Chương 04: Quán Ngũ Ấm

03/07/201012:00 SA(Xem: 14677)
Chương 04: Quán Ngũ Ấm

LONG THỌ BỒ TÁT Nāgārjuna
TRUNG LUẬN Mādhyamaka-Sāstra

Hán dịch: Tam tạng Pháp sư CƯU-MA-LA-THẬP Kumārajīva
Việt dịch THÍCH NỮ CHÂN HIỀN
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo - Hà Nội PL. 2546 - DL. 2003

CHƯƠNG IV: QUÁN NGŨ ẤM[1]

Hỏi: Kinh nói có năm ấm; sự kiện ấy như thế nào?

Đáp: [2]

 33)Nếu ngoài nhân của sắc,

Thì sắc không thể được[3].

Nếu lìa sắc quả ra,

Nhân của sắc cũng không. [1]

Nhân của sắc; như nhân của vải là sợi. Ngoài sợi không có vải, ngoài vải không có sợi. Vải như sắc, chỉ sợi như nhân.

Hỏi: Nếu lìa nhân của sắc mà có sắc thì có lỗi gì?

Đáp:

34)Lìa nhân sắc có sắc,

Thì sắc ấy không Nhân.

Không nhân mà có Pháp,

Thì điều ấy không đúng. [2]

Như là sợi có vải, thì vải ấy không nhân; không nhân mà có pháp, trong thế gian không hề có điều đó.

Hỏi: Trong pháp Phật, pháp ngoại đạo và pháp thế gian, đều có những pháp không nhân. Như Pháp Phật thì có ba thứ vô vi. Vô vi là thường nên không nhân. Pháp ngoại đạo thì có hư không, thời gian, phương sở, bản ngã, vi trần[4], Niết-bàn v.v… Trong pháp thế gian, hư không, thời gian, phương sở, ba pháp ấy chẳng có chỗ nào là không có nên gọi là thường. Thường cho nên không nhân. Tại sao lại nói thế gian không có cái gì là không nhân?

Đáp: Pháp không nhân này chỉ có ở ngôn thuyết, nếu suy nghĩ phân tích thì chúng không thực hữu. Nếu pháp do nhân duyên mà có thì không nên nói không nhân. Nếu không nhân duyên, thì như tôi đã nói.

Hỏi: Có hai thứ nhân; một là tác nhân hai là ngôn thuyết nhân.[5] Pháp không nhân ấy không có nhân tạo tác mà chỉ có nhân ngôn thuyết để khiến người ta biết đến được.

Đáp: Tuy rằng có nhân ngôn thuyết nhưng cũng không đúng. Hư không sẽ được bác bỏ trong “Phẩm Lục chủng.” Những thứ còn lại sẽ được bác bỏ sau.

Lại nữa, những sự thể hiện thấy còn có thể bị bác bỏ huống là vi trần v.v… là pháp không thể thấy. Thế nên nói thế gian không có gì là pháp không nhân.

Hỏi: Nếu lìa sắc mà có nhân của sắc thì có lỗi gì?

Đáp:

35)Nếu lìa sắc có nhân,

Thế là nhân không quả.

Có nhân mà không quả,

Như thế là vô lý. [3]

Nếu lìa sắc quả chỉ có sắc nhân tức là có nhân mà không quả

Hỏi: Nếu nhân không quả, thì có lỗi gì?

Đáp: Thế gian không có cái nhân gì mà không quả. Tại sao? Vì có quả nên gọi nhân, nếu không quả làm thế nào gọi nhân? Lại nữa, nếu trong nhân không có quả thì tại sao mọi vật lại không sinh ra từ cái không phải là nhân của chính nó? Điều ấy như trong chương “Nhân duyên” đã phá. Thế nên không có cái nhân không quả.

Lại nữa:

36)Nếu sắc đã có rồi,

Cần gì nhân có sắc.

Nếu sắc vốn không có,

Cũng chẳng cần nhân sắc.[6] [4]

Có hai trường hợp cho thấy không thể có nhân của sắc. Nếu sắc đã có sẵn trước trong nhân thì nhân đó không thể gọi là nhân của sắc. Nếu sắc không sẵn trước trong nhân, thì nhân đó cũng chẳng gọi là nhân của sắc.

Hỏi: Nếu cả hai trường hợp đều chẳng đúng, nhưng có sắc không nhân thì có lỗi gì?

Đáp: 

37)Không nhân mà có sắc,

Như thế là không đúng.

Thế nên người có trí,

Không nên phân biệt sắc.[7] [5]

Như trường hợp trong nhân có sẵn quả, hay trong nhân không sẵn quả, điều này còn không đúng huống là thứ sắc không có nhân. Thế nên nói, "Không nhân mà có sắc, Như thế là không đúng. Không nên phân biệt sắc." Phân biệt chỉ cho phàm phu. Vì vô minh ái nhiễm tham đắm sắc, sau đó do tà kiến mà khởi sự phân biệt hí luận nói, "Trong nhân có quả hay không quả,” v.v… Nay ở đây (sắc ấm) không thể tìm thấy có sắc. Vì thế nên kẻ trí không nên phân biệt.

Lại nữa: 

38)Nếu quả giống với nhân.

Như thế là không đúng.

Quả nếu không giống nhân,

Điều ấy cũng chẳng đúng. [6]

Nếu quả và nhân giống nhau thì không đúng. Vì nhân thì nhỏ nhiệm mà quả thì to lớn. Nhân và quả khác nhau vì hình thái và năng lực. Như vải giống chỉ tất chẳng gọi vải. Vì chỉ nhiều mà vải chỉ có một. Vậy nên không thể nói nhân quả giống nhau. Hoặc nói rằng nhân quả không giống nhau cũng không đúng. Như chỉ gai không thể dệt thành ra lụa; chỉ thô chẳng làm thành vải mịn. Thế nên không thể nói nhân quả không giống nhau. Cả hai sự kiện đều chẳng đúng, cho nên không có Sắc, không có nhân của sắc.

