Phật giáo, tính dục và sự thèm khát

25/02/20204:37 CH(Xem: 5577)
Phật giáo, tính dục và sự thèm khát

PHẬT GIÁO, TÍNH DỤC VÀ SỰ THÈM KHÁT
Philippe Cornu | Không rõ người dịch

Philippe CornuPhật giáo nhìn tính dục dưới khía cạnh của sự thèm khátđau đớn: Đó là một mối hiểm nguy xô đẩy con người vào cảnh đoạ đày của dục vọng và đau khồ.

1/Phía sau thân xác và giới tính là sự thèm khát

Phật giáo không áp đặt một quy luật nào cho xã hội con người, không hề làm luật cũng không thiết đặt một nền luân lý mang tính tập thể nào cả. Phật giáo hướng vào cá nhân con người, khuyên con người nên chọn cho mình cách sống như thế nào và cách tu tập ra sao để diệt trừ khổ đau và tự giải thoát khỏi những trói buộc của hiện hữu. Vì thế, những lời giáo huấn của Đức Phật (thế kỷ V trước Tây lịch) có nói đến tính dục, đấy là những lời khuyên bảo mang tính cách cá nhân, tuyệt nhiên không phải là những phán lệnh áp đặt cho toàn thể xã hội con người.

Đức Phật nêu lên khái niệm về Bốn Sự thật Cao quý (Tứ diệu đế) làm nền tảng cho giáo lý của Ngài, nhấn mạnh trước hết đến bản chất khổ đau bàng bạc khắp nơi và không thể nào tránh khỏi (sự thật thứ nhất). Sau đó Ngài giải thích nguồn gốc làm phát sinh khổ đau (sự thật thứ hai), đấy là sự thèm khát, trong đó có sự ham muốn quá độ các lạc thú tính dục; mong muốn tìm được mãi những lạc thú ấy, kể cả sự ham muốn tìm thấy sự huỷ diệt và sự phi hiện hữu. Tại sao Phật giáo lại kết án sự thèm khát? Vì Phật giáo xem đó là sản phẩm của vô minh - có nghĩa là không hiểu mình và bản chất của sự hiện hữu của chính mình là gì. Tác động của vô minh mang lại một cảm tính về một “cái ngã” tự tại, cảm tính đó được củng cố vững chắc thêm dựa vào các kỷ niệm, thói quen, những thứ tình cảm quen thuộc thường xảy ra trong tâm thức và nhất là sự bám víu vào thân xác của mình. Thế nhưng tất cả những thứ ấy thật phù du; vì thế để cưỡng lại sự phù du ấy ta càng củng cố thêm cảm tính về “cái tôi” trường tồn bằng cách gia tăng thêm những cảm nhận lạc thú và luôn phóng nhìn vào tương lai. Tiếc thay, cách kéo dài và bảo vệ “cái tôi” ấy chỉ hoài công, bởi vì không thể tránh né được quy luật của vô thường. Già nua, bệnh tật và cái chết cho thấy vô thường lúc nào cũng hiển nhiên ra đó.

