thì mắt bạn có thể mỏi.

Thế Ngồi

Đối với một người mạnh khỏe bình thường hay ngồi ở một vị trí lý tưởng ở trên một tấm nệm, ở trên sàn hay cũng có thể ngồi trên ghế dựa là tốt nhất với tư thế ngồi vững chắc không cử động, bạn sẽ không phải đối diện với nhữngvọng tưởng như là lúc bạn ngồi trạo cử, cho nên sự suy nghĩ cũng theo đó mà dạo chơi. Nếu bạn quyết định chọn ngồi thật là thoải mái ở trên tọa cụ chuẩn trong vị trí ngồi với cách xếp bằng (36), hãy mặc đồ rộng và thoải mái, nhưvậy thì sự lưu thông của máu không bị chướng ngại. Để cân bằng thân thể thì nên chạm hai đầu gối vào trên tấm nệm hay tấm thảm. Nếu hai đầu gối tách rời tấm nệm, thì thân thể của bạn sẽ bị mỏi, và để điều hòa về sự mỏi mệt kia bạn sẽ liên tục cử động. Để tránh khỏi tình trạng vọng tưởng khởi lên - một sự chướng ngại lớn trong lúc tu Thiền - Cái lưng đặc biệt phải thẳng và cái đầu nên ngay và không được gục về phía trước.

Ngồi ngay ngắn trên ghế có lưng dựa phía sau cũng là một phương cách hữu hiệu để tập thiền. Với sự trợ giúp của một cái gối đặt dưới bàn tọa khiến cho cái lưng của bạn thẳng và giữ vững hai chân chạm sát trên sàn nhà. Ghế ngồi thiền vẽ theo kiểu Bắc Âu thì cũng có thể xử dụng để đem lại hiệu quả tốt.

Ngay cả bạn phải nằm trên giường thì bạn cũng có thể rút ra được những cái lợi từ việc thiền định khi đang nằm trên giường, theo những cách hướng dẫn sau đây.

Hơi Thở

Hơi thở tốt nhất và tự nhiên nhất là lấy từ vùng ở dưới bụng chứ không phải từ lồng ngực. Bạn nên đặt tâm chú ý đến một điểm độ 4 lóng tay ở vùng dưới đơn điền. Điều nầy mang lại lợi ích làm cho thân - tâm của bạn được tập trung  ở vùng nầy. Những việc căng thẳng xuất phát ở đầu, vai của bạn sẽ được giảm xuống dần, vọng niệm sẽ giảm bớt vàhệ thống thần kinh sẽ lắng đọng lại. Hơi thở không cần phải “đè nén” hoặc là điều khiển bất cứ cách nào, ngoại trừ lúcban đầu mới ngồi, khi mà được trợ lực bởi một hay hai hơi thở sâu, hãy chậm rãi hít vào thở ra sau mỗi một hơi thở, để điều hòa hơi thở và tâm thức. Trong khi thực hành việc nầy hãy quán tưởng rằng anh đang thở ra tất cả những sựcăng thẳng và tâm ý tiêu cực. Sau đó hãy để hơi thở của bạn trở lại nhịp thở bình thường.

Mắt Và Hai Tay

Hãy giữ cho nửa con mắt của bạn mở ra và cũng không phải tập trung ở điểm nào (không tập trung có nghĩa là bạn không phải tìm cách cố gắng để nhận biết được rằng những gì đang ở trước bạn). Nếu hai mắt nhắm lại hết thì sẽ dễ bị buồn ngủhoặc giả có những hình ảnh hoang tưởng trước mắt bạn. Cách ngồi hữu hiệu nhất là hai tay của bạn phải để trên đùi của mình, mặt hai bàn tay hướng lên, hai ngón tay cái phải đâu vào nhau và tay trái để trên bàn tay mặt và những ngón tay cái chạm nhẹ vào nhau, và hai cùi chỏ chạm vào thân trong tư thế thoải máiLợi thế của tư thế việc ngồi nầy đem lại sự thoải mái cao tột nhất.

Phải Nên Ngồi Trong Bao Lâu?

Nên ngồi bao lâu trong một lần tọa thiền? Điều nầy, dĩ nhiên là lệ thuộc vào thời gian có thể của bạn để bạn có thểhoàn thành theo mức độ trong việc thực hành của bạn. Một điều khuyên rằng bạn hãy bắt đầu với một khoảng thời gian ngắn - có thể chừng 10 đến 15 phút mỗi ngày - và bạn có thể tăng lên thời gian, trong khi thân tâm của bạn quen dần với thời khóa trong việc thiền tập. Tốt nhất là nên thiền tập trong nhiều thời gian ngắn, thường xuyên hơn là thời gian dài bộc phát.