39)Thọ ấmtưởng ấm,

Cả hành ấm, thức ấm.

Và tất cả pháp khác,

Đều đồng với sắc ấm. [7]

 Bốn ấm kia và tất cả pháp cũng nên suy nghĩ như thế để hủy phá. Nay Ngài Luận chủ muốn tán thán nghĩa Không nên nói bài tụng rằng:

40)Nếu có đối phương Hỏi,

Lìa Không mà ứng đáp.

Thế là không thành đáp,

Vì cũng đồng nghi kia. [8]

41)Hoặc giả có nạn vấn,

Lìa Không mà chỉ trích.

Thì chẳng thành nạn vấn,

Vì cũng đồng nghi kia. [9] 

Trong lúc luận thuyết, mỗi bên có chủ trương riêng. Nếu sự Hỏi và đáp mà không căn cứ trên Nghĩa Không thì sự Hỏi và đáp ấy bất thành, vì nó chỉ lặp lại nội dung của sự nghi ngờ. Tỷ dụ như nói, “Chiếc bình là vô thường”. Ngoại nhân Hỏi, “Tại sao vô thường?” Đáp, “Vì từ nhân vô thường phát sinh.” Như thế chẳng gọi là đáp. Tại sao? Vì trong cái nhân duyên đó vẫn còn có sự hoài nghi là chẳng biết nó thường hay vô thường. Do đó, nội dung của trả lời vẫn đồng với nghi vấn được đặt ra. Người Hỏi khi muốn chỉ điểm sự sai lầm của nó, nếu chẳng y vào Không tánh để nêu rõ rằng các pháp là vô thường, thì đó không phải là nạn vấn được. Tại sao? Bởi vì ông nhơn lý vô thường phá hủy nghĩa thường của tôi; tôi cũng đem lý hằng thường trú để phá hủy nghĩa vô thường của ông. Nếu thật vô thường thì không có nghiệp báo. Các pháp như mắt, tai v.v.. niệm niệm hoại diệt cũng chẳng thể hoại diệt, cũng chẳng thể phân biệt. Có những lỗi như thế, nên đều không tựu thành nạn vấn, mà chỉ lặp lại nghi vấn của người kia thôi. Nếu căn cứ tánh Không phá hủy thường tánh thì không có lỗi. Tại sao? Vì người này chẳng chấp thủ tướng Không. Thế nên, khi Hỏi và đáp mà còn phải bằng vào tánh Không, huống là muốn cầu tướng ly khổ tịch diệt.



--------------------------------------------------------------------------------

[1] Tiếng Phạn skandha, cựu dịch là “ấm”, tân dịch (Huyền Tráng) là “uẩn.” TS

[2] Chương III quán lục tình, nhận thức căn, trần, thức không phải tự nó có, mà do sự tương quan, tương duyên giữa căn trần mà có thức tình phân biệt. Do đó các pháp từ nhân duyên sanh, đều không thật có. Chương IV này, ý nghĩa không khác gì chương III là phá trừ thành kiến cố chấp. Ngũ ấm cũng gọi Ngũ Uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

[3] Hán: bất khả đắc, không thể thủ đắc, không thể quan niệm được. TS

[4] Chủ trương của phái Thắng luận về những tồn tại được gọi là thật vật, hay thật thể.

[5] Tác nhânngôn thuyết nhân, cũng gọi là sanh nhân, nhân mà từ đó các pháp được sanh ra; và liễu nhân, nhân mà từ đó các pháp được nhận thức. TS

[6] Tụng 3-4, Long Thọ Bồ tát lấy một thứ Sắc ấm trong năm ấm để biện minh nguyên nhân và kết quả của sắc. Sắc pháp là từ nhân sanh ra hay phi nhân phát sanh. Nếu nó từ phi nhân mà có sắc pháp, thì sắc pháp dĩ nhiên không cần đến cái nhân. Nói cách khác là quả chẳng cần đến cái nhân. Không nhân mà có quả là điều không thể. Ví như tấm vải, là kết quả từ chỉ sợi dệt thành. Vải là quả, chỉ sợi là nhân. Không chỉ sợi mà làm thành tấm vải là điều không thể có được.

[7] Từ câu 4-5 dựa vào các câu trên nói về sắc nhân sắc quả. Ngài giải bày minh bạch thêm để chúng ta tránh ngộ nhậnnhân không quả, có quả không nhân, trong nhân có quả, trong nhân không có quả, hoặc trong quả có nhân…Nên hiểu rằng, nhân quả diễn tiến một cách thầm ẩn và tế nhị. Phàm phu thiểu trí khó phân biệt. Phân biệt trước sau trong ngoài, có không là rơi vào vọng chấp. Vì các pháp duyên sanh là Tánh không. Nếu chẳng hiểu tánh không (Sùnya) thì không thể nào giải quyết được nghi vấn, trong lúc người có nghi vấn về thuyết Hữu hay Vô. Nếu người nghi vấn, chấp là có thì người giải đáp phải áp dụng lý không để giải thích sự lỗi lầm của người chấp HỮU. Nếu chẳng dùng KHÔNG để phá HỮU, thì chính người đáp đồng lỗi như người nghi vấn.

Tạo bài viết
01/06/2014(Xem: 18090)
03/09/2014(Xem: 13950)
24/11/2016(Xem: 6791)
29/05/2016(Xem: 4694)
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.