Phẩm Ba Pháp

18/11/20186:07 SA(Xem: 94)
Phẩm Ba Pháp
TIỂU TẠNG A-TÌ-ĐẠT-MA BẮC TRUYỀN
ĀRYA ŚĀRIPUTRA
A-TÌ-ĐẠT-MA
TẬP DỊ MÔN TÚC LUẬN
ABHIDHARMA SANGĪTIPARYĀYA PĀDAŚĀSTRA
阿毘達磨集異門足論
ẤN BẢN ĐIỆN TỬ 17/11/2018 
PHƯỚC NGUYÊN
Dịch & chú

PHẨM BA PHÁP

I.    KINH VĂN

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi Tử lại nói với đại chúng:

Cụ thọ nên biết! Đức Phật đối với ba pháp sau khi đã tự mình khéo thông đạt, hiện đẳng giác, liền tuyên thuyết khai thị cho các đệ tử. Hôm nay chúng ta nên hòa hợp kết tập, để ngăn ngừa sau khi Đức Phật diệt độ xảy ra tranh cãi, khiến cho pháp luật tùy thuận phạm hạnh được an trụ lâu dài mang lại lợi lạc cho vô lượng hữu tình; lại vì thương xót thế gian, chúng chư thiênnhân loại, khiến cho họ có được nghĩa lợi an lạc thù thắng.

Thế nào là ba pháp?

Trong đây có năm tụng tóm tắt.

II.  LUẬN GIẢI

TỤNG THỨ NHẤT

Tụng tóm tắt thứ nhất:

Ba pháp đầu có mười

Là căn, tầm, hành, giới.

Ba nhóm trước: hai cặp,

Một nhóm sau: có bốn.

Ba nhóm trước: ba bất thiện căn và ba thiện căn, ba bất thiện tầm và ba thiện tầm, ba ác hành và ba diệu hành.

Một nhóm sau: 1. Ba giới - Dục giới, nhuế giới, hại giới; 2. Ba giới - xuất ly giới, vô nhuế giới, vô hại giới; 3. Ba giới - Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. 4. Ba giới - Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.

1. Ba bất thiện căn

Ba bất thiện căn: (i). Bất thiện căn tham; (ii). Bất thiện căn sân. (iii); Bất thiện căn si.

(i) Bất thiện căn tham:

Thế nào là tham?

Tham nơi đối tượng của dục, đẳng tham, chấp tàng, canh chừng, dính chặt, thích thú, mê loạn, đắm đuối, đắm đuối cùng khắp, nội tâm bị cuộn chặt, mong cầu, chìm đắm, tập khởi của khổ, những gì đồng loại tham, phát sinh bởi tham, gọi chung là tham.

Thế nào là bất thiện căn?

Pháp tham này tính chấtbất thiện, có thể làm căn bản cho vô lượng pháp bất thiện, thế nên pháp này có thể làm gốc bệnh, gốc ung nhọt, gốc tên độc, gốc não hại, gốc khổ, gốc cấu uế, gốc hỗn trược, gốc tạp nhiễm, gốc không thanh tịnh, gốc không tinh sạch. Do đó gọi là bất thiện căn tham.

(ii) Bất thiện căn sân:

Thế nào là sân?

Ý muốn gây tổn hại hữu tình; ghim chặt trong lòng, muốn làm nhiễu não, đã sân, sẽ sân, hiện sân; thích thú gây điều tai họa, làm đến cùng điều tai họa, ý cực kỳ phẫn nhuế, làm điều đối kháng đối với các hữu tình, muốn gây tổn hại, đã làm tổn hại, sẽ làm tổn hại, đang làm tổn hại, gọi chung là sân.

Thế nào là bất thiện căn?

Pháp sân này tính chấtbất thiện, có thể làm căn bản cho vô lượng pháp bất thiện, thế nên pháp này có thể làm gốc bệnh, gốc ung nhọt, gốc tên độc, gốc não hại, gốc khổ, gốc cấu uế, gốc hỗn trược, gốc tạp nhiễm, gốc không thanh tịnh, gốc không tinh sạch. Do đó gọi là bất thiện căn sân.

Do đó gọi là bất thiện căn sân.

(iii) Bất thiện căn si:

Thế nào là si?

1. Không biết đối với biên tế trước, không biết biên tế sau, không biết biên tế trước và sau; 2. Không biết đối với bên trong, không biết bên ngoài, không biết bên trong và bên ngoài; 3. Không biết đối với nghiệp, không biết dị thục, không biết nghiệp và dị thục; 4. Không biết đối với nghiệp thiện đã tạo, không biết nghiệp ác đã tạo, không biết cả nghiệp thiện và ác đã tạo; 5. Không biết đối với nhân, không biết pháp được sinh bởi nhân; 6. Không biết đối với Phật, Pháp, Tăng; 7. Không biết đối với Khổ-tập-điệt-đạo; 8. Không biết đối với pháp thiệnbất thiện; 9. Không biết đối với pháp bị chê và không bị chê; 10. Không biết đối với pháp đáng tu và không đáng tu; 11. Không biết đối với pháp hạ liệt và thắng diệu; 12. Không biết đối với pháp trắng và đen; 13. Không biết đối với pháp có đối nghịch; 14. Không biết đối với duyên sinh; 15. Không biết sáu xúc xứ một cách như thật; không biết, không thấy như thế, là phi hiện quán, là hắc ám, là ngu si, là vô minh, mù tối, bị trùm kín trong lưới, khờ khạo, vẩn đục; chướng cái làm mù quáng, làm vô minh, làm vô trí, làm liệt tuệ, chướng ngại phẩm loại của thiện, khiến cho không thể Niết-bàn. Đồng với Vô minh lậu, vô minh bộc lưu, vô minh ách; rễ độc vô minh, cành độc vô minh, nhánh độc vô minh, lá độc vô minh, hoa độc vô minh, quả độc vô minh; cũng gọi si ám, hoàn toàn si ám, cực kỳ si ám, bướng bỉnh, rất bướng bỉnh, cực kỳ bướng bỉnh, đồng loại với si, sản phẩm của si, gọi chung là si”.

Thế nào là bất thiện căn?

Pháp si này tính chấtbất thiện, có thể làm căn bản cho vô lượng pháp bất thiện, thế nên pháp này có thể làm gốc bệnh, gốc ung nhọt, gốc tên độc, gốc não hại, gốc khổ, gốc cấu uế, gốc hỗn trược, gốc tạp nhiễm, gốc không thanh tịnh, gốc không tinh sạch. Do đó gọi là bất thiện căn si.

Như Thế Tôn nói kệ:

Các ác tham, sân, si,

Não hại tự tâm mình;

Như lõi cây có sâu,

Vỏ, trái v.v…đều hư hại.

2. Ba thiện căn

Ba thiện căn: 1. Thiện căn không tham. 2. Thiện căn không sân. 3. Thiện căn không si.

(i) Thiện căn tham:

Thế nào là vô tham?

Những gì là vô tham nơi đối tượng của dục, bất đẳng tham, không chấp tàng, không canh chừng, không dính chặt, không thích thú, không mê loạn, không đắm đuối, không đắm đuối cùng khắp, nội tâm không bị cuộn chặt, không mong cầu, không chìm đắm, không phải tập khởi của khổ, những gì không đồng loại tham, không phát sinh bởi tham, gọi chung là vô tham.

Thế nào là thiện căn?

Pháp vô tham này tính chất là thiện, có thể làm căn bản cho vô lượng pháp thiện, thế nên pháp này có thể làm gốc không bệnh, gốc không ung nhọt, gốc không tên độc, gốc không cấu uế, gốc không hỗn trược, gốc không tạp nhiễm, gốc thanh tịnh, gốc tinh sạch. Do đó gọi là thiện căn vô tham.

(ii) Thiện căn sân:

Thế nào là vô sân?

Không có ý muốn gây tổn hại hữu tình; không ghim chặt trong lòng, không muốn làm nhiễu não, đã không sân, sẽ không sân, hiện không sân; không thích thú gây điều tai họa, hoàn toàn không điều tai họa, ý không phẫn nhuế, không làm điều đối kháng đối với các hữu tình, không muốn gây tổn hại, đã không làm tổn hại, sẽ làm tổn hại, đang không làm tổn hại, gọi chung là vô sân.

Thế nào là thiện căn?

Pháp vô sân này tính chất là thiện, có thể làm căn bản cho vô lượng pháp thiện, thế nên pháp này có thể làm gốc không bệnh, gốc không ung nhọt, gốc không tên độc, gốc không cấu uế, gốc không hỗn trược, gốc không tạp nhiễm, gốc thanh tịnh, gốc tinh sạch. Do đó gọi là thiện căn vô sân.

 (iii) Thiện căn si:

Thế nào là vô si?

1. Trí nhận biết đối với biên tế trước, trí nhận biết biên tế sau, trí nhận biết biên tế trước và sau; 2. trí nhận biết đối với bên trong, trí nhận biết bên ngoài, trí nhận biết bên trong và bên ngoài; 3. trí nhận biết đối với nghiệp, trí nhận biết dị thục, trí nhận biết nghiệp và dị thục; 4. trí nhận biết đối với nghiệp thiện đã tạo, trí nhận biết nghiệp ác đã tạo, trí nhận biết cả nghiệp thiện và ác đã tạo; 5. trí nhận biết đối với nhân, trí nhận biết pháp được sinh bởi nhân; 6. trí nhận biết đối với Phật, Pháp, Tăng; 7. trí nhận biết đối với Khổ-tập-điệt-đạo; 8. trí nhận biết đối với pháp thiệnbất thiện; 9. trí nhận biết đối với pháp bị chê và không bị chê; 10. trí nhận biết đối với pháp đáng tu và không đáng tu; 11. trí nhận biết đối với pháp hạ liệt và thắng diệu; 12. trí nhận biết đối với pháp trắng và đen; 13. trí nhận biết đối với pháp có đối nghịch; 14. trí nhận biết đối với duyên sinh; 15. trí nhận biết sáu xúc xứ một cách như thật; trí, kiến, minh, giác, giải, tuệ, quang, quán, gọi chung là vô si”.

Thế nào là thiện căn?

Pháp vô si này tính chất là thiện, có thể làm căn bản cho vô lượng pháp thiện, thế nên pháp này có thể làm gốc không bệnh, gốc không ung nhọt, gốc không tên độc, gốc không cấu uế, gốc không hỗn trược, gốc không tạp nhiễm, gốc thanh tịnh, gốc tinh sạch. Do đó gọi là thiện căn vô si.

Như Thế Tôn nói:

Nếu lìa tham, sân, si,

Mệnh danh là trí giả,

Cũng gọi là Thượng sĩ,

Không não hại tự tâm.

Do đó nên viễn ly

Tham, sân vô minh;

Siêng tu khởi tuệ minh

Nhanh đắc tận chúng khổ.

3. Ba bất thiện tầm

Ba bất thiện tầm: 1. Tầm tư dục. 2. Nhuế tầm. 3. Hại tầm.

Thế nào là tầm tư dục?

Những gì là tâm tầm cầu mà tương ưng với dục tham, tầm cầu khắp, trực tiếp tầm cầu, tâm biết rõ, biết rõ khắp, biết rõ ngay trước mặt, ước đoán, phác họa, tư duy, phân biệt, gọi chung là tầm tư dục.

Thế nào là tầm tư nhuế?

Những gì là tâm tầm cầu mà tương ưng với sân nhuế, tầm cầu khắp, cho đến: tư duy, phân biệt, gọi chung là tầm tư nhuế.

Thế nào tầm tư về hại?

Những gì là tâm tầm cầu mà tương ưng với hại, tầm cầu khắp, cho đến: tư duy, phân biệt, gọi chung là tầm tư hại.

Như Thế Tôn nói:

Ác tầm phục chúng sinh

Khiến nơi uế thấy tịnh

Tham ái tăng gấp bội,

Tự làm dây trói chặt.

4. Ba thiện tầm

Ba thiện tầm: 1. Tầm tư xuất ly. 2. Tầm tư vô nhuế. 3. Tầm tư vô hại.

Thế nào là Tầm tư xuất ly?

Tư duy ở nơi Tầm tư dục đó:

“Là pháp chứa nhiều tai hoạ, là pháp bất thiện, là điều thấp hèn; nếu ai tin nhận thọ trì, thì kẻ ấy bị Như laiđệ tử, Thiện sĩ hiền quý đồng chê trách; vì có thể làm tổn hại chính mình, có thể làm tổn hại người khác, có thể làm tổn hại cả hai; có thể chặn đứng trí tuệ, có thể ngăn ngại những thứ đồng phẩm loại với nó; có thể chướng ngại Niết-bàn. Thọ trì pháp này không sinh thông tuệ, không dẫn đến Bồ-đề, không chứng nhập Niết-bàn”.

Khi tư duy về tai họa của Tầm tư dục như thế, những gì là tâm tầm cầu, tầm cầu khắp, trực tiếp tầm cầu, tâm biết rõ, biết rõ khắp, biết rõ ngay trước mặt, ước đoán, phác họa, tư duy, phân biệt. Đó gọi là Tầm tư xuất ly.

Lại nữa, vì đoạn trừ Tầm tư dục nên tư duy công của Tầm tư xuất ly:

“Tầm tư xuất ly này là pháp thắng thiện, là pháp tôn thắng; nếu ai tin nhận thọ trì, vị ấy được Như lai, đệ tử và bậc Hiền quý Thiện sĩ đồng khen ngợi; vì không tổn hại chính mình, không tổn hại người khác, không tổn hại cả hai; tăng trưởng trí tuệ, không ngăn ngại những thứ đồng phẩm loại với nó; không chướng ngại Niết-bàn, có thể phát sinh thông tuệ, có thể dẫn đến Bồ-đề, có thể chứng nhập Niết-bàn”.

Khi tư duy về công đức của Tầm tư xuất ly như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư xuất ly.

Lại nữa, tư duy Tầm tư dục:

“Như bệnh, như ung nhọt, như mũi tên, như bức bách, như sát hại, là vô thường, khổ, không, phi ngã, biến động, suy kiệt, lao nhọc, là pháp thất hoại, nhanh chóng không ngừng, mục nát, không thường hằng, không thể tin chắc, vì là pháp biến hoại”.

Khi tư duy về Tầm tư dục như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư xuất ly.

Lại nữa, vì muốn đoạn Tầm tư dục, tư duy:

“Diệt của Tầm tư xuất lychân tịch tĩnh”;

Tư duy:

“Đạo của Tầm tư xuất ly là chân xuất ly”.

Khi tư duy về diệt, đạo của Tầm tư xuất ly như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư xuất ly.

Lại nữa, hoặc tư duy:

“Xả tâm định và đạo; vô tưởng định, diệt định, trạch diệt tương ưng với xả tâm định”.

Khi tư duy như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư xuất ly.

Lại nữa, khi tư duy về xuất lyxuất ly tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức, và thân nghiệp, ngữ nghiệp được đẳng khởi bởi nó, và hành không tương ưng, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư xuất ly.

Thế nào là Tầm tư vô nhuế?

Tư duy ở nơi Tầm tư nhuế đó:

“Là pháp chứa nhiều tai hoạ, là pháp bất thiện, là điều thấp hèn; nếu ai tin nhận thọ trì, thì kẻ ấy bị Như laiđệ tử, Thiện sĩ hiền quý đồng chê trách; vì có thể làm tổn hại chính mình, có thể làm tổn hại người khác, có thể làm tổn hại cả hai; có thể chặn đứng trí tuệ, có thể ngăn ngại những thứ đồng phẩm loại với nó; có thể chướng ngại Niết-bàn. Thọ trì pháp này không sinh thông tuệ, không dẫn đến Bồ-đề, không chứng nhập Niết-bàn”.

Khi tư duy về tai họa của Tầm tư nhuế như thế, những gì là tâm tầm cầu, tầm cầu khắp, trực tiếp tầm cầu, tâm biết rõ, biết rõ khắp, biết rõ ngay trước mặt, ước đoán, phác họa, tư duy, phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô nhuế.

Lại nữa, vì đoạn trừ Tầm tư nhuế nên tư duy công của Tầm tư vô nhuế:

“Tầm tư vô nhuế này là pháp thắng thiện, là pháp tôn thắng; nếu ai tin nhận thọ trì, vị ấy được Như lai, đệ tử và bậc Hiền quý Thiện sĩ đồng khen ngợi; vì không tổn hại chính mình, không tổn hại người khác, không tổn hại cả hai; tăng trưởng trí tuệ, không ngăn ngại những thứ đồng phẩm loại với nó; không chướng ngại Niết-bàn, có thể phát sinh thông tuệ, có thể dẫn đến Bồ-đề, có thể chứng nhập Niết-bàn”.

Khi tư duy về công đức của Tầm tư vô nhuế như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô nhuế.

Lại nữa, tư duy Tầm tư nhuế:

“Như bệnh, như ung nhọt, như mũi tên, như bức bách, như sát hại, là vô thường, khổ, không, phi ngã, biến động, suy kiệt, lao nhọc, là pháp thất hoại, nhanh chóng không ngừng, mục nát, không thường hằng, không thể tin chắc, vì là pháp biến hoại”.

Khi tư duy về Tầm tư nhuế như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô nhuế.

Lại nữa, vì muốn đoạn Tầm tư nhuế, tư duy:

“Diệt của Tầm tư vô nhuế là chân tịch tĩnh”;

Tư duy:

“Đạo của Tầm tư vô nhuế là chân xuất ly”.

Khi tư duy về diệt, đạo của Tầm tư vô nhuế như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô nhuế.

Lại nữa, hoặc tư duy:

“Xả tâm định và đạo; vô tưởng định, diệt định, trạch diệt tương ưng với xả tâm định”.

Khi tư duy như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô nhuế.

Lại nữa, khi tư duy về vô nhuế và vô nhuế tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức, và thân nghiệp, ngữ nghiệp được đẳng khởi bởi nó, và hành không tương ưng, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô nhuế.

Thế nào là Tầm tư vô hại?

Tư duy ở nơi Tầm tư hại đó:

“Là pháp chứa nhiều tai hoạ, là pháp bất thiện, là điều thấp hèn; nếu ai tin nhận thọ trì, thì kẻ ấy bị Như laiđệ tử, Thiện sĩ hiền quý đồng chê trách; vì có thể làm tổn hại chính mình, có thể làm tổn hại người khác, có thể làm tổn hại cả hai; có thể chặn đứng trí tuệ, có thể ngăn ngại những thứ đồng phẩm loại với nó; có thể chướng ngại Niết-bàn. Thọ trì pháp này không sinh thông tuệ, không dẫn đến Bồ-đề, không chứng nhập Niết-bàn”.

Khi tư duy về tai họa của Tầm tư hại như thế, những gì là tâm tầm cầu, tầm cầu khắp, trực tiếp tầm cầu, tâm biết rõ, biết rõ khắp, biết rõ ngay trước mặt, ước đoán, phác họa, tư duy, phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô hại.

Lại nữa, vì đoạn trừ Tầm tư hại nên tư duy công của Tầm tư vô hại:

“Tầm tư vô hại này là pháp thắng thiện, là pháp tôn thắng; nếu ai tin nhận thọ trì, vị ấy được Như lai, đệ tử và bậc Hiền quý Thiện sĩ đồng khen ngợi; vì không tổn hại chính mình, không tổn hại người khác, không tổn hại cả hai; tăng trưởng trí tuệ, không ngăn ngại những thứ đồng phẩm loại với nó; không chướng ngại Niết-bàn, có thể phát sinh thông tuệ, có thể dẫn đến Bồ-đề, có thể chứng nhập Niết-bàn”.

