Lời Giới Thiệu

16/10/20193:32 CH(Xem: 196)
Lời Giới Thiệu
SUỐI NGUỒN TÂM LINH
Nguyên tác Ajahn Chah
Việt dịch Minh Vi
Giọng đọc: Kiều Hạnh-Kiều Phương

LỜI GIỚI THIỆU

Đêm xuống nhanh. Khắp rừng văng vẳng tiếng dế cùng với tiếng rên rỉ sởn ốc của loài ve nhiệt đới. Dăm ba ngôi sao lờ mờ rọi xuyên qua ngọn cây. Giữa rừng, một căn nhà chòi được thắp sáng với hai cây đèn dầu, và ở nơi đó khoảng vài chục người đang ngồi quanh một nhà sư có vóc dáng nhỏ nhắn, chắc nịch, ngồi xếp bằng trên một chiếc ghế mây.

Đó là một đám đông đủ hạng người: gần bên Ajahn Chah (hay Luang Por, Đức Cha, lối xưng hô trìu mến của các đệ tử đối với ngài), là một nhóm tỳ kheosa diđa số là người Thái hay người Lào với vài người da trắng bao gồm một người Canada, hai người Mỹ, một người Úc, và một người Anh. Ngồi ngay trước mặt Ajahn Chah là một cặp vợ chồng độ trung tuần, ăn mặc tươm tất và trang trọng – người chồng là nghị sĩ của một tỉnh lị xa xôi. Nhân cơ hội đang công tác trong vùng này, họ đến để viếng thăm Ajahn Chah và cúng dàng tu viện một ít tài vật.

Đàng sau họ và ở hai bên là một số dân cư địa phương. Quần áo của họ sờn hẳn và nước da sẫm đen, nhăn nheo – giống như mặt đất nghèo nàn nơi đó. Trong số họ, có vài người đã từng là bạn thuở ấu thời của Luang Por – cùng bắt cóc và leo cây; có những người từng được ngài giúp đỡ, và đã từng giúp đỡ ngài trước khi ngài là một tỳ kheo. Gần phía cuối là một nữ giáo sư từ Freiburg đến Thái Lan với một đồng đạo để nghiên cứu Phật pháp, và bên cạnh bà là một ni cô người Mỹ từ nhóm nữ tu của tu việntrách nhiệm hướng dẫn bà và phiên dịch.

Kế đó là ba, bốn ni sư từ nhóm nữ tu, đến để thỉnh ý của Luang Por về một vấn đề liên quan đến cộng đồng phụ nữ và để thỉnh ngài ghé qua khu vực rừng của họ để thuyết giảng – lần cuối cùng ngài viếng thăm họ là cách đây bảy, tám ngày. Họ ngồi ở đó đã mấy tiếng đồng hồ rồi, nên họ lạy chào ngài và rời khỏi đó, cùng với nhữn vị khách khác từ nhóm nữ tu – họ cần trở về trước khi trời tối và họ đã trễ rồi.

Phía cuối ở một bên phòng, nơi ánh sáng lờ mờ, là một người đàn ông độ ba mươi tuổi, vẻ mặt lạnh lùng. Gã ngồi hơi chếch qua một bên, như thể sự có mặt của gã nơi đó không thoải mái cho lắm. Bình thường, gã rất ghét bất cứ thứ gì dính dáng đến tôn giáo, nhưng gã phải miễn cưỡng tôn trọng Luang Por, có lẽ vì Luang Por nổi tiếng là một người cứng cỏi và có khả năng nhẫn nại phi thường. Trong số những người tu hành, có lẽ chỉ có ngài mới là người thứ thiệt – “nhưng ngài có lẽ là người duy nhất đáng để cúi đầu đảnh lễ trong khắp cái tỉnh thành này.”

Gã tức giận và căm hận lắm. Cách đây một tuần, đứa em trai yêu quý của gã – một trong những thành viên của một đảng cướp trong vùng – đã mắc bệnh sốt rét não và chết trong vòng vài ngày. Gã đau lòng vô cùng đến độ không còn thiết đến điều gì nữa. “Nếu hắn bị người ta đâm chết, ít nhất tôi còn có thể trả thì – nhưng tôi phải làm gì bây giờ: đi kiếm con muỗi đã cắn nó để giết sao?” “Tại sao không đến gặp Luang Por Chah?” Một người bạn đề nghị như thế. Và đó là lý do gã có mặt ở đây hôm nay.

Luang Por mỉm cười, nâng cao ly nước để làm rõ ý của ngài. Ngài nhận ra gã thanh niên trong bóng tối đó. Không bao lâu, bằng một cách nào đó, ngài đã dụ được gã nhích gần lên phía trước, như thể ngài đang kéo lưới một con cá tinh khônương ngạnh. Điều xảy ra kế tiếp là, gã thanh ngoan cố gục đầu vào tay của Luang Por và khóc thảm thiết như một em bé; sau đó gã cười. Phải, gã cười chính sự kiêu mạng và uất hận của mình. Gã nhận ra rằng gã không phải là người đầu tiên và duy nhất đã từng mất đi người thân yêu – những giọt lệ tức giận và đau khổ trở thành những giọt nước mắt khuây khỏa và hiểu biết.


