Giải Thích Chương Trí Tuệ Siêu Việt Của Con Đường Bồ-tát Của Tịch Thiên

24/12/20214:07 SA(Xem: 875)
Giải Thích Chương Trí Tuệ Siêu Việt Của Con Đường Bồ-tát Của Tịch Thiên

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
GIẢI THÍCH CHƯƠNG TRÍ TUỆ SIÊU VIỆT
CỦA “CON ĐƯỜNG BỒ-TÁT” CỦA TỊCH THIÊN.
(2) Phê phán quan điểm Duy Thức
Bản dịch Việt: Đặng Hữu Phúc (2021)

The Dalai Lama. Transcendent WisdomBản dịch Anh: The Dalai Lama. Transcendent Wisdom. Translated by B. Alan Wallace. Snow Lion Publication (1988, 1994, 2009)

15. [Nhà Duy Thức:] Khi mà nhận thức sai lạc không còn tiếp tục, huyễn tượng được xác định bởi cái gì?

    Bởi vì các nhà Trung Quán bác bỏ tồn tại thực hữu của tất cả các thực thể, vậy thì giác trí về tợ-huyễn sắc và các thanh, hương,.. phải là không có yếu tính tự hữu (Since the Centrists deny true existence of all entities, then the awareness of illusion-like forms and so forth must be devoid of an intrinsic identity). Thế nên khi một nhà Duy Thức nghe rằng một sự vật chẳng có một yếu tính tự hữu (intrinsic nature), ông ta kết luận rằng nó hoàn toàn không tồn tại. Và do vậy nhà Duy Thức hỏi: Nếu ngay cả nhận thức (cognition) về một huyễn tượng không còn tiếp tụcdo bởi cái gì mà huyễn tượng được biết? Hệ quả là sẽ chẳng xác định được một cái gì cả (The implication is that it would be ascertained by nothing at all). Đối với điểm này nhà Trung Quán trả lời:

 

16. [Nhà Trung Quán:] Nếu đối với ông huyễn tượng tự nó không tồn tại, vậy cái gì được nhận thức? [Nhà Duy Thức:] Nói chính xác, sự-vật là một phương diện của tâm, mà tâm là chủ thể nhận thức, trong thật tại nó tồn tại như là một sự vật khác hẳn 

16. If for you an illusion itself does not exist, what is apprehended? [Yogacarin) Even if it is an aspect of the mind itself, which is the apprehender, in reality it exists as something different.

    Nhà Duy Thức: Các đối tượng ngoại giới không tồn tại. Tất cả các thực thể khả hữu đều có bản chất của chủ thể tâm (subjective mind). Chúng là các yếu tính của tâm, chẳng có bất kỳ các yếu tính khác. Chúng tôi những nhà Duy Thức khẳng định theo nguồn kinh điển của chúng tôi rằng ba cõi của tồn tại (dục giớisắc giớivô sắc giới) đều có bản chất của tâm.

 

    Nhà Trung Quán: Theo ông, nếu các thực thể tồn tại trên phương diện đối ngoại, như chúng trình hiện, chúng sẽ không là hư huyễn. Nếu chúng không tồn tại trên phương diện đối ngoại, tuy vẫn có các trình hiện (appearances), chúng sẽ chẳng có một yếu tính tự hữu; và trong quan điểm của ông điều đó sẽ làm cho chúng hoàn toàn không tồn tại (utterly non-existent). Trong trường hợp đó, nếu huyễn tượng tự nó không tồn tại, vậy thì sẽ không có một sự vật gì để khẳng định.

 

    Nhà Duy Thức: Trong thật tại, một thực thể không tồn tại trên phương diện đối ngoại như nó trình hiện. Các hiện tượng, tỉ dụ, sắc (thanh, hương...) tồn tại một cách khác – trong vai trò là các yếu tính của tâm, và tâm nhận thức chúng. Như vậy chúng không tồn tại như là các đối tượng ngoại giới, cũng không hoàn toàn là không tồn tại.

 

17.[Nhà Trung Quán:] Nếu tâm tự nó là một huyễn tượng, vậy thì cái gì được nhận thức bởi cái gì?  Đấng Bảo Hộ Thế Giới đã tuyên bố rằng tâm không tự biết tâm. Cũng như một lưỡi gươm không thể cắt chính nó, thế nên với tâm, tâm không tự biết tâm.

 

    Nhà Trung Quán: Quý vị là các nhà Duy Thức chủ trương rằng tâm có cùng bản chất với đối tượng mà nó nhận thức. Nếu chủ thể và đối tượng là đồng nhất, làm cách nào bất kỳ sự vật gì được nhìn thấy bởi bất kỳ sự vật gì? Các bản kinh cũng luận bác tính khả hữu của một sự vật nhận thức chính nó. Trong kinh Đại Bảo Tích (“Crown Jewel Discourse”) Đức Phật khẳng định rằng tâm không tự biết tâm. Tâm không thể tự biết tâm, cũng như một lưỡi gươm không thể cắt chính nó.

 

18. [Nhà Duy Thức:] Tâm chiếu sáng chính nó, cũng như một ngọn đèn chiếu sáng chính ngọn đèn. [Nhà Trung Quán:] Một ngọn đèn không chiếu sáng chính ngọn đèn, bởi vì nó không bị bóng tối che lấp.

 

    Nhà Duy Thức: Cũng giống như một ngọn đèn chiếu sáng bóng tối đang bao quanh, thế nên nó chiếu sáng chính nó. Có một giả định hiểu ngầm rằng nếu nó không thể chiếu sáng chính nó, nó không thể chiếu sáng bất kì gì khác. Cũng giống như thế, cũng như năng lực nhận thức/ giác-trí (Skt. buddhi; awareness) nhận thức về các đối tượng khác, thế nên nó tự biết chính nó.