Khi tư duy về công đức của Tầm tư vô hại như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô hại.

Lại nữa, tư duy Tầm tư hại:

“Như bệnh, như ung nhọt, như mũi tên, như bức bách, như sát hại, là vô thường, khổ, không, phi ngã, biến động, suy kiệt, lao nhọc, là pháp thất hoại, nhanh chóng không ngừng, mục nát, không thường hằng, không thể tin chắc, vì là pháp biến hoại”.

Khi tư duy về Tầm tư hại như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô hại.

Lại nữa, vì muốn đoạn Tầm tư hại, tư duy:

“Diệt của Tầm tư vô hạichân tịch tĩnh”;

Tư duy:

“Đạo của Tầm tư vô hại là chân xuất ly”.

Khi tư duy về diệt, đạo của Tầm tư vô hại như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô hại.

Lại nữa, hoặc tư duy:

“Xả tâm định và đạo; vô tưởng định, diệt định, trạch diệt tương ưng với xả tâm định”.

Khi tư duy như thế, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô hại.

Lại nữa, khi tư duy về vô hạivô hại tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức, và thân nghiệp, ngữ nghiệp được đẳng khởi bởi nó, và hành không tương ưng, những gì là tâm tầm cầu, cho đến: phân biệt. Đó gọi là Tầm tư vô hại.

Như Thế Tôn nói:

Thích diệt các ác tầm

Siêng tu bất tịnh quán,

Thường niệm đoạn tham ái,

Tháo được dây trói chặt.

5. Ba ác hành

* Ba ác hành: 1. Thân ác hành. 2. Khẩu ác hành. 3. Ý ác hành.

Thế nào là thân ác hành?

Đoạn sinh mạng, lấy vật không cho và tà hành trong các dục.

Lại nữa, đó là đoạn sinh mạng, lấy vật không cho và phi phạm hạnh.

Lại nữa, những gì là thân nghiệp bất thiện, những gì là thân nghiệp được dẫn bởi cái phi lý, những gì là thân nghiệp chướng ngại định, gọi chung là thân ác hành.

Thế nào là khẩu ác hành?

Hư cuống ngữ, ly gián ngữ, thô ác ngữ, tạp uế ngữ.

Lại nữa, những gì là khẩu nghiệp bất thiện, những gì là khẩu nghiệp được dẫn bởi cái phi lý, những gì là khẩu nghiệp chướng ngại định, gọi chung là khẩu ác hành.

Thế nào là ý ác hành?

Tham dục, sân nhuế, tà kiến.

Lại nữa, những gì là ý nghiệp bất thiện, những gì là ý nghiệp được dẫn bởi cái phi lý, những gì là ý nghiệp chướng ngại định, gọi chung là ý ác hành.

Như Thế Tôn nói:

Nếu tạo thân ác hành,

Ngữ, ý ác hành rồi;

Không tu pháp đối trị,

Nên đọa trong địa ngục.

6. Ba diệu hành

Ba diệu hành: 1. Thân diệu hành. 2. Ngữ diệu hành. 3. Ý diệu hành.

Thế nào là thân diệu hành?

Viễn ly đoạn sinh mệnh, ly bất dữ thủ, ly dục tà hành.

Lại nữa, ly đoạn sinh, ly bất dữ thủ, ly phi phạm hạnh.

Lại nữa, các nghiệp của thân thuộc hữu học, các nghiệp của thân thuộc vô học, các nghiệp thiện của thân thuộc phi học phi vô học, gọi chung là thân diệu hành.

Thế nào là ngữ diệu hành?

Ly hư cuống ngữ, ly ly gián ngữ, ly thô ác ngữ, ly tạp uế ngữ.

Lại nữa, các nghiệp của ngữ thuộc hữu học, các nghiệp của ngữ thuộc vô học, các nghiệp thiện của ngữ thuộc phi học phi vô học, gọi chung là ngữ diệu hành.

Thế nào là ý diệu hành?

Vô tham, vô sân, chánh kiến.

Lại nữa, các nghiệp của ý thuộc hữu học, các nghiệp của ý thuộc vô học, các nghiệp thiện của ý thuộc phi học phi vô học, gọi chung là ngữ diệu hành, gọi chung là ý diệu hành.

Như Thế Tôn nói:

Nếu tu thân diệu hành,

Ngữ, ý diệu hành rồi;

Không còn duyên trở ngại,

Nên sinh Thiên thọ lạc.

7-8. Thiện giới & bất thiện giới

Dục giới, nhuế giới, hại giới; xuất ly giới, vô nhuế giới, vô hại giới, như Pháp uẩn luận đã thuyết minh.

9. Ba giới hệ

Dục giới, sắc giới, vô sắc giới: cũng như Pháp uẩn luận đã thuyết minh.

Như Thế Tôn nói:

Những ai thường biến tri,

Dục, sắc, vô sắc giới,

Vượt tất cả sở y,

Sẽ chứng vô dư y.

Thân chứng giới cam lồ

Vô lậu, bất tư nghị.

Thế Tôn nói Niết-bàn

nhiêu ích quần sinh.

10. Ba giới

Sắc giới, vô sắc giới và diệt giới: cũng như Pháp uẩn luận đã thuyết minh.

Như Thế Tôn nói:

Hữu tình trụ sắc giới,

trụ vô sắc giới,

Vì không chứng tri diệt

Nhất định khởi hậu hữu.

Nếu biến tri sắc giới,

Không trụ nơi vô sắc,

Thú hướng diệt cứu cánh,

Tức giải thoát sinh tử.

TỤNG THỨ HAI

Tụng nêu tổng quát thứ hai:

Hai: Ba pháp có mười,

Thế, ngôn y, xứ, hành,

Tâm, sổ thú, Thượng tọa

Tụ, cử, ba không hộ.

Tam thế, ba ngôn y, ba sắc xứ, ba hành, ba tâm, ba Bổ-đặc-già-la, ba Thượng tọa, ba tụ, ba sự cử tội, ba không phòng hộ.

11. Ba thế

Tam thế: 1. Quá khứ thế. 2. Vị lai thế. 3. Hiện tại thế.

Thế nào là quá khứ thế?

Những gì là các hành đã khởi, đã đẳng khởi, đã sinh, đã đẳng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, đã tụ tập, đã xuất hiện, tàn tạ dĩ vãng, là tận diệt, là ly biến, là trạng thái quá khứ, là đồng loại quá khứ, được liệt vào quá khứ thế. Đó gọi là quá khứ thế.

Thế nào là vị lai thế?

Những gì là các hành chưa khởi, chưa đẳng khởi, chưa sinh, chưa đẳng sinh, chưa chuyển, chưa hiện chuyển, chưa tụ tập, chưa xuất hiện, là trạng thái vị lai, là đồng loại vị lai, được liệt vào vị lai thế. Đó gọi là vị lai thế.

Thế nào là hiện tại thế?

Những gì là các hành đã khởi, đã đẳng khởi, đã sinh, đã đẳng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, tụ tập, xuất hiện, tồn tại với trạng thái chưa tàn tạ, chưa tận diệt, chưa ly biến, hiện tiền hòa hợp, thuộc trạng thái hiện tại, đồng loại hiện tại, được liệt vào hiện tại thế. Đó gọi là hiện tại thế.

“Thế” có nghĩa thế nào?

“Thế” là hiển thị các hành tăng ngữ.

12. Ba ngôn y

Ba ngôn y: 1. Quá khứ ngôn y. 2. Vị lai ngôn y. 3. Hiện tại ngôn y.

Quá khứ ngôn y:

Quá khứ là gì? ngôn là gì? y là gì? mà nói là Quá khứ ngôn y?

Những gì là các hành đã khởi, đã đẳng khởi, đã sinh, đã đẳng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, đã tụ tập, đã xuất hiện, đã tàn tạ dĩ vãng, là tận diệt, là li biến, là trạng thái quá khứ, là đồng loại quá khứ, được liệt vào quá khứ thế, đó gọi là quá khứ.

Tức y chỉ vào các hành quá khứ như thế mà ngữ ngôn được khởi lên, xướng từ, bình luận, hô triệu, tuyên thuyết, hiển thị, giáo hối, ngữ lộ, ngữ âm, ngữ nghiệp, ngữ biểu, đó gọi là ngôn.

Tức các hành quá khứ được nói ở trước cũng gọi là y.

Ngôn này là nhân, gốc, nhãn, đạo lộ, duyên khởi, vô gián, dẫn phát, có thể làm sinh, duyên, tập, đẳng khởi, vì y chỉ các hành quá khứ khởi các ngôn thuyết, nên các hành quá khứ gọi là Quá khứ ngôn y.

Vị lai ngôn y:

Vị lai là gì? ngôn là gì? y là gì? mà nói là Vị lai ngôn y?

Những gì là các hành chưa khởi, chưa đẳng khởi, chưa sinh, chưa đẳng sinh, chưa chuyển, chưa hiện chuyển, chưa tụ tập, chưa xuất hiện, là trạng thái vị lai, là đồng loại vị lai, được liệt vào vị lai thế, đó gọi là vị lai.

Tức y chỉ vào các hành vị lai như thế mà ngữ ngôn được khởi lên, xướng từ, bình luận, hô triệu, tuyên thuyết, hiển thị, giáo hối, ngữ lộ, ngữ âm, ngữ nghiệp, ngữ biểu, đó gọi là ngôn.

Tức các hành vị lai được nói ở trước cũng gọi là y.

Ngôn này là nhân, gốc, nhãn, đạo lộ, duyên khởi, vô gián, dẫn phát, có thể làm sinh, duyên, tập, đẳng khởi, vì y chỉ các hành vị lai khởi các ngôn thuyết, nên các hành vị lai gọi là vị lai ngôn y.

Hiện tại ngôn y:

Hiện tại là gì? ngôn là gì? y là gì? mà nói là Hiện tại ngôn y?

Những gì là các hành đã khởi, đã đẳng khởi, đã sinh, đã đẳng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, tụ tập, xuất hiện, trụ dừng, chưa tàn tạ, chưa tận diệt, chưa li biến, đang hiện tiền hòa hợp, là trạng thái hiện tại, là đồng loại hiện tại, được liệt vào hiện tại thế, đó gọi là hiện tại.

Tức y chỉ vào các hành hiện tại như thế mà ngữ ngôn được khởi lên, xướng từ, bình luận, hô triệu, tuyên thuyết, hiển thị, giáo hối, ngữ lộ, ngữ âm, ngữ nghiệp, ngữ biểu, đó gọi là ngôn.

Tức các hành hiện tại được nói ở trước cũng gọi là y.

Ngôn này là nhân, gốc, nhãn, đạo lộ, duyên khởi, vô gián, dẫn phát, có thể làm sinh, duyên, tập, đẳng khởi, vì y chỉ các hành quá khứ khởi các ngôn thuyết, nên các hành hiện tại gọi là hiện tại ngôn y.

Không có loại thứ tư, thứ năm, vì y chỉ hữu vithuyết minh, nghĩa là pháp hữu vi chỉ có ba loại, hoàn toàn không có loại thứ tư, thứ năm khả đắc.

Có thuyết nói: đây là y chỉ tất cả pháp mà thuyết minh, các pháp vô vi tức được liệt vào vào hiện tại ngôn y, hoàn toàn không có loại thứ tư, thứ năm khả đắc.

Như Thế Tôn nói:

Hữu tình thích ngôn tưởng,

Thường y ngôn tưởng trụ,

Chưa biến tri ngôn tưởng,

Thú sinh tử vô cùng.

Nếu biến tri ngôn tưởng,

Nơi khác không sở thuyết,

Cũng không thích tha thuyết,

Thường hân tu tĩnh lự.

Tịch định siêng tinh tấn,

Thấy sinh tử tận biên

Tồi phục chư ma quân

Đến bỉ ngạn sinh tử.

13. Ba sắc xứ

Ba sắc xứ: có ba xứ thâu nhiếp tất cả sắc.

Những gì là ba?

1. Sắc hữu kiến hữu đối. 2. Sắc vô kiến hữu đối. 3. Sắc vô kiến vô đối.

Thế nào là Sắc hữu kiến hữu đối?

Đó là một xứ.

Thế nào là Sắc vô kiến hữu đối?

Đó là chín xứ.

Thế nào là Sắc vô kiến vô đối?

Đó là một xứ, thiểu phần.

14. Tam hành

Ba hành: 1. Thân hành; 2. Ngữ hành; 3. Ý hành.

Thế nào là thân hành?

Thân cũng gọi là thân hành; Thân nghiệp cũng gọi là thân hành; hơi thở ra, hơi thở vào cũng gọi là thân hành.

Nay trong nghĩa này, ý nói hơi thở ra, hơi thở vào là thân hành.

Tại sao như vậy? Vì hơi thở vào, nghĩa là hô hấp trao đổi không khí bên ngoài, dẫn vào bên trong cơ thể; hơi thở ra, nghĩa là dẫn phát không khí trong thân khiến cho xuất ra ngoài. Do thế lực này, khiến thân động chuyển, thông suốt an ổn. Thế nên hơi thở ra, hơi thở vào gọi là thân hành.

Thế nào là ngữ hành?

Ngữ cũng gọi là ngữ hành; ngữ nghiệp cũng gọi là ngữ hành; Tầm, tứ cũng gọi là ngữ hành.

Nay trong nghĩa này, ý nói tầm tứ là ngữ hành.

Tại sao như vậy? Vì cần phải tầm tứ rồi, mới có thể phát ra ngữ ngôn, không thể không có không tầm tứ. Do đó, tầm tứ gọi là ngữ hành.

Thế nào là ý hành?

Ý cũng gọi là ý hành; Ý nghiệp cũng gọi là ý hành; Tưởng, tư cũng gọi là ý hành.

Nay trong nghĩa này, ý nói: tưởng tư là ý hành.

Tại sao như vậy? Vì tưởng và tư là pháp tâm sở, y chỉ tâm, hệ thuộc tâm, y chỉ vào tâm mà chuyển, phù trợ tâm. Do đó, tưởng, tư gọi là ý hành.

15. Ba tâm

Ba tâm: 1. Tâm dụ như lậu nhọt. 2. Tâm dụ như ánh chớp. 3. Tâm dụ như kim cương.

Thế nào là tâm dụ như lậu nhọt?

Như Thế Tôn nói:

“Bí-sô nên biết! Thế gian có một hạng bổ-đặc-già-la bẩm tính bạo ác, nói năng thô tục, có chút xúc não liền phẫn nhuế cực độ, kết oán đối nghịch, ngữ ngôn hung bạo. Như lậu nhọt độc vừa bị vật thể va chạm, thì đã vỡ ra làm máu mủ chảy không ngừng. Tâm kẻ ấy cũng vậy, gặp chút nghịch duyên, đã liền phẫn nhuế, oán hận không ngừng”.

Vì sao tâm của kẻ ấy gọi là dụ như lậu nhọt?

Vì tâm-ý-thức của kẻ ấy chỉ vừa xúc chạm nghịch duyên liền nhanh chóng phát sinh đa dạng uế ác. Thế nên gọi là tâm dụ như lậu nhọt.

[379c7][1] Thế nào là tâm dụ như ánh chớp?

Như Thế Tôn nói:

“Bí-sô nên biết! Thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la thường ở A-luyện-nhã, hoặc ở dưới gốc cây, hay ở nơi thanh vắng, vì tinh cần tu tập, tu tập nhiều lần, nên chứng đắc tâm định tịch tĩnh như thế. Y chỉ tâm định này, có thể vĩnh viễn đoạn trừ năm thuận hạ phần kết, chứng đắc quả Bất hoàn, thọ thượng hóa sinh, tức an trú thượng giới, chứng nghiệm Bát Niết-bàn, không còn tái sinh trở lại nơi Dục giới. Giống như khi trời cuối hạ sang đầu thu, từ đám mây dày đặc kia[2] phát ra ánh chớp, vừa hiện sắc tượng thì liền biến mất. Một hạng bổ-đặc-già-la như thế, ở A-luyện-nhã nói chi tiết cho đến

Vị ấy sở đắc tâm gọi là dụ như ánh chớp.

Vì sao tâm của vị ấy gọi là dụ như ánh chớp?

Vì tâm-ý-thức của vị ấy chứng đắc quả Bất hoàn, vừa mới tỏa chiếu, lại liền ẩn mất. Do đó, gọi là tâm dụ như ánh chớp.

Thế nào là tâm dụ như kim cương?

Như Thế Tôn nói:

Bí-sô nên biết! Thế gian có một hạng Bổ-đặc-già-la thường ở A-luyện-nhã, hoặc ở dưới gốc cây, hay ở nơi thanh vắng, vì tinh cần tu tập, tu tập nhiều lần, nên chứng đắc tâm định tịch tĩnh như thế. Y chỉ tâm định này, nên có thể cạn nguồn các lậu, chứng đắc vô lậu tâm tuệ giải thoát. Ở trong hiện pháp bằng thông tuệ đặc sắc, tự chứng giác thọ, viễn mãn công đức, tự chứng tri: ‘Ta sự sinh đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn thọ hậu hữu’. Ví như kim cương, không có không có bắt cứ vật nào có thể chặt đứt, hoặc xuyên thủng, hoặc phá hủy, được nói như là sắt, ngà voi, vỏ sò, sừng, châu báu, ngọc đá các thứ. Một hạng bổ-đặc-già-la như thế, ở A-luyện-nhã nói chi tiết cho đến

Vị ấy sở đắc tâm gọi là dụ như kim cương.

Vì sao tâm của vị ấy gọi là dụ như kim cương?

Vì tâm-ý-thức của vị ấy đã chứng đắc quả vô học, vô kết, vô phược các thức mà không bị hủy hoại. Do đó, gọi là tâm dụ như kim cương.

16. Ba bổ-đặc-già-la

* Ba bổ-đặc-già-la: 1. Bổ-đặc-già-la trí tuệ bị trùm kín. 2. Bổ-đặc-già-la trí tuệ đầu gối. 3. Bổ-đặc-già-la trí tuệ phổ quát.

Thế nào là Bổ-đặc-già-la trí tuệ bị trùm kín?

Như Thế Tôn nói:

“Bí-sô nên biết! Thế gian có một dạng bổ-đặc-già-la, vì muốn được nghe pháp nên ngồi trước vị Bí-sô. Bí-sô thương xót nên thuyết giảng pháp yếu, khai thị sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa xảo diệu, thuần nhất viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Người ấy khi còn tại chỗ ngồi đối với các pháp được thuyết giảng sơ phần, trung phần, hậu phần đều không thể thấu hiểu; sau khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đối với các pháp được thuyết giảng sơ phần, trung phần, hậu phần cũng không thể thấu hiểu. Tại sao như vậy? Vì người ấy hoàn toàn vô tuệ, giống như đồ chứa bị bao trùm, hoặc bình lọ bị đậy kín, tuy rót nhiều nước, nhưng rốt cuộc không thể chảy vào. Như thế, một hạng bổ-đặc-già-la vì muốn được nghe pháp nên ngồi trước vị Bí-sô, nói chi tiết cho đến: người ấy hoàn toàn vô tuệ. Đó gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ bị trùm kín”.

Do đâu gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ bị trùm kín?