Tính dục liên hệ trực tiếp đến sự cảm nhận của thân xác. Thế nhưng thân xác lại là sản phẩm phát sinh từ nghiệp trong quá khứ, tức là hậu quả phát sinh từ các hành động của mình từ trước. Thân xác thường được ví như một cỗ xe quý giá, một phương tiện đưa đến giác ngộ, thế nhưng thân xác cũng được mô tả như một gánh nặng hay nguyên nhân làm phát sinh dâm dục và mọi thứ lo lắng khác, cản trở đời sống tâm linh của chính mình. Vậy hai cách hình dung ấy có mâu thuẫn với nhau hay không? Hoàn toàn không! Bởi vì mọi khó khăn đều phát sinh từ sự bám víu do chính mình tạo ra cho thân xác nhưng tuyệt nhiên không phải thân xác tự tạo ra những khó khăn ấy cho nó. Thân xác nhờ có ngũ giác nhận biết được sự tiếp xúc phát sinh từ cảm nhận, dù đấy là sự cảm nhận thích thú, khó chịu hay trung hoà; vì thế thân xác tự nó chỉ là một cửa ngõ tiếp nhận các thứ giác cảm. Trong số đó, giác cảm tính dục là một trong những giác cảm thích thú nhất mà thân xác có thể mang lại cho ta. Sự kiện cảm nhận thích thú không có gì tệ hại cả, nếu như sự cảm nhận ấy không gây ra sự bám víuthèm khát quá đáng: tức muốn được thích thú nhiều hơn nữa. Vì thế mọi thứ khó khăn xảy ra là do phản ứng của ta đối với sự thích thú, nhưng tuyệt nhiên không phải do chính sự thích thú; tóm lại, sự thèm khát thích thú và muốn tiếp tục được cảm nhận sự thích thú mới chính là nguyên nhân của khổ đau. Sự thèm khátham muốn đó làm phát sinh một loạt đủ mọi thứ dục vọng - chiếm giữ, ghen tuông, tức giận, oán hờn - chúng thay nhau hành hạ ta và khiến ta mù quáng. Đấy là các thứ dục vọng gây ra tội lỗi. Thế nhưng tội lỗi phát sinh từ đâu? Từ trong tâm thức của chính mình.

Điểm then chốt trong giáo lý Phật giáo là thân xác gánh chịu sự kiểm soát của tâm thức. Thân xác và lạc thú tính dục không giữ một vai trò chủ động nào cả. Chính sự bám víu của tâm thứcnguyên nhân làm bùng lên mọi thứ dục vọng, vốn là nguyên nhân của khổ đau. Sự thèm khát là động cơ chủ yếu tạo ra các phản ứng trong tâm thức. Dù cho chữ ham muốn (désir, desire trong ngôn ngữ Tây phương) phản ánh khá trung thực ý nghĩa của chữ Phạn “râga”, thế nhưng cũng cần hiểu đối với Phật giáo, chữ râga không hề mang sắc thái tích cực như trong ngôn ngữ phương Tây. Kinh sách định nghĩa chữ râga như sau: “Đấy là sự ham muốn bám víu, có nghĩa vừa là sự bám víu cực mạnh vào sự hiện hữu và các vật thể chiếm hữu khác, vừa là sự thèm muốn do tất cả các thứ ấy tạo ra. Tác động của nó làm phát sinh mọi thứ khổ đau”. Cách định nghĩa trên đây cho thấy tính cách cảnh giác khía cạnh tiêu cực trong ý nghĩa của sự ham muốn. Thế nhưng trong tư tưởng phương Tây, ham muốn được hiểu như một trạng thái căng thẳng thúc đẩy con người hành động; trạng thái ấy trên một khía cạnh nào đó có thể mang lại sự sáng tạo và những phẩm tính thượng thặng, chẳng hạn như sự mong muốn của trời hay của người nghệ sĩ khi sáng tạo; nhưng đồng thời ham muốn cũng có nghĩa là một động lực xô ta vào khổ đau của dục vọng. Vì thế ý nghĩa chữ ham muốn trong ngôn ngữ phương Tây không được minh bạch, thí dụ như ham muốn tình yêu có thể hiểu như một sự khích lệ, dù rằng hậu quả do sự ham muốn đó mang lại lắm khi chỉ là sự tàn phá. Giáo lý Phật giáo luôn chú trọng đến phương pháp phân tích và cho rằng ham muốn bám víu chỉ là một thứ nọc độc của tâm thức, tuy nhiên Phật giáo rất cẩn thận và cũng nghĩ đến một trường hợp khác là ham muốn khá t vọng, tức là một yếu tố tâm thần tương tợ với ý nghĩa ham muốn thúc đẩy của người Tây phương.