 

    Nhà Trung Quán: Nói rằng một ngọn đèn chiếu sáng chính nó thì không hợp với thế tục. Tại sao? Bởi vì ngọn đèn không có tính chất của bóng tối. Nếu bóng tối hiện diện, nó có thể bị trục xuất, nhưng vì bóng tối chẳng có trong ngọn đèn, thật là vô nghĩa khi nói về một ngọn đèn chiếu sáng chính nó. Điểm này được thảo luận đầy đủ trong Trung Luận của ngài Long Thọ.

 

19. [Nhà Duy Thức:] Một vật màu lam không cần đến một vật khác để làm nó có màu lam, nhưng một viên pha lê cần. Thế nên, tâm được thấy đôi khi tùy thuộc vào một cái khác, đôi khi không.

 

    Nhà Duy Thức: Tỉ dụ, nếu bạn đặt một viên pha lê trong suốt trên một cái nền màu lam, trình hiện màu lam (blue appearance) của nó sẽ tùy thuộc trên chất thể khác có màu lam. Bây giờ một vật tỉ dụ một viên ngọc lưu ly thì màu lam ngay từ chính khi nó được tạo lập, thế nên màu lam của nó không tùy thuộc trên chất thể khác có màu lam. Cũng vậy, có hai trường hợp, sự tùy thuộc và sự không tùy thuộc vào một đối tượng khác, thế nên có các nhận thức tuỳ thuộc vào các đối tượng khác tỉ dụ sắc, thanh ... trong khi các nhận thức khác chú trọng hướng nội và chỉ nhận thức về giác-trí (perceives awareness only).

 

    Nhà Trung Quán: Để xác định sắc (thanh, hương..) và các thứ tồn tại hoặc không tồn tại, điều tất yếu là có một nhận thức chính xác (verifying cognition): Nếu một sự vật có thể được nhận thức bởi một nhận thức chính xác, nó tồn tại; nếu nó không thể, nó không tồn tại. Trong sự kiện “một sự vật mà nó có thể được xác định bởi một nhận thức chính xác” là tướng (definition) của một sự vật có một căn bản trong thật tại. Tất cả các học phái Phật giáo đều đồng ý về điểm này.

    Thế nên, nếu không có nhận thức chính xác để an lập sự tồn tại của một sự vật, bạn không thể khẳng định (claim) rằng nó tồn tại. Khi bạn khẳng định rằng có một nhận thức chính xác về một sự vật, tỉ dụ một sắc tướng khách quan (objective form), bạn không thể chứng tỏ rằng nhận thức đó là chính xác khi mà chỉ dựa trên các căn cứ rằng nó có một đối tượng (on the grounds that it has an object); bạn cũng chẳng thể khẳng định rằng đối tượng đó tồn tại khi mà chỉ dựa trên các căn cứ rằng nó được nhận thức (on the grounds that it is apprehended). Đó sẽ là lý luận quanh quẩn (circular reasoning). Vấn đề này sinh khởi do các nhà Thực Tại Luận (Realists; nhà Thực Hữu) không có khả năng an lập sự tồn tại của một đối tượng và tính năng chính xác (the verifiability) của một nhận thức một cách thuần túy trên một căn bản thế tục / thường nghiệm. Như vậy để an lập tính chính xác (the validity) của một nhận thức của bạn, bạn sẽ cần một nhận thức chính xác khác để tri nhận nó… và một cái khác nữa sẽ được cần đến để an lập tính năng chính xác của nó, kéo dài vô tận (its verifiability, ad infinitum). Đây là một tiếp cận có tính ngụy biện (fallacious approach).

    Như vậy, nhà Duy Thức nói về một nhận thức chính xác, tự xác định nó, và nhận biết các nhận thức chính xácNhận thức đó an lập tính năng chính xác của các nhận thức (Thus, the Idealist speaks of a self- ascertaining, verifying cognition that apprehends verifying cognitions. That cognition establishes the verifiability of cognitions) (cognition: nhận thức; tiến trình nhận thứctrí năng). Tỉ dụ, nhận thức hình ảnh về các sắc tướng (the visual perception of form) thì tùy thuộc vào một đối tượng khác. Nhưng một loại khác của giác-trí nhận biết chính nó và không tùy thuộc vào một đối tượng khác: Chủ thể thấy (năng kiến) và cái được thấy (sở kiến) đều là không khác biệt.
(For example, the visual perception of form is dependent upon another object. But another type of awareness apprehends itself and does not depend upon another object: The seer and the seen are not different).


20.
[Nhà Trung Quán:] Một vật không là màu xanh lam, nó không thể tự làm nó thành màu xanh lam. Có màu xanh lam nào do tự nó có thể làm nó màu xanh lam không?

 

    Nhà Trung Quán: Màu xanh lam của lưu ly được tạo nên bởi các duyên khác; nó không được tạo nên bởi chính nó.

 

21. [Nhà Duy Thức:] Phát biểu một ngọn đèn chiếu sáng thì do sự nhận biết điều này với giác-trí (awareness). Phát biểu tâm chiếu sáng do sự nhận biết điều này bởi giác-trí nào? 

(The statement that a lamp illuminates is made upon knowing this with awarenes. The statement that the mind illuminates is made upon knowing this by what awareness?)