Hoặc có ai thuộc tu loạiệ này, khi còn tại pháp tòa, đối với các pháp được thuyết giảng: sơ phần, trung phần, hậu phần tuy đều muốn hiểu, nhưng do không có trí tuệ nên không thể thấu hiểu. Người thuộc tu loạiệ này, sau khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đối với các pháp được thuyết giảng: sơ phần, trung phần, hậu phần tuy đều muốn hiểu, nhưng do không có trí tuệ nên không thể thấu hiểu. Vì vậy, gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ bị trùm kín.

Thế nào là Bổ-đặc-già-la trí tuệ đầu gối?

Như Thế Tôn nói:

“Bí-sô nên biết! Thế gian có một dạng bổ-đặc-già-la, vì muốn được nghe pháp nên ngồi trước vị Bí-sô. Bí-sô thương xót nên thuyết giảng pháp yếu, khai thị sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa xảo diệu, thuần nhất viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Người ấy khi còn tại chỗ ngồi đối với các pháp được thuyết giảng sơ phần, trung phần, hậu phần tuy đều có thể hiểu biết; nhưng khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, thì đối với pháp được thuyết giảng đều không thể thấu hiểu, trước tuy đã lãnh thọ nhưng sau đó liền quên mất cả. Ví như có người, được thức ăn thơm ngon, đem để trên đầu gối, do thất niệm nên khi đột nhiên đứng lên thì thức ăn đều rơi rớt hết. Như thế, một hạng bổ-đặc-già-la vì muốn được nghe pháp nên ngồi trước vị Bí-sô, nói chi tiết cho đến: sau đó liền quên mất cả. Đó gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ đầu gối.

Do đâu gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ đầu gối?

Vì người ấy thuộc tu loạiệ này, khi còn tại pháp tòa, đối với các pháp được thuyết giảng: sơ phần, trung phần, hậu phần có thể tùy theo ý muốn nhận biết; do người ấy nằm trong tu loạiệ này, nên tuy có thể thấu hiểu, nhưng khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi, thì đối với giáo pháp được thuyết: sơ phần, trung phần, hậu phần, tuy đều muốn liễu tri, nhưng vì vô tuệ nên không thể liễu tri. Vì vậy gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ đầu gối.

Thế nào là Bổ-đặc-già-la trí tuệ phổ quát?

Như Thế Tôn nói:

“Bí-sô nên biết! Thế gian có một dạng bổ-đặc-già-la, vì muốn được nghe pháp nên ngồi trước vị Bí-sô. Bí-sô thương xót nên thuyết giảng pháp yếu, khai thị sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa xảo diệu, thuần nhất viên mãn, phạm hạnh thanh bạch. Người ấy khi còn tại chỗ ngồi đối với các pháp được thuyết giảng sơ phần, trung phần, hậu phần thảy đều tri nhận; khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi, đối với các pháp được thuyết: sơ phần, trung phần, hậu phần cũng đều liễu tri, lại có thể khéo thấu hiểu nghĩa thú được thuyết giảng. Như các sát-đế-lợi nữ, bà-la-môn nữ, hoặc trưởng giả nữ, hoặc cư sĩ nữ, dùng nước sạch tắm gội, thoa các diệu hương, chải tóc, trang điểm diện mạo, mặc quần áo đẹp, mang chuỗi Anh lạc, dùng vàng ngọc để tự trang điểm, chỉ còn thiếu các tràng hoa để cài lên mão đội đầu. Có bậc tôn quý nào dùng vòng hoa tươi đẹp như Ốt-bát-la, Chiêm-bác-ca v.v... hoặc bất cứ vòng hoa tươi thắm nào để trao cho họ. Các thiếu nữ bấy giờ hoan hỷ phấn khởi, cung kính nhận lấy, cài giắt lên đầu, thâm tâm yêu thích, cẩn thận trọn không để rơi mất. Như thế, một hạng bổ-đặc-già-la do muốn được nghe pháp nên ngồi trước vị Bí-sô, nói chi tiết cho đến: khéo thấu hiểu nghĩa thú được thuyết. Đó gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ phổ quát”.

Do đâu gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ phổ quát?

Vì người ấy thuộc tu loạiệ này, khi còn tại pháp toàn, đối với các pháp được thuyết giảng: sơ phần, trung phần, hậu phần, tri nhận tùy theo ý muốn, do có tuệ này, nên đều có thể liễu tri; khi đứng dậy khỏi chỗ ngồi rồi, đối với các pháp được thuyết: sơ phần, trung phần, hậu phần cũng đều liễu tri, lại có thể khéo thấu hiểu nghĩa thú được thuyết giảng. Vì vậy gọi là Bổ-đặc-già-la trí tuệ phổ quát.

Như Thế Tôn nói k:

Tuệ trùm, không thông minh,

Tuy nhiều lần nghe pháp,

trí không thể hiểu

Như rót nước bình kín.

 

Tuệ đầu gối hơn trước,

Ngồi nghe tuy hiểu được,

Đứng dậy đều quên mất,

Như cơm để đầu gối.

 

Quảng tuệ là thù thắng,

Ngồi nghe hoặc đứng dậy,

Văn nghĩa đều thấu hiểu

Như thiếu nữ cài hoa,

Cụ trì niệm biện tài,

Thích tịnh hóa nghiệp nhiễm,

Đoạn kiêu mạn, phóng dật,

Xa lìa các ác thú.

17. Ba thượng tọa

Ba Thượng tọa: 1. Thượng tọa sinh niên. 2. Thượng tọa thế tục. 3. Thượng tọa pháp tính.

Thế nào là Thượng tọa sinh niên?

Những vị nào lớn tuổi, tôn trưởng, kì cựu. Đó gọi là Thượng tọa sinh niên.

Thế nào là Thượng tọa thế tục?

Như có các Trưởng giả phú quý, am tường giáo pháp, đồng lập quy ước: Những ai am tường pháp, đại tài, đại vị, đại tộc, đại lực, có đại quyến thuộc, đồ chúng lớn, vượt hơn chúng ta nhiều thứ, thì chúng ta đều nên suy tôn làm Thượng tọa, cung kính cung dưỡng, tôn trọng khen ngợi. Do nhân duyên này, nên có người tuy tuổi mới hai mươi, hai mươi lăm, nếu am tường pháp, đại tài, đại vị, đại tộc, đại lực, có đại quyến thuộc, đồ chúng lớn, thì chúng ta nên toàn thể hòa hợp suy tôn là Thượng tọa, cung kính cung dưỡng, tôn trọng khen ngợi. Như các quốc độ, thành ấp, thành ấp, vương đô, có ai đa văn, diệu giải toán số, biện tài, biện tài thư ấn, hoặc bất cứ công xảo sự nghiệp nào vượt hơn người khác, thì nên đồng hòa hợp suy tôn là Thượng tọa, cung kính cung dưỡng, tôn trọng khen ngợi. Như trong giới thương nhân, người nào đa tài, chúng thương nhân hòa hợp suy tôn là Thượng tọa, cung kính cung dưỡng, tôn trọng khen ngợi. Hoặc như các bậc vua chúa, đại thần v.v... cũng được dân chúng đồng nhau cung kính cung dưỡng, tôn trọng tán thán. Như chuyện Nan-đà vương, thuộc dòng Trường Phát vương, muốn phát động chiến tranh, nên triệu Mã Thắng vương thuộc dòng Sát-đế-lợi, ban thưởng tiền tài báu vật, khiến cho vị ấy thi thố nhiều loại kỹ năng, khi biết rõ ưu điểm của Mã Thắng rồi, bèn nói với các đại thần: “Chư vị nên biết! Ta muốn kính lễ nơi chân Mã Thắng vương thuộc dòng Sát-đế-lợi”. Đại thần tâu rằng: Ngài không nên kinh lễ nơi chân Mã Thắng vương thuộc dòng Sát-đế-lợi. Tại sao? Vì vị ấy là hàng phò tá, đức vua không nên đảnh lễ nơi chân hàng quan phò tá”. Các sự việc như thế có vô lượng hình thái. Nay trong nghĩa đây, ý nói: Nan-đà vương thuộc dòng Trường Phát vương, thời ấy là Thượng tọa thế tục.

Thế nào là Thượng tọa pháp tính?

Những ai thọ cụ giới kì cựu, trưởng thượng, gọi là Thượng tọa pháp tính.

Có thuyết nói: đây cũng là Thượng tọa sinh niên. Tại sao?

Đức Phật dạy rằng xuất gia thọ giới cụ túc, gọi là chân sinh.

Hoặc có vị Bí-sô nào, đắc A-la-hán, vĩnh viễn đoạn tận các lậu, những việc cần làm đã làm xong, phận sự cần hoàn tất đã hoàn tất, đã buông bỏ gánh nặng, thủ đắc tự lợi, tận trừ hữu kết, chánh trí giải thoát, tâm khéo tự tại. Trong nghĩa này, ý nói: như thế gọi là Thượng tọa pháp tính.

Như Thế Tôn thuyết giảng về Thượng tọa, có kệ tụng:

Tâm động, lời hoa mỹ,

Nhiễm ý, tư duy loạn,

Tuy trú lâu vườn rừng,

Nhưng phi chân Thượng tọa.

Cụ giới, trí, chánh niệm,

Tịch tĩnh, tâm giải thoát

Vị đó thường quán pháp

Đó là chân thượng tọa.

18. Ba tụ

Ba tụ: 1. Tà tính định tụ. 2. Chánh tính định tụ. 3. Bất định tụ.

Thế nào là Tà tính định tụ?

Năm nghiệp vô gián.

Thế nào là Chánh tính định tụ?

Pháp hữu học và vô học.

Thế nào là Bất định tụ?

Trừ năm nghiệp vô gián; các pháp hữu lậu còn lại và vô vi.

19. Ba sự cử tội

Ba sự cử tội: 1. Cơ sở cử tội do thấy; 2. Cơ sở cử tội do nghe; 3. Cơ sở cử tội do nghi.

Cơ sở cử tội do thấy:

Thế nào là thấy? thế nào là cử tội? thế nào là cơ sở? để nói là cử tội do thấy?

Thấy: nghĩa là thấy có Bí-sô cố ý đoạn sinh mạng, lấy vật không cho, hành phi phạm hạnh, hành pháp dâm dục, bằng chủ ý mà nói lời hư cuống, cố ý xuất bất tịnh, ăn phi thời, uống các thứ rượu, tự tay đào đất, chặt phá cây cỏ, ca múa đàn nhạc, trang điểm bằng vòng hoa, phóng dật buông tuồng v.v... Đó gọi là cử tội do thấy.

Cử tội, có năm nhóm cử tội: a. Giác sát cử tội. b. Ức niệm cử tội. c. nên nói Yết-ma cử tội. d. Khi Bố-sái-tha an lập cử tội. đ. Khi tự tứ an lập cử tội.

Thế nào là giác sát cử tội?

Có ai giác sát về Bí-sô khác, nói: Cụ thọ đã phạm tội như thế này, như thế kia, nên phát lồ sám hối, chớ che giấu; phát lồ sẽ được an ổn, không phát lồ tội càng sâu nặng. Đó gọi là giác sát cử tội.

Thế nào là ức niệm cử tội?

Có ai giáo hối người khác, khiến cho tự ức niệm: Cụ thọ, ông đã từng phạm tội như thế này, như thế kia, nên phát lồ sám hối, nên phát lồ sám hối, chớ che giấu; phát lồ sẽ được an ổn, không phát lồ tội càng sâu nặng. Đó gọi là ức niệm cử tội.

Thế nào là nên nói yết-ma cử tội?

Nên nói rằng: Cụ thọ, chớ nên im lặng không làm cho tôi giác sát, ra khỏi trụ xứ này, tôi muốn nói với ông vài lời v.v... Đó gọi là nên nói yết-ma cử tội.

Thế nào là khi Bố-sái-tha an lập cử tội?

Nghĩa là khi Bố-sái-tha, đối với điều sai phạm của người được cử tội, nói như thế này: “Bí-sô Tăng đây hòa hợp đồng ngồi tác pháp Bố-tát. Tôi là Bí-sô tên v.v... nay muốn chỉ ra trước đại chúng điều sai phạm v.v... Đó gọi là khi Bố-sái-tha an lập cử tội.

Thế nào là khi Tứ cử an lập cử tội?

Khi chỉ tội, đối vời điều sai phạm của người khác, nói như vầy: “Bí-sô Tăng đây hòa hợp, đồng ngồi tác pháp chỉ rõ điều tội. Tôi là Bí-sô tên v.v... nay muốn trước đại chúng, chỉ ra điều sai phạm. Đó gọi là Tứ cử an lập cử tội.

Như vậy gọi là cử tội.

Cơ sở: như nói ở trước, điều vi phạm được thấy. Đó gọi là cơ sở.

Tổng hợp như thế, gọi là cử tội do thấy.

Cử tội do nghe:

Thế nào là nghe? thế nào là cử tội? thế nào là cơ sở? để nói là cử tội do nghe?

Nghe: đó là nghe có Bí-sô cố ý đoạn sinh mạng, lấy vật không cho, hành dâm dục pháp phi phạm hạnh, bằng sự cố ý mà nói lời hư cuống, cố ý xuất bất tịnh, ăn phi thời, uống các thứ rượu, tự tay đào đất, chặt phá cây cỏ, ca múa đàn nhạc, trang điểm vòng hoa, phóng dật buông tuồng v.v... Đó gọi là cử tội do nghe.

Cử tội, nghĩa là năm thứ cử tội như trước đã nói. Như vậy gọi là cử tội.

Cơ sở: như nói ở trước, điều vi phạm được nghe. Đó gọi là cơ sở.

Tổng hợp như thế, gọi là cử tội do nghe.

Cử tội do nghi:

Thế nào là nghi? thế nào là cử tội? thế nào là cơ sở? để nói là cử tội do nghi?

Nghi: Nghĩa là do năm duyên nên sinh ra nghi: a. Do sắc; b. Do thanh; c. Do hương; d. Do vị; e. Do xúc.

Do sắc: thấy có Bí-sô phi thời vào thôn xóm, phi thời ra thôn xóm, hoặc cùng với người nữ vào ra nơi tòng lâm, hoặc kết thân với ngoại đạo, hoặc giao du với phiến-đề, với Bán-trạch-ca, hoặc thân mật với Bí-sô-ni, hoặc thân mật với dâm nữ, hoặc giao du với đám trai trẻ, hoặc thân mật với các đại nữ, hoặc thân thiết với các quả phụ. Thấy những việc đáng nghi như thế rồi, liền sinh khởi ý nghĩ hoài nghi: “Xem thấy Cụ thọ này hiện làm những việc không thanh tịnh như thế, đó không phải là Sa-môn, không phải là tùy thuận hạnh. Cụ thọ như thế nhất định đã phạm pháp phi phạm hạnh. Đó gọi là do sắc nên sinh nghi.

Do thanh: nghe có Bí-sô phi thời vào thôn xóm, phi thời ra thôn xóm, hoặc cùng với người nữ vào ra nơi tòng lâm, hoặc kết thân với ngoại đạo, hoặc giao du với phiến-đề, với Bán-trạch-ca, hoặc thân mật với Bí-sô-ni, hoặc thân mật với dâm nữ, hoặc giao du với đám trai trẻ, hoặc thân mật với các đại nữ, hoặc thân thiết với các quả phụ. Nghe những việc đáng nghi như thế rồi, liền sinh khởi ý nghĩ hoài nghi: “Nghe được Cụ thọ này hiện làm những việc không thanh tịnh như thế, đó không phải là Sa-môn, không phải là tùy thuận hạnh. Cụ thọ như thế nhất định đã phạm pháp phi phạm hạnh. Đó gọi là do nghe nên sinh nghi.

Do hương: có Bí-sô hoặc do rửa tay, hoặc do rửa mặt, hoặc do uống nước, hoặc bất cứ duyên cớ gì, nên vào trong khu vực là chỗ ở của Bí-sô khác, ngửi được tạp nhiễm hương: đó là mùi nữ nhân, mùi rượu thịt, hay mùi dầu thơm, xông, hoặc bất cứ hương dâm dật nào khác v.v... Ngửi được các hương này rồi, liền sinh nghi niệm: “Nay khu vực chỗ ở của Cụ thọ này, đã có các hương không thanh tịnh như thế, đó không phải là Sa-môn, không phải là tùy thuận hương. Cụ thọ như thế nhất định đã phạm pháp phi phạm hạnh. Đó gọi là do hương nên sinh nghi.

Do vị: có Bí-sô nào hoặc do rửa tay, hoặc do rửa mặt, hoặc do uống nước, hoặc bất cứ duyên cớ gì, nên vào trong khu vực là  chỗ ở của Bí-sô khác, thấy Bí-sô kia trong miệng có nhai ngậm vị tạp nhiễm như chất Đam-bổ-la, long não, đậu khấu, hoặc bất cứ vị dâm dật nào khác v.v… Thấy Bí-sô kia húp nếm vị như thế rồi, liền sinh nghi niệm: “Hiện nay Bí-sô này đã thưởng nếm các vị không thanh tịnh như thế, đó không phải là Sa-môn, không phải là tùy thuận vị, Bí-sô ấy nhất định đã phạm pháp phi phạm hạnh. Đó gọi là do vị nên sinh nghi”.

Do xúc: có Bí-sô nào hoặc do rửa tay, hoặc do rửa mặt, hoặc do uống nước, hoặc bất cứ duyên cớ gì, nên vào trong khu vực là chỗ ở của Bí-sô khác, thấy Bí-sô kia đang nằm trên giường tòa được trang sức bằng hương báu, tơ lụa mềm mại, nhung tơ gấm vóc hảo hạng dùng làm phụ cụ. Ở hai đầu giường đều có đặt một chiếc gối đỏ, dùng vải Ca-lăng-già-hạt phủ lên. Ở chỗ vị ấy lại thấy có nữ nhân xinh đẹp trẻ tuổi, hoặc nằm hay ngồi. Thấy sự việc như thế rồi, liền sinh nghi niệm: “Hiện nay thân thể Cụ thọ này đã tiếp xúc chạm những điều không thanh tịnh như vậy, đó không phải là Sa-môn, không phải là tùy thuận xúc. Cụ thọ như thế nhất định đã phạm pháp phi phạm hạnh. Đó gọi là do xúc nên sinh nghi.

Như vậy gọi là nghi.

Cử tội, nghĩa là năm thứ cử tội như trước đã nói. Như vậy gọi là cử tội.

Cơ sở: như nói ở trước, điều vi phạm được nghe. Đó gọi là cơ sở.

Tổng hợp như thế, gọi là cử tội do nghi

20. Ba sự không phòng hộ

Ba điều không cần phòng hộ: Do ba nghiệp của chư Như Lai đều không có khuyết điểm, nên không cần phòng hộ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”. Những gì là ba?

1. Những gì là thân nghiệp của Như lai đều hiện hành thanh tịnh, không có thân nghiệp hiện hành bất thanh tịnh, nên không cần phòng hộ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”.

2. Những gì là khẩu nghiệp của Như lai đều hiện hành thanh tịnh, không có khẩu nghiệp hiện hành bất thanh tịnh, nên không cần phòng hộ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”.

3. Những gì là ý nghiệp của Như lai đều hiện hành thanh tịnh, không có ý nghiệp hiện hành bất thanh tịnh, nên không cần phòng hộ: “Chớ để người khác biết việc này về Ta”.

