Tính Cộng Đồng Trong Tăng Đoàn Đức Phật

17/08/20211:00 SA(Xem: 783)
Tính Cộng Đồng Trong Tăng Đoàn Đức Phật
TÍNH CỘNG ĐỒNG TRONG TĂNG ĐOÀN ĐỨC PHẬT
(Thích Nhật Hiếu)

       binh dang gioi I.  
DẪN NHẬP:

Phật giáo là một tổ chức cộng đồng (Samasambhaga) ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại (-5 CN). Đó là cộng đồng Tăng già (Saṇgha); bao gồm cả Phật tử tại gia (Gahapati). Cộng đồng này được gọi chung là “Tứ chúng” (s:Catasraḥ parṣa; p: Catasso parisā): Tỳ kheo, Tỳ kheo ni cư sĩ, Nữ cư sĩ (p: Bhikkhu, Bhikkhuni, Upāsaka, Upāsīka). Một cộng đồng không xây dựng trên nguyên tắc phục tùng uy quyền của thần linh, Giáo chủ, thủ lĩnh, hoặc pháp định, mà được xây dựng trên ý thức của mỗi cá nhân với 4 nguyên tắc sống hòa nhập (Tứ nhiếp pháp) và 6 nguyên tắc sống hoà hợp (Lục hoà cộng trụ), thích ứng với mọi lợi ích cho cá nhânlợi lạc cho cộng đồng.