 

    Nhà Trung Quán: Về sự phân tích, một giác-trí đi trước (a prior awareness) không nhận biết ý nghĩa một giác-trí trong hiện tại mà nó chưa sinh khởi vào thời điểm của giác-trí đi trước. Một giác-trí đi sau không nhận biết ý nghĩa một giác-trí đã sinh khởi và đã qua đi. Một giác-trí trong hiện tại không thể là cả hai một chủ thể và đối tượng của chính nó. Như vậy, theo một hệ thống xác định một đối tượng được đặt tên (designated object) được tìm thấy do sự phân tích, sử dụng nhận thức nào mà giác-trí được nói là thông giải? (Thus, according to the system that asserts that the designated object is found upon analysis, by means of what cognition is awareness said to be clear?)

 

22. [Nhà Trung Quán:] Nếu không có chủ thể nhận thức thì chẳng có lợi ích gì để thảo luận tâm đang chiếu sáng hoặc không chiếu sáng, cũng như thảo luận về vẻ đẹp của con gái của một phụ nữ vô sinh.

 

    Nhà Trung QuánChúng tôi công nhận sự bất khả tìm thấy theo phương pháp phân tích về các quy chiếu được truy tìm, và chủ trương rằng không có một nhận thức nào nhìn thấy điều này (no cognition that sees this); thế nên bạn không thể khẳng định nó đang chiếu sáng hoặc không. Nó sẽ giống như nói về vẻ đẹp của con gái của một người đàn bà vô sinh -- không có nơi nào để tìm thấy đứa con gái.

    Nhà Duy Thức: Giác-trí chiếu sáng chính nó là cần thiết, như đã khẳng định ở trên; và sự khẳng định này thì được cần đến để an lập nhận thức chính xác. Như vậy có tự-tri giác-trí (Skt. svasamvitti; self-cognizing awareness; unmediated self-awareness).

 

23. [Nhà Duy Thức] Nếu tự-tri giác-trí không tồn tại, làm cách nào tâm thức được hồi tưởng?

[Nhà Trung QuánHồi tưởng là do sự liên kết với nhận biết về một trải nghiệm khác, tương tợ hồi tưởng đã bị nhiễm độc do vết cắn của chuột.

 

    Nhà Duy Thức: Để cho hồi tưởng duyên hội xuất hiện, phải có trải nghiệm trước đó. Không có trải nghiệm trước đó thì không thể có hồi tưởng. Có hai phân loại là tự-thể trải nghiệm (self-experience) và tha thể trải nghiệm (other-experience). Nếu trải nghiệm [của tâm thức bạn] là một tha thể trải nghiệm -- nghĩa là một trải nghiệm về một thực thể khác -- tiến trình đi ngược vô tận duyên hội tiếp theo (infinite regress ensues). Thế nên, trải nghiệm như thế phải là tự thể trải nghiệm [nghĩa là giác-trí về một thực thể, và thực thể có cùng bản chất như tự thể giác-trí]; [i.e. an awareness of an entity that is of the same nature as the awareness itself]. Như vậy, trải nghiệm phải là trong đó có giác-trí về chính nó, nếu khác đi hồi tưởng không thể duyên hội xuất hiện. Tỉ dụ, từ một trải nghiệm trước đây về màu lam, về sau duyên hội xuất hiện hồi tưởng về đối tượng -- màu lam -- và hồi tưởng của chủ thể -- “Tôi đã nhìn thấy màu lam”. Thế nên cùng chung với một trải nghiệm trước đó về đối tượng, đã có một tự-tri giác-trí của chủ thể -- tri nhận thị giác về màu lam. Trong cách thức này có thể duyên hội xuất hiện một hồi tưởng về sau rằng “Tôi đã nhìn thấy màu lam”.

    Nhà Trung Quán: Không có chuyện cần phải trải nghiệm một sự vật để sau đó được nhớ lại. Tỉ dụ, trong khi bạn ngủ, bạn không nhận biết bị chuột cắn và do đó bị nhiễm độc. Mặc dầu bạn trải nghiệm bị cắn, bạn không trải nghiệm sự xâm nhập của chất độc vào trong cơ thể của bạn. Mặc dù điều đó không được tri nhận, nhưng về sau, khi hiệu quả của chất độc được cảm thấy, bạn hồi tưởng trong lúc không nhận biết, chất độc đã xâm nhập.

    Cũng giống vậy, do tri nhận về màu lam, về sau bạn nhớ lại tri nhận thị giác về màu lam, nhưng để cho điều đó duyên hội xuất hiện đã không cần thiết là tri nhận đó trải nghiệm chính nó. Làm cách nào hồi tưởng đó sinh khởi? Về trải nghiệm đối tượng khác -- màu lam -- do vì sự liên kết giữa chủ thể và đối tượng, hồi tưởng [của chủ thể] duyên hội xuất hiện. Thế nên không cần trải nghiệm chủ thể trước nhất (So there is no need first to experience the subject).

 

24. [Nhà Duy Thức] Trong một nhân duyên khác, tâm nhận biết các tâm niệm của các kẻ khác, thế nên tâm cũng phải tự tri tâm niệm của nó.

[Nhà Trung Quán] Sử dụng một thuốc thoa mắt thần diệu có thể nhìn thấy cái bình bị chôn dấu, nhưng kẻ đó sẽ không nhìn thấy thuốc thoa mắt.

 

    Nhà Duy Thức: Khi thành tựu tịnh chỉ thiền, nhận biết các tâm niệm của các người ở xa là chuyện khả thi. Như vậy, tâm bạn tự tri tâm bạn là khả thi.