Thế nào là thân nghiệp hiện có của Như Lai luôn hiện hành thanh tịnh?

Những gì là thân nghiệp của Như lai đều hiện hành thanh tịnh, nghĩa đó thế nào? Đó là xa lìa đoạn sinh mạng, xa lìa lấy vật không cho, xa lìa tà hành trong các dục.

Lại nữa, xa lìa đoạn sinh mạng, xa lìa lấy vật không cho, xa lìa phi phạm hạnh.

Lại nữa, những gì là thân nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc hữu học, những gì là thân nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc vô học, những gì thân nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc phi học phi vô học, gọi chung là thân nghiệp hiện hành thanh tịnh.

Nay trong ý nghĩa này, ý nói: Như Lai thành tựu thân nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc vô họcthành tựu thân nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc phi học phi vô học. Như Lai đã cụ túc, viên mãn, thành tựu thân nghiệp hiện hành thanh tịnh như thế, đó gọi là Như Lai thành tựu thân nghiệp hiện hành thanh tịnh.

Vì sao Như Lai không có thân nghiệp hiện hành bất thanh tịnh?

Thân nghiệp hiện hành bất thanh tịnh: Đó là đoạn sinh mạng, lấy vật không cho, tà hành trong các dục.

Lại nữa, đó là đoạn sinh mạng, lấy vật không cho, phi phạm hạnh.

Lại nữa, những gì là thân nghiệp bất thiện, những gì là thân nghiệp được dẫn bởi cái phi lý, những gì là thân nghiệp chướng ngại định, gọi chung là thân nghiệp hiện hành không thanh tịnh.

Như Lai đối với thân nghiệp hiện hành không thanh tịnh ấy, đã đoạn, đã biến tri, như chặt đứt gốc rễ cỏ dại, hay chặt đứt ngọn cây Đa-la khiến trong tương lai vĩnh viễn thành bất sinh pháp. Do đó, Như Lai không cần phải ẩn giấu, che đậy, phòng hộ: “Chớ để người khác thấy thân nghiệp tạp uế này của Ta”, đó gọi là Như Lai không có thân nghiệp hiện hành bất thanh tịnh.

Những gì là ngữ nghiệp của Như lai đều hiện hành thanh tịnh, nghĩa đó thế nào?

Ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh: Đó là lìa các thứ hư cuống ngữ, ly gián ngữ, thô ác ngữ, tạp uế ngữ.

Lại nữa, những gì là ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc hữu học, những gì là ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc vô học, những gì ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc phi học phi vô học, gọi chung là ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh.

Nay trong ý nghĩa này, ý nói: Như Lai thành tựu ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc vô họcthành tựu ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc phi học phi vô học. Như Lai đã cụ túc, viên mãn, thành tựu ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh như thế, đó gọi là Như Lai thành tựu ngữ nghiệp hiện hành thanh tịnh.

Vì sao Như Lai không có ngữ nghiệp hiện hành bất thanh tịnh?

Ngữ nghiệp hiện hành không thanh tịnh: Đó là hư cuống ngữ, ly gián ngữ, thô ác ngữ, tạp uế ngữ.

Lại nữa, những gì là ngữ nghiệp bất thiện, những gì là ngữ nghiệp được dẫn bởi cái phi lý, những gì là ngữ nghiệp chướng ngại định, gọi chung là ngữ nghiệp hiện hành không thanh tịnh.

Như Lai đối với ngữ nghiệp hiện hành không thanh tịnh ấy, đã đoạn, đã biến tri, như chặt đứt gốc rễ cỏ dại, hay chặt đứt ngọn cây Đa-la khiến trong tương lai vĩnh viễn thành bất sinh pháp. Do đó, Như Lai không cần phải ẩn giấu, che đậy, phòng hộ: “Chớ để người khác thấy ngữ nghiệp cấu uế này của Ta”, đó gọi là Như Lai không có ngữ nghiệp hiện hành bất thanh tịnh.

Những gì là ý nghiệp của Như lai đều hiện hành thanh tịnh, nghĩa đó thế nào?

Ý nghiệp hiện hành thanh tịnh: Đó là không tham, không sân và chánh kiến.

Lại nữa, những gì là ý nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc hữu học, những gì là ý nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc vô học, những gì ý nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc phi học phi vô học, gọi chung là ý nghiệp hiện hành thanh tịnh.

Nay trong ý nghĩa này, ý nói: Như Lai thành tựu ý nghiệp nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc vô họcthành tựu ý nghiệp hiện hành thanh tịnh thuộc phi học phi vô học. Như Lai đã cụ túc, viên mãn, thành tựu ý nghiệp hiện hành thanh tịnh như thế, đó gọi là Như Lai thành tựu ý nghiệp hiện hành thanh tịnh.

Vì sao Như Lai không có ý nghiệp hiện hành bất thanh tịnh?

Ý nghiệp hiện hành không thanh tịnh: Đó là tham, sân và tà kiến.

Lại nữa, những gì là ý nghiệp bất thiện, những gì là ý nghiệp được dẫn bởi cái phi lý, những gì là ý nghiệp chướng ngại định, gọi chung là ý nghiệp hiện hành không thanh tịnh.

Như Lai đối với ý nghiệp hiện hành không thanh tịnh ấy, đã đoạn, đã biến tri, như chặt đứt gốc rễ cỏ dại, hay chặt đứt ngọn cây Đa-la khiến trong tương lai vĩnh viễn thành bất sinh pháp. Do đó, Như Lai không cần phải ẩn giấu, che đậy, phòng hộ: “Chớ để người khác thấy ý nghiệp cấu uế này của Ta”, đó gọi là Như Lai không có ý nghiệp hiện hành bất thanh tịnh.

 

TỤNG THỨ BA

Tụng tóm tắt thứ ba:

Ba: Ba pháp có chín,

Là ba ái, lậu, cầu

Cùng hữu, thân hắc ám,

Sợ, thọ, khổ, mạn loại.

Có ba ái, ba lậu, ba cầu, ba hữu, ba thân hắc ám, ba sợ hãi, ba thọ, ba khổ tính, ba mạn loại.

21. Ba ái (1)

(1) Ba ái: 1. Dục ái. 2. Sắc ái. 3. Vô sắc ái.

Thế nào là dục ái?

Những gì là tham trong các dục, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm, đó gọi là dục ái.

Lại nữa, những gì là tham, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt ái nhiễm ở trong các pháp: mười tám giới, mười hai xứ, ngũ uẩn hệ thuộc dục giới. Đó gọi là dục ái.

Lại nữa, dưới từ Vô gián đại địa ngục, trên đến Tha hóa tự tại thiên, những gì là tham, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt ái nhiễm ở trong các pháp: sắc, thọ, tưởng, hành, thức được liệt vào trong đây. Đó gọi là dục ái.

Thế nào là sắc ái?

Những gì là tham trong các sắc, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm. Đó gọi là sắc ái.

Lại nữa, những gì là tham, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt ái nhiễm ở trong các pháp: bốn giới, mười xứ, năm uẩn hệ thuộc sắc giới. Đó gọi là sắc ái.

Lại nữa, dưới từ Phạm chúng thiên, trên đến Sắc cứu cánh thiên, những gì là tham, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm ở trong các pháp: sắc, thọ, tưởng, hành, thức được liệt vào trong đây. Đó gọi là sắc ái.

Thế nào là Vô sắc ái?

Những gì là tham trong các vô sắc, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm. Đó gọi là Vô sắc ái.

Lại nữa, những gì là tham, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt ái nhiễm ở trong các pháp: ba giới, hai xứ, bốn uẩn thuộc hệ thuộc vô sắc giới. Đó gọi là Vô sắc ái.

Lại nữa, như dục giới, sắc giới, được kiến lập theo vị trí cố định, không tạp loạn lẫn nhau. Vô sắc giới không có việc như thế, nhưng y vào sự thù thắnghạ liệt khác nhau mà định vị cao thấp. Từ Không vô biên xứ, lên đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, những gì là tham, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm ở trong các pháp: sắc, thọ, tưởng, hành, thức thuộc các xứ này. Đó gọi là Vô sắc ái.

Như Thế Tôn nói:

Những sĩ phu có ái,

Nhiều đời mãi lưu chuyển

Thường thọ thai tạng khổ

Qua lại trong sinh hữu.

Các hữu tình đoạn ái,

Vì đã đoạn bộc lưu,

Không có ái nuôi dưỡng,

Không lưu chuyển hậu hữu.

22. Ba ái (2)

(2) Lại có ba ái: 1. Dục ái. 2. Hữu ái. 3. Vô hữu ái.

Thế nào là dục ái?

Những gì là tham trong các dục, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm. Đó gọi là dục ái.

Thế nào là hữu ái?

Những gì là tham, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm trong sắc giới, vô sắc giới. Đó gọi là hữu ái.

Thế nào là Vô hữu ái?

Hân hoan nơi vô hữu. Những gì là tham trong vô hữu, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm. Đó gọi là Vô hữu ái.

Hữu ái này chính là cái gì?

Như có một hạng người bị sợ hãi bức bách, bị sợ hãi não hại, bị ưu khổ bức bách, bị ưu khổ não hại, vì khổ thọ xúc, khởi suy nghĩa và nói thế này: “Cái gì sẽ khiến thân ta sau khi chết đoạn hoại vô hữu, vĩnh tuyệt chúng bệnh, há chẳng an vui sao?” Thế nên người ấy hân thích vô hữu, tham trong vô hữu, đẳng tham, chấp tàng, phòng hộ, dính chặt, ái nhiễm. Đó gọi là Vô hữu ái.

Như Thế Tôn nói:

Hữu tình sở chấp ái

Tâm tham hữu, hữu;

Tròng ách bởi ma ách,

Thân thường không an lạc.

Lưu chuyển trong sinh hữu,

Đã sinh tất già chết,

Như nghé con thích sữa

Theo mẹ bú không rời.

23. Ba lậu

Ba lậu: 1. Dục lậu. 2. Hữu lậu. 3. Vô minh lậu.

Thế nào là dục lậu?

Trừ vô minh hệ thuộc Dục giới; các thứ còn lại: kết, phược, tùy miên, tùy phiền não, triền hệ thuộc Dục giới, đó gọi là dục lậu.

Thế nào là hữu lậu?

Trừ vô minh hệ thuộc Sắc giớiVô sắc; các thứ còn lại: kết, phược, tùy miên, tùy phiền não, triền hệ thuộc Sắc giới, Vô sắc, đó gọi là hữu lậu.

Thế nào là Vô minh lậu?

Vô trí đối với tam giới, đó gọi là Vô minh lậu.

Như Thế Tôn nói:

Nếu Bí-sô đã đoạn

Dục, hữu, vô minh lậu,

Vì các lậu vĩnh tận,

Tịch diệt không ảnh tượng.

24. Ba cầu

* Ba cầu: 1. Dục cầu. 2. Hữu cầu. 3. Phạm hạnh cầu.

Thế nào là Dục cầu?

Người trụ dục hữu, những gì là cầu, tùy cầu, bình đẳng cầu, hy cầu, hân cầu, tư cầu, cần cầu đối với các pháp chưa đắc muốn đắc thuộc Dục giới. Đó gọi là Dục cầu.

Thế nào là hữu cầu?

Người trụ sắc hữu, vô sắc hữu, những gì là cầu, cho đến: cần cầu đối với các pháp chưa đắc muốn đắc thuộc Sắc giới, Vô sắc giới. Đó gọi là hữu cầu.

Thế nào là phạm hạnh cầu?

Tức lìa hai thứ giao hội, gọi là phạm hạnh. Thánh đạo tám chi cũng gọi là phạm hạnh. Ở trong nghĩa này, ý nói: Thánh đạo tám chi là phạm hạnh. Những gì là cầu, cho đến: cần cầu đối với Thánh đạo tám chi này chưa đắc muốn đắc. Đó gọi là phạm hạnh cầu.

Lại nữa, Dục cầu không phải là cầu sau khi chết sẽ sinh trong các sinh hữu, mà là cầu, cho đến: cần cầu đối với các thứ khả ý trong hiện tại như sắc, thanh, hương, vị, xúc, y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, tư cụ sinh hoạt chưa đắc muốn đắc, đó gọi là Dục cầu.

Hữu cầu: Hữu nghĩa là năm thủ uẩn.

Những gì là năm?

Đó là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Như có một dạng khởi suy nghĩ và nói:

“Làm thế nào khiến ta trong đời vị lai có được các loại sắc, thọ, tưởng, hành, thức như thế”.

Người ấy sau khi chết sẽ sinh trong sinh hữu, những gì là cầu, cho đến: cần cầu năm uẩn: sắc các thứ, đó gọi là hữu cầu.

Phạm hạnh cầu:

Khi từ thế đệ nhất pháp hướng đến khổ pháp trí nhẫn, chỉ có phạm hạnh cầu, chứ chưa có phạm hạnh. Vì sao?

Thánh đạo tám chi được gọi là phạm hạnh. Vị ấy lúc bấy giời, đối với pháp ấy chưa đắc, chưa cận đắc, chưa hiện tồn, chưa hiện hữu.

Khi từ khổ pháp trí nhẫn hướng đến khổ pháp trí, vị ấy có phạm hạnh cầu, cũng có phạm hạnh. Vì sao?

Thánh đạo tám chi gọi là phạm hạnh. Vị ấy lúc bấy giờ, đối với pháp ấy đã đắc, đã cận đắc, đã hiện tồn, đã hiện hữu.

Như thế, từ khổ pháp trí hướng đến khổ loại trí nhẫn, từ khổ loại trí nhẫn hướng đến khổ loại trí, từ khổ loại trí hướng đến tập pháp trí nhẫn, từ tập pháp trí nhẫn hướng đến tập pháp trí, từ tập pháp trí hướng đến tập loại trí nhẫn, từ tập loại trí nhẫn hướng đến tập loại trí, từ tập loại trí hướng đến diệt pháp trí nhẫn, từ diệt pháp trí nhẫn hướng đến diệt pháp trí, từ diệt pháp trí hướng đến diệt loại trí nhẫn, từ diệt loại trí nhẫn hướng đến diệt loại trí, từ diệt loại trí hướng đến đạo pháp trí nhẫn, từ đạo pháp trí nhẫn hướng đến đạo pháp trí, từ đạo pháp trí hướng đến đạo loại trí nhẫn, từ đạo loại trí nhẫn hướng đến đạo loại trí, từ đạo loại trí hướng đến đạo loại trí; hoặc khi hướng đến các trí vô lậu khác, thì có phạm hạnh cầu, cũng có phạm hạnh. Vì sao? Vì Thánh đạo tám chi gọi là phạm hạnh. Vị ấy lúc bấy giờ, đối với pháp ấy đã đắc, đã cận đắc, đã hiện tồn, đã hiện hữu.

Lại nữa, hoặc khi bằng thế gian đạochứng đắc quả Nhất lai, quả Bất hoàn, thì có phạm hạnh cầu, nhưng chưa có phạm hạnh. Vì sao?

Thánh đạo tám chi được gọi là phạm hạnh. Bấy giờ, đối với pháp ấy là chưa được, chưa được gần, chưa có, chưa hiện có.

Hoặc khi bằng vô lậu đạochứng đắc quả Dự lưu, hoặc chứng đắc quả Nhất lai, quả Bất hoàn, quả A-la-hán, thì có phạm hạnh cầu, cũng có phạm hạnh. Vì sao?

Thánh đạo tám chi gọi là phạm hạnh. Vị ấy lúc bấy giờ, đối với pháp ấy đã đắc, đã cận đắc, đã hiện tồn, đã hiện hữu.

Như Thế Tôn nói:

Cụ niệm, định, chánh tri,

Chân đệ tử chư Phật,

Chánh tri cầu đạo Thánh,

Trọn không cầu điều khác.

Nếu mong cầu đã diệt,

Sẽ thú tận Thánh đạo,

Vì Bí-sô cầu tận,

Tịch diệt không ảnh tượng.

25. Ba hữu

 Ba hữu: 1. Dục hữu. 2. Sắc hữu. 3. Vô sắc hữu.

Thế nào là Dục hữu?

Nếu nghiệp do thủ hệ thuộc dục giới làm duyên, dục chiêu cảm đương lai hữu, dị thục của nghiệp kia. Đó gọi là Dục hữu.

Thế nào là Sắc hữu?

Nếu nghiệp do thủ hệ thuộc sắc giới làm duyên, dục chiêu cảm đương lai hữu, dị thục của nghiệp kia. Đó gọi là Sắc hữu.

Thế nào là Vô sắc hữu?

Nếu nghiệp do thủ hệ thuộc vô sắc giới làm duyên, dục chiêu cảm đương lai hữu, dị thục của nghiệp kia. Đó gọi là Vô sắc hữu.

26.  Ba thân hắc ám

Ba thân hắc ám: 1. Thân hắc ám quá khứ. 2. Thân hắc ám vị lai. 3. Thân hắc ám hiện tại.

  1. 1.   Thân hắc ám quá khứ: Quá khứ là gì? hắc ám là gì? thân là gì? để gọi là thân hắc ám quá khứ?

Quá khứ: Những gì là các hành đã khởi, đã đẳng khởi, đã sinh, đã đẳng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, đã tụ tập, đã xuất hiện, tàn tạ dĩ vãng, là tận diệt, là ly biến, là trạng thái quá khứ, là đồng loại quá khứ, được liệt vào quá khứ thế. Đó gọi là quá khứ.

Hắc ám: đối với các hành quá khứ, phát khởi các thứ mong cầu minh giải dị tuệ, nói chi tiết cho đến: tên độc hoài nghi do dự. Đó gọi là hắc ám.

Thân: Có thuyết nói: nghi tương ưng vô minh, gọi là thân.

Ở trong nghĩa này, ý nói: nghi gọi là thân. Vì sao?

Vì hắc tức là vô trí, do hắc nên có ám, gọi là hắc ám, cái này tức là nghi. Tức hắc ám này, gọi là thân. Đó gọi là thân hắc ám quá khứ.

Thân hắc ám vị lai: Vị lai là gì? hắc ám là gì? thân là gì? để gọi là thân hắc ám vị lai?

Vị lai: Những gì là các hành chưa khởi, chưa đẳng khởi, chưa sinh, chưa đẳng sinh, chưa chuyển, chưa hiện chuyển, chưa tụ tập, chưa xuất hiện, là trạng thái vị lai, là đồng loại vị lai, được liệt vào vị lai thế. Đó gọi là vị lai.

Hắc ám: đối với các hành vị lai, phát khởi các thứ mong cầu minh giải dị tuệ, nói chi tiết cho đến: tên độc hoài nghi do dự. Đó gọi là hắc ám.

Thân: Có thuyết nói: nghi tương ưng vô minh, gọi là thân.

Ở trong nghĩa này, ý nói: nghi gọi là thân. Vì sao?

Vì hắc tức là vô trí, do hắc nên có ám, gọi là hắc ám, cái này tức là nghi. Tức hắc ám này, gọi là thân. Đó gọi là thân hắc ám vị lai.

Thân hắc ám hiện tại: Hiện tại là gì? hắc ám là gì? thân là gì? để nói là thân hắc ám hiện tại?

Hiện tại: Những gì là các hành đã khởi, đã đẳng khởi, đã sinh, đã đẳng sinh, đã chuyển, đã hiện chuyển, tụ tập, xuất hiện, tồn tại với trạng thái chưa tàn tạ, chưa tận diệt, chưa ly biến, hiện tiền hòa hợp, thuộc trạng thái hiện tại, đồng loại hiện tại, được liệt vào hiện tại thế. Đó gọi là hiện tại.