        II.  NỘI DUNG:

              
a. Nguyên tắc hoàn thiện con người cá nhân:
         Đức Phật cũng đã khẳng định mối tương quan trong cuộc sống cộng đồng, cá nhân là một trong những thành tố tế bào xã hội, xã hội là tổng thể bao gồm mọi thành tố cá nhân; giáo dục cá nhânmục tiêu chiến lược để hoàn thiện xã hội. Tứ nhiếp pháp (四攝法四攝事s:Catvāri-saṃgrahavastūni; four all-embracing {bodhisattva} virtues)([1]) là 4 nguyên tắc đã được đức Phật vận dụng cách đây ngót 3 ngàn năm qua; các nguyên tắc giáo dục con người cá nhân hòa nhập vào cộng đồng một cách an toànhoàn hảo, cũng như có thể ứng phó và hóa giải mọi nguy cơ tác động khách quan:
                 1. Bố thí (布施; p-s:Dāna; giving what others like, in order to lead them to love and receive the truth):
         Cùng sống trong cộng đồng xã hội sẵn sàng chia sẻ những nỗi khó khăn với người khác như nhường cơm, xẻ áo, thuốc men,… khi người nghèo khó (Tài thí); dạy dỗ, giúp ý kiến, truyền trao kiến thức,… khi người khó khăn về hiểu biết (Pháp thí); an ủi, chở che, bao dung, tha thứ,… khi người khủng hoảng tinh thần (Vô uý thí). Tính chất này ứng với nguyên tắc thứ 4 trong lục hòa.
                 2.  Ái ngữ (愛語; p:Priyavāditā; s:Arthacaryā; affctionate, speech, with the same purpose):
         Cùng sống trong cộng đồng xã hội biết lắng nghe và chia sẻ niềm vui cho người, và làm vơi bớt những nỗi khổ đau của người bằng sự khích lệ lòng tự tin và hy vọng. Người đệ tử Phật biết im lặng đúng thời và nói năng đúng lúc; lời nói thật sự có sức thuyết phục, có giá trị xây dựng hiểu biết và hoà giải. Tính chất này ứng với nguyên tắc thứ 3 trong lục hòa.
                 3.  Lợi hành (利行; p-s:Arthakṛtya, conduct profitable to others, with the same purpose):
Cùng sống trong cộng đồng xã hội biết nhường nhịn và san sẻ lẫn nhau những gì thu hoạch được từ vật chất cho đến tinh thần; tự suy nghĩ một cách hiểu biết: Tâm lý tham lam, bỏn xẻn muốn thâu hết vào mình tất cả những lợi lộc là tự làm khổ mình. Vì rằng: “Đa thọ là đa khổ”, không lợi ích gì cho hiện tại, mà còn làm trở ngại cho sự tiến bộ tâm linh trên lộ trình giác ngộ giải thoát mà thôi. Tính chất này ứng với nguyên tắc thứ 4 trong lục hòa.
                 4.  Đồng sự (同事; p-s:Samānārthatā; co-operation with and adaptation of oneself to others, to lead them into the truth):
         Cùng sống trong cộng đồng xã hội biết san sẻ những công việc, những nỗi nhọc nhằn với đồng nghiệp, Pháp lữmọi người; biết dấn thân, hoà đồng với mọi người trong đời sống cộng đồng; không lập dị, quan liêu, kiểu cách mà biết nhập cuộc cùng làm, cùng ăn, cùng ở, cùng vui chơi giải trí với mọi người. Tính chất này ứng với nguyên tắc thứ 2 trong lục hòa.
          b.  Nguyên tắc hoàn thiện cuộc sống cộng đồng:
         Đoàn thể đệ tử của đức Phật có 2: Cộng đồng Tăng già (Saṇgha) và cộng đồng Phật tử tại gia (Gahapati). Một cộng đồng không xây dựng trên nguyên tắc uy quyền của giáo chủ hoặc pháp định, mà được xây dựng trên ý thức của mỗi cá nhân. Đó là sáu nguyên tắc sống hòa hợp (Lục hoà: 六和敬 (六和) s:Saḍsāramyadharma; The six points of reverent harmony or unity in a monastery or convent)([2]) đoàn kết trong tình thân thương đầy thánh thiện của cộng đồng những người đệ tử của đức Phật tại gia cũng như xuất gia. Đơn cử một số nguyên tắc đoàn thể sống trong hòa hợp mà trong Phật giáo đã áp dụng có bề dày lịch sử ngót 3 ngàn năm qua.
                 1. Hoà đồng trên nguyên tắc kỷ luật (Giới hòa đồng tu: 戒和同修; moral unity in observing the commandments):
         Cộng đồng đệ tử Đức Phật giữ gìn Giới luật không để bị nhiễm ô, sứt mẻ đối với những người bạn đồng tu cả trước mặt lẫn sau lưng, để tạo thành tương thân, tương ái, tương kính và hòa hợp lẫn nhau. Như vậy, nguyên tắc này được xem là bí quyết cho sự an lạc, hạnh phúc cho cá nhânthịnh vượng cho tổ chức. Đức Phật dạy: Phật tử tại gia giữ 5 giới; Xuất gia như: Sa di, Sa di ni giữ 10 giới; Tỳ kheo giữ 250 giới; Tỳ kheo ni giữ 348 giới,v.v...