[Chú thích của bản dịch Anh. Phương pháp tu tập thắng trí này, có ghi trong Buddhaghosa. Thanh Tịnh Đạo .Chương XIII. Thắng Trí. Tha Tâm Trí, Đoạn 8-12]

    Hãy thông hiểu điểm chủ yếu đang được luận bác ở đây. Điều này nói đến sự luận bác về [lý thuyết của Duy Thức về] tâm nhận thức chính nó. Tỉ dụ, bạn phải nhớ rằng đào luyện tịnh chỉ thiền được đặt tiêu điểm trên tâm là chuyện khả thi. Thảo luận này xem xét một nhận thức tự nhận thức chính nó (This discussion concerns a single awareness perceiving itself). Một lần nữa, lập luận của nhà Duy Thức là rằng quan sát các tâm niệm của các hữu tình khác ở xa là khả thi, thì sẽ không sai lầm trong phát biểu rằng giác-trí (awareness) nhận thức chính nó, vì nó ở ngay đây.

    Nhà Trung Quán: Sự kiện bạn có thể nhìn thấy một sự vật xa xôi không nhất thiết hàm ý rằng bạn có thể nhìn thấy một sự vật khác gần bên. Tỉ dụ, bằng cách sử dụng một loại thuốc thoa mắt đặc biệt, bạn quan sát một bình châu báu chôn dấu trong lòng đất là một chuyện khả thi; nhưng thuốc thoa mắt thì chính nó sẽ không được nhìn thấy. Theo sự thông hiểu của chúng tôi về tính năng bất khả tìm thấy khi phân tích về các sự vật quy chiếu được truy tìm, thì giác-trí chẳng thể quan sát chính nó (According to our understanding of the analytic unfindability of sought referents, it is not possible for awareness to observe itself). Khi bạn phân tích các thời điểm trước và sau của giác-trí và tìm kiếm đối tượng được đặt tên (designated object), thì không thể tìm thấy được. Trong cách này, trình bày của nhà Duy Thức sụp đổ, nghĩa là không thể áp dụng vào thật tại.
Nhà Duy Thức: Có phải quý vị Trung Quán luận bác toàn bộ trình bày về nhận thức, gồm cả trải nghiệm, thấy và nghe về các biến cố? Nếu quý vị theo lập trường nói trên [giác-trí không thể tự-tri], điều này làm vô hiệu giác-trí (If you take the above stance [with regard to self-cognizing awareness], this invalidates awareness).

 

25. [Nhà Trung Quán:] Cách thức trong đó sự vật được thấy, nghe, hoặc nhận thức không bị luận bác ở đây, nhưng sự phóng chiếu kiến lập tồn tại tự hữu của sự vật, mà nó là nguyên nhân của đau khổ, thì bị bác bỏ ở đây.

 

25. The manner in which something is seen, heard, or cognized is not what is refuted here, but the conceptualization of its true existence, which is the cause of suffering, is rejected here.

 

    Nhà Trung Quán: Quan liên tới nhận thức, nếu bạn tìm kiếm đối tượng được đặt tên, nó không được tìm thấy. Nhưng đối tượng được nhận thức thì không bị làm vô hiệu hoặc bị luận bác bởi lý luận như thế. Mặc dầu nó tồn tại, nếu bạn tìm kiếm nó với lý luận (bằng cách áp dụng phân tích tối hậu), nó không được tìm thấy. Nó không tồn tại tự hữu, thế nên khi lý luận tìm kiếm một thực thể tồn tại tự hữu, không có cái gì được tìm thấy. Nhưng dưới một sự phân tích như thế, sự kiện không tìm thấy nó, nói chính xác không do bởi nó phi tồn tại (But the fact that it is not found under such analysis is not because it is simply non-existent).

    Hình thức này của phân tích luận lý có mục đích diệt hoàn toàn khái niệm về tồn tại tự hữu, mà nó tác động như là gốc rễ của ái luyến và tính thù hận và mang đau khổ tới các cá nhân. Nó là lý luận đến từ kết quả của phân tích tối hậu. Nếu cái bị bác bỏ -- một thực thể tồn tại trên phương diện tối hậu -- tồn tại, kết quả là các sự vật sẽ tồn tại theo cách thế tồn tại của chính chúng. Nếu điều đó đúng, kết quả là khi áp dụng phân tích luận lý, các sự vật tồn tại tự hữu sẽ trình hiện chính chúng. Chức năng của sự phân tích như thế là để kiểm tra xem các thực thể tồn tại theo cách thế tồn tại của chính chúng, có hoặc không; thế nên nếu chúng có, điều đó sẽ được khám phá bởi sự phân tích như thế. Nhưng bởi vì sự phân tích như thế cho ra một kết quả tiêu cực, lý luận đó bác bỏ tồn tại trên phương diện tối hậu hoặc tồn tại tự hữu. Đó là sự khác biệt giữa một sự vật không được tìm thấy bằng lý luận, và một sự vật bị làm vô hiệu bằng lý luận.

Ở đây nhận thức không bị bác bỏnói đúng hơn, khái niệm về tồn tại tự hữu, nó là nguyên nhân của đau khổ, thì bị trục xuất.

 

26. [Nhà Trung Quán:] Nếu ông tưởng tượng rằng một huyễn tượng không khác biệt với tâm, cũng không không khác biệt với tâm, trong trường hợp đó nếu nó là một sự vật tồn tại thực hữu, vậy thì cách nào nó có thể là không khác biệt? Nếu nó là không khác biệt, vậy nó không tồn tại thực hữu.

(26. If you fancy that an illusion is neither different from the mind nor non-different, then if it is a really existing thing, how can it not be different? If it is not different, then it does not really exist). [then: 1. the result is, was, etc. that; 2. if that is so]

    Nhà Duy Thức: Vì các đối tượng đối ngoại không tồn tại, chúng không khác biệt với tâm trên phương diện yếu tính. Chúng cũng không tồn tại [trong trạng thái] là tâm. Sắc và các thứ (thanh, hương...) không tồn tại như là các đối tượng đối ngoại, nhưng nói chính xác chúng không là phi tồn tại. Chúng không có một bản chất khác biệt với tâm, chúng cũng không là tâm.