Hắc ám: đối với các hành hiện tại, phát khởi các thứ mong cầu minh giải dị tuệ, nói chi tiết cho đến: tên độc hoài nghi do dự. Đó gọi là hắc ám.

Thân: Có thuyết nói: nghi tương ưng vô minh, gọi là thân.

Ở trong nghĩa này, ý nói: nghi gọi là thân. Vì sao?

Vì hắc tức là vô trí, do hắc nên có ám, gọi là hắc ám, cái này tức là nghi. Tức hắc ám này, gọi là thân. Đó gọi là thân hắc ám hiện tại.

27. Ba sợ hãi

Ba sợ: 1. Sợ hãi bệnh. 2. Sợ hãi già. 3. Sợ hãi chết.

Thế nào là sợ bệnh?

Bệnh: đau đầu các thứ; thuyết minh chi tiết như luận Pháp uẩn. Đó gọi là bệnh

Thế nào là sợ hãi?

Như có một hạng, sau khi thấy người khác bị bệnh thì sinh khởi sự chán ghét sâu đậm, tự nghĩ: “Thân ta cũng có phần vị này, cũng có trạng thái này, cũng có pháp này, chưa thể siêu thoát pháp này”, do đây liền sinh khởi hoảng sợ khiếp đảm, kinh hãi dựng cả lông tóc. Đó gọi là sợ hãi.

Do bệnh khởi động sợ hãi, nên gọi là sợ bệnh.

Thế nào là sợ hãi già?

Già: khi già yếu, tóc bạc, rơi rụng các thứ; thuyết minh chi tiết như luận Pháp uẩn. Đó gọi là già.

Thế nào là sợ hãi?

Như có một hạng, sau khi thấy người khác bị già thì sinh khởi sự chán ghét sâu đậm, nói chi tiết cho đến: kinh hãi dựng cả lông tóc. Đó gọi là sợ hãi.

Do già khởi động sợ hãi, nên gọi là sợ hãi già.

Thế nào là sợ chết?

Chết: các loại hữu tình này, hữu tình kia, từ tụ của hữu tình này, hữu tình kia mà di chuyển, chìm hoại; thuyết minh chi tiết như luận Pháp uẩn. Đó gọi là chết.

Thế nào là sợ hãi?

Như có một hạng, sau khi thấy người khác bị chết thì sinh khởi sự chán ghét sâu đậm, nói chi tiết cho đến: kinh hãi dựng cả lông tóc. Đó gọi là sợ hãi.

Do chết khởi động sợ hãi, nên gọi là sợ hãi chết.

Như Thế Tôn nói:

Dị sinh tuy có thể

Chán pháp bệnh, già, chết,

Nhưng không thể như thật

Chán sở y thân này.

Ta nhàm chán thân này,

Liễu tri sâu pháp này,

Nên không thích trụ lâu

Nhanh nhập vô dư y.

Ta quán nhất thiết chủng,

Thiếu niên mạng vô tật,

Bệnh, già, chết hủy hoại,

Chỉ xuất ly an ổn.

Ta đã siêng tinh tấn,

Thông đạt dấu cứu cánh,

Tuy không tập các dục,

Nhưng xả tu phạm hạnh.

28. Ba thọ

[384b7][3] Ba thọ: 1. Lạc thọ. 2. Khổ thọ. 3. Bất khổ bất lạc thọ.

Thế nào là lạc thọ?

Lạc thuộc thân và lạc thuộc tâm được sinh từ xúc thuận dẫn lạc, là cảm thọ quân bình, được liệt vào trong cảm thọ, gọi là cảm thọ lạc.

Lại nữa, trong khi tu tập sơ, đệ nhị, đệ tam tĩnh lự, lạc thuộc tâm được khởi từ xúc thuận dẫn lạc, là cảm thọ quân bình, được liệt vào trong cảm thọ, gọi là cảm thọ lạc.

Thế nào là khổ thọ?

Khổ thuộc thân và khổ thuộc tâm được sinh từ xúc thuận dẫn khổ, là cảm thọ không quân bình, được liệt vào trong cảm thọ, gọi là cảm thọ khổ.

Thế nào là bất khổ bất lạc thọ?

Xả thuộc thân và xả thuộc tâm được sinh từ xúc thuận dẫn không khổ không lạc, là cảm thọ không quân bình không bất quân bình, được liệt vào trong cảm thọ, gọi là cảm thọ không khổ không lạc.

Như Thế Tôn nói:

Cụ niệm, định, chánh tri,

Chân đệ tử chư Phật,

Chánh tri các cảm thọ,

Khiến các tham không sinh.

Đối các thọ đạo,

Đều khiến tuần tự diệt,

Vì Bí-sô thọ tận,

Tịch diệt không ảnh tượng.

29. Ba khổ tính

Ba khổ tính: 1. Khổ tính do bởi khổ. 2. Khổ tính do bởi biến dịch. 3. Khổ tính do bởi hành.

Thế nào là Khổ tính do bởi khổ?

Các hành Dục giới, do khổ khổ nên khổ.

Thế nào là Khổ tính do bởi biến dịch?

Các hành Sắc giới, do hoại khổ nên khổ.

Thế nào là Khổ tính do bởi hành?

Các hành Vô sắc giới do hành khổ nên khổ.

Lại nữa, các hành không vừa ý, do khổ khổ nên khổ.

Các hành vừa ý, do hoại khổ nên khổ.

Các hành thuận xả, do hành khổ nên khổ.

Lại nữa, hoặc các khổ thọ, hoặc pháp tương ưng với nó, hoặc pháp câu hữu với nó, hoặc pháp sinh từ nó, hoặc quả dị thục không đáng yêu đồng loại với nó, do khổ khổ nên khổ.

Hoặc các lạc thọ, hoặc pháp tương ưng với nó, hoặc pháp câu hữu với nó, hoặc pháp sinh từ nó, hoặc quả dị thục không đáng yêu đồng loại với nó, do hoại khổ nên khổ.

Hoặc các bất khổ bất lạc thọ, hoặc pháp tương ưng với nó, hoặc pháp câu hữu với nó, hoặc pháp sinh từ nó, hoặc quả dị thục không đáng yêu đồng loại với nó, do hành khổ nên khổ.

Lại nữa, thế nào là Khổ tính do bởi khổ?

Những gì là sở hữu của thân, do khổ khổ nên khổ. Vì sao?

y chỉ thân này sinh khởi đa dạng loại khổ: già, bệnh, chết các thứ.

Thế nào là Khổ tính do bởi biến dịch?

Như Thế Tôn nói: “Bằng hữu vừa ý, quyến thuộc vừa ý, cảnh giới vừa ý, hoặc khi bị biến hoại, hoặc gặp phải sự hủy báng, khinh miệt, liền phát sinh sầu, thánh, ưu, khổ, bi não”, vị ấy lúc bấy giờ, do hoại khổ nên khổ.

Thế nào là Khổ tính do bởi hành?

Trừ khổ tính do bởi khổ và khổ tính do bởi biến dịch, các hành hữu lậu còn lại, do hành khổ nên khổ.

30. Ba mạn loại

Ba mẫu mạn: 1. Mẫu mạn cho rằng “Ta hơn”. 2. Mẫu mạn cho rằng “Ta bằng”. 3. Mẫu mạn cho rằng “Ta kém”.

Thế nào là mẫu mạn cho rằng “Ta hơn”?

Như có một hạng, khởi suy nghĩ này: “Ta thuộc chủng tộc, hình sắc, sự nghiệp, công xảo, tài vị, thọ lượng, sức lực các thứ, hoặc tổng quát hoặc cá biệt, đều vượt hơn người kia”. Do đó khởi phức cảm, đã phức cảm, sẽ phức cảm, tâm lạm phát, tâm miệt thị. Đó gọi là mẫu mạn cho rằng “Ta hơn”.

Thế nào là mẫu mạn cho rằng “Ta bằng”?

Như có một hạng, khởi suy nghĩ này: “Ta thuộc chủng tộc, hình sắc, sự nghiệp, công xảo, tài vị, thọ lượng, sức lực các thứ, hoặc tổng quát hoặc cá biệt, đều ngang bằng người kia”. Do nhân duyên sai biệt khởi phức cảm, đã phức cảm, sẽ phức cảm, tâm lạm phát, tâm miệt thị. Đó gọi là mẫu mạn cho rằng “Ta bằng”.

Thế nào là mẫu mạn cho rằng “Ta kém”?

Như có một hạng, khởi suy nghĩ này: “Ta thuộc chủng tộc, hình sắc, sự nghiệp, công xảo, tài vị, thọ lượng, sức lực các thứ, hoặc tổng quát hoặc cá biệt, đều kém người kia”. Do nhân duyên sai biệt khởi phức cảm, đã phức cảm, sẽ phức cảm, tâm lạm phát, tâm miệt thị. Đó gọi là mẫu mạn cho rằng “Ta kém”.

 

TỤNG THỨ TƯ

Tụng tóm tắt thứ tư:

Bốn: Ba pháp có mười,

Là lửa, phước, dục, lạc,

Và tuệ, căn, nhãn, trượng,

Sáu: một; lửa, tuệ: hai.

Có ba thứ lửa, ba phước nghiệp sự, ba dục sinh, ba lạc sinh, ba thứ tuệ, ba căn, ba con mắt, ba vũ khí. Lửa, tuệ mỗi thứ có hai nhóm, sáu thứ còn lại mỗi thứ có một nhóm.

31. Ba thứ lửa (1)

Ba thứ lửa: 1. Lửa tham. 2. Lửa sân. 3. Lửa si.

Thế nào là lửa tham?

Những gì là tham nơi đối tượng của dục, đẳng tham, chấp tàng, canh chừng, dính chặt, thích thú, mê loạn, đắm đuối, đắm đuối cùng khắp, nội tâm bị cuộn chặt, mong cầu, chìm đắm, tập khởi của khổ, những gì đồng loại tham, phát sinh bởi tham, gọi chung là tham.

Do tham ái này tiềm phục nên phát sinh đa dạng hình thái nông bức nơi thân, nóng bức nơi tâm, nóng bức nơi cả thân tâm, thiêu đốt thân, thiêu đốt tâm, thiêu đốt cả thân tâm, não hại thân, não hại tâm, não hại cả thân tâm. Lại do tham ái cuốn chặt làm duyên, thường luôn cảm nghiệm và nhiếp thọ quả dị thục không đáng yêu, không đáng thích, không hân hoan, không vừa ý. Đó gọi là lửa tham.

Thế nào là lửa sân?

Ý muốn gây tổn hại hữu tình; ghim chặt trong lòng, muốn làm nhiễu não, đã sân, sẽ sân, hiện sân; thích thú gây điều tai họa, làm đến cùng điều tai họa, ý cực kỳ phẫn nhuế, làm điều đối kháng đối với các hữu tình, muốn gây tổn hại, đã làm tổn hại, sẽ làm tổn hại, đang làm tổn hại, gọi chung là sân.

Do sân nhuế này tiềm phục nên phát sinh đa dạng hình thái nông bức nơi thân, nóng bức nơi tâm, nóng bức nơi cả thân tâm, thiêu đốt thân, thiêu đốt tâm, thiêu đốt cả thân tâm, não hại thân, não hại tâm, não hại cả thân tâm. Lại do sân nhuế cuốn chặt làm duyên, thường luôn cảm nghiệm và nhiếp thọ quả dị thục không đáng yêu, không đáng thích, không hân hoan, không vừa ý. Đó gọi là lửa sân.

Thế nào là lửa si?

Không biết đối với biên tế trước, không biết biên tế sau, không biết biên tế trước và sau, nói chi tiết cho đến: đồng loại với si, sản phẩm của si, đồng loại với cải dịch, sản phẩm của cải dịch, gọi chung là si.

Do ngu si này tiềm phục nên phát sinh đa dạng hình thái nông bức nơi thân, nóng bức nơi tâm, nóng bức nơi cả thân tâm, thiêu đốt thân, thiêu đốt tâm, thiêu đốt cả thân tâm, não hại thân, não hại tâm, não hại cả thân tâm. Lại do ngu si cuốn chặt làm duyên, thường luôn cảm nghiệm và nhiếp thọ quả dị thục không đáng yêu, không đáng thích, không hân hoan, không vừa ý. Đó gọi là lửa sân.

Như Thế Tôn nói:

Những ai hạng ngu phu,

Lửa tham, sân, si đốt,

Đắm dục cảnh tương ưng,

Hại đời, ghét Thánh pháp.

Lửa ba độc hừng hực,

Nếu không biết như thật,

Liền dính chặt hữu thân,

Không thể hướng tịch diệt.

Do đi theo đường tà,

Đọa trong ba ác thú,

Luân hồi chịu thống khổ,

Không thoát khỏi lưới ma.

Đệ tử bậc Chánh giác

Đêm ngày thường tinh tiến

Bằng uế tưởng, từ, tuệ,

Tuần tự diệt ba lửa.

Từ tư nhập Thánh đạo,

Hàng phục chư ma quân,

Chứng đắc hai Niết-bàn

Thanh lương, vô thủ lậu.

32. Ba thứ lửa (2)

Lại có ba thứ lửa: 1. Lửa nên phụng sự. 2. Lửa nên cấp thí. 3. Lửa nên cung dưỡng.

Thế nào là lửa nên phụng sự?

Cha mẹ là đối tượng nên phụng sự của người con.

Như Thế Tôn nói với Bà-la-môn có thân hình cao thẳng:

“Thế nào gọi là lửa nên phụng sự? Nghĩa là cha mẹ ở đời cần được thọ nhận nhiều thứ vật dụng thích ý từ con cái, tùy xứ tùy thời, phụng sự không trái nghịch.

Thế nào là con cái bằng những vật dụng thích ý, tùy xứ tùy thời, phụng sự không trái nghịch đối với lửa nên phụng sự? Nghĩa là tộc tính tử do sức tinh tấn và sức của tay chân, hoặc sức của mồ hôi nước mắt, như pháp thủ đắc tài vật, tư cụ thích ý, tùy xứ tùy thời, phụng sự cung dưỡng không trái nghịch”.

Vì sao cha mẹ gọi là lửa nên phụng sự? Tức tộc tính tử do cha mẹ sinh ra, do cha mẹ nuôi lớn, cho đến trưởng thành. Thế nên, cha mẹ, được chư Phật gọi là lửa nên phụng sự.

Thế nào gọi là lửa nên cấp thí?

Vợ con, nô tỳ, người giúp việc, thân hữu, những người này cần được cấp thí từ gian chủ. Như Thế Tôn nói cho Bà-la-môn thân hình cao thẳng:

“Thế nào gọi là lửa nên cấp thí? Nghĩa là ở đời, thê tử, nô tì, người giúp việc và thân hữu, cần thọ nhận từ gia chủ nhiều thứ vật dụng thích ý, tùy xứ tùy thời, cấp thí không trái.

Thế nào là gia chủ bằng các thứ vật dụng thích tùy xứ tùy thời, cấp thí không trái đối với lửa nên cấp thí?

Nghĩa là tộc tính tử do sức tinh tấn và sức của tay chân, hoặc sức của mồ hôi nước mắt, như pháp thủ đắc tài vật, tư cụ thích ý, tùy xứ tùy thời, cấp thí không trái”.

Vì sao vợ con, nô tỳ, người giúp việc, thân than gọi là lửa nên cấp thí? Nghĩa là tộc tính tử như pháp sống tại gia, được vợ con v.v… phục vụ không trái, họ đúng như chỉ bảo làm những phận sự cần làm, khiến không thiếu sót, nhanh chóng hoàn tất. Thế nên vợ con, nô tỳ, người giúp việc, thân hữu, được chư Phật nói là lửa nên cấp thí.

Thế nào là lửa nên cung dưỡng?

Các bậc Sa-môn, Bà-la-môn chân chánh là đối tượng cần nên cung dưỡng của các thí chủ. Như Thế Tôn nói với Bà-la-môn có thân hình cao thẳng:

“Thế nào gọi là lửa nên cung dưỡng? Nghĩa là các bậc Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc đã lìa tham, hoặc tu Điều phục hành tham hành.

Hoặc đã lìa sân, hoặc tu Điều phục hành hành sân.

Hoặc đã lìa si, hoặc tu Điều phục hành hành si.

Các vị Sa-môn, Bà-la-môn như thế nên được thọ nhận từ thí chủ nhiều thứ vật dụng thích ý, tùy xứ tùy thời, cung dưỡng không trái”.

Thế nào là thí chỉ bằng những vật dụng thích ý, tùy xứ tùy thời, cung dưỡng không trái đối với lửa nên cũng dưỡng?

Nghĩa là tộc tính tử do sức tinh tấn và sức của tay chân, hoặc sức của mồ hôi nước mắt, như pháp thủ đắc tài vật, tư cụ thích ý, tùy xứ tùy thời cung dưỡng không trái”.

Tại sao chư Sa-môn, Bà-la-môn đã nói ở trước được gọi là lửa nên cung dưỡng? Tức tộc tính nam cung dưỡng các vị A-la-hán và những bậc hữu học, do họ là phước điền chân thắng ở thế gian, có thể khiến các thí chủ ở đó gieo trồng cội phúc, cảm nghiệm tối thắng đời này, dị thục phước lạc đời sau và quả giải thoát. Thế nên, các bậc Sa-môn, Bà-la-môn chân thắng được chư Phật nói là lửa nên cung dưỡng.

Các loại lửa khác ở thế gian, không nên phụng sự, cấp thí, cung dưỡng, vì chúng không thể khiến các loài hữu tình đạt chứng đắc thắng quả.

Như Thế Tôn nói:

Bậc trí đúng như pháp,

Tế tự ba lửa trước,

Thế gian sinh an lạc,

Chứng khổ tận giải thoát.

33. Ba phước nghiệp sự

Ba phước nghiệp sự: 1. Thí loại phước nghiệp sự. 2. Giới loại phước nghiệp sự. 3. Tu loại phước nghiệp sự.

Thí loại phước nghiệp sự: Thế nào là thí loại? là phước? là nghiệp? là sự? để gọi là Thí loại phước nghiệp sự?

Thí loại: Nghĩa là thí chủ bố thí cho các bậc Sa-môn, Bà-la-môn, những người bần cùng, khổ hạnh, đạo hành, người hành khất, các thứ như: ẩm thực, thuốc men, y phục, vòng hoa, các thứ hương bột, hương xoa, phòng xá, ngọa cụ, đèn đuốc các thứ. Đó gọi là thí loại.

Lại nữa, hoặc do bố thí thân: Nghĩa là bố thí thân, hoặc bố thí thân nghiệp, hoặc bố thí vật mình đã xả bỏ;

Hoặc do bố thí ngữ: Nghĩa là bố thí ngữ ngôn, hoặc bố thí ngữ nghiệp, hoặc bố thí vật mình đã xả bỏ.

Hoặc do bố thí ý: Nghĩa là hoặc bố thí ý, hoặc bố thí ý nghiệp, hoặc bố thí xả tâm.

Đó gọi là thí loại.

Phước: bố thí câu hành với thân luật nghi, ngữ luật nghi và mạng thanh tịnh. Đó gọi là phước.

Nghiệp: bố thí câu hành nghiệp được tạo bởi tâm ý sau khi đã tư, sẽ tư, hiện tiền tư, các tư và đẳng tư. Đó gọi là nghiệp.