Kiểm Soát Tâm

Có nhiều phương pháp khác nhau để giúp đỡ kiểm soát tâm của mình. Thể thức đơn giản nhất cũng như được biết đến nhiều nhất là đếm hơi thở. Khi bạn hít vào thì hãy nghĩ là “một” và khi thở ra, lại đếm “hai” và đếm luôn cho đến10. Sau đó thì bắt đầu lại số đếm mới là 1 và đếm cho đến số 10. Nếu bạn nhầm lẫn về số đếm hay đi lạc đến hơn 10 thì nên trở lại 1 và bắt đầu đếm lại. Bạn không cần phải chú mục đến số đếm ấy. Hãy tránh cách đếm như máy móc.

Một phương pháp khác là để rõ biết nhịp điệu hơi thở của bạn - có nghĩa là, bạn hòa nhập hoàn toàn với hơi thở hít vào và thở ra của bạn.

Giá trị của việc thực hành nầy nằm ở điểm là tất cả những sự khởi động của tư tưởng bị loại trừ và tâm phân biệt ấytrở về trạng thái tĩnh lặng. Những làn sóng vọng động được tĩnh lặng và người tập thiền từ từ đạt đến trạng thái nhất tâm. Bạn nên biết rõ rằng những tâm vọng động khởi lên và biến đi trong tâm thức không phải là điều chướng ngại. Hãy đừng tìm cách xua đuổi chúng mà chỉ đơn giản tập trung qua cách đếm hơi thở hoặc là theo dõi nhịp điệu hơi thởcủa mình.

 

Dịch xong vào lúc 12:00 trưa ngày 18.2.2016

tại Tu Viện Viên Đức - Ravensburg - Đức Quốc


 

GIẢI THÍCH VỀ TỪ NGỮ

Ars Moriendi (nghệ thuật chết): Những bài viết thời trung cổ về cái chết, in lại từng phần trong quyển sách hiện đại “Kỷ năng của sự chết”.

Achtfacher Pfad (cũng còn gọi là “Bát Chánh Đạo”): Tứ Diệu ĐếBát Chánh Đạo là con đường chấm dứt sự đau khổcủa Đức Phật đã dạy, chia ra làm 8 phần như sau:

1. Chánh kiến,

2. Chánh tư duy,

3. Chánh ngữ,

4. Chánh nghiệp,

5. Chánh mạng,

6. Chánh tinh tấn (thay vì chánh tử như trong sách tiếng Đức giải thích),

7. Chánh niệm,

8. Chánh định. Cũng nên xem ở phần "Sự đau đớn hai chiều".

Bardo (Tây Tạng): Trạng thái giữa sự chết lâm sàng ở bệnh viện và sự tái sanh. Hãy xem chương 14 phần “Trung ấm thân”.

Becoming: Tình trạng chống lại một chúng sanhliên tục thay đổi.

Birth and Death: Xem Samsara

Bodhissattva (Phạn): Nghĩa là trí tuệ; một người giác ngộ, sau khi đã chứng được thực tại trong tư tưởng của mình và giúp cho những người khác cũng được như vậy.

Buddha (Phạn): Chữ nầy có hai nghĩa: 1-Sự thật cuối cùng hay tâm thức tuyệt đối; 2- Người giác ngộ về thực tướngcủa vạn pháp
Đức Phật là một con người lịch sử, tên là Siddhartha và họ là Gautama. Đức Phật sanh ra vào năm 624 trước Thiên Chúa ở trong Hoàng Tộc Shakya bên dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn và ngày nay nằm ở ranh giới Nepal. Cha của Ngài đứng đầu dòng họ Shakya nầy. Vào lúc 16 tuổi Siddharta lấy vợ và sinh một con trai, sau nầy trở thành Đệ tửcủa Ngài. Ở vào tuổi 35, sau 6 năm tầm Sư cũng như thực hành sự khổ luyện cho sự đại ngộ và cuối cùng thì Ngài đã ra đi ở tuổi 80, Ngài đã dạy giáo lý cho người nào muốn nghe. Ngài thường quan tâm đến khả năng tiếp nhận của những Đệ tử của Ngài. Người Phật tử thì nhìn Đức Phật không phải là một vị Thần hay là người cứu rỗi mà Ngài chỉ như là một Vị giải thoát. Ngài được xem là một Vị hoàn toàn giác ngộ và là một con người được cung kính đã tự lựctìm được sự giải thoát của thân và tâm.