    Nhà Trung Quán: Nếu các đối tượng đối ngoại tồn tại thực hữu, chúng sẽ phải tồn tại trong cách thức chúng trình hiện, và trong trường hợp đó, chúng sẽ phải khác biệt với tâm trên phương diện yếu tính. Nay nếu chúng không khác biệt trên phương diện yếu tính, và nếu các hình ảnh đa loại (manifold images) đều có bản chất thực hữu của một nhận thức đơn biệt, vậy thì các hình ảnh đó sẽ là giả dối. Trong trường hợp đó, nhận thức sẽ không tồn tại trong thật tại. Nếu chúng không khác biệt về phương diện yếu tính, chúng sẽ không tồn tại thực hữu (In that case, the cognition would not exist in reality. If they are not substantially different, they would not truly exist).

27. [Nhà Trung Quán] Cũng như một huyễn tượng có thể được thấy, tuy nó không tồn tại tự hữu, chủ thể quan sát, tâm tuy không tồn tại tự hữu thì cũng được thấy.

[Nhà Duy ThứcSinh tử luân hồi có một căn bản trong tính thật tại; nếu khác thế, nó sẽ giống như hư không.

 

    Nhà Duy Thức: Sắc và các thứ trình hiện như là các đối tượng đối ngoại đều không tồn tại thực hữu; nghĩa là chúng không tồn tại như là các đối tượng đối ngoại. Chúng thì rỗng thông chẳng có tồn tại như thế, và như vậy chúng tương tợ các huyễn tượng. Tuy nhiên chúng được quan sát.

    Nhà Trung Quán: Trong cùng một cách thức, tâm, nó là quan sát viên, trình hiện như là tồn tại thực hữu, nhưng nó không là tồn tại thực hữu. Như vậy, nó cũng có thể được xem là tương tợ huyễn tượng (illusion-like). Thế nên không cần khẳng định (assert) tâm là tồn tại thực hữu (truly existent). Mặc dầu các hiện tượng đối ngoại trình hiện, chúng không tồn tại thực hữu; và như vậy chúng được xem là tương tợ huyễn tượng. Trong cùng một cách thức này, tâm đang quan sát trình hiện nhưng nó thì không tồn tại thực hữu, và thế nên nó được xem là tương tợ huyễn tượng. Do đâu có sự ngụy biện (= tưởng tượng không bằng chứng) trong lý luận như thế? (Where is the fallacy in such reasoning?).

    Nhà Duy ThứcSinh tử luân hồi, các sắc thể (forms), các thực thể giả danh/giả định (imputed entities) và các thanh, hương...(and so on) đòi hỏi một căn bản tồn tại thực hữu cho trình hiện giả dối (a truly existent basis for their deceptive appearance). Đó là, mỗi sự vật phải có một căn bản trong thật tại. Nếu chúng chẳng có một căn bản như thế, chúng sẽ tương tợ hư không. Như vậy chúng sẽ không là khởi nguồn của hoặc lợi ích hoặc tổn hại.

 

28. [Nhà Trung Quán:] Làm cách nào một sự vật mà nó không tồn tại vẫn có hiệu quả nhân duyên bằng cách đặt căn cứ trên một sự vật thực hữu? Ông đã tiếp cận tâm như là một đồng nhất thể đơn biệt mà các sự vật đi chung đều không tồn tại.

28. [B.A. Wallace 1979:] Since the dependence on reality is of a non-real [thing], could it have any efficiency? The mind, according to you, is reduced to a state of isolation without any accompaniment.

28. [Vesna A. Wallace and B.A. Wallace 1997:] How can something that does not exist have any efficacy by being based on something real? You have approached the mind as being an isolated unity.

28.(Kate Crosby and Andrew Skilton 1995) [our reply is] How could something non-existent gain causal efficiency by being based on something real? For, according to you, the mind is reduced to isolation, accompanied by things which do not exist.

    Nhà Trung Quán: Nếu sinh tử luân hồi và các thứ, là phi thực, tuỳ thuộc vào một căn bản thực hữu của trình hiện giả dối của nó, làm cách nào chúng có thể có bất kỳ chức năng nào? Ông nói rằng nếu chúng không tuỳ thuộc vào một căn bản như thế, chúng sẽ không có chức năng về trói buộc hoặc giải thoát các hữu tình; và không thể có một khả thi thay thế tốt hơn trong một cái có một căn bản như thế. Bởi vì nếu không thể có thay đổi, sẽ không có nô lệ (bondage) hoặc giải thoát.

    Nếu không có các đối tượng đối ngoại, vậy tâm, như ông khẳng định về nó, sẽ bị biệt lập trong nhận thức tự-chiếu, tự-tri chính nó, mà chẳng có đoàn đồng hành của trình hiện giả dốinhị nguyên được kiến lập bởi chủ thể và đối tượng.

(If there were no external objects, the mind, as you assert it, would be isolated in its own self-illuminating self-cognition, without the accompaniment of the dualistic, deceptive appearance of subject and object)

 

29. [Nhà Trung Quán:] Nếu tâm cách tuyệt bất kỳ đối tượng được nhân thức, kết quả là tất cả các hữu tình đều sẽ là Chư Như Lai. Như vậy bằng cách đề khởi chỉ có tâm tồn tại [= duy tâm, duy thức], thì đạt được tốt đẹp nào?