Sự: thí chủ, đối tượng thọ nhận và vật thí. Đó gọi là sự.

Ở đây, Thí loại gọi là thí loại, cũng gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, cũng gọi là sự.

Ở đây, Phước gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, cũng gọi là thí loại.

Ở đây, Nghiệp gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, cũng gọi là thí loại, cũng gọi là phước.

Ở đây, sự chỉ gọi là sự.

Giới loại phước nghiệp sự: Thế nào là giới loại? thế nào là phước? Thế nào là nghiệp? Thế nào là sự? để gọi là Giới loại phước nghiệp sự?

Giới loại: lìa sát hại sinh mạng, lìa lấy vật không cho, lìa tà hành trong các dục, lìa hư cuống ngữ, lìa bỏ uống các loại rượu Tốt-la, Mê-lệ-da, Mạt-đà là môi trường buông lung v.v... Đó gọi là giới loại.

Phước: giới câu hành với thân luật nghi, ngữ luật nghi và mạng thanh tịnh. Đó gọi là phước.

Nghiệp: giới câu hành nghiệp được tạo bởi tâm ý sau khi đã tư, sẽ tư, hiện tiền tư, các tư và đẳng tư. Đó gọi là nghiệp.

Sự: hoặc phòng hộ, hoặc đình chỉ, hoặc chặn đứng, hoặc cơ sở lìa sát hại sinh mạng, đó gọi là cơ sở lìa sát hại sinh mệnh; hoặc phòng hộ, hoặc đình chỉ, hoặc chặn đứng, hoặc cơ sở lìa lấy vật không cho, đó gọi là cơ sở lìa lấy vật không; hoặc phòng hộ, hoặc đình chỉ, hoặc chặn đứng, hoặc cơ sở lìa tà hành trong các dục, đó gọi là cơ sở lìa tà hành trong các dục; hoặc phòng hộ, hoặc đình chỉ, hoặc chặn đứng, hoặc cơ sở lìa hư vọng ngữ, đó gọi là cơ sở lìa hư vọng ngữ; hoặc phòng hộ, hoặc đình chỉ, hoặc chặn đứng, hoặc cơ sở lìa uống các loại rượu Tốt-la, mê-lệ-da, mạt-đà là môi trường buông lung, đó gọi là cơ sở lìa uống các loại rượu. Đó gọi là sự.

Ở đây, Giới loại gọi là giới loại, cũng gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, cũng gọi là sự.

Ở đây, Phước gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, cũng gọi là giới loại.

Ở đây, Nghiệp gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, cũng gọi là giới loại, cũng gọi là phước.

Ở đây, Sự gọi là sự, cũng gọi là giới loại, cũng gọi là phước, cũng gọi là nghiệp.

Tu loại phước nghiệp sự: Thế nào là tu loại? Thế nào là phước? Thế nào là nghiệp? Thế nào là sự? để gọi là Tu loại phước nghiệp sự?

Tu loại: Nghĩa là bốn vô lượng tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Đó gọi là tu loại.

Phước: giới câu hành với thân luật nghi, ngữ luật nghi và mạng thanh tịnh. Đó gọi là phước.

Nghiệp: giới câu hành nghiệp được tạo bởi tâm ý sau khi đã tư, sẽ tư, hiện tiền tư, các tư và đẳng tư. Đó gọi là nghiệp.

Sự: sở duyên sự, duyên nơi pháp kia mà khởi bốn vô lượng. Đó gọi là sự.

Ở đây, Tu loại gọi là tu loại, cũng gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, cũng gọi là sự.

Ở đây, Phước gọi là phước, cũng gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, cũng gọi là tu loại.

Ở đây, Nghiệp gọi là nghiệp, cũng gọi là sự, cũng gọi là tu loại, cũng gọi là phước.

Ở đây, sự chỉ gọi là sự.

Như Thế Tôn nói:

Bậc trí y chỉ pháp,

Siêng học thí, giới, tu,

Thế gian không còn khổ,

Thọ ba loại quả lạc.

34. Ba dục sinh

Ba dục sinh: Những gì là ba?

1. Có hữu tình nào do lạc thọ tính năng của dục trong hiện tại, những kẻ ấy đối với tính năng của dục trong hiện tại được phú quý, tự tại hoạt động, như toàn bộ nhân loại và một phần thiên giới, đó gọi là dục sinh thứ nhất.

2. Có hữu tình nào, do lạc thọ tính năng của dục do tự mình biến hiện ra, những kẻ ấy đối với các tính năng của dục do tự mình biến hiện ra được phú quý, tự tại hoạt động, như Lạc biến hóa thiên, đó là dục sinh thứ hai.

3. Có hữu tình nào do lạc thọ tính năng của dục do người khác biến hiện ra, những kẻ ấy đối với các tính năng của dục do người khác biến hiện ra được phú quý, tự tại hoạt động, như Tha hóa tự tại thiên, đó là dục sinh thứ ba.

Ở đây, hữu tình nào: đó là các hữu tình, đế nghĩa, thắng nghĩa, không thể thủ đắc, không thể cận đắc, phi hữu, phi hiện hữu, song đối với các uẩn, giới, xứ, do khái niệm, tập hợp khái niêm, ngôn ngữ tập quán mà giả lập danh từ “hoạt động”; nghĩa là có hữu tình, na-la, ý sinh, nho đồng, mạng giả, sinh giả, dưỡng dục, sĩ phu, bổ-đặc-già-la. Do đây nên nói: hữu tình nào.

Do lạc thọ tính năng của dục trong hiện tại: các hữu tình kia thường thích thọ những, cất giấu, phòng hộ, tích tập, kí thác, an trí, các chất liệu của dục trong hiện tại được sinh ra tùy gốc rễ, có thế lực, đắc tự, tùy ý thọ dụng.

Những kẻ ấy đối với tính năng của dục trong hiện tại được phú quý, tự tại hoạt động: các hữu tình kia thường thích thọ những, cất giấu, phòng hộ, tích tập, kí thác, an trí, các chất liệu của dục trong hiện tại được sinh ra tùy gốc rễ, có thế lực, đắc tự, tùy ý thọ dụng

Nói “toàn thể nhân loại”: chỉ rõ tất cả loài người.

Một phần thiên giới: chỉ rõ dục giới nằm dưới tứ thiên.

Đó gọi là thứ nhất: tùy theo toán số, thứ lớp tuần tự, lần lượt nối tiếp, dục sinh này ở vị trí đầu tiên.

Dục sinh: pháp ấy sinh ra nơi Dục giới.

 

Lại nữa, hữu tình nào: nghĩa là chư hữu tình, đế nghĩa, thắng nghĩa, không thể thủ đắc, nói chi tiết như trên.

Do lạc thọ tính năng của dục do tự mình biến hiện ra: Nghĩa là Lạc biến hóa thiên tạo tác, tăng trưởng loại nghiệp như thế. Kẻ ấy do nghiệp này, tùy chỗ yêu thích hóa tác đa dạng nam nữ các thứ mà tự hoan lạc; nghĩa là thiên nữ hóa tác thiên nam mà tự hoan lạc, hoặc thiên nam hóa tác thiên nữ mà tự hoan lạc.

Những kẻ ấy đối với các tính năng của dục do tự mình biến hiện ra được phú quý, tự tại hoạt động: Lạc biến hóa thiên tạo tác tăng trưởng loại nghiệp như thế. Những kẻ ấy do nghiệp này, tùy chỗ yêu thích hóa tác đa dạng nam nữ các thứ; những kẻ ấy ở nơi việc này có thế lục, đắc tự tại, tùy ý thọ dụng.

Lạc biến hóa thiên: chỉ rõ toàn thể lạc biến hóa thiên.

Đó là thứ hai: tùy theo toán số, thứ lớp tuần tự, lần lượt nối tiếp, dục sinh này ở vị trí thứ hai.

Dục sinh: pháp ấy sinh ra nơi Dục giới.

Lại nữa, hữu tình nào: nghĩa là chư hữu tình, đế nghĩa, thắng nghĩa, không thể thủ đắc, nói chi tiết như trên.

Lạc thọ tính năng của dục do người khác biến hiện ra: Tha hóa tự tại thiên tạo tác tăng trưởng loại nghiệp như thế, những kẻ kia do nghiệp này cùng với chư Thiên trời Tha hóa tự tại, tuy đồng một loại thân, đồng một thú hướng, đồng một sinh loại, đồng một định hướng, nhưng có cao thấp, thù thắng hạ liệt sai biệt. Các Thiên tử hạ liệt hóa tác đa dạng tính năng của dục như sắc, thanh, hương, vị, xúc, khiến các Thiên tử ưu việt thọ dụng trong đó.

Những kẻ ấy đối với các tính năng của dục do người khác biến hiện ra được phú quý, tự tại hoạt động: Tha hóa tự tại thiên tạo tác tăng trưởng loại nghiệp như thế. Những kẻ ấy do nghiệp này, tùy theo chỗ yêu thích, khiến các Thiên tử hạ liệt khác hóa tác đa dạng chất liệu của dục như sắc, thanh, hương, vị, xúc, các Thiên tử ưu việt kia ở nơi cảnh giới của dục có thế lực, đắc tự tại, tùy ý thọ dụng.

Ví như Phạm thiên tuy là đồng loại, đồng một thú hướng, đồng một sinh loại, đồng một định hướng, nhưng có cao, thấp, thù thắng, hạ liệt sai biệt; nghĩa là Phạm chúng thiên hạ liệt, Phạm phụ thiên ưu việt; Phạm phụ thiên hạ liệt, Đại Phạm thiên ưu việt.

Tha hóa tự tại thiên cũng lại như vậy, tạo tác, tăng trưởng loại nghiệp như thế, những kẻ ấy do nghiệp này, nói chi tiết như trên.

Nói là Tha hóa tự tại thiên: chỉ rõ toàn thể Tha hóa tự tại thiên.

Đó là thứ ba: tùy theo toán số, thứ lớp tuần tự, lần lượt nối tiếp, dục sinh này ở vị trí thứ ba.

Dục sinh: pháp ấy sinh ra nơi Dục giới.

35. Ba lạc sinh

Ba lạc sinh:

1. Có hữu tình nào, thân thể như vậy: có hỷ lạc phát sinh do viễn ly, được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp. Sau khi đã thấm nhuần, cho đến: sung mãn khắp, liền an trú an lạc, như Phạm chúng thiên, đó là lạc sinh thứ nhất.

2. Có hữu tình nào, thân thể như vậy: có hỷ lạc phát sinh do định, được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp. Sau khi đã thấm nhuần, cho đến: sung mãn khắp, liền an trú an lạc, như Quang tịnh thiên, đó là lạc sinh thứ hai.

3. Có hữu tình nào, thân thể như vậy: có lạc do ly hỷ, được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp. Sau khi đã thấm nhuần, cho đến: sung mãn khắp, liền an trú an lạc, như Biến tịnh thiên, đó là lạc sinh thứ ba.

Ở đây, hữu tình nào: đó là các hữu tình, đế nghĩa, thắng nghĩa, không thể thủ đắc, không thể cận đắc, phi hữu, phi hiện hữu, song đối với các uẩn, giới, xứ, do khái niệm, tập hợp khái niêm, ngôn ngữ tập quán mà giả lập danh từ “hoạt động”; nghĩa là có hữu tình, na-la, ý sinh, nho đồng, mạng giả, sinh giả, dưỡng dục, sĩ phu, bổ-đặc-già-la. Do đây nên nói: hữu tình nào.

Thân thể như vậy: Thân thể cũng gọi là thân, căn cũng gọi là thân, năm sắc căn cũng gọi là thân, Tụ được phái sinh bởi bốn đại chủng cũng gọi là thân. Nay trong nghĩa này, ý nói: Tụ được phái sinh bởi bốn đại chủng gọi là thân.

Hỷ lạc phát sinh do viễn ly: lạc nào có thể đắc trong sơ tĩnh lự mà là cảm thọ quân bình, được liệt vào cảm thọ. Đó gọi là hỷ lạc phát sinh do viễn ly.

Đều được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; đều được vui thích, vui thích khắp; đều được sung mãn, sung mãn khắp: Nghĩa là trời Phạm chúng. Ở đây, ly sinh hỷ lạc tùy ý muốn mà được, không chút khó khăn. Tức ly sinh hỷ lạc ấy dấy khởi cùng dấy khởi, phát sinh cùng phát sinh, tụ tập xuất hiện, nên có thể khiến cho thân do bốn đại chủng hợp thành như thế đều được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; đều được vui thích, vui thích khắp; đều được sung mãn, sung mãn khắp.

Được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp: Phạm chúng thiên đối với hỷ lạc phát sinh do viễn ly này, tùy thuận ý dục mà chứng đắc, không gian nan, không khó khăn, tức hỷ lạc phát sinh do viễn ly này được khởi, đẳng khởi, sinh, đẳng sinh, tụ tập, xuất hiện có thể khiến cho thân là tụ phái sinh bởi bốn đại chủng được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp.

Sau khi đã thấm nhuần, cho đến: sung mãn khắp, liền an trú an lạc: vị đó lúc bấy giờ do ly sinh hỷ lạc, thân tâm không khổ não, an trú an lạc. Như Thế Tôn nói trong kinh Phân biệt sinh :

“Bí-sô nên biết! Như người tu định, chết từ xứ này, sinh đến Phạm chúng thiên, thường thường hiện thọ ly sinh hỷ lạc. Vị ấy trước tiên an trúchứng nhập nơi sơ tĩnh lự này, cũng thường hiện thọ ly sinh hỷ lạc. Ly sinh hỷ lạc được vị ấy hiện thọ trước sau không khác nhau, không sai biệt, vì định sở y bình đẳng. Nghĩa là thời gian trước đây đối với sơ tĩnh lự, hoặc thực tập, hoặc tu tập, hoặc thực hành nhiều lần, thì sau mới sinh lên Phạm chúng thiên. Cả hai loại hỷ lạc phát sinh do viễn lyphẩm loại tương tự nhau”.

Như Phạm chúng thiên: chỉ rõ Phạm chúng thiên v.v.. thuộc sơ tĩnh lự.

Đó gọi là thứ nhất: tùy theo toán số, thứ lớp tuần tự, lần lượt nối tiếp, lạc sinh này ở vị trí đầu tiên.

Lạc sinh: sinh xứ này, trong thời gian dài cảm thọ an ổn lạc, lìa khổ lạc, lạc thọ an lạc, nên gọi là Lạc sinh.

 

Lại nữa, hữu tình nào: nghĩa là chư hữu tình, đế nghĩa, thắng nghĩa, không thể thủ đắc, nói chi tiết như trên.

Thân thể như thế: Thân thể cũng gọi là thân, nói chi tiết cho đến như trên.

Hỷ lạc phát sinh do định: lạc nào có thể đắc trong đệ nhị tĩnh lự, mà là cảm thọ quân bình, được liệt vào cảm thọ. Đó gọi là hỷ lạc phát sinh do định.

Được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp: Cực quang tịnh thiên đối với hỷ lạc phát sinh do định này, tùy thuận ý dục mà chứng đắc, không gian nan, không khó khăn, tức hỷ lạc phát sinh do định này được khởi, đẳng khởi, sinh, đẳng sinh, tụ tập, xuất hiện có thể khiến cho thân là tụ phái sinh bởi bốn đại chủng được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp.

Sau khi đã thấm nhuần, cho đến: sung mãn khắp, liền an trú an lạc: vị đó lúc bấy giờ do định sinh hỷ lạc, thân tâm không khổ não, an trú an lạc. Như Thế Tôn nói trong kinh Phân biệt sinh :

“Bí-sô nên biết! Như người tu định, chết từ xứ này, sinh đến Cực quang tịnh thiên, thường thường hiện thọ định sinh hỷ lạc. Vị ấy trước tiên an trúchứng nhập nơi đệ nhị tĩnh lự này, cũng thường hiện thọ định sinh hỷ lạc. định sinh hỷ lạc được vị ấy hiện thọ trước sau không khác nhau, không sai biệt, vì định sở y bình đẳng. Nghĩa là thời gian trước đây đối với đệ nhị tĩnh lự, hoặc thực tập, hoặc tu tập, hoặc thực hành nhiều lần, thì sau mới sinh lên Cực quang tịnh thiên. Cả hai loại định lạc phát sinh do viễn lyphẩm loại tương tự nhau”.

Như Cực quang tịnh thiên: chỉ rõ Cực quang tịnh thiên v.v… thuộc đệ nhị tĩnh lự.

Đó gọi là thứ hai: tùy theo toán số, thứ lớp tuần tự, lần lượt nối tiếp, lạc sinh này ở vị trí thứ hai.

Lạc sinh: sinh xứ này, trong thời gian dài cảm thọ an ổn lạc, lìa khổ lạc, lạc thọ an lạc, nên gọi là Lạc sinh.

 

Lại nữa, hữu tình nào: nghĩa là chư hữu tình, đế nghĩa, thắng nghĩa, không thể thủ đắc, nói chi tiết như trên.

Thân thể như thế: Thân thể cũng gọi là thân, nói chi tiết cho đến như trên.

Lạc do ly hỷ: lạc nào có thể đắc trong Đệ tam tĩnh lự mà là cảm thọ quân bình, được liệt vào cảm thọ. Đó gọi là lạc do ly hỷ.

Được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp: Biến tịnh thiên đối với lạc do ly hỷ này, tùy thuận ý dục mà chứng đắc, không gian nan, không khó khăn, tức lạc do ly hỷ này được khởi, đẳng khởi, sinh, đẳng sinh, tụ tập, xuất hiện có thể khiến cho thân là tụ phái sinh bởi bốn đại chủng được thấm nhuần, thấm nhuần khắp; sướng thích, sướng thích khắp; sung mãn, sung mãn khắp.

Sau khi đã thấm nhuần, cho đến: sung mãn khắp, liền an trú an lạc: vị đó lúc bấy giờ vì lạc do ly hỷ, thân tâm không khổ não, an trú an lạc. Như Thế Tôn nói trong kinh Phân biệt sinh :

“Bí-sô nên biết! Như người tu định, chết từ xứ này, sinh đến Biến tịnh thiên, thường thường hiện thọ lạc do ly hỷ. Vị ấy trước tiên an trúchứng nhập nơi đệ tam tĩnh lự này, cũng thường hiện thọ lạc do ly hỷ. Lạc do ly hỷ được vị ấy hiện thọ trước sau không khác nhau, không sai biệt, vì định sở y bình đẳng. Nghĩa là thời gian trước đây đối với đệ tam tĩnh lự, hoặc thực tập, hoặc tu tập, hoặc thực hành nhiều lần, thì sau mới sinh lên Biến tịnh thiên. Cả hai loại lạc do ly hỷ có phẩm loại tương tự nhau”.

Như Biến tịnh thiên: chỉ rõ Biến tịnh thiên v.v… thuộc đệ tam tĩnh lự

Đó gọi là thứ ba: tùy theo toán số, thứ lớp tuần tự, lần lượt nối tiếp, lạc sinh này ở vị trí thứ ba.

Lạc sinh: sinh xứ này, trong thời gian dài cảm thọ an ổn lạc, lìa khổ lạc, lạc thọ an lạc, nên gọi là Lạc sinh.

36. Ba thứ tuệ (1)

Ba thứ tuệ: 1. Tuệ tác thành do nghe. 2. Tuệ tác thành do tư duy. 3. Tuệ tác thành do tu.

