Trở lại mái nhà xưa hay ẩn dụ con chim tìm bờ trong kinh điển

19/05/20217:45 SA(Xem: 782)
Trở lại mái nhà xưa hay ẩn dụ con chim tìm bờ trong kinh điển

 

TRỞ LẠI MÁI NHÀ XƯA
HAY ẨN DỤ CON CHIM TÌM BỜ
TRONG KINH ĐIỂN
Chúc Phú.

Chú thích ảnh. Con thuyền Disha Kaka với con chim tìm bờ, 3.000 năm trước Tây lịch, hiện trưng bài tại Bảo tàng quốc gia
Chú thích ảnh. Con thuyền Disha Kaka với con chim tìm bờ,
3.000 năm trước Tây lịch, hiện trưng bài tại Bảo tàng quốc gia

Câu chuyện về gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa là một ẩn dụ sinh động, mô tả về một người vốn giàu có mà cứ tưởng mình thật sự là kẻ nghèo hèn. Vấn đềcho đến khi nào chàng cùng tử ấy mới hội đủ điều kiện, nhân duyên để phản tỉnhnhận ra mình vốn có kho tàng trong chéo áo. Cũng vậy, có những kho tàng minh triết, có những đấng phạm hạnh, có những bậc thiện lành vốn đang hiện hữu ở ngay đây, trong cuộc sống này nhưng chúng ta cứ mãi mê tìm kiếm ở đâu khác. Câu chuyện con chim tìm bờ được Phật nêu dẫn trong kinh là một trưởng hợp như vậy.

Điều đặc biệt là, câu chuyện con chim tìm bờ đều xuất xuất hiện trong cả hai truyền thống kinh điển, từ Pāli cho đến Hán tạng.

Kinh Trường Bộ số 11 (Kevaddha Sutta) ghi:

Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim bay về phía Đông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền. (HT. Thích Minh Châu, dịch).

Tương tự, kinh Trường A-hàm số 24, kinh Kiên Cố (堅固經) ghi:

 Này Tỳ-kheo, ví như người lái buôn mang con chim ưng cùng đi biển[1]. Khi ra giữa biển khơi thì thả con chim ra. Chim bay giữa hư không, trông khắp cả bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, nếu nhìn thấy đất liền thì liền đáp xuống, nếu không thấy bờ thì chim sẽ bay trở lại đáp xuống thuyền. (Trung tâm Trí Tịnh, dịch).

Theo kinh Kiên Cố, có vị tỳ-kheo thành tựu thần thông nhưng cứ mãi đắm mình trong suy nghĩ: Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn[2]? Từ suy nghĩ này, đáng lý phải hỏi ngay đức Thế Tôn đang hiện hữu bên cạnh nhưng thầy tỳ-kheo ấy lại hướng vào Thiên giới để tham vấn các vị thiên thần. Lần lượt, thầy ấy tham vấn từ Tứ Thiên Vương[3], chư Thiên cõi trời Đao-lợi[4], chư Thiên cõi trời Diệm-ma[5]…cho đến cõi Phạm Thiên.

Khi đến cõi Phạm Thiên, Tỳ-kheo kia liền đến hỏi Phạm Vương: “Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn?Đại Phạm Vương kia đáp: “Ta là Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng, thống lãnh cả nghìn thế giới, giàu sang quyền quý, rất tự tại, có thể tạo ra muôn loài, là cha mẹ của tất cả chúng sanh.Khi đó, Tỳ-kheo kia nói: “Tôi không hỏi việc đó, tôi chỉ muốn hi bốn đại đất, nước, lửa, gió do đâu mà diệt hẳn?”

Này con trai trưởng giả! Phạm Vương kia vn cứ đáp: “Ta là Đại Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng, cho đến có thể tạo ra muôn loài, là cha mẹ của tất cả chúng sanh.” Vị Tỳ-kheo lại hỏi: “Tôi không hỏi điều đó, tôi chỉ muốn hi bốn đại do đâu mà diệt hẳn thôi!

Này con trai trưởng giả! Phạm Thiên Vương kia đáp ba lần như thế, nhưng vẫn không trả lời được câu hi của Tỳ-kheo ấy là bốn đại do đâu mà diệt hẳn. Lúc đó, Đại Phạm Vương bèn nắm tay phải của Tỳ-kheo, dẫn tới chỗ vắng và nói: “Này Tỳ-kheo! Hiện nay, các Phạm Thiên đều tôn ta là người có trí tuệ bậc nhất, điều gì cũng biết, cũng thấy nên ta không thể trả lời với thầy rằng ta không thấy, không biết bốn đại do đâu mà diệt hẳn.” Rồi lại nói tiếp với Tỳ-kheo rằng: “Thầy thật quá dại khờ nên mới bỏ Như Lai mà tìm đến chư Thiên để hỏi việc này! Thầy nên trở lại hỏi Thế Tôn việc này. Đức Phật dạy như thế nào, thầy hãy khéo léo thọ trì như vậy. Hiện nay, Thế Tôn đang ngự tại vườn ông Cấp-cô-độc, nước Xá-vệ. Thầy hãy mau đến đó hỏi![6]

Với năng lực thần thông của mình, thầy tỳ-kheo chỉ trong khoảnh khắc quay trở về chốn cũ, vườn Cấp-cô-độc, rừng Kỳ-đà, nước Xá-vệ để gặp đức Phật. Nhân đó đức Phật đã viện dẫn ví dụ con chim tìm bờ nêu trên và hóa giải mối nghi của vị tỳ-kheo kia bằng bài kệ:

Bốn đại này do đâu,
Diệt sạch không còn dấu?,[7]
Sắc thô, tế, đẹp, xấu,
Dài, ngắn, diệt do đâu?
Do đâu không danh, sắc,
Diệt hẳn, không dư tàn? [8]
Nên đáp: Thức vô hình,
Vô lượng, tự tỏa sáng[9].
Thức diệt, bốn đại diệt,
Thô, tế, đẹp, xấu diệt,
Danh, sắc này cũng diệt,
Thức diệt, tất cả diệt[10].

Trong câu chuyện này, ngoài việc hóa giải tồn nghi cho vị tỳ-kheo: Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn? Điều đặc biệt là, qua ẩn dụ con chim tìm bờ nêu trên, đã cho thấy đức Phật là một bậc quán thông về lịch sử văn minh của đất nước Ấn Độ.

Vì lẽ, trong quá trình khai quật di chỉ lịch sử Mohenjo-Daro ở Pakistan, thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn (The Indus Valley Civilisation), có niên đại 2.800 trước tây lịch cho đến 1.800 trước tây lịch, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra một bức phù điêu ghi nhận về ẩn dụ con chim tìm bờ, tạm định danhCon thuyền Disha Kaka với con chim định hướng (Disha Kaka Boat with Direction Finding Birds). Tư liệu lịch sử quý giá này hiện được bảo tồnBảo tàng quốc gia Ấn Độ (India National Museum) tại New Delhi. Xem ảnh đính kèm.

Từ một ví dụ sinh động trong kinh được xác thực bằng hiện vật lịch sử có niên đại gần ba ngàn năm, đã góp phần minh chứng, kinh điển của Phật giáo không những là kho tàng văn hóa vĩ đại của nhân loại mà còn đồng thời khẳng định rằng, lời dạy của Đức Phậtchân lý không bị hạn cuộc bởi thời gian.

 


[1] Nguyên tác Tí ưng nhập hải (臂鷹入海): Thương nhân đi biển mang theo con chim tìm bờ.

[2] Thử thân tứ đại, địa, thủy, hỏa, phong, hà do vĩnh diệt (此身四大, 地, 水, 火, 風何由永滅?

[3] Tứ thiên vương (四天王 - Cātummahārājikā devā): Tầng thứ nhất trong sáu tầng trời cõi Dục.

[4] Đao-lợi (忉利 - Tāvatiṁsa): Tầng thứ hai trong sáu tầng trời cõi Dục.

[5] Diệm-ma (焰摩 - Yāma): Còn gọi Dạ-ma (夜摩), tầng thứ ba trong sáu tầng trời cõi Dục.

[6] Kiên Cố kinh  堅固經 (T. 01. 0001. 24. 0101b14). Bản dịch của Trung tâm Trí Tịnh.

[7] Tham chiếu, D.11: Kattha āpo ca paṭhavī tejo vāyo na gādhati? (Ở đâu, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng? HT. Thích Minh Châu, dịch)

[8] Tham chiếu, D.11: Kattha nāmañ ca rūpañ ca asesaṃ uparujjhati? (Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn? HT. Thích Minh Châu, dịch)

[9] Nguyên tác Thức vô hình, vô lượng tự hữu quang (識無形,無量自有光). Tham chiếu, D.11: Viññāṇaṃ anidassanaṃ anantaṃ sabbato pabhaṃ. (Thức là không thể thấy, vô biên, biến thông hết thảy xứ. HT. Thích Minh Châu, dịch). Kinh Trung A-hàm, kinh Phạm Thiên thỉnh Phật, số 78, ghi: Thức vô lượng cảnh giới (識無量境界).

[10] Tham chiếu, D.11: Vññāṇassa nirodhena eth’ etaṃ uparujjhatīti (Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều diệt tận. HT. Thích Minh Châu, dịch).




.

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 180666)
01/04/2012(Xem: 26244)
08/11/2018(Xem: 6513)
08/02/2015(Xem: 37709)
25/07/2011(Xem: 103209)
10/10/2010(Xem: 100391)
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”