 

    Nhà Trung Quán: Nếu tâm chẳng có trình hiện nhị nguyên của chủ thể và khách thể -- tỉ dụ, trong trạng thái tịnh chỉ thiền -- kết quả là tất cả các hữu tình sẽ là Chư Như Lai [Chư Phật] từ lâu rồi. Bằng cách không chấp nhận cái nền tảng kiến lập bởi trình hiện nhị nguyên, họ sẽ cư trú trong cảnh giới của thật tại / pháp tính và sẽ đúng là Chư Như Lai rồi (By turning away from the basis of dualistic appearance, they would abide in the sphere of reality and would have become Tathagatas already) (become: be suitable or right for).

    Nếu điều đó đúng, cái gì là điểm chủ yếu trong sự thành lập quan điểm Duy Thức của ông để thoát khỏi sự nô lệ kiến lập từ các phiền não chướng?

-------------------------------------------------------------------------------
Chú thích
Thuật ngữ Anh – Việt
imputedly existent = prajnaptisat = thi thiết; giả thiết; giả định; tồn tại giả định
awareness: buddhi; giác-trí; giác minh
consciousness: jnana/vijnana = trí; thức; thức trí; tâm thức
wisdom:
prajna/jnana= trí bát nhã; trí
reference point:prapanca
= hý luận; luận theo quy chiếu nhị nguyên; cấu trúc của tưởng/ cấu trúc của tưởng trí
freedom from reference points: nisprapanca
= không hý luận ; không luận theo quy chiếu nhị nguyên
self-consciousness: svasamvedana vjnana = tự-tri thức
knower: samvedana = năng tri
self-knowing: svasamvedana= tự-tri
self-cognizing awareness; unmediated self-awareness = svasamvitti = tự-tri giác-trí
-----------
Chú thích 1. thật tướng (實相) Phm: Dharmatà bhùta-tathatà.
Vốn có nghĩa là bản thể, thực thể, chân tướng, bản tính...; từ đó được khai triển để chỉ cho thể tướng chân thực bất hư của tất cả muôn pháp, hoặc lí pháp chân thực, lí bất biến, chân như, pháp tính...

Đây là nội dung giác ngộ của đức Phật, hàm ý là chân thực bản nhiên; tất cả danh từ: Nhất như, thực tính, thực tế, chân tính, Niết bàn, vô vi, vô tướng... đều là tên khác của Thực tướng.
Vì hết thảy hiện tượng mà thế
tục nhận biết đều là giả tướng, chỉ khi nào thoát khỏi sự nhận biết của thế tục mới hiển bày được cái tướng trạng chân thực thường trụ bất biến của các pháp, cho nên gọi là Thực tướng.

Cứ theo kinh Đại bát niết bàn quyển 36 (bản Nam) và luận Đại trí độ quyển 32 thì tất cả tướng sai biệt của các pháp (như tướng cứng của đất, tướng ướt của nước, tướng nóng của lửa) đều là hư giả, tất cả đều có thể phá hoại; trái lại, Thực tướng mà trí vô lậu chứng được thì lìa các tướng hư giảbình đẳng nhất như. Nếu còn vọng tâm thì không thể nào thấy được thực tướng.

Trong các dịch phẩm của ngài Cưu ma la thập, Thực tướng cũng bao hàm ý nghĩa Không, từ ngài Long thụ về sau thì Thực tướng được xem là nội dung Chân đế của Phật giáo. Còn thuyết Chư pháp thực tướngtiêu biểu (tức pháp ấn) của Phật giáo Đại thừa cũng chính là đối lại với Tam pháp ấn (Vô thường, Vô ngã, Niết bàn) của Phật giáo Tiểu thừa mà được thành lập và được gọi là Thực tướng ấn.

Tướng trạng chân thực của tất cả các pháp gọi là Chư pháp thực tướng, tuy nội dung chư pháp thực tướng tùy theo các tông mà có khác nhau, nhưng phán đoán theo lập trường của mỗi tông, bất cứ pháp nào hễ được xem là tối hậurốt ráo thì đều dùng từ Thực tướng để biểu thị. Tướng trạng của thực tướng thông thường cho rằng không thể dùng lời nói để diễn đạt, hay tâm trí để suy lường được.

Từ sự phát triển của lập trường này, đến tông Thiên Thai thì lấy việc phát hiện ra tự ngã hoàn toàn nhất, gọi là Chư pháp thực tướng, cũng tức là dứt bặt sự sai khác giữa bản chất (Lí) và hiện thực (Sự), một thế giới trong đó tất cả các pháp hoàn toàn dung hợp, điều hòa, phàm phu trong cõi mê cũng có khả năng thể hiện cảnh giới Phật giác ngộ cao siêu, nêu tỏ tinh thần hiện tượng tức thực tại, sai biệt tức bình đẳng.

Thiền tông cho rằng Chư pháp thực tướng là sự hiện thành của Phật Tổ hoặc bản lai diện mục; tông Tịnh độ thì lấy danh hiệu của Phật A di đà làm Thực tướng pháp; Mật tông thì có thuyết Thanh tự thực tướng.

Còn tông Nhật liên của Nhật bản thì giải thích thực tướngđề mục của Bản môn, dẫn thực tướng của chân như đến hiện thực, bàn về sự dung hợp tương tức của cả 2, đây chính là từ mặt lí luận mà nói rõ thái độ khẳng định hiện thực của Phật giáo Đại thừa.

[X. Trung luận Q.3; Đại bát niết bàn kinh sớ Q.33; Chú duy ma cật kinh Q.3; Đại nhật kinh sớ Q.1; Vãng sinh luận chú Q. hạ; Duy ma kinh nghĩa kí Q.4, phần cuối; Pháp hoa kinh văn cú kí Q.4 trung].