Thế nào là Tuệ tác thành do nghe?

Nhân bởi nghe, y chỉ nghe, do nghe mà kiến lập, nên đối với xứ này xứ kia có uy lực, đắc tự tại, chánh biến thông đạt. Điều này như thế nào? Như có Bí-sô nào, hoặc thọ trì Tố-đát-lãm, hoặc thọ trì Tì-nại-da, hoặc thọ trì A-tì-đạt-ma, hoặc nghe Thân giáo sư thuyết giảng, hoặc nghe Quỹ phạm sư thuyết giảng, hoặc nghe theo từ Tạng được truyền thọ tiếp nối, hoặc nghe bất cứ bậc Như lý nào thuyết giảng. Đó gọi là nghe. Nhân bởi nghe này, y chỉ nghe này, do nghe này mà kiến lập, nên ở nơi xứ này xứ kia có uy lực, đắc tự tại, chánh biến thông đạt. Đó gọi là Tuệ tác thành do nghe.

Thế nào là Tuệ tác thành do tư duy?

Nhân bởi tư duy, y chỉ tư duy, do tư duykiến lập, nên đối với xứ này xứ kia có uy lực, đắc tự tại, chánh biến thông đạt. Điều ấy như thế nào? Như có một hạng như lý tư duy thư pháp, toán số, khắc dấu, hoặc bất cứ mỗi một sự nghiệp nào được thực hiện. Đó gọi là tư duy. Nhân bởi tư duy này, y chỉ tư duy này, do tư duy này mà kiến lập, nên ở nơi xứ này xứ kia có uy lực, đắc tự tại, chánh biến thông đạt. Đó gọi là Tuệ tác thành do tư duy.

Thế nào là Tuệ tác thành do tu?

Nhân bởi tu, y chỉ tu, do tu mà kiến, nên đối với xứ này xứ kia có uy lực, đắc tự tại, chánh biến thông đạt. Điều ấy như thế nào? Như có một hạng bằng phương tiện thiện xảo tự mình nỗ lực tu tập các đạo ly nhiễm, do đã tu tập đạo ly nhiễm này, nên ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, hỷ lạc phát sinh do viễn ly, chứng nhậpan trú sơ tĩnh lự, nói chi tiết cho đến: chứng nhậpan trú đệ tứ tĩnh lự. Đó gọi là tu. Nhân bởi tu này, y chỉ tu này, do tu này mà kiến lập, nên ở nơi xứ này xứ kia có uy lực, đắc tự tại, chánh biến thông đạt. Đó gọi là Tuệ tác thành do tu.

Có thuyết nói: Đây cũng gọi là tuệ tác thành do tư duy. Tại sao như thế? Vì chỉ y cứ Phật pháp bất cộng để tu tập mới có thể gọi là Tuệ tác thành do tu.

Nay trong nghĩa này, ý nói: tịch tĩnh tuệ được khởi lên do y chỉ các Đẳng dẫn, đều gọi là tuệ tác thành do tu.

37. Ba thứ tuệ (2)

Lại có ba thứ tuệ: 1. Tuệ hữu học. 2. Tuệ vô học. 3. Tuệ phi học phi vô học.

Thế nào là Tuệ hữu học?

Những gì là giản trạch ở nơi pháp mà tương ưng với tác ý hữu học, giản trạch cực kỳ, giản trạch cực kỳ nhất, hiểu rõ, toàn bộ hiểu rõ, tiếp cận hiểu rõ, tâm cơ nhạy bén, thông đạt, thẩm sát, thông duệ, giác, minh, tuệ hành, tì-bát-xá-na, như thế gọi là chánh kiến. Đó gọi là Tuệ hữu học.

Thế nào là Tuệ vô học?

Những gì là giản trạch ở nơi pháp mà tương ưng với tác ý vô học, nói chi tiết cho đến: tì-bát-xá-na. Đó gọi là Tuệ vô học.

Thế nào là Tuệ phi học phi vô học?

Những gì là giản trạch ở nơi pháp mà tương ưng với tác ý phi học phi vô học, nói chi tiết cho đến: tì-bát-xá-na. Đó gọi là Tuệ phi học phi vô học.

38. Ba căn

Ba căn: 1. Vị tri đương tri căn. 2. Dĩ tri căn. 3. Cụ tri căn. Tướng ấy thuyết minh chi tiết như luận Pháp uẩn

Như Thế Tôn nói:

Các học căn hữu học,

Luôn theo chánh trực đạo,

Thường nỗ lực tinh tiến,

Thủ hộ nơi tự tâm.

Tuệ căn đầu không đứt

Sinh tuệ căn thứ hai

Hoặc tuệ căn thứ ba

Mới có giải thoát vị.

Giải thoát vị bất động,

Vĩnh tận các hữu kết,

Viên mãn vô lậu căn

Thích chỉ tức các căn.

Sẽ nhập vĩnh tịch diệt

Duy trì tối hậu thân

Hàng phục các quân ma

Chứng thường lạc rốt ráo.

39. Ba con mắt

Ba con mắt: 1. Con mắt thịt. 2. Con mắt trời. 3. Con mắt thánh tuệ.

Thế nào là Con mắt thịt?

Pha tạp các thứ xương, thịt, máu; nhãn giới, nhãn xứ và nhãn căn được phái sinh từ tính chất minh tịnh của bốn đại chủng. Đó gọi là Con mắt thịt.

Thế nào là Con mắt trời?

Không pha tạp các thứ xương, thịt máu; nhãn giới, nhãn xứ và nhãn căn được phát sinh từ tính chất cực kì minh tịnh của bốn đại chủng. Đó gọi là Con mắt trời.

Thế nào là con mắt Thánh tuệ?

Những gì là tuệ hữu học, tuệ vô học và tất cả tuệ phi học phi vô học thuộc thiện. Đó gọi là con mắt thánh tuệ.

Như Thế Tôn nói:

Nhục nhãnkém nhất

Thiên nhãn cao hơn trước,

Thánh tuệ nhnm tối thắng

Có ba loại sai biệt.

Các thiện tuệ thế gian

Thuận dẫn đến quyết trạch

Học, vô học, chánh tri,

Hết sinh, già, bệnh, chết.

Đại giác trong trời người

Danh xưng rất cao xa

Cũng do tuệ tốc chứng

Diệu giác trang nghiêm thân.

40. Ba vũ khí

Ba vũ khí: 1. vũ khí nghe. 2. vũ khí viễn ly. 3. vũ khí tuệ.

Thế nào là vũ khí nghe?

Đa văn, văn trì, văn tích lũy, hoặc các pháp được giảng nói, phần trước, phần giữa, phần sau đều thiện, văn nghĩa xảo diệu, thuần nhất, viên mãn, thanh bạch phạm hạnh, đối với pháp như thế, đầy đủ đa văn, ghi nhớ điều được nghe, ngôn giáo thuần thục, chuyên chú quán sát ngôn giáo được nghe, đối với pháp nghĩa, kinh nghiệm thông đạt hoàn toàn. Đó gọi là nghe. Nhân bởi nghe này, y chỉ nghe này mà kiến lập, nên có thể đoạn trừ các pháp bất thiện, tu tập các pháp thiện. Đây gọi là nghe, cũng gọi là vũ khí, cũng gọi là vũ khí nghe, nên gọi là vũ khí nghe.

Thế nào là vũ khí viễn ly?

Ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, có hỷ lạc phát sinh do viễn ly, chứng nhậpan trú sơ tĩnh lự, nói chi tiết cho đến: chứng nhậpan trú đệ tứ tĩnh lự. Đó gọi là viễn ly. Nhân bởi ly này, y chỉ y này, do ly này mà kiến lập, nên có thể đoạn trừ các pháp bất thiện, có thể tu các pháp thiện. Đó gọi là viễn ly, cũng gọi là vũ khí, cũng gọi là vũ khí viễn ly, nên gọi là vũ khí viễn ly.

Thế nào là vũ khí tuệ?

Liễu tri một cách như thật: đây là khổ Thánh đế, đây là khổ tập Thánh đế, đây là khổ diệt Thánh đế, đây là thú khổ diệt đạo Thánh đế. Đó gọi là tuệ. Nhân bởi tuệ này, y chỉ tuệ này, do tuệ này mà kiến lập, nên có thể đoạn trừ các pháp bất thiện, có thể tu các pháp thiện. Đó gọi là tuệ, cũng gọi là vũ khí, cũng gọi là vũ khí tuệ, nên gọi là vũ khí tuệ.

Như Thế Tôn nói:

Vũ khí tuệ kém nhất,

Vũ khí ly vượt hơn,

Vũ khí tuệ tối thắng ,

Cụ túc tinh tấn lực.

Cụ niệm, thích tĩnh định,

Biết sinh diệt thế gian,

Giải thắng nơi tất cả,

Đến bờ kia thế giới.

TỤNG THỨ NĂM

Tụng tóm tắt thứ năm:

Năm: Ba pháp có mười,

Là học, tu, trụ, định

Đạo, tịnh, im, tăng thượng,

Vô thượng, minh đều ba.

Có ba học, ba tu, ba trụ, ba định, ba thị đạo, ba thanh tịnh, ba tịch mặc, ba tăng thượng, ba vô thượng, ba minh.

41. Ba học

Ba thứ học: 1. Tăng thượng giới học. 2. Tăng thượng tâm học. 3. Tăng thượng tuệ học.

Thế nào là tăng thượng giới học?

An trụ cụ giới, thủ hộ biệt giải thoát luật nghi, quỹ tắc, sở hành, thảy đều cụ túc, đối với một điều tội nhỏ cũng thấy vô cùng khiếp sợ, thọ học các học xứ. Đó gọi là tăng thượng giới học.

Thế nào là tăng thượng tâm học?

Ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, hỷ lạc phát sinh do viễn ly, chứng nhậpan trú sơ tĩnh lự, nói chi tiết cho đến: chứng nhậpan trú đệ tứ tĩnh lự. Đó gọi là tăng thượng tâm học.

Thế nào là tăng thượng tuệ học?

Tức Liễu tri một cách như thật: đây là khổ Thánh đế, đây là khổ tập Thánh đế, đây là khổ diệt Thánh đế, đây là thú khổ diệt đạo Thánh đế. Đó gọi là tăng thượng tuệ học.

Như Thế Tôn nói:

Bí-sô đủ ba học,

Thích tu như lý hành,

Tăng thượng giới, tâm, tuệ,

Luôn nối tiếp hiện hành.

Đủ thế lực tinh tấn,

tĩnh lự bừng sáng,

Thường thủ hộ các căn,

Nỗ lực không phóng dật.

Như ngày, đêm cũng vậy,

Như đêm, ngày cũng thế,

Như trước, sau cũng vậy,

Như sau, trước cũng thế,

Như dưới, trên cũng vậy,

Như trên, dưới cũng thế,

Thắng phục các phương sở,

Do định không phóng dật.

Nói đây là học tích,

An trú không phóng dật,

Do thường liễu, thường xả,

Nên được tâm giải thoát.

Thế gian gọi Đẳng giác,

Hùng mãnh đến hành biên,

Minh hạnh đều viên mãn,

Thường trụ không quên mất,

Mạng căn không tương tục,

Vì ái tận giải thoát,

Như đèn lửa Niết-bàn,

Tâm giải thoát rốt ráo.

42. Ba loại tu

Ba loại tu: 1. Tu giới. 2. Tu định. 3. Tu tuệ.

Thế nào là tu giới?

Đối với các giới thiện thân cận thường xuyên tu tập, cẩn trọng không gián đoạn, nỗ lực tu hành không không bỏ. Đó gọi là tu giới.

  1. 1.   Thế nào là tu định?

Đối với các định thiện thân cận thường xuyên tu tập, cẩn trọng không gián đoạn, nỗ lực tu hành không không bỏ. Đó gọi là tu định.

Thế nào là tu tuệ?

Đối với các tuệ thiện thân cận thường xuyên tu tập, cẩn trọng không gián đoạn, nỗ lực tu hành không không bỏ. Đó gọi là tu tuệ.

Như Thế Tôn nói:

Khéo tu giới, định, tuệ

Đến cứu cánh cực kỳ,

Đã vĩnh tận các hữu,

Vô cấu, cũng vô ưu.

Đắc giải thoát chấp trước,

Đủ lợi tuệ, thâm định,

Vượt cảnh giới chúng ma,

Biến chiếu như nhật luân.

43. Ba loại trụ

[389a7 ][4] Ba loại trụ: 1. Thiên trụ. 2. Phạm trụ. 3. Thánh trụ.

Thế nào là Thiên trụ?

Đó là bốn tĩnh lự. Những gì là bốn?

Ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm có tứ, hỷ lạc phát sinh do viễn ly, chứng nhậpan trú sơ tĩnh lự, nói chi tiết cho đến: chứng nhậpan trú đệ tứ tĩnh lự. Như Thế Tôn nói với Bà-la-môn Phệ-na-bổ-lê:

“Phạm chí nên biết! Nếu khi Ta ở trong bốn tĩnh lự thế gian, vì bất cứ tĩnh lự nào nên đi theo. Bấy giờ, Ta vì thiện trụ mà đi.

Nếu khi Ta ở trong bốn tĩnh lự thế gian, vì bất cứ tĩnh lự nào nên hoặc ngồi, hoặc nằm. Bấy giờ, Ta vì thiên trụ mà hoặc ngồi, hoặc nằm”.

Trong bốn tĩnh lự thế gian như thế, đối với bất cứ tĩnh lự nào thân cận, thường xuyên tu tập, cẩn trọng không gián đoạn, nỗ lực tu hành không không bỏ. Đó gọi là Thiên trụ.

Thế nào là Phạm trụ?

Đó là bốn vô lượng. Những gì là bốn?

Từ, bi, hỷ, xả. Như Thế Tôn nói với Bà-la-môn Phệ-na-bổ-lê:

“Phạm chí nên biết! Nếu khi Ta ở trong bốn vô lượng, vì bất cứ vô lượng nào mà đi theo. Bấy giờ, Ta vì phạm trụ mà đi.

Nếu khi Ta ở trong bốn vô lượng thế gian, vì bất cứ vô lượng nào nên hoặc ngồi, hoặc nằm. Bấy giờ, Ta vì phạm trụ mà hoặc ngồi, hoặc nằm”.

Trong bốn vô lượng như thế, đối với bất cứ vô lượng nào mà thân cận, thường xuyên tu tập, cẩn trọng không gián đoạn, nỗ lực tu hành không không bỏ. Đó gọi là Phạm trụ.

Thế nào là Thánh trụ?

Đó là bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, Thánh đạo tám chi. Như Thế Tôn nói với Bà-la-môn Phệ-na-bổ-lê:

“Phạm chí nên biết! Nếu khi Ta ở trong thiện pháp được phát sinh bởi xuất li, viễn ly, vì bất cứ thiện pháp được phát sinh bởi xuất li, viễn ly nào nên đi theo. Bấy giờ, Ta vì thánh trụ mà đi.

Nếu khi Ta ở trong thiện pháp được phát sinh bởi xuất li, viễn ly, vì bất cứ thiện pháp được phát sinh bởi xuất li, viễn ly nào nên hoặc ngồi, hoặc nằm. Bấy giờ, Ta vì thánh trụ mà hoặc ngồi, hoặc nằm”.

Ta ở trong thiện pháp được phát sinh bởi xuất li, viễn ly như thế, đối với bất cứ thiện pháp được phát sinh bởi xuất li, viễn ly nào mà thân cận, thường xuyên tu tập, cẩn trọng không gián đoạn, nỗ lực tu hành không không bỏ. Đó gọi là Thánh trụ.

44. Ba định

Ba loại định: 1. Tam-ma-địa có tầm có tứ. 2. Tam-ma-địa không tầm chỉ có tứ. 3. Tam-ma-địa không tầm không tứ.

Thế nào là Tam-ma-địa có tầm có tứ?

Hoặc Tam-ma-địa nào mà có tâm trụ, bình đẳng trụ, nói chi tiết cho đến: trạng thái tâm và cảnh hiệp nhất câu hữu với tầm, câu hữu với tứ, có đẳng khởi là tầm, có đẳng khởi là tứ, tương ưng với tầm, tương ưng với từ, y chỉ tầm tứ mà hoạt động. Đó gọi là Tam-ma-địa có tầm có tứ.

Thế nào là Tam-ma-địa không tầm chỉ có tứ?

Hoặc Tam-ma-địa nào mà có tâm trụ, bình đẳng trụ, nói chi tiết cho đến: trạng thái tâm và cảnh hiệp nhất không câu hữu với tầm, chỉ câu hữu với tứ, không do đẳng khởi là tầm, chỉ có đẳng khởi là tứ, không tương ưng với tầm, chỉ tương ưng với tứ, tầm đã chỉ tức, chỉ y cứ tứ mà hoạt động. Đó gọi là Tam-ma-địa không tầm chỉ có tứ.

Thế nào là Tam-ma-địa không tầm không tứ?

Hoặc Tam-ma-địa nào mà có tâm trụ, bình đẳng trụ, nói chi tiết cho đến: trạng thái tâm và cảnh hiệp nhất không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ, không có đẳng khởi là tầm, không có đẳng khởi là tứ, không tương ưng với tầm, không tương ưng với từ, tầm tứ đều chỉ tức. Đó gọi là Tam-ma-địa không tầm không tứ.

45. Ba thị đạo

Ba thị đạo: 1. Thần biến thị đạo. 2. Kí tâm thị đạo. 3. Giáo giới thị đạo.

Thần biến thị đạo: Thế nào là thần biến? thế nào là thị đạo? để nói là thần biến thị đạo?

Thần biến: bất cứ cái gì thuộc về thần, trạng thái thần đã có, trạng thái thần sẽ có, trạng thái thần hiện có. Pháp đó có khả năng biến một thành nhiều, biến nhiều thành một; hoặc ẩn hoặc hiện; được biến bởi trí kiến; thân đi xuyên qua vật ngăn ngại dày cứng như: tường, vách, núi động các thứ mà không bị chướng ngại, như thế nói chi tiết cho đến: thế giới Phạm thiên, chuyển biến tự tại. Đó gọi là thần biến.

Thế nào là thị đạo?

Có Bí-sô nào, tuy cảm nghiệm và nhiếp thọ cá biệt đối với đa dạng cảnh giới thần biến, nếu không khiến cho người khác tri kiến, đó chỉ gọi là thần biến tự tại, không gọi là thị đạo.

Hoặc có Bí-sô nào, có thể cảm nghiệm và nhiếp thọ cá biệt đối với đa dạng cảnh giới thần biến, cũng có thể khiến cho người khác thấy biết, gọi là thần biến tự tại, cũng gọi là thị đạo.

Do đó khi thuyết thần biến thị đạo, cần phải khiến người khác nhận thấy, hoàn toàn nhận thấy, thông suốt, hoàn toàn thông suốt, điều phục, tùy thuận mới gọi là thần biến, cũng gọi là thị đạo. Do đây nên nói thần biến thị đạo.

Kí tâm thị đạo: Thế nào là tâm kí tâm? Thế nào là thị đạo? để nói là Kí tâm thị đạo?