Mục tiêu giá trị cần phải đạt được của tất cả mọi người con Phật chúng tagiải thoát tâm linh. Lộ trình đưa đến mục tiêu ấy là Trì giới. Nó giúp chúng ta thanh lọc tâm hồn, thân chứng chân lý giải thoát. Giới luật là hàng rào bảo vệ an toàn phẩm hạnh nhân cách, ngăn ngừa điều sai trái, dứt trừ điều xấu xa (phòng phi chỉ ác). Hơn nữa, Giới luật của Phật giáo chính là nền luân lý, đạo đức; ngoài việc thánh thiện hoá cho cá nhân ra, còn được xem là những nguyên tắc thăng hoa cho cộng đồng xã hội. Theo tinh thần Duyên sinh vô ngã, Phật giáo cho rằng, cá nhân không thể tách rời cộng đồng, và cộng đồng không ngoài cá nhân; vì vậy, sự trong sạch tư cách của cá nhân chính là sự thăng hoa và thịnh vượng của cộng đồng tổ chức.
         Chúng ta cũng biết, quốc gia không luật pháp, quốc gia suy vong; tổ chức không kỷ luật, tổ chức ô hợp; tôn giáo không giáo luật, tôn giáo tục lậu. Cũng vậy, Phật giáo là một tổ chức cộng đồng có một nền giới luật chặt chẽ và nghiêm minh, nhưng có một tính chất ưu việt hơn các tổ chức xã hội cũng như tôn giáo khác là Giới luật không xem như là một Giáo luật hay Tín điều đầy uy quyền do một đấng tối cao nào, hoặc cơ quan chuyên chế pháp định nào đó ban hành, mà nó được xem là một bản thoả thuận chung của cộng đồng đệ tử của Đức Phật. Thời Đức Phật còn tại thế, sự kiết giới và chế định luật nghi, Ngài không áp đặt, mà là dựa trên nguyên tắc “Tùy phạm tùy kiết”, nghĩa là trong thực tế những sự kiện nào đã gây ra sự bất ổn, bất hạnh cho cá nhâncộng đồng thì Đức Phật dựa vào đó mà chế định ra Giới luật. Do đó, Giới luật được xem là hàng rào, là thành luỹ bảo vệ an toàn cho cuộc sống phạm hạnh, cuộc sống đầy thánh thiện, giúp cho mọi người Phật tử Tại gia cũng như Xuất gia chuyển hoá phiền não, khổ đau để thoát ly mọi hệ lụy của tham lam, sân hận, si mê,… hướng đến thanh tịnh, từ bi và trí giác; nhằm đem lại sự thanh bìnhan lạc cho cuộc đời. Vì vậy, mọi người đệ tử của Đức Phật phải giữ gìn cẩn thận, xem đó như con thuyền vượt bể khổ trần gian nhắm bờ giải thoát.
                 2. Hoà đồng trên nguyên tắc hành động (Thân hòa đồng trụ: 身和同住; Bodily unity in form of worship):
         Mọi hoạt động, hành vi trong cộng đồng đệ tử Đức Phật đều hợp nhất: đi cùng đi, ở cùng ở, ăn cùng ăn, làm cùng làm, nghỉ cùng nghỉ,… không lập dị kiểu cách, không phách lối quan liêu, biết hòa mình, đồng sự đối với mọi người, không sống đóng khung, cô lập, để rồi gây rạn nứt, sứt mẻ mối thâm giao tình cảm đối với mọi Pháp lữ, Đồng môn cả trước mặt lẫn sau lưng, để tạo thành mối tương thân, tương ái, tương kính và hòa hợp lẫn nhau. Như vậy, nguyên tắc này được xem tương ứng với “Đồng sự nhiếp” trong Tứ nhiếp pháp, và cũng là bí quyết cho sự an lạc, hạnh phúc cho cá nhânthịnh vượng cho tổ chức.
                 3. Hoà đồng trên nguyên tắc ngôn luận (Khẩu hòa vô tránh口和同爭; Oral unity in chanting):
         Luôn dùng lời ái ngữ dễ mến, tạo niềm tin yêu thật sự cho người nghe: “Không nói lời lọc lừalời nói thành thật; không nói lời thêu dệt mà nói lời ngay thẳng; không nói lời hung ác mà nói lời từ ái; không nói lời gây chia rẽ và hận thù mà nói lời mang ý nghĩa xây dựnghòa giải;…”; không gây rạn nứt, sứt mẻ mối thâm giao tình cảm đối với những pháp lữ, đồng môn cả trước mặt lẫn sau lưng,… để tạo thành tương thân, tương ái, tương kính và hòa hợp lẫn nhau, nhất trí không tranh luận; ngoài ra, với ý nghĩa của Pháp hòa này, Đức Phật còn dạy về nguyên tắc để dập tắt sự tranh cải (Thất pháp diệt tránh)([3]) một cách rất tinh tế; và Ngài còn dạy thêm về sự hợp mặt của Tăng đoàn nếu có thì nên “Nói năng như chánh phápim lặng như chánh pháp”([4]). Ở đây, nguyên tắc thứ 3 này được xem tương ứng với “Ái ngữ nhiếp” trong Tứ nhiếp pháp. Như vậy, nguyên tắc này được xem là bí quyết cho sự an lạc, hạnh phúc cho cá nhânthịnh vượng cho tổ chức.