Tính dục tự nó không có gì để chê trách, chính tâm thức mới là những gì phải lên án khi nó bị lạc thú làm mù quáng và biến nó thành một mảnh đất thuận lợi giúp các thứ nọc độc tâm thần phát sinh. Tính dụcmột thể dạng trao đổi giữa hai con người mang lại cơ hội thuận lợi giúp cho họ đón nhận nhau, chỉ khi nào có sự chiếm hữu, thèm khát quá đángham muốn thỏa mãn xen vào thì khi đó tính dục mới trở thành ích kỷ và làm phát sinh khổ đau. Đấy là thông điệp chính yếu của Phật giáo về vấn đề tính dục. Phật giáo không quan tâm đến việc nối dõi tông đường hay hôn phối vì đấy chỉ là các thể dạng trói buộc trong cuộc sống, các mối tương giao giữa con người và sự khống chế của sinh lý.

Dưới nhãn quan Phật giáo, hôn nhân không mang tính cách thiêng liêng, không cần đến các lễ nghi ban phép lành. Giáo lý nhà Phật chỉ đòi hỏi có sự tương kính, hy sinh cho nhau và tránh mọi hung bạo. Phật giáo không hề xem thân xác và thế giới này là những gì xấu xa, Đức Phật chủ trương trung đạo, bác bỏ mọi hình thức khổ hạnhhành xác, giữ đúng vị thế giữa hai thái cực, một bên là đời sống thế tục, một bên là sự khắc nghiệt của khổ hạnh, sự khắc nghiệt ấy chỉ đày đoạ thêm cho thân xác mà không mang lại một sự giải thoát nào. Ý thức được bổn phận của mình tức là cách giữ gìn đạo đức tính dục, hôn nhân không phải là một sự chiếm đoạt. Đối với những người chưa thấu triệt đạo lý, đời sống tính dục sẽ biến thành động cơ chính yếu thúc đẩy sự vận hành của khổ đau trong chu kỳ hiện hữu (thế giới ta-bà). Dựa trên quan điểm đó người Phật tử tại gia phải biết kính trọng mình và người khác; còn người tu hành, khi đã xa lánh cuộc sống thế tục, phải tuyệt đối tránh các hành vi tính dục. Thế nhưng Phật giáo Đại thừa có vẻ cởi mở hơn so với sự khắt khe của Phật giáo Nguyên thuỷ. Trong học phái Tantra thừa, tính dục được chuyển thành một hình thức tập luyện Du-già (Yoga) và được xem như là một phương pháp mang lại giác ngộ. Nói chung, Phật giáo giữ một thái độ phóng khoáng đối với vấn đề tính dục.

2/Con đường xa lìa thế tục

Vai trò của Phật giáo đối với vấn đề tính dục tuỳ thuộc bối cảnh và trình độ hiểu biết về đạo pháp của người Phật tử. Kỷ cương giới luật ghi chép trong kinh sách được xem như trực tiếp xuất phát từ những lời giáo huấn của Đức Phật, do đó, thường được áp dụng chung cho tất cả các tông phái trừ một vài ngoại lệ đối với Phật giáo Nhật Bản. Tại quốc gia này sự gìn giữ giới luật quy định cho người xuất gia không mấy khi được tôn trọng, và ngày nay một số nhà sưgia đình, họ vừa là người xuất gia vừa là học giả. Trong Luật tạng, có một phân đoạn mang tên Pratimoksha (Lời nguyện giải thoát mang tính cá nhân) trình bày chi tiết các giới luật quy định chung cho cư sĩ, các Sa-di và các Tỳ-kheo cả nam và nữ. Phật tử tại gia có thể nguyện giữ năm giới luật, trong số này có ba giới luật liên quan đến thân xác: Không tước đoạt sự sống, không tự ý chiếm giữ những gì không phải của mình, không thực hiện những hành động tính dục thiếu hạnh kiểm. Nguyên văn giới luật thứ ba như sau “Tôi nguyện giữ giới không thực thi hành vi sai lầm về lạc thú tính dục”.