Tất cả những điều này xảy ra giữa hai mươi người hoàn toàn lạ mặt nơi đó, thế nhưng bầu không khí vẫn bình thản và đầy tin tưởng. Mặc dầu họ đến từ đủ mọi tầng lớp trong xã hội, từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng có lẽ mọi người đều cảm thấy rằng họ có cùng một cảnh ngộ “sinh, lão, bệnh, tử” và vì thế họ giống như anh em một nhà.

Cảnh tượng này đã diễn ra rất nhiều, rất nhiều lần trong suốt thời gian ba mươi năm giảng dạy của Ajahn Chah, và thường thường vào những lúc như thế, có người đã biết trướcmang theo một cái máy thâu âm và nhờ thế họ đã ghi lại được phần nào những buổi thuyết pháp. Đó là những gì được viết xuống trong cuốn sách này.

Cùng với những bài giảng dài như được viết lại nơi đây, người đọc cũng nên biết rằng, thường thì sự dạy dỗ của Ajahn Chah rất tự nhiên. Khi thuyết giảng, ngài giống như một nhạc trưởng đang điều khiển một dàn nhạc và cùng lúc tạo ra những âm thanh hoàn toàn hài hòa với thiên nhiên và tâm trạng của những người chung quanh ngài, phối hợp với lời nói, cảm xúc và những nghi vấn trong lòng họ, và rồi để cho câu trả lời tuôn chảy một cách tự nhiên.
Ngài có thể đang chỉ dẫn cho một nhóm người nào đó cách thức để lột vỏ một trái xoài, và rồi quay sang mô tả bản chất rốt ráo của thực tại - với cùng một phong thái quen thuộc, nhẹ nhàng. Một phút này, ngài lạnh lùngcộc cằn với một người tự mãn, nhưng phút sau, lại dịu dàng và khôi hài với một người nhút nhát. Ngài có thể đang cười đùa rả rích với một người bạn cũ trong làng, nhưng ngay sau đó, ngài có thể nhìn thẳng vào viên mắt cảnh sát tham nhũng và nói chuyện một cách nghiêm nghị về sự thanh liêm chính trực trên đường tu hành. Vài phút sau đó, ngài có thể la rầy một tỳ kheo ăn mặc luộm thuộm, nhưng rồi lại để cái áo ngoài của mình tụt xuống vai để lộ cái bụng tròn trĩnh của ngài.

Dầu là trong một buổi thuyết giảng chính thức hay trong những buổi họp mặt thông thường, Ajahn Chah không bao giờ hoạch định trước bất cứ điều gì. Không một chữ nào từ những bài giảng của ngài trong cuốn sách này được sắp đặt trước khi ngài bắt đầu nói chuyện. Đây là một nguyên tắc vô cùng quan trọng. Ajahn Chah cảm thấy rằng công việc của vị thầy là đứng qua một bên và để Giáo Pháp tự nó phát khởi phù hợp với nhu cầu tức thời - "Nếu nó không sống trong hiện tại, nó không phải là Chánh Pháp", ngài nói.

một lần, ngài mời một vị tăng trẻ tên là Ajahn Sumedho (môn đệ người Tây Phương đầu tiên của ngài) lên thuyết giảng trước đám đông tại tu viện chính, Wat Pah Pong. Đây là một khảo nghiệm gay go - không chỉ phải nói chuyện tới vài trăm người đã từng quen với lối thuyết giảng khôn ngoan và tinh xảo của Ajahn Chah, mà còn phải giảng bằng tiếng Thái, một ngôn ngữ mà anh chỉ mới học ba, bốn năm trước. Anh sợ hãi, lo nghĩ đủ thứ. Anh từng đọc về Sáu Cảnh Giới trong vũ trụ quan của đạo Phật và sự tương quan giữa chúng và những tâm thái khác nhau (sự tức giận và các cảnh giới địa ngục, sự khoái lạc và các cảnh trời, v.v... ). Anh quyết định rằng đây là một đề tài hấp dẫn và anh sắp đặt những ý tưởng của mình cho khúc chiết. Vào cái đêm quan trọng đó, Ajahn Sumedho đã diễn thuyết một cách trôi chảy và được rất nhiều người trong tăng đoàn khen tặng. Anh ta cảm thấy nhẹ nhõm và rất hài lòng với chính mình. Nhưng vài hôm sau, trong một phút giây im lặng ngắn ngủi, anh bắt gặp ánh mắt của Ajahn Chah, và ngài nói nhẹ nhàng, "Đừng bao giờ làm như thế nữa".


Tạo bài viết
18/12/2015(Xem: 10854)
16/01/2016(Xem: 8477)