                 4. Hoà đồng trên nguyên tắc quyền lợi (Lợi hòa đồng quân: , or 施和同均;  Economic unity in community of goods, deeds, studies, or charity):
         Như trong truyền thống tổ chức Tăng đoàn Phật giáo. Những Pháp lữ đồng tu trong tổ chức truyền thống cộng đồng đệ tử Đức Phật, mọi quyền lợi từ vật chất cùng như tinh thần đều cùng nhau san sẻ đồng đều bình đẳng với nhau; biết nhường nhịn lẫn nhau, không so đo, tính toán; không ganh ghét đố kỵ, tư  hiềm tranh quyền đoạt lợi.
Với tinh thần “duyên sinh vô ngã”, con người không một thứ gì là của riêng mình, mà là một sự hòa hợp duyên sinh do nhiều yếu tố tác thành. Con ngườixã hội, xã hộicon người. Chính vì vậy mà mấy ngàn năm qua kể từ sau khi Đức Phật diệt độ, Tăng đoàn của đức Phật vẫn giữ được phong độ xuất thế  của mình trong vai trò “Vì hạnh phúc, vì lợi ích, vì lợi lạc thế gian mà làm cán cân đạo lý cho ngàn đời”. Cộng đồng đệ tử xuất gia của Đức Phật là những người Vô sản, những người không gia đình (s:Pravraiyā; p: Pabhajjā), không riêng tư. Những người từ bỏ tất cả, để rồi đến với tất cả. Tóm lại, “Phụng sự chúng sinhcúng dường Chư Phật”. Cái lợi ở đây, Phật giáo xem “lợi tha hơn là tự lợi, vị tha hơn là vị kỷ, vì người hơn là vì mình”. Vì vậy, tính bao dung, hy sinhphụng sự được xem là tính chất đặc trưng của Phật giáo. Ở đây, tính chất thứ 4 này được xem tương ứng với “Bố thí nhiếp” trong Tứ nhiếp pháp.
         Chừng mực nào đó, có thể nhân rộng mô hình sống mang tính cộng đồng trên áp dụng vào cuộc sống cộng đồng xã hội. Có thể hiểu quyền lợi cộng đồng xã hội ở đây được xác lập trên các nền tảng cơ bản: quyền được bảo hộ luật pháp, quyền học tập trau dồi tri thức, hành nghề làm ăn hợp pháp, quyền được ứng-bầu cử thể hiện nguyện vọng & xây dựng xã hội cộng đồng, quyền hưởng trợ cấp an sinh xã hội,v.v… Quyền lợi này được phân đều cho mọi người trong xã hội, không dành riêng cho giới nào hay cá nhân ai.
                 5.  Hoà đồng trên nguyên tắc ý chí (Ý hòa đồng duyệt: 意和同悅; Mental unity in faith):
         Trong cộng đồng đệ tử của Đức Phật, sự hòa hợp ý chí, tâm tư và nguyện vọng, thâm tình đồng môn hòa mục chung sống được xem là vấn đề tối trọng. Một khi một người đã từ bỏ thân thuộc trong gia đình để đi xuất gia, thì còn niềm vui nào hơn là niềm vui đoàn thể Pháp lữ, cùng san sẻ bùi ngọt, vui buồn với nhau. Nhiều người cho rằng, những người đi tu là những người yếm thế, chán đời, lánh tục,… là những kẻ vô hại nhưng cũng là những người bất lợi cho xã hội; hơn thế nữa, có người cho rằng họ là những kẻ bỏ đi. Hàng ngũ thầy tu Phật giáo là những thành phần phi sản xuất. Thế nhưng, họ có biết rằng những con người như vậy đã suốt cuộc đời sống hy sinh, sống quên đi hạnh phúc cá nhân của mình để giữ lấy lý tưởng phạm hạnh, giữ lấy đạo lý, lẽ phải để soi sáng cho đời, như vậy mà bị đánh giálãnh đạm, lánh đời,… là bất lợi cho xã hội được hay sao?!! Có biết chăng, bên trong