Kí tâm: Như Thế Tôn nói:

Bí-sô nên biết! Như có một hạng, hoặc do xem tướng, hoặc do ngôn thuyết, tùy thuận ghi nhớ tâm người khác, ý của kẻ ấy như thế này, ý của kẻ ấy như thế kia, ý của kẻ ấy hoạt động; hoặc tùy thuận ghi nhớ quá khứ, hoặc tùy thuận ghi nhớ vị lai, hoặc tùy thuận ghi nhớ hiện tại; hoặc tùy thuận ghi nhớ các việc đã làm từ lâu, hoặc tùy thuận ghi nhớ các lời đã nói từ lâu; hoặc tùy thuận ghi nhớ chút ít, nghĩa là tâm tùy thuận ghi nhớ; hoặc theo đó ghi nhớ đa dạng, nghĩa là tâm sở pháp tùy thuận ghi nhớ. Những gì được tùy thuận ghi nhớ, toàn bộ đều là như thật, không phải bất như thật.

Hoặc có một hạng, không do xem tướng, không do ngôn thuyết, tùy thuận ghi nhớ tâm người khác. Nhưng do thiên thần, hoặc do phi nhân nghe âm thanh kia, nên tùy thuận ghi nhớ tâm người khác, ý của kẻ ấy như thế này, ý của kẻ ấy như thế kia, ý của kẻ ấy hoạt động như vậy v.v… nói chi tiết như trên.

Hoặc có một loại hạng, không do thiên thần, không do phi nhân, nghe âm thanh kia tùy thuận ghi nhớ tâm người khác. Nhưng là do nội tâm nhận biết tâm sở tầm tứ của hữu tình khác, tùy thuận ghi nhớ tâm người khác, của kẻ ấy như thế này, ý của kẻ ấy như thế kia, ý của kẻ ấy hoạt động như vậy v.v… nói chi tiết như trên.

Lại có một loại hạng không do nội tâm nhận biết tâm sở tầm tứ của hữu tình khác, tùy thuận ghi nhớ tâm người khác. Nhưng do hiện kiến hữu tình khác an trú tam-ma-địa vô tầm vô tứ, sau khi hiện kiến thì suy nghĩ và nói: Cụ thọ như thế, ý hành vi diệu không tầm không tứ; Cụ thọ như thế xuất từ định này, nên khởi tầm tứ như thế này, như thế kia, những gì được tùy thuận ghi nhớ, tất cả đều như thật, không phải bất như thật”.

Đó gọi là kí tâm.

Thế nào là thị đạo? Nghĩa là như [Thế Tôn nói]:

“Có Bí-sô nào hoặc do xem tướng, hoặc do ngôn thuyết, tùy thuận ghi nhớ tâm người khác, nói chi tiết cho đến: Cụ thọ như thế xuất từ định này, nên khởi tầm tứ như thế này, như thế kia. Những gì được tùy thuận ghi nhớ, tất cả đều như thật, không phải bất như thật”.

Nếu không khiến người khác thấy biết, đó gọi là kí tâm tự tại, không gọi là thị đạo.

“Có Bí-sô nào hoặc do xem tướng, hoặc do ngôn thuyết, tùy thuận ghi nhớ tâm người khác, nói chi tiết cho đến: Cụ thọ như thế xuất từ định này, nên khởi tầm tứ như thế này, như thế kia. Những gì được tùy thuận ghi nhớ, tất cả đều như thật, không phải bất như thật”.

Cũng có thể khiến người khác thấy biết, đó gọi là kí tâm tự tại, cũng gọi là thị đạo.

Do đó, khi nói kí tâm thị đạo, cần phải khiến người khác nhận thấy, hoàn toàn nhận thấy, thông suốt, hoàn toàn thông suốt, điều phục, tùy thuận mới gọi là kí tâm, cũng gọi là thị đạo. Vì vậy nói là Kí tâm thị đạo.

Giáo giới thị đạo: Thế nào là giáo giới? thế nào là thị đạo? để nói là Giáo giới thị đạo?

Giáo giới: Như Thế Tôn nói:

“Bí-sô nên biết! Như có Bí-sô nào giảng nói cho người khác: Đây là khổ Thánh đế nên biến tri. Đây là khổ tập Thánh đế nên đoạn trừ vĩnh viễn. Đây là khổ diệt Thánh đế nên tác chứng. Đây là thú khổ diệt đạo Thánh đế nên tu tập”.

Đó gọi là giáo giới.

Thế nào là thị đạo?

Có Bí-sô nào tuy có thể giảng nói cho người khác: “Đây là khổ Thánh đế nên biến tri, cho đến: đây là thú khổ diệt đạo Thánh đế nên tu tập. Nếu người khác nghe xong, không khởi đế thuận nhẫn, không đắc hiện quán biên thế tục trí, nên chỉ gọi là giáo giới tự tại, không gọi là thị đạo.

Nếu có Bí-sô có thể giảng nói cho người khác: Đây là khổ Thánh đế nên biến tri, cho đến: đây là thú khổ diệt đạo Thánh đế nên tu tập, cũng có thể khiến cho người khác nghe xong liền khởi đế thuận nhẫn, đắc hiện quán biên thế tục trí, nên gọi là giáo giới tự tại, cũng gọi là thị đạo.

Do đó khi nói Giáo giới thị đạo, cần phải khiến người khác nhận thấy, hoàn toàn nhận thấy, thông suốt, hoàn toàn thông suốt, điều phục, tùy thuận mới gọi là giáo giới, cũng gọi là thị đạo. Vì vậy nói là Giáo giới thị đạo.

46. Ba thanh tịnh

Ba thanh tịnh: 1. Thân thanh tịnh. 2. Ngữ thanh tịnh. 3. Ý thanh tịnh.

Thế nào là thân thanh tịnh?

Lìa bỏ sát hại sinh mạng, lìa bỏ lấy vật không cho, lìa bỏ tà hành trong các dục.

Lại nữa, lìa sát hại sinh mạng, lìa lấy vật không cho, lìa phi phạm hạnh.

Lại nữa, những gì là thân nghiệp của bậc hữu học, những gì là thân nghiệp của bậc vô học, những gì là thân nghiệp của bậc phi học phi vô học thuộc thiện, tất cả như thế gọi là thân thanh tịnh.

Thế nào là ngữ thanh tịnh?

Lìa bỏ hư cuống ngữ, lìa bỏ ly gián ngữ, lìa bỏ thô ác ngữ, lìa bỏ tạp uế ngữ.

Lại nữa, những gì là ngữ nghiệp của bậc hữu học, những gì là ngữ nghiệp của bậc vô học, những gì là ngữ nghiệp của bậc phi học phi vô học thuộc thiện, tất cả như thế gọi là thân thanh tịnh.

Thế nào là ý thanh tịnh?

Không tham, không sân và chánh kiến.

Lại nữa, những gì là ý nghiệp của bậc hữu học, những gì là ý nghiệp của bậc vô học, những gì là ý nghiệp của bậc phi học phi vô học thuộc thiện, tất cả như thế gọi là thân thanh tịnh.

Như Thế Tôn nói:

Trong thân, ngữ, ý tịnh,

Ta nói vô lậu tịnh,

Gọi viên mãn thanh tịnh

Tịnh hóa vĩnh viễn ác.

47. Ba tịch mặc

Ba tịch mặc: 1. Thân tịch mặc. 2. Ngữ tịch mặc. 3. Ý tịch mặc.

Thế nào là Thân tịch mặc?

Thân luật nghi thuộc vô học, gọi là Thân tịch mặc.

Thế nào là Ngữ tịch mặc?

Ngữ luật nghi thuộc vô học, gọi là Ngữ tịch mặc.

  1. 1.   Thế nào là Ý tịch mặc?

Tâm thuộc vô học, gọi là Ý tịch mặc.

Như Thế Tôn nói:

Trong thân, ngữ, ý mặc,

Ta nói vô lậu mặc,

Gọi tịch mặc viên mãn

Tịch diệt vĩnh viễn ác.

48. Ba tăng thượng

Ba tăng thượng: 1. Thế tăng thượng. 2. Tự tăng thượng. 3. Pháp tăng thượng.

Thế nào là thế tăng thượng?

Như Thế Tôn nói:

Có Bí-sô nào, thường ở A-luyện-nhã, hoặc ở dưới gốc cây, hoặc ở chốn thanh vắng, học các pháp học, nên khởi suy nghĩ này: Hiện nay thế gian này có rất nhiều chúng tập. Phàm trú xứ nào có chúng tập tất có thiên thần, thành tựu thiên nhãn, đủ tha tâm trí, hoặc gần hoặc xa đều có thể thấy rõ, tâm hạ liệt, tâm thắng diệu tất có thể liễu tri. Ta nếu phát sinh tầm tứ bất thiện, có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp, tức các thiên thần hiện thấy biết về ta; khi đã thấy biết rồi, họ nói với nhau: Nay chúng ta nên đồng quan sát vị thiện nam này, đã có thể chán tục, chánh tín xuất gia, tại sao lại sinh khởi tầm tứ bất thiện có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp?

Lại nơi thế gian đại chúng tập xứ, hoặc hiện hữu Phật và các đệ tử Phật, thành tựu thiên nhãn, đủ tha tâm trí, hoặc gần hoặc xa đều có thể thấy rõ, tâm hạ liệt, tâm thắng diệu cũng đều có thể liễu tri. Ta nếu phát sinh tầm tứ bất thiện, có thể b có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp, tức chư Thánh chúng hiện tại thấy biết về ta; khi đã thấy biết, họ nói với nay: Nay chúng ta nên đồng quan sát vị thiện nam này, đã có thể chán tục, chánh tín xuất gia, tại sao lại sinh khởi tầm tứ bất thiện có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp?

Lại khởi suy nghĩ này: Các vị trong thế gian kia, tuy thấy biết về ta, nhưng không bằng ta tự thẩm sát liễu tri, vậy nay ta nên tự thẩm tra quan sát, chớ để sinh khởi tầm tứ bất thiện như thế có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp.

Vị ấy nhân bởi tự thẩm sát tri kiến như vậy, phát động nỗ lực tinh tấn, thân tâm khinh an, viễn ly hôn trầm, an trú chánh niệm, tâm định dồn về một mối, chế phục ngu si. Vị ấy do tăng thượng lực thế gian, nên có thể đoạn trừ các pháp bất thiện, tu tập các pháp thiện”.

Do thế lực tăng thượng thuộc thế gian như thế, nên có thể khởi các pháp thiện hữu lậu hoặc vô lậu đạo. Đó gọi là thế tăng thượng.

Thế nào là tự tăng thượng?

Như Thế Tôn nói:

Có các Bí-sô thường ở A-luyện-nhã, hoặc trụ dưới gốc cây, hoặc ở chốn thanh vắng, học các học pháp, nên khởi suy nghĩ này: “Ta đã chán tục, chánh tín xuất gia, không nên sinh khởi các tầm tứ bất thiện có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp, phải nên thường xuyên tự thẩm tra quán sát, chớ để sinh khởi tầm tứ bất thiện như thế có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp.

Vị ấy do bởi tự thẩm sát tri kiến như vậy, nên phát động nỗ lực tinh tấn, thân tâm khinh an, viễn ly hôn trầm, an trú chánh niệm, tâm định dồn về một mối, chế ngự ngu si. Vị ấy do tăng thượng lực của tự ngã, nên có thể đoạn trừ các pháp bất thiện, tu tập các pháp thiện”.

Do thế lực tăng thượng của tự ngã như thế, nên khởi các pháp thiện hữu lậu hoặc vô lậu đạo. Đó gọi là tự tăng thượng.

  1. 1.   Thế nào là pháp tăng thượng?

Như Thế Tôn nói:

Có Bí-sô nào ở A-luyện-nhã, hoặc ở dưới gốc cây, hay ở nơi thanh vắng, học các học pháp, nên khởi suy nghĩ này: Tất cả các pháp được thuyết bởi chư Như Lai, Ứng, Chánh đẳng giác là thiện thuyết, hiện kiến, lìa sự thiêu đốt, ứng thời, lai quán lai thường, trí giả nội chứng; chánh pháp như thế ta đã liễu tri, không nên sinh khởi tầm tứ bất thiện có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp. Phải nên thường xuyên thẩm tra quán sát, chớ để sinh khởi tầm tứ bất thiện như thế có thể làm sở y cho sự đắm đuối ác pháp.

Vị ấy do bởi tự thẩm sát tri kiến như vậy, nên phát động nỗ lực tinh tấn, thân tâm khinh an, viễn ly hôn trầm, an trú chánh niệm, tâm định dồn về một mối, chế ngự ngu si. Vị ấy do tăng thượng lực của chánh pháp, nên có thể đoạn trừ các pháp bất thiện, tu tập các pháp thiện.

Do thế lực tăng thượng của chánh pháp như thế, nên có thể khởi các pháp thiện hữu lậu hoặc vô lậu đạo. Đó gọi là pháp tăng thượng.

Như Thế Tôn nói:

Đời không có bậc trí,

Thích tạo các nghiệp ác,

Vị ấy tự thông đạt ,

Đế thật và hư vọng.

Bậc hiền thiện chứng nghiệm,

Không nên tự khinh miệt,

Nên thường tự quán ác,

Không bao giờ che giấu.

Đời hiện hữu thiên thần,

Phật và đệ tử Phật,

Luôn thấy biết kẻ ngu,

Tạo tác các ác hành.

Thế nên thế tăng thượng

Tự, pháp tăng thượng lực,

Năng đoạn pháp bất thiện,

Tu pháp tùy pháp hành.

Ta nói vị dũng kiện,

Thường tồi phục ma quân,

Vượt sinh, già, bệnh, chết,

Chứng tịch diệt vĩnh viễn.

49. Ba vô thượng

Ba vô thượng: 1. Hành vô thượng. 2. Trí vô thượng. 3. Giải thoát vô thượng.

Thế nào là hành vô thượng?

Thánh đạo tám chi thuộc vô học. Đó gọi là hành vô thượng.

Thế nào là trí vô thượng?

Tám trí thuộc vô học. Đó gọi là trí vô thượng.

Thế nào là giải thoát vô thượng?

Tận trívô sinh trí. Đó gọi là giải thoát vô thượng.

50. Ba thứ minh

Ba minh: Đó là ba minh vô học: 1. Túc tục tùy niệm trí tác chứng minh thuộc vô học. 2. Tử sinh trí tác chứng minh thuộc vô học. 3. Lậu tận trí tác chứng minh thuộc vô học.

Thế nào là túc tục tùy niệm trí tác chứng minh thuộc vô học?

Truy xuất kí ức đời trước một cách như thật, nghĩa là truy xuất kí ức một cách như thật về quá khứ thế, hoặc một đời sống, hoặc mười đời sống, hoặc trăm đời sống, hoặc ngàn đời sống, hoặc trăm ngàn đời sống, hoặc nhiều trăm đời sống, hoặc nhiều ngàn đời sống, hoặc nhiều trăm ngàn đời sống; hoặc kiếp hoại, hoặc kiếp thành, hoặc kiếp hoại thành; hoặc nhiều kiếp hoại, hoặc nhiều kiếp thành, hoặc nhiều kiếp hoại thành. Ta ở trong tụ của hữu tình như thế, từng mang tên như thế, chủng loại như thế, tộc tính như thế; từng ăn các loại thức ăn như thế; từng lãnh thọ khổ như thế, lạc như thế; từng trường thọ như thế, trụ lâu như thế, biên tế thọ lượng như thế; Ta từng chết từ xứ kia, sinh đến xứ này; lại chết từ xứ này, sinh đến xứ kia. Đối với các việc như vậy, hoặc về hình tướng, hoặc về nhân duyên, hoặc về ngôn thuyết, vô lượng chủng loại sự việc của đời trước, đều có thể tùy niệm, truy xuất ký ức một cách như thật. Đó gọi là Túc tục tùy niệm trí tác chứng minh thuộc vô học.

Ở đây, cái gì gọi là minh? Trí liễu tri chuỗi tương tục đời sống trước kia. Đó gọi là minh.

Thế nào là tử sinh trí tác chứng minh thuộc vô học?

Do thiên nhãn minh tịnh, siêu việt hơn người, nên thấy các hữu tình lúc sinh, lúc chết, hoặc hình sắc tốt dẹp, hoặc hình sắc dữ tợn, hoặc hạ liệt, hoặc thù thắng, hoặc sinh theo thiện thú, hoặc hoặc sinh theo ác thú, các hữu tình như thế thành tựu thân ác hành, ngữ ác hành, ý ác hành, phát khởi tà kiến, hủy báng Hiền Thánh, kiến nghiệp pháp thọ nhân, do nhân duyên này, khi thân hoại mạng chung bị đọa vào ác thú, sinh trong địa ngục; lại có hữu tình như vậy, thành tựu thân diệu hành, thành tựu ngữ diệu hành, thành tựu ý diệu hành, phát khởi chánh kiến, tán thán Hiền Thánh, thành tựu chánh kiến nghiệp pháp thọ nhân. Do nhân duyên này, khi thân hoại mạng chung được tiến lên thiện thú, sinh trong thiên giới.

Đối với những sự việc như thế, đều liễu tri một cách như thật về nghiệp quả sai biệt của các hữu tình. Đó gọi là Tử sinh trí tác chứng minh thuộc vô học.

Ở đây, cái gì gọi là minh? Trí liễu tri nghiệp của tự thân. Đó gọi là minh.

Thế nào là lậu tận trí tác chứng minh thuộc vô học?

Liễu tri một cách như thật: Đây là khổ Thánh đế, đây là khổ tập Thánh đế, đây là khổ diệt Thánh đế, đây là thú khổ diệt đạo Thánh đế. Vị ấy như thật tri, như thật kiến, tâm giải thoát, giải thoát tâm dục lậu, giải thoát tâm vô minh lậu, rồi như thật tri kiến: “Ta sự sinh đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn thọ hậu hữu”. Đó gọi là Lậu tận trí tác chứng minh thuộc vô học.

Ở đây, cái gì gọi là minh? Trí liễu tri lậu tận. Đó gọi là minh.

Như Thế Tôn nói:

Mâu-ni nơi đời trước,

Thấy rõ thiện, ác thú,

sinh tử đã tận,

Đắc thông tuệ cứu cánh.

Biết tâm vĩnh giải thoát,

Như tham v.v.. tất cả lậu,

thành tựu ba minh,

Gọi là đủ ba minh.

 



[1] Bản Hán, quyển 4

[2] 大雲臺

[3] Bản Hán: quyển 5.

[4] Bản Hán quyển 6

Tạo bài viết
01/06/2014(Xem: 11644)
03/09/2014(Xem: 9913)
24/11/2016(Xem: 4324)
Tác phẩm 'Phật tử cầu nguyện' của nhiếp ảnh gia Trần Tuấn Việt vào top 70 hình ảnh xuất sắc nhất 2018 của tạp chí danh tiếng National Geographic (Mỹ). "Bức ảnh Phật tử nguyện cầu cho thấy các Phật tử bắt đầu cầu nguyện khi mặt trời lặn trên đường chân trời, kéo dài trong ba giờ. Ánh sáng nến lung linh, huyền ảo làm cho buổi cầu nguyện thật thiêng liêng và ấm áp"
Biến đổi khí hậu không phải là mối quan tâm của chỉ một hoặc hai quốc gia. Đó là một vấn đề ảnh hưởng đến tất cả nhân loại và mọi sinh vật trên trái đất này. Nơi tuyệt đẹp này là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Chúng ta phải hành động nghiêm túc ngay bây giờ để bảo vệ môi trường của chúng ta và tìm ra các giải pháp xây dựng đối với việc nóng lên toàn cầu".