Tự Điển Phật Quang. Thích Quảng Độ dịch

---------
Chú thích 2 -- Awareness

1.1. Awareness thông thường có nghĩa là nhận biết sáng tỏ /tính biết /tính giác/giác-trí -- knowing hoặc --being aware, và trong ngữ cảnh phật học thì từ gốc Sanskrit là –Vidya (tính giác).

1.2. Vidya (minh / giác) có mấy nghĩa chính:

1. as a general term encompassing all experiences of consciousness and mental events : thuật ngữ tổng quát bao gồm tất cả các kinh nghiệm của thức và các tiến trình tâm ý

2. as intelligence or mental aptitude: thông tuệ hoặc khả năng tâm ý.

3. as a science or knowledge-based discipline: một khoa học hoặc chuyên ngành về nhận thức học.

4. as a pure awareness: thanh tịnh giác (bản giác, …) 

1.3. Giác: có nhiều nghiã. || Nghĩa V: Tên gọi chung của tâm và tâm sở. Đây là cái biết của tâm, tâm sở khi duyên theo cảnh (đối tượng)

[Phật quang Đại Từ Điển.Thích Quảng Độ dịch, in năm 2000, trang 1936]
__________________

1.4. Awareness: the original state of mind, fresh, vast, luminous, and beyond thought. = minh, giác, tính giác, giác trítrạng thái khởi nguyên của tâm, tươi tắn, mênh môngquang minh (= phát sáng), và vượt ngoài niệm tưởng (= vượt ngoài tâm niệm )

1.5. Awareness: On the subtlest level, awareness in the form of wisdom can be associated with colors, forms and even energies and subtances, such as the subtle neurotransmitter red and white drops in the subtle body.
*
More usually, awareness is differentiated from the material realm, and a complex mind-matter dualism is sustained as a way of keeping mindful of the elusive nature of reality, ever resisting the naïve reductionism of dogmatic theorists.(The Tibetan Book of the Dead. Translated by R.A.F. Thurman
, 1994)

Tạm dịch:  giác, tính giác, nhận biết sáng tỏ, tính biết: Ở trên mức độ vi tế nhất, tính giác trong sắc thái của trí tuệ bát nhã có thể đi với những màu sắc, những hình tướng, và ngay cả những năng lượng và những chất liệu, tỉ dụ những giọt vi tế tín hiệu thông chuyển thần kinh màu đỏ và trắng trong thân vi tế.

*

Gần như luôn luôn, tính giác  thì được phân biệt:

(1) với cõi vật chất,

(2) và được phân biệt với vật chất và phức hợp tâm trí-vật chất do chủ trương nhị nguyên bảo dưỡng, và tính giácvai tròcon đường duy trì chánh niệm về bản chất lửng của thật tại –“cho nghìn sau ...lơ lửng với nghìn xưa...”

(3) tính giác luôn luôn được phân biệt chống lại chủ nghĩa thu giảm ngây thơ của những lý thuyết gia theo chủ nghĩa giáo điều.

-----

Bản chất lơ lửng của thật tại (elusive nature of reality) = illusion-like nature =bản chất tương tợ huyễn tương/ tương tợ chiêm bao;nhưng không là chiêm bao.
---------

Đức Phật có nói, Tôi giảng dạy phân tích, không giảng dạy giáo điều.
------
Chú thích 3 -- Types of awareness:
1. cognizing consciousness (or valid cognizer)
1.1. direct valid cognizer
1.1.1. sense direct valid cognizer
1.1.2. mental direct valid cognizer
1.1.3. yogic direct cognizer
1.2. inferential valid cognizer
1.2.1. inference through the power of the fact
1.2.2. inference through renown
1.2.3. inference through example
1.2.4. inference through scripture
2. non-cognizing consciousness (or non-valid consciousness)
2.1. correct assumption
2.2. doubt
2.2.1. doubt tending toward the fact
2.2.2. equal doubt
2.2.3. doubt not tending toward the fact
2.3. wrong consciousness
2.4. appearing but not ascertained

(Jeffrey Hopkins. Meditation on Emptiness. p. 702)
------------
Chú thích 4 -- Cấu trúc của tưởng
(trích từ Đức Đại Lai Lạt MaTrung ĐạoChánh tín căn cứ trong suy lí. Bài 3. Phân tích Ngã và Vô Ngã)

Nói tổng quát khi chúng ta gặp những thuật ngữ như cấu trúc của tưởng (conceptual elaboration) chúng ta cần nhớ trong tâm trí rằng chúng có các nghĩa khác nhau theo các ngữ cảnh khác nhau. Tỉ dụ, cấu trúc của tưởng có thể quy chiếu về chấp thủ vào tồn tại tự hữu, nhưng nó cũng có thể quy chiếu tới đối tượng được cấu trúc của sự chấp thủ tồn tại tự hữu. Các đối tượng được hữu niệm hoá, được cụ thể hoá như thế không tồn tại ngay cả trên phương diện thế tục / thường nghiệm, và chính những cấu trúc của tưởng này chúng là đối tượng của phủ định trong thiền định tính không.

(Conceptual elaboration, for example, can refer to grasping at inherent existence, but it can also refer to the conceptually constructed object of such grasping. Such conceptualized, reified objects do not exist even on the conventional level, and it is these conceptual elaborations that are the object of negation in emptiness meditation)

 Cấu trúc của tưởng (Elaboration) cũng có thể quy chiếu về khái niệm những sự vật đều rỗng thông (chân không diệu hữu); tính không, như chúng ta sẽ thảo luận sau này, thì chỉ liên lạc trong tương quan tới các sự vật rỗng thông, và cái nền tảng trên đó tính không được xác định phải chính nó tồn tại.