Buddhismus: Nếu nói đúng là con đường của Đức Phật. Có hai nhánh chính: Đó là Theravada, thường thấy ở các nước Đông Nam Á và Mahayana. Đại Thừa được phát xuất từ Ấn Độ, sau đó Đại HànNhật Bản và Việt NamThiền học là một Tông phái của Đại Thừa.

Calaveras (Tây Ban Nha): “Sống động”, cốt cách; ở Mễ Tây Cơ người ta dùng chữ Calaveras như là một chúng sanh, đang sống; nhưng cũng ở trong một khuôn khổ khác.

Chanting: Những giọng điệu trong công việc thực hành tôn giáo hòa lẫn với những giọng điệu tụng đều đều. Để cóhiệu quả thì việc tụng đọc phải rõ ràng, sâu lắng và chú tâm, với những giọng tụng đọc của đa số người đều hòa hợpvới nhau.

Cremains: Chữ đưa vào xử dụng chung chung, gộp lại từ chữ “cremation = hoả táng” và “remains = còn sót lại” để chỉ cho những gì còn sót lại của một người nơi thân thể của họ sau khi thiêu.

Dharma (Phạn): Một khái niệm căn bản của Phật Giáo với nhiều ý nghĩa khác nhau, dùng để chỉ cho những hiện tượng được tồn tại trong thế giới. Tất cả những hiện tượng nầy là những chủ thể của nhân duyên và luân hồi. Đây là những sự thật căn bản trong giáo lý trọng tâm của Đức Phật.

Duhkha (Phạn): Chữ nầy dịch ra có nghĩa là đau khổ hay là không vừa lòng, nhưng cũng còn có nhiều nghĩa như: Trải qua kinh nghiệm của sự đau đớnlo lắngkhổ não, bồn chồn hay thất bại.

Erleuchtung, Erwachen: Tỉnh thức giác ngộ về một chân lý tự nhiên và nằm bên cạnh sự thật của tất cả tánh nhị nguyên và quyết định về chân lý. Thể thức nầy không liên hệ gì với những hiện tượng triết học của thế kỷ thứ 18.

ESP: Cảm giác chánh đáng.

Essential-Nature: Xem Wahre Natur.

Enthanasia: Nguyên gốc là sự dễ dàng và không khổ đau khi chết; bây giờ thì được hiểu là “nghệ thuật hay phương pháp về nguyên nhân của sự chết không khổ đau, như là trạng thái cuối cùng của sự đau khổ”

Five Aggregates, Five Skandhas: Sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Xem Skandhas.

Four Noble Truths: (1) Khổ (2) Nguyên nhân của sự khổ (3) Diệt khổ và (4) con đường dẫn đến sự diệt khổ. Hãy xem “The Dilemma of Pain”.

Geburt und Tod: Xem Samsara.

Hospiz: Nguyên nghĩa thời trung cổ là nơi trú lại của những người lữ hành, khách hành hương và người bệnh, thường được hướng dẫn bởi các Linh Mục hay Nữ Tu; ngày hôm nay việc chăm sóc trong bệnh viện bao gồm không những chỉ là chỗ ở lại mà còn có sự chăm sóc qua xe cứu thương, rồi đặt để ở trong những nhà bên cạnh cho những người sắp chết, mà những người nầy không phải chăm sóc bởi những bệnh viện nữa. Xem lại phần phụ lục B, "Hospizbetreuung".

Karma (Phạn): Theo chữ là “làm” hay là “hành động”; những sự suy nghĩ của chúng ta và những hành động củachúng ta tạo ra kết quả; nhân và quả. Hãy xem lại phần III về “Karma”.

Koan (Nhật): Phát âm theo tiếng Nhật là “ko-an”; tiếng Trung Hoa là “kung-an”; nghĩa tiếng Việt là “công án”. Ở nơi Thiền dùng để chỉ cho những lời nói được cô đọng lại, một ngôn ngữ khúc chiết cô đọng, dùng để chỉ rõ chân lý sau cùng.

Mantra (Phạn): Từ tiếng La Tinh gọi là Meditatio, có nghĩa là “nghĩ lại, nghĩ về”. Có nhiều cách Thiền khác nhau, nhưng tựu chung thì có ý nghĩa là tập trung tư tưởng ở một điểm về một hình ảnh, mà hình ảnh đó luôn được hiện rahoặc là một khái niệm (ví dụ như Chúa hay sự thương yêu) người ta qua điều ấy hoặc ngẫm nghĩ; hoặc là cho cả hai điều.

