Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM

Trở lại mái nhà xưa hay ẩn dụ con chim tìm bờ trong kinh điển

19/05/20217:45 SA(Xem: 2918)
Trở lại mái nhà xưa hay ẩn dụ con chim tìm bờ trong kinh điển

 

TRỞ LẠI MÁI NHÀ XƯA
HAY ẨN DỤ CON CHIM TÌM BỜ
TRONG KINH ĐIỂN
Chúc Phú.

Chú thích ảnh. Con thuyền Disha Kaka với con chim tìm bờ, 3.000 năm trước Tây lịch, hiện trưng bài tại Bảo tàng quốc gia
Chú thích ảnh. Con thuyền Disha Kaka với con chim tìm bờ,
3.000 năm trước Tây lịch, hiện trưng bài tại Bảo tàng quốc gia

Câu chuyện về gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa là một ẩn dụ sinh động, mô tả về một người vốn giàu có mà cứ tưởng mình thật sự là kẻ nghèo hèn. Vấn đềcho đến khi nào chàng cùng tử ấy mới hội đủ điều kiện, nhân duyên để phản tỉnhnhận ra mình vốn có kho tàng trong chéo áo. Cũng vậy, có những kho tàng minh triết, có những đấng phạm hạnh, có những bậc thiện lành vốn đang hiện hữu ở ngay đây, trong cuộc sống này nhưng chúng ta cứ mãi mê tìm kiếm ở đâu khác. Câu chuyện con chim tìm bờ được Phật nêu dẫn trong kinh là một trưởng hợp như vậy.

Điều đặc biệt là, câu chuyện con chim tìm bờ đều xuất xuất hiện trong cả hai truyền thống kinh điển, từ Pāli cho đến Hán tạng.

Kinh Trường Bộ số 11 (Kevaddha Sutta) ghi:

Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim bay về phía Đông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền. (HT. Thích Minh Châu, dịch).

Tương tự, kinh Trường A-hàm số 24, kinh Kiên Cố (堅固經) ghi:

 Này Tỳ-kheo, ví như người lái buôn mang con chim ưng cùng đi biển[1]. Khi ra giữa biển khơi thì thả con chim ra. Chim bay giữa hư không, trông khắp cả bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, nếu nhìn thấy đất liền thì liền đáp xuống, nếu không thấy bờ thì chim sẽ bay trở lại đáp xuống thuyền. (Trung tâm Trí Tịnh, dịch).

Theo kinh Kiên Cố, có vị tỳ-kheo thành tựu thần thông nhưng cứ mãi đắm mình trong suy nghĩ: Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn[2]? Từ suy nghĩ này, đáng lý phải hỏi ngay đức Thế Tôn đang hiện hữu bên cạnh nhưng thầy tỳ-kheo ấy lại hướng vào Thiên giới để tham vấn các vị thiên thần. Lần lượt, thầy ấy tham vấn từ Tứ Thiên Vương[3], chư Thiên cõi trời Đao-lợi[4], chư Thiên cõi trời Diệm-ma[5]…cho đến cõi Phạm Thiên.

Khi đến cõi Phạm Thiên, Tỳ-kheo kia liền đến hỏi Phạm Vương: “Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn?Đại Phạm Vương kia đáp: “Ta là Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng, thống lãnh cả nghìn thế giới, giàu sang quyền quý, rất tự tại, có thể tạo ra muôn loài, là cha mẹ của tất cả chúng sanh.Khi đó, Tỳ-kheo kia nói: “Tôi không hỏi việc đó, tôi chỉ muốn hi bốn đại đất, nước, lửa, gió do đâu mà diệt hẳn?”

Này con trai trưởng giả! Phạm Vương kia vn cứ đáp: “Ta là Đại Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng, cho đến có thể tạo ra muôn loài, là cha mẹ của tất cả chúng sanh.” Vị Tỳ-kheo lại hỏi: “Tôi không hỏi điều đó, tôi chỉ muốn hi bốn đại do đâu mà diệt hẳn thôi!

Này con trai trưởng giả! Phạm Thiên Vương kia đáp ba lần như thế, nhưng vẫn không trả lời được câu hi của Tỳ-kheo ấy là bốn đại do đâu mà diệt hẳn. Lúc đó, Đại Phạm Vương bèn nắm tay phải của Tỳ-kheo, dẫn tới chỗ vắng và nói: “Này Tỳ-kheo! Hiện nay, các Phạm Thiên đều tôn ta là người có trí tuệ bậc nhất, điều gì cũng biết, cũng thấy nên ta không thể trả lời với thầy rằng ta không thấy, không biết bốn đại do đâu mà diệt hẳn.” Rồi lại nói tiếp với Tỳ-kheo rằng: “Thầy thật quá dại khờ nên mới bỏ Như Lai mà tìm đến chư Thiên để hỏi việc này! Thầy nên trở lại hỏi Thế Tôn việc này. Đức Phật dạy như thế nào, thầy hãy khéo léo thọ trì như vậy. Hiện nay, Thế Tôn đang ngự tại vườn ông Cấp-cô-độc, nước Xá-vệ. Thầy hãy mau đến đó hỏi![6]

Với năng lực thần thông của mình, thầy tỳ-kheo chỉ trong khoảnh khắc quay trở về chốn cũ, vườn Cấp-cô-độc, rừng Kỳ-đà, nước Xá-vệ để gặp đức Phật. Nhân đó đức Phật đã viện dẫn ví dụ con chim tìm bờ nêu trên và hóa giải mối nghi của vị tỳ-kheo kia bằng bài kệ:

Bốn đại này do đâu,
Diệt sạch không còn dấu?,[7]
Sắc thô, tế, đẹp, xấu,
Dài, ngắn, diệt do đâu?
Do đâu không danh, sắc,
Diệt hẳn, không dư tàn? [8]
Nên đáp: Thức vô hình,
Vô lượng, tự tỏa sáng[9].
Thức diệt, bốn đại diệt,
Thô, tế, đẹp, xấu diệt,
Danh, sắc này cũng diệt,
Thức diệt, tất cả diệt[10].

Trong câu chuyện này, ngoài việc hóa giải tồn nghi cho vị tỳ-kheo: Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn? Điều đặc biệt là, qua ẩn dụ con chim tìm bờ nêu trên, đã cho thấy đức Phật là một bậc quán thông về lịch sử văn minh của đất nước Ấn Độ.

Vì lẽ, trong quá trình khai quật di chỉ lịch sử Mohenjo-Daro ở Pakistan, thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn (The Indus Valley Civilisation), có niên đại 2.800 trước tây lịch cho đến 1.800 trước tây lịch, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra một bức phù điêu ghi nhận về ẩn dụ con chim tìm bờ, tạm định danhCon thuyền Disha Kaka với con chim định hướng (Disha Kaka Boat with Direction Finding Birds). Tư liệu lịch sử quý giá này hiện được bảo tồnBảo tàng quốc gia Ấn Độ (India National Museum) tại New Delhi. Xem ảnh đính kèm.

Từ một ví dụ sinh động trong kinh được xác thực bằng hiện vật lịch sử có niên đại gần ba ngàn năm, đã góp phần minh chứng, kinh điển của Phật giáo không những là kho tàng văn hóa vĩ đại của nhân loại mà còn đồng thời khẳng định rằng, lời dạy của Đức Phậtchân lý không bị hạn cuộc bởi thời gian.

 


[1] Nguyên tác Tí ưng nhập hải (臂鷹入海): Thương nhân đi biển mang theo con chim tìm bờ.

[2] Thử thân tứ đại, địa, thủy, hỏa, phong, hà do vĩnh diệt (此身四大, 地, 水, 火, 風何由永滅?

[3] Tứ thiên vương (四天王 - Cātummahārājikā devā): Tầng thứ nhất trong sáu tầng trời cõi Dục.

[4] Đao-lợi (忉利 - Tāvatiṁsa): Tầng thứ hai trong sáu tầng trời cõi Dục.

[5] Diệm-ma (焰摩 - Yāma): Còn gọi Dạ-ma (夜摩), tầng thứ ba trong sáu tầng trời cõi Dục.

[6] Kiên Cố kinh  堅固經 (T. 01. 0001. 24. 0101b14). Bản dịch của Trung tâm Trí Tịnh.

[7] Tham chiếu, D.11: Kattha āpo ca paṭhavī tejo vāyo na gādhati? (Ở đâu, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng? HT. Thích Minh Châu, dịch)

[8] Tham chiếu, D.11: Kattha nāmañ ca rūpañ ca asesaṃ uparujjhati? (Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn? HT. Thích Minh Châu, dịch)

[9] Nguyên tác Thức vô hình, vô lượng tự hữu quang (識無形,無量自有光). Tham chiếu, D.11: Viññāṇaṃ anidassanaṃ anantaṃ sabbato pabhaṃ. (Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ. HT. Thích Minh Châu, dịch). Kinh Trung A-hàm, kinh Phạm Thiên thỉnh Phật, số 78, ghi: Thức vô lượng cảnh giới (識無量境界).

[10] Tham chiếu, D.11: Vññāṇassa nirodhena eth’ etaṃ uparujjhatīti (Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận. HT. Thích Minh Châu, dịch).




.

Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 184663)
01/04/2012(Xem: 30594)
08/11/2018(Xem: 9929)
08/02/2015(Xem: 43412)
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Câu chuyện bắt đầu rất đau buồn nhưng về sau lại mở ra một cánh cửa mới đầy hy vọng và tỉnh thức. Zach Obseon lúc nhỏ đã chứng kiến em gái của mình bị hiếp và giết chết, sau này lớn lên anh theo học ngành cảnh sát với tâm nguyện ngăn chặn cái ác, không để xảy ra những trường hợp như em gái của mình. Về phần kẻ thủ ác, anh ta tên Dennis Skillicorn , sau khi bị bắt và chịu án chung thân không ân xá. Trong thời gian ở tù, anh ta đã ăn năn tội lỗi của mình, anh ta và những bạn tù khác lập ra tờ báo “Compassion”, số tiền thu được làm học bổng cho Obseon cũng như những học viên cảnh sát khác.
Sam Lim, tân đại biểu Quốc hội Úc châu khóa 47, đã làm được một bước lịch sử: Sam Lim hôm Thứ Ba 26/7/2022 đã trở thành người đầu tiên tuyên thệ vào Quốc hội Úc bằng lời thề đặt tay trên kinh Phật. Đó là cuốn kinh được đọc nhiều nhất - Kinh Pháp Cú.
Chúng tôi rất vui mừng thông báo với đại chúng và cộng đồng Phật Pháp rằng Tăng đoàn do chúng tôi thành lập đã hình thành nên một ngôi Phạm Vũ ở Tiểu bang Pennsylvania, Mỹ Quốc: Phạm Vũ Pháp Vân.