Không phải ai trong xã hội cũng bắt buộc phải tuân thủ giới luật trên đây, thế nhưng khi đã nguyện giữ giới thì phải giữ một cách nghiêm chỉnh: Hành động giữ giới mang tính cách cá nhân, một sự tự nguyện. Phật giáo không nêu lên một tác phong tính dục chính xác nào để cấm đoán, nếu có thì đấy là những hành vi sai trái mang lại khổ đau cho người khác. Tại Á châu, giới luật liên quan đến tính dục được mô tả rõ ràng hơn các nơi khác, chẳng hạn như sự răn cấm ngoại tình, dầu sao đấy cũng chỉ là cách giới hạn bớt tính cách quá rộng rãi của giới luật về tính dụcgiới luật này chỉ răn dạy sự kính trọng chính mình và người khác. Giới luật đó không hề ám chỉ sự đồng tính luyến ái, thật vậy, đồng tính luyến ái được chấp nhận khá dễ dàng tại các quốc gia Đông Nam Á.

Thế nhưng các hành động tính dục bị cấm đoán triệt để nơi chùa chiền, sự cấm đoán đó tuỳ thuộc vào hai giai đoạn tu tập: Giai đoạn Sa-di và giai đoạn Tỳ-kheo đã thụ phong. Người sa-di cả nam lẫn nữ phải tuân thủ mười giới luật, trong số này có giới luật bắt buộc phải giữ gìn sự trong trắng (đoạn dục, tức không được thực thi các hành động dâm dục, tính dục, dâm ô). Người xuất gia sau khi được thụ phong sẽ chính thức được xem như người đã “từ bỏ đời sống gia đình”, được gọi là Tỳ-kheo hay Tỳkheo-ni, tức là các nam hay nữ tu sĩ, họ phải chọn một lối sống đơn giảnđạm bạc. Đó là con đường quyết tâm xa lìa thế tục; trên con đường đó, người tu hành phải loại bỏ mọi hành vi tiêu cực và chọn cho mình một thể dạng tâm thức đạo hạnh, tập trung nghị lực vào việc tu học và thực thi đạo pháp. Sự đoạn dục hoàn toàn là một trong bốn giới luật căn bản mà họ phải tuân thủ, nếu vi phạm vào đấy sẽ bị khai trừ tức khắc và vĩnh viễn khỏi tập thể Tăng đoàn. Tuy nhiên, cũng có những giới luật kém triệt để hơn, chẳng hạn trong số này có mười ba giới cấm nghiêm trọng, nếu phạm vào đấy sẽ bị khai trừ khỏi Tăng đoàn nhưng chỉ tạm thời. Trong số mười ba giới này có sự thủ dâm, cố ý phóng tinh dịch, đụng chạm thân xác hay sờ mó phụ nữ, nói những lời lẳng lơ hoặc hàm ý dâm dục, xúi dục người phụ nữ bán dâm hay đứng ra làm mối lái. Tuy nhiên, sự ô nhiễm ban đêm xảy ra lúc đang ngủ không phải là một hành động lỗi lầm.

Một người tu hành nếu có những ý tưởng thèm muốn phải tức khắc thiền định về sự kinh tởm của thân xác. Nếu không kềm chế được sự ham muốn phải xin hoãn lại các lời nguyệnhoàn tục trước khi xảy ra tình trạng không hàn gắn được, xử sự như thế sẽ không có ai chê trách. Ngược lại, nếu người tu hành không khắc phục được sự cám dỗ sẽ bị khai trừ ngay khỏi Tăng đoàn theo đúng quy định của giới luật. Đối với người nữ tu, giới luật cũng tương tợ như thế chớ không có nhiều khác biệt; tuy nhiên, trong trường hợp một người nữ tu bị hãm hiếp, nghĩa là không có sự ưng thuận của đương sự và không hề phát lộ sự thích thú, thì đấy không phải là một sự vi phạm nghiêm trọng và có thể tha thứ.