Metempsychosis (Hy Lạp): Linh hồn tái sanh; sự di chuyển của một linh hồn sau khi chết đến một nơi khác - với thân thể của người hoặc là của thú vật. Hãy xem Kapitel 14, phần nói về “Niềm tin về một cuộc sống sau khi chết”.

Myth: Chẳng phải là những câu chuyện không thật; nhưng mà thật như sự tôn nghiêm, giống như tất cả những phạm vi mà không thể nắm bắt được với bộ mặt thuần khiết. Với Joseph Campbell, là tác giả của quyển “Năng lực của Myth”; đây là ẩn dụ cho những gì mà sống bên cạnh thế giới có thể dùng mắt để thấy được.

Mystic (Hy Lạp): Theo tự điển Webster's New World thì một người mà cáo bạch đến sự nhẫn nại với kinh nghiệm thần bí bởi điều ấy ông ta đã trực giác lý giải về những sự thật bên cạnh sự hiểu biết của con người. Ở Thiền học một sựthần bí có nghĩa là đi đến chỗ tánh không của sự thành lập nên thế giới nầy và con người ấy rõ biết về hình tướngkhông của thế giới, ở trong ấy người ta sống và trải qua những sự nối kết với kinh nghiệm.

Mythos (Hy Lạp): Không có một lịch sử chân thậttuy nhiên một sự thật mà những bậc giác ngộ và tất cả sự bao quát là qua sự khờ dại tính toán về những yếu tố cấu thành có tính cách đơn thuần không để cho phản ngược lại. Với Joseph Campbell thì Mythos là “một ẩn dụ cho những gì mà nằm sau thế giới dùng mắt để thấy được”. Michael Jordan (tác giả cuốn Mythen der Welt) đã tưởng tượng về Mythos là “Một thế giới ..., ở đó chúng ta chẳng thấy gì cả, tuy vậy có thể nhận biết được”.

Nirvana (Phạn): Giải thoát sự si mê và những nhu cầu, đồng thời vị giác ngộ ấy được an lạc ở nội tâm và tự tạiNhận thức ngược lại của Nirvana là Samsara; với nghĩa khác là sinh và tử. Hãy xem Samsara và ở Kapitel 3, phần "Gautama Buddha".

Noble Eightfold Path: Bát Chánh Đạo (xem ở trên phần Achtfacher Pfad). Cũng có thể xem thêm ở phần "The Dilemma of Pain".

No-Mindedly: Với tâm hồn hoàn toàn rỗng không của những hành động hay những sự suy nghĩ hỗn loạn.

OM (Phạn): Cách viết khác AUM: Một dấu hiệu của âm thanh (Mantra) cho một năng lực mà năng lực ấy được lưu lại trong vũ trụ và được biểu minh qua tất cả chúng sanh cùng sự vật ở trong thế giới sáng tạo nầy. Mantra nầy có giá trịnhư là một sự vật hoặc là một điểm xuất phát của các tôn giáo về việc Thiền định, với năng lực đặc biệt nầy con người chắc chắn sẽ dùng làm mục đích để chữa trị hay để giác ngộ.

Oneness: Với số o nhỏ, hấp thụ từ điểm của quên cái tôi. Khi viết chữ O lớn thì có nghĩa là kinh nghiệm về cái không, hoặc là không có một cái gì hết.

Palingenesis: Gồm chung lại, một lần nữa, làm mới và genesis có nghĩa là: (thế hệ, tạo ra, mang đếnsáng tạo); nguồn gốc nầy có liên hệ với luân hồi.

Parinirvana (Phạn): Chữ đầy đủ là “hoàn toàn giải thoát tất cả những sự ràng buộc và tự ngã”. Parinirvana thường dùng để chỉ cho trạng thái thông thường của sự giải thoát toàn diện mà Đức Phật đã đạt được phẩm vị ấy. Xin xem Kapitel 3 phần “Gautama Buddha”.

Reincarnation: Tái sanh linh hồn vào một thân thể khác. Xin xem phần “Rebirth Distinguished from Reincarnation”

Repentance: Trong truyền thống của Thiên Chúa, liên hệ với đạo đức, hậu hối, chạy trốn khỏi. Ở trong Đạo Phật thìđạo đức có nghĩa là sự vô minh về sự thật thiên nhiên tồn tại; hậu hối có nghĩa là nhận chân sâu xa về một sự vô minh căn bản và quyết tâm để vượt qua nó.