(Elaboration can also refer to the conception of things that are empty; emptiness as we will discuss later, is only coherent in relation to empty things, and the basis upon which emptiness is determined must itself exist)

Cấu trúc của tưởng cũng có thể quy chiếu đơn giản về tồn tại. (Elaboration can also refer simply to existence)

Sau cùng nói đến, chúng ta tìm thấy thuật ngữ cấu trúc của tưởng trong ngữ cảnh gọi là cấu trúc của tưởng về tám cực đoan: sinh và diệt, đoạn và thường, đi và đến, và một và khác. Thế nên thuật ngữ cấu trúc của tưởng có thể nói về nhiều sự-sự vật-vật.

Trong ngữ cảnh ở đây, cấu trúc của tưởng quy chiếu về tâm chấp thủ vào tồn tại tự hữu của các hiện tượng. Khi ngài Long Thọ viết ở đây rằng cấu trúc của tưởng này “chấm dứt xuyên qua tính không”, ngài ý nói rằng trí tuệ thực chứng tính không—và không phải chính tính không – chống lại một cách trực tiếp cách thế thông hiểu về chấp thủ.

(In the context here, conceptual elaboration refers to the mind that grasps at the inherent existence of phenomena. When Nagarjuna writes here that this conceptual elaboration “ceases through emptiness”, he means that the wisdom that realizes emptiness – and not emptiness itself – counters directly the mode of apprehension of grasping).

Ignorance grasps at the inherent existence of all phenomena, whereas the wisdom realizing emptiness negates the inherent existence of phenomena)
[*Chú thích của dịch giả bản Anh ngữ, Thupten Jinpa –Trong cách chia thành hai về đối tượng của phủ định -- đối tượng của phủ định của con đường tu tập và đối tượng của phủ định của tiến trình suy lí -- cấu trúc của tưởng trong hình thức của chấp thủ vào tồn
tại xác thực thì đa số là đối tượng của phủ định của con đường tu tập. Sự cấu trúc của tưởng như thế là một trạng thái tinh thần, đó là lí do được nói nơi đây rằng, chính là sự thực chứng tính không, và không phải chính tính không, dẫn tới sự diệt tận]

Vô minh chấp thủ vào tồn tại tự hữu của tất cả các hiện tượng, trong khi đó trí tuệ thực chứng tính không phủ định tồn tại tự hữu của các hiện tượng.(Ignorance grasps at the inherent existence of all phenomena, whereas the wisdom realizing emptiness negates the inherent existence of phenomena)

Cả hai đặt tiêu điểm trên cùng một đối tượng, nhưng chúng tương quan với đối tượng theo cách thức đối nghịch nhau rõ rệt. Như vậy, chính là do thực chứng tính không mà sự chấp thủ bị xoá bỏ.

-----------

Chú thích 5 -- Nhận thức, đối tượng của nhận thức.

Dưới đây là lời giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở tụng 20:

<< Ngài Tịch Thiên biện luận rằng ngay chính tác hành chiếu sáng thì tuỳ thuộc vào các yếu tố khác -- không thể là một sự chiếu sáng mà chẳng có cái gì được chiếu sáng. Một cách tương tự, không thể có một nhận thức mà không có một đối tượng. Nó sẽ tương tự như nói về người con gái của một phụ nữ vô sinh >>

*
Để hiểu điều này, chúng ta đối chiếu với tri thức khoa học về ánh sáng, bóng tối:

<< “Ánh sáng giúp ta đánh giá được vẻ đẹp, sự lộng lẫy, và hài hoà của vũ trụ quanh ta. Ánh sáng điều chỉnh nhịp sinh học của cơ thể chúng ta. Nhưng ở đây có một nghịch lí lớn: nếu ánh sáng cho phép chúng ta nhìn thấy thế giới, thì bản thân ánh sáng lại không nhìn thấy được nếu không có các vật trong môi trường chặn đường đi của nó và làm cho nó bộc lộ mình. Thật vậy, nếu bạn chiếu ánh sáng vào một cái thùng kín và chú ý để nó không đập vào bất kì vật hay bề mặt nào, bạn sẽ thấy chỉ có bóng tối. Chỉ khi nào bạn đưa một vật ngang qua đường đi của ánh sáng và bạn thấy nó được chiếu sáng thì bấy giờ bạn mới biết rằng cái thùng chứa đầy ánh sáng. Tương tự, một nhà thiên văn học nhìn qua cửa sổ của một phi thuyền không gian sẽ chỉ thấy không gian sâu thẳm tối đen như mực, mặc dù ánh sáng Mặt trời choán đầy xung quanh anh ta. Ánh sáng Mặt trời ở đây không đập vào cái gì nên không nhìn thấy được” >>.

(Trịnh Xuân Thuận. Les voies de la luminière. Librairie Arthème Fayard. 2007 -- Những con đường của ánh sáng. Vật lí và siêu hình học của ánh sáng và bóng tối. Tập I. Phạm Văn Thiều, Ngô Vũ dịch. Nhà xuất bản trẻ, Saigon 2008)
--------------------
Chú thích 6.
Nhà Duy Thức (trích J. Hopkins. Meditation on Emptiness)
     “
Các nhà Duy Thức (Chittamatrins; Mind-Only-ists) được gọi như thế bởi vì họ chủ trương rằng tất cả các hiện tượng đều có bản chất của tâm hoặc thực thể của tâm [Họ cũng được gọi Vijnanavadins (các nhà Duy Thức) và Vijnaptivadins (các nhà Thi Thiết)].
Điều này không tương
tự với đề khởi rằng tất cả các hiện tượng đều là tâm bởi vì các tâm là những chủ thể quan sát của các đối