cánh cửa nhà Phật là một thế giới của những con người ngày đêm nỗ lực không ngừng đào luyện tài năng, tô bồi phẩm hạnh để xứng đáng bậc thầy đưa đường chỉ lối cho trời người. Thật vậy, ngót 3 ngàn năm qua, mái chùa, cửa Phật luôn là nơi cưu mang các bậc anh tài, khai phóng tinh thần dân tộc trong buổi đầu lập quốc, là nơi chở che hồn thiêng dân tộc trong buổi quốc loạn thời suy. Nếu không phải là nơi tổ chức hội đoàn có truyền thống giáo dục chặt chẽ thì làm sao Phật giáo Việt  ghi được những trang sử vàng sáng ngời như vậy. Từ ấy, chúng ta nhận thấy, tổ chức Phật giáo không phải là tổ chức ồ ạt về số đông, nhộn nhịp về cơ cấu, chặt chẽ về ban ngành,…; tuy nhiên, đây là tổ chức đoàn thể mang tính tự ý thức giác ngộ, sống đời tỉnh thức, với tinh thần tự giác, không mang tính cưỡng chế pháp định hoặc giáo quyền nào. Với ý thức tự giác, tự chịu trách nhiệm về bất cứ những hành vi, hành động tốt hay xấu, thiện hay ác do chính mình tự tạo ra. Do đó, ở điểm này Phật giáo được hiểu là một lẽ sống mang tính nhân bản hơn là một Tôn giáo. Hơn nữa, nếu ở lãnh vực Tôn giáo thì Phật giáo mang tính Tôn giáo của từ bi, cứu khổ, của sự sống tâm linh hơn là Tôn giáo của thần linh mặc khải. Còn nếu Phật giáo được hiểu là một tổ chức thì được hiểu là tổ chức của những người sống đời sống tỉnh thức, trí tuệtừ bi hơn là một hội đoàn thông thường luôn mong muốn mình lớn mạnh, vươn cánh tay bạch tuộc bành trướng, thị oai, thao túng, cạnh tranh, trấn áp, lấn lướt, như tất cả những hội đoàn đời thường khác.
Có thể nói: “Phật giáo là cộng đồng tổ chức của những người tỉnh thức, vui sống trong tình thân hữu, không màn đến những vấn đề được mất, hơn thua,… vui với những niềm vui của người, buồn với những cái đau thương của đời; không thấy đâu là ranh giới giữa người và ta; không ranh giới trên phương diện hình thức lãnh thổ quốc gia, gia đình, tổ chức,… không cả ranh giới ý thức hệ lẫn tâm hồn, trãi dài cả pháp giới mênh mong trong vô lượng vô biên vi trần quốc độ.”
                 6. Hoà đồng trên nguyên tắc nhận thức (Kiến hòa đồng giải: 見和同解; Doctrinal unity in views and explanations):
Thành tựu mọi tri kiến, hợp nhất mọi nhận thức trong cộng đồng đệ tử Đức Phật, không những nâng đỡ nhau về đời sống vật chất mà còn giúp nhau trong cuộc sống tinh thần về tri thức, tri kiếnhiểu biết. Đạo Phật được nhìn nhận là đạo của trí tuệtừ bi; chính vì vậy mà ngay cả Đức Phật, Ngài cũng không độc quyền chân lý giác ngộ mà Ngài dạy rằng: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”; thành Phật trước hoặc thành Phật sau đều cùng một ý nghĩagiác ngộ chân lý, thoát ly mọi hệ lụy khổ đau của cuộc đời. Mọi Phật tử luôn luôn với tâm nguyện: “Đệ tử và tất cả chúng sinh đều trọn thành Phật đạo”. Đây là nguyên lý cuối cùng của Lục hòa cộng trụ, nhưng cũng là nguyên lý bao quát nhất trong tất cả các nguyên lý trên trong nguyên tắc ứng xử trong đời sống cộng đồng đệ tử của Đức Phật.