Reue: Theo quan niệm của Thiên Chúa là tội lỗikết hợp với thiếu suy nghĩ và mê muội. Còn Phật Giáo thì cho rằng:Chúng ta bị lầm lỗi ở những hành vi căn bản vì không nhận ra được sự hiện hữu của thiên nhiênsám hối có nghĩa là đồng tình sâu xa với những sự vô minh căn bản của chúng ta và ở trong sự quyết tâm để chiến thắng những điều nầy.

Roshi (tiếng Nhật): Năng lực giác ngộnăng lượng nầy chìm lắng sâu hoàn toàn tâm thức của chính mình; hiện lên vàtỉnh thức trọn vẹn; một trạng thái tích cực và sự tập trung tư tưởng tự tại. Xin xem Kapitel 4 phần “Der Prozess des Sterbens”.

Skandhas (Phạn): Ngũ uẩn. Đây là 5 uẩn hay còn gọi là sự tích chứa gồm có: Sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

1-Sắc bao gồm những hình thức trước đây căn bản của thân thể và được đại diện qua thân thể cũng như căn bản củatâm thức - bao gồm những nội tạng, đối tượng và liên hệ với sự thay đổi. Ở đây chúng ta phát xuất từ sự đơn lẻ và sự phân phối của kinh nghiệm đưa vào chủ thể và đối tượng.

2-Việc tích chứa thứ hai thuộc về thọ - điều nầy có nghĩa là chúng ta phản ứng lại những gì chung quanh chúng ta. Thọ nầy bao gồm cả niềm vui và nỗi khổ; niềm hạnh phúc, nỗi lo toan, sự bất an và sự chi phối.

3-Trong nhóm thứ ba bao gồm sự tưởng tượng những việc khác nhau của tâm thức. Những điều nầy bao gồm cả những sự phản xạ hoặc những gì có tính cách luận chứng giống như tính cách trực giác về sự sai biệt năng lực.

4-Nhóm thứ tư thuộc về lãnh vực của tâm linh - Ước muốn hay là ý đồ. Chúng đại diện cho những hoạt động căn bảncủa tâm thức. Những việc nầy của tâm thức được tạo ra hành động là những kết quả của những nghiệp lực thuộc về đời trước dẫn đến tương lai. Chúng bao gồm qua ý muốn của thức rồi đem những vật nầy lại với nhau để tạo nênhình dáng của mỗi cá thể và nghiệp lực.

5-Nhóm cuối cùng thứ năm là thức. Thức đây bao gồm cả những ý nghĩa nhận thức nối chung lại với nhau và chúnghỗ tương với nhau. Những thói quen nầy sáng tạo ra cái ngã trong thế giới tự thể, thay vì thế giới sáng tạo ra, giống như nó là.

Soul: “Chung chung lấy nghĩa từ sự chung đụng những cá nhân độc lập - một cái ta liên tục, cái nầy nhiều hay ít không lệ thuộc vào thân thể vật lý để tồn tại và vượt qua sau khi chết. Người ta cũng có thể thấy được “linh hồn” của mỗi cơ cấu của mỗi người, điều nầy người nầy khác với người kia ...” (Francis Story).

Seelenwanderung: Sự di chuyển của linh hồn sau khi chết vào một thân thể khác. Xin xem thêm ở Kapitel 14 "Der Unterschied zwischen Wiedergeburt und Reinkarnation"

SRI (Phạn): Một hình thức để gọi của Ấn Độ giáo, cũng giống như gọi bằng tiếng Anh là "Mr." hay "Herr" bên tiếng Đức. Theo Ấn Độ giáo thì đây là một tước hiệu kính trọng để gọi cho một người có tôn giáo hay những vị giáo sĩ tinh thần.

Tanka (Phạn): Chữ quen dùng được dịch là “sau khi chết”; “sở hữu”; “tham”. Xem thêm phần Kapitel 5, “Die vier Edlen Wahrheiten von der Leidvollen Natur des Daseins”.

Tao (Hoa): Xem Weg = con đường.

Tathagata (Phạn): Ở đây dùng để chỉ cho chính Đức Phật và những vị Phật khác, từng chữ thì có nghĩa là “Đến - như vậy”; nơi chữ “So” để chỉ trạng thái của việc giác ngộ.

Tibetan Book of the Dead: Quyển sách về truyền thống của Tây Tạng giới thiệu về cái chết và sự qua đời. Theo lời truyền của Tây Tạng thì đây là tác phẩm của Ngài Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) thuộc thế kỷ thứ 8 sau Tây lịch; Người sáng lập ra Phật Giáo Tây Tạng; nó được diễn tả về cái chết của con người như thế nào và sẽ tái sanh vào đâu và cũng có thể chuẩn bị cho Trung ấm thân.

Totenbuch der Ägypten: Tử thư của Ai Cập; một trong nhiều quyển sách lấy ra từ sách cổ của Ai Cập và sách ấy đã gom lại về cái chết cũng như bên kia bờ tử sinh.

Transmigration: Sự chuyển di tâm thức vào thân thể của người khác sau khi chết. Hãy xem phần: “Rebirth Distinguished from Reincarnation”.

True - Nature: Tâm chân thật, thiên nhiên tự tại. Xem thêm phần “True nature is not Soul”.

Vier Edle Wahrheiten: Tứ Diệu Đế. Thứ nhất là khổ; thứ hai là nguyên nhân của sự khổ; thứ 3 là diệt khổ và thứ tư làcon đường đưa đến sự diệt khổ. Hãy xem phần Achtfacher Pfad và Kapitel thứ 5 “Das Schmerz – Dilemma”.

Visuddhimagga: “Thanh Tịnh Đạo” một quyển sách do Ngài Buddhaghosa (Phật Đà Da Xá) tạo ra vào thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch

Wahre Nature: Thiên nhiên tự tạithiên nhiên chân thật. Hãy xem thêm Kapitel 1 phần “Die universale Kraft”.

Way, Tào: Con đường. Đây là nền tảng căn bản của sự liên hệ với vũ trụ. Hãy xem thêm ở Kapitel 1 phần “Weg bedeutet Geburt und Tod?” cũng như “Die universale Kraft”.

Werden: Không lệ thuộc vào sự thay đổi; nhận thức ngược lại với “có”.

Zen (Nhật): Thiền. Đây là chữ viết gọn lại của zenna; đây là cách dịch âm từ chữ Hán Channa (hay Chan), mà chữ nầy được dịch âm từ tiếng Phạn Dhyana. Chữ nầy đối với Ấn Độ giáo thì có nhiều nghĩa khác nhau; ở Thiền Phật Giáo thì ngược lại về quan niệm Zen là trải qua sự phát triển của việc thiền định, tập trung về một điểm, tỉnh thức vàkiểm soát thân tâm tiêu biểu của mình.

Zen Buddhismus: Một tông phái của Phật Giáo với giáo nghĩa tự do cũng như những tín điều và những lời dạy được hình thành ở nền móng căn bản là kinh nghiệm tỉnh thức của con người và hội nhập vào đời sống ấy.

Zen Master: Thiền Sư, một người có sự tỉnh thức hiểu biết thâm sâu và lòng từ bi, người mà đã hội nhập vào đời sốngvới sự hiểu biết của ông ta cũng như những việc làm ấy mang đến ảnh hưởng cho điều nầy.

 

Đã dịch xong toàn bộ các chương trên

từ tiếng Anh sang tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Đức.

Xong lúc 12:00 ngày 19.2.2016

tại Tu Viện Viên Đức Ravensburg Đức Quốc.


Tạo bài viết
19/10/2016(Xem: 3034)
08/08/2010(Xem: 96884)
23/08/2010(Xem: 36721)
15/12/2016(Xem: 2715)
Người con Phật nghĩ gì về án tử hình? Đứng về phương diện cá nhân, rất minh bạch rằng không Phật tử nào ủng hộ án tử hình. Đứng về phương diện quốc gia, thực tế là rất nhiều quốc gia -- nơi Phật giáo gần như quốc giáo, như Thái Lan, Miến Điện, Sri Lanka… -- vẫn duy trì và thực hiện án tử hình.
Vừa qua, được sự ủy nghiệm của Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới từ ngày 08 tháng 7 đến 15 tháng 7 năm 2018 tại Như Lai Thiền Tự, San Diego đã trang nghiêm tổ chức khóa An Cư Kiết Hạ 2018 với gần 200 Chư Tôn Đức Tăng –Ni đến từ các truyền thống Phật giáo trở về cấm túc an cư tu học.
Chùa Hương Sen hôm cuối tuần đã nhận một món quà tặng quý giá: 120 thùng sách Phật học. Đó là toàn bộ thư viện Phật học của Cư sĩ Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả lưu giữ trong nhiều thập niên tu học, hoạt động.