Mặc dù Phật giáo Nguyên thuỷ chủ trương sự cấm đoán khắt khe về tính dục, thế nhưng đời sống xã hội trong các quốc gia Đông Nam Á theo Phật giáo Nguyên thuỷ lại không quá khắc nghiệt nếu các tác phong tính dục không mang tính cách hung bạo và ngoại tình gây ra đau khổ cho người khác.

3/. Vị thế của Đại thừa giữa sự khắt khe và các hành vi phạm giới

Các giới luật nệu lên trong Phật giáo Nguyên thuỷ vẫn tiếp tục được các tông phái Đại thừa tôn trọng. Người xuất gia phải tuân thủ giới luật ghi chép trong Luật tạng và người Phật tử thế tục phải noi theo năm giới luật. Thế nhưng đối với vị Bồ-tát - tức một sinh linh giác ngộ hành động trong tinh thần từ bi vì lợi ích của người khác - nền đạo đức dành cho họ vượt lên trên khuôn khổ quy định cho người xuất gia sống nơi chùa chiền, và nền đạo đức đó cũng được áp dụng cho người Phật tử tại gia. Kỷ cương đạo đức đó liên hệ mật thiết đến động cơ thúc đẩy từ bên trong hành động hơn là được áp đặt từ bên ngoài, vì thế nó mang tính cách phóng khoáng hơn tuy rằng vẫn được quy định bởi một số quy tắc rõ rệt nào đó. Tính cách phóng khoáng của giới luật trong một số trường hợp có thể giúp vị Bồ-tát hành động hữu hiệu hơn vì lợi ích của chúng sinh. Vì thế, các quy tắc của Luật tạng cũng trở nên rộng rãi hơn đối với họ.

Tánh Không của tính dục

Nói chung thì các điều khoản liên quan đến tính dục quy định cho người xuất gia được trước tác và ghi chép trong kinh sách Đại thừa đều nhất thiết dựa vào Luật tạng của Phật giáo Nguyên thuỷ, tiếp tục tôn trọng lý tưởng cao đẹp của lối sống rời xa thế tục. Tịch Thiên (Shantideva) trong Nhập Bồ-đề hành luận (Bodhicaryavatara) bài bác quyết liệt thể dạng quyến rũ trên thân xác phụ nữ, ngài so sánh thân xác phụ nữ với một cái bọc chất chứa những thứ nhơ nhớp và uế tạp (đối với một nữ tu sĩ thì thân xác của một người đàn ông cũng như thế).

Tại Trung Quốc, trong tập kinh Phạm võng (Bhramajala-sutta) có ghi chép giới luật bắt buộc vị Bồ-tát phải đoạn dục, thế nhưng nếu vi phạm thì vẫn không bị khai trừ khỏi Tăng đoàn mà chỉ cần thú nhận và hối cải thành thực. Kinh Duy-ma-cật sở thuyết (Vimalakirtidesa sutta) kể chuyện một vị Bồ-tát thế tục [không phải là người xuất gia] nêu lên hai tác phong khác nhau đối với thân xác: tránh không bám víu vào thân xác ảo giác nhưng cũng có thể sử dụng nó như một phương tiện giúp người khác nhìn thấy con đường đạo. Một đoạn kinh văn khác thuật lại một câu chuyện khá lý thú về một nữ thần thuyết cho một vị đệ tử của Đức Phật là ngài Xá-lợi-phất thế nào là tánh Không của giới tính. Tánh Không toàn diện giúp vị Bồ-tát vượt lên trên khuôn khổ giới tính của thân xác, với điều kiện vị Bồ-tát phải thực hiện được các kết quả tâm linh đích thực, không phải chỉ là những khái niệm đơn thuần, và nhất là vị Bồ-tát phải loại bỏ được mọi bám víu vào ảo giác của hiện thực.

Phật giáo truyền sang Trung Quốc vào thế kỷ thứ I thoáng cho thấy một khúc quanh mới, nhất là trong Thiền học (Chan). Thiền nhắm vào việc tu tập thực hiện bản chất không thực của dục vọng thay vào chỉ biết dựa vào các giới luật cứng ngắc. Tuy nhiên, đấy không có nghĩa là gạt bỏ Luật tạng mà chỉ muốn nêu lên sự vận hành của tâm thức quan trọng hơn sự gò bó của chữ nghĩa. Truyền thuyết kể lại nhiều giai thoại về các nhà sư “điên rồ” vượt qua ranh giới của các giới luật quy định cho họ. Xin kể ra trường hợp của Tế Điên hoà thượng (Jigong, 1127-1209) được người đương thời xem là một nhà sư thích say sưa và phóng túng. Một nhà sư khác người Triều TiênNguyên Hiểu (Whonhyo, 617-686) là một học giả uyên thâm, trước tác rất nhiều tập luận và bình giải kinh điển, thế nhưng ông không giữ tròn giới luật và có khi lui tới những khu vực không thích hợp, về sau ông hoàn tục cưới một công chúa và sinh được một người con trai. Cuối đời ông lang thang rày đây mai đó truyền bá Phật giáo Tịnh độ. Tại Nhật Bản, các điều khoản trong Luật tạng quy định cho người xuất gia không mấy khi được hoàn toàn tôn trọng. Vào thế kỷ thứ IX, Đại sư Tối Trừng (Saichô, 767-822), người sáng lập tông Thiên Thai, thay thế các điều khoản quy định cho người xuất gia trong Luật tạng bằng các lời nguyện của Bồ-tát. Trong Thiền học Nhật Bản (Zen), Đạo Nguyên (Dogen, thế kỷ XIII) khuyên nên đơn giản hoá mười giới luật quy định cho người xuất gia nhưng tuyệt đối phải giữ giới luật đoạn dục như một kỷ cương nơi chùa chiền. Thế nhưng điều khoản ấy không cấm được nhà sư Nhất Hưu (Ikkyu, 1394-1481) hoàn tục. Ông là một vị thiền sư rất phóng khoáng, trước tác nhiều bài thơ hài hước mang tính cách dung tục đả kích sự kiện đồng tính luyến ái trong các tu viện. Trong tông phái Tịnh độ, Pháp Nhiên (Honen, 1133-1212) là một nhà sư chân chính nhưng đệ tử của ông là Thân Loan (Shinran, 1173-1262) lại là người có gia đình và lập ra một học phái mới là Tịnh độ Chân tông (Jodoshin), và các nhà sư trong phái này đều có gia đình. Sau cùng, dưới triều đại Minh Trị (Meiji, 1868-1912) các nhà sư bắt buộc phải chọn cuộc sống cố định, do đó, họ phải lập gia đình để có người nối dõi gìn giữ chùa chiền do dòng họ xây dựng.

4/ Tantra thừa và tính dục

Từ lâu nay đã có không biết bao nhiêu sự hiểu lầmthành kiến đối với Tantra thừa. Trước hết là người Tây phương quá hấp tấp khi xem Tantra thừa đơn thuần như là một thứ kỹ thuật áp dụng trên đường tu tập. Thật ra thì Tantra thừa, còn gọi là Kim cương thừa, xuất phát trực tiếp từ Đại thừa, là một con đường toàn vẹn mang lại thể dạng của Phật. Tantra thừa hoàn toàn không đơn giản như một thứ kỹ thuật giúp giải thoát khỏi tính dục. Biểu tượng của tính dục nêu lên trong Tantra thừa mang mục đích trình bày sự kết hợp bất khả phân giữa các cực đối nghịch trong tâm thức, trong vũ trụ và trong thực tế. Do đó, các thần linh nam tính trong Tantra thừa tượng trưng cho các phương tiện thiện xảo trên đường tu tập và các thần linh nữ mang tính cách đối nghịch tượng trưng cho trí tuệ hay là sự hiểu biết tánh Không, giữ vai trò chứng nhận kết quả do phương pháp mang lại. Trong lĩnh vực tâm linh, tính chất phân cực tính dục cho thấy nếu phương pháp (nam tính) không hướng vào một sự mở rộng (nữ tính) sẽ trở nên vô cùng nguy hiểm. Cũng tương tự như thế, các hiện tượng trong vũ trụ (phân cực nam tính) chỉ có thể triển khai được trong môi trường không gian mở rộng (phân cực nữ tính) làm nền tảng tiếp nhận hiện tượng.

Tinh khiết hoá các hiện tượng

Tâm thức mang bản chất giác ngộ tức là không gian mở rộng (thể dạng nữ tính) đón nhận và phối hợp với sự sáng tỏ (thể dạng nam tính). Các biểu tượng chủ yếu của Kim cương thừa gồm có một cây gậy kim cương [vajra] tượng trưng cho nam tính và một cái chuông nhỏ [ghanta] tượng trưng cho nữ tính hay phân cực vũ trụ. Các biểu tượng của chư Phật được trình bày bằng sự kết hợp nam tính và nữ tính, không hề hàm chứa tính cách truy hoan dù cho cố tình gán thêm cho chúng tính cách thiêng liêng.

Vậy, đối với vấn đề tính dục xác thịt thì sao?

Tại Nhật Bản, các học phái Chân NgônThiên Thai [vốn là những học phái xuất phát từ Kim Cương thừa] hoàn toàn loại bỏ các kinh sách Tantra mang các biểu tượngtính cách diễn đạt cụ thể. Trong Chân Ngôn tôngThiên Thai tông, các biểu tượng tính dục được trình bày thật kín đáo, thần linh thuộc hai phái tính được xếp bên cạnh nhau và các biểu tượng đó được sử dụng như một kỹ thuật tinh khiết hoá các tác động của hậu quả và các cảm nhận ô nhiễm về hiện thực. Thế nhưng vào thế kỷ XII cũng có một chi phái Chân Ngôn tông mang tính lệch lạc, gọi là Tachikawa-ru. Chi phái này chủ trương sử dụng thể dạng phúc hạnh của sự phối hợp tính dục trong mục đích mang lại sự giác ngộ. Thực ra, Lão giáo chịu ảnh hưởng nặng nề hơn hết trước các dị giáo diễn đạt lệch lạc về Tantra thừa. Nhờ vào các ảnh hưởng lệch lạc đó, Lão giáo thu hút được nhiều tín đồ và phát triển rất mạnh. Các nhà sư Phật giáo thuộc nhiều tông phái khác nhau phản đối tính cách dị giáo đó trong Lão giáo khiến Lão giáo bị cấm đoán ở Nhật vào thế kỷ XIV và các kinh sách Lão giáo bị đốt sạch.

Tại Ấn ĐộTây Tạng, kỹ thuật tu tập Tantra mang tính cách hoàn toàn nội tâm, do đó các biểu tượng tính dục thường được trình bày lộ liễu hơn. Tuy nhiên, sự kết hợp với người phối ngẫu (mudra) chỉ có thể được xem là một phép tu tập giác ngộ khi nào hành giả đã đạt được một cấp bậc thật cao, phải có căn bản vững chắc về sự hiểu biết tánh Không, phát huy được lòng từ bi, chủ động được sự quán tưởng và các phép tụng niệm man-tra, cũng như các phương pháp luyện tập du-già về khí lực. Nếu xem cách sử dụng tính dục là một kỹ thuật loại bỏ sự bám víu vào thế tục thì hoàn toàn không hiểu gì cả về sự tu tập Tantra. Do đó, cũng không nên ngạc nhiên khi thấy tính dục được sử dụng như một phương tiện biến cải: Tantra thừa là con đường chủ trương sự tu tập dựa trên sự biến cải giúp người tu tập biến cải các thứ nọc độc của tâm thành trí tuệ nhờ vào các phương pháp cực mạnh của dugià. Trong khi tính dục tầm thường của thế tục biểu hiện sự thèm khát bám víulạc thú thì Tantra biến thể dạng ấy trở thành thiêng liêng và xem đó là cơ hội giúp cảm nhận thể dạng phúc hạnh, xoá bỏ hoàn toàn thể dạng tâm thức thô thiển để thay vào đó thể dạng tinh khiết của ánh sáng trong suốt. Thông thường, ánh sáng trong suốt chỉ thể hiện khi chết, nhưng việc chủ động được sự phối hợp tính dục sẽ tạo ra một thể dạng tương tợ như thể dạng tâm thức khi rời bỏ thân xác.

Nhờ vào du-già, cái chết ngắn ngủi và u tối của khoái lạc sẽ nhường chỗ cho các tia sáng rạng đông của ánh sáng trong suốt; khi thực hiện được thể dạng đó, hành giả du-già và người phối ngẫu đạt được sự tỉnh thức phát sinh trong lúc chết. Đây là một trong nhiều thí dụ nêu lên xung năng dục tính (eros) đi đôi với xung năng của cái chết (Thanatos).

Nguyên tác: Le bouddhisme, le sexe et le désir, Philippe Cornu. Nguồn: https://www.lepoint.fr/religion/le-bouddhismele-sexe-et-le-desir-04-07-2016-2051818_3958.php  Văn Hóa Phật Giáo số 337 +338 ngày 15-1-2020

Xem nguyên văn bản dịch gốc của Dịch giả Hoang Phong (Pháp Quốc):
Phật Giáo Và Vấn Đề Tính Dục (Hoang Phong dịch từ nguyên bản Pháp ngữ)



Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 176360)
01/04/2012(Xem: 22133)
08/11/2018(Xem: 3940)
08/02/2015(Xem: 32327)
25/07/2011(Xem: 100691)
10/10/2010(Xem: 101552)
10/08/2010(Xem: 105224)
08/08/2010(Xem: 110439)
21/03/2015(Xem: 13749)
27/10/2012(Xem: 58800)
Cho dù tình hình có khó khăn đến đâu, chúng ta nên tin tưởng vào khoa học và trí tuệ của con người với quyết tâm và lòng can đảm để vượt qua những vấn đề như hiện nay. Đối mặt với các mối đe dọa đối với sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta, việc cảm thấy lo lắng và sợ hãi là điều tự nhiên. Tuy nhiên, tôi có lời khuyên chân thành sau như một sự an ủi cho bạn lúc này: “KHÔNG CÓ ĐIỀU GÌ PHẢI LO LẮNG CẢ, NẾU CÓ VIỆC GÌ ĐÓ CẦN LÀM - HÃY LÀM ĐI; CÒN NẾU CHƯA LÀM ĐƯỢC, THÌ LO LẮNG MẤY CŨNG KHÔNG GIÚP ĐƯỢC GÌ.”
Khủng hoảng Covid-19 là một khủng hoảng sinh thái, ‘‘khủng hoảng mang tính hệ thống’’, một cuộc đại khủng hoảng. Một bộ phận giới chính trị dường như đã bắt đầu thừa nhận điều này. Chỉ có các phối hợp tập thể trên quy mô toàn cầu mới có khả năng giúp nhân loại tìm được lối thoát cho cuộc đại khủng hoảng hiện nay.
Trong thế kỷ 21, khi văn minh đạt đến đỉnh cao ít ai nghĩ đến có một lúc con người phải đối diện với một thảm cảnh nghiệt ngã như hôm nay – Covid-19, trận dịch lớn nhất lịch sử trong thế kỷ qua, chợt khởi như một cơn ác mộng đã khiến cho nhân loại phải kinh hoàng.