         III. KẾT LUẬN:

         Nhìn chung, những nguyên tắc sống trên (Tứ nhiếp pháp & Lục hoà) là hành vi ứng xử cao thượng của một nhà lãnh đạo đối với cộng đồng, được xem là bí quyết để thu phục nhân tâm. Điều đó đã chứng minh bằng sự thành công của Cư sĩ Hattaka trong vai trò lãnh đạo chúng cư sĩ năm trăm người. Đặc biệt, chúng ta không thể không nghiêng mình bái phục khả năng xuất chúng trong việc vận dụng và điều hành cộng đồng Giáo hội Tăng già một cách thông suốt, chặt chẽ, tinh nghiêm, tự giác, nhất là tính dân chủ rất cao.
Như ông Lord Zetland, một học giả người Anh đã nhận xét: “Và rất nhiều người ngạc nhiên được biết rằng những nguyên tắc sơ đẳng trong quốc hội của chúng ta (Anh quốc) ngày nay đã có sẵn trong Giáo hội Phật giáo Ấn Độ cách đây hơn hai ngàn năm về trước.” (And it may come as a surpose to many to learn that in the Assemblies of the Buddhism in  two thousand years and more age to be found the rudiments of our own Parliamentary practice of the present day.)([5])
         Tinh thần Lục hoà và Tứ nhiếp là một nếp sống đẹp để xây dựng đời sống cộng đồng. Sáu nguyên tắc sống hoà hợp này được xem như là bản hiến pháp đầu tiên trong Phật giáo, với tinh thần thoả thuận chung rất cởi mở, tự doý thức. Thiết nghĩ, nguyên lý sống này không riêng gì nếp sống đạo mà nó thích ứng trong mọi gia đình, học đường và bất cứ hoạt động tổ chức xã hội nào. Cho dù các nhà xã hội học có vận dụng phương thức hiện đại về tổ chức như thế nào đi chăng nữa cũng không sao vượt qua được các nguyên tắc trình bày trên. Cách đây trên 25 thế kỷ về trước mà Phật giáo đã có một tinh thần xã hội mang tính hiện đại như vậy. Ngót 3 ngàn năm qua mà tinh thần truyền thống cộng đồng Tăng già này vẫn còn được bảo lưu rất tốt ở các nước  truyền cũng như Bắc truyền Phật giáo.


[1] Tăng chi VI, phẩm gia chủ, bd. HT, Thích Minh Châu, 1992, tr. 582-583

[2] Trung bộ III, số 104, Kinh Sāmagām; Trung bộ I, Kinh Kosambi; Kinh Tăng chi IIB, số 157, K. Hoàng lô viên

[3] Vinaya Text, Pātimokkha, Motilal Banarsidass, 1968, P. 68; Phật dạy: "Tỳ kheo hội họp có 2 việc cần phải làm: nói năn như  pháp (P:Saṅkilesadhammo samāno pariyesati) hay im lặng như pháp (P:Saṅkilesadhammañ-ñeva pariyesati)" (Maj.I, No.26

[4] Majjhima I, No 26, Ariyapariyesanasuttaṃ, Pāli Text Society, 1954, P. 205

[5] Teachings of the Buddha, edited by Jack Kornfield, , 1996, PP. 75-76




Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 181459)
01/04/2012(Xem: 27105)
08/11/2018(Xem: 7215)
08/02/2015(Xem: 38840)
25/07/2011(Xem: 103891)
10/10/2010(Xem: 100966)
Trí tuệ và từ bi có phải chỉ riêng nhân loại mới có? Hay là, loài vật cũng có trí tuệ và từ bi, nhưng ở mức sơ khai hơn? Cuộc nghiên cứu mới đây về heo rừng cho thấy những bất ngờ về mức độ cao của khôn ngoan và tình thương nơi một trường hợp khảo sát.
Vào ngày 24 tháng 7 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Ấn Độ Narendra Modi cho biết, tư tưởng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rất phù hợp khi nhân loại đang đối mặt với cuộc khủng hoảng bởi đại dịch Covid-19, và khẳng định rằng Ấn Độ đã chỉ ra cách đối mặt thử thách với khó khăn nhất, bằng cách tuân lời vàng ngọc của Đức Phật, người sáng lập đạo Phật.
Xin mời quý độc giả xem bản PDF thông cáo báo chí của Hội Đồng Quản-Trị GHPGVNTTG và di huấn của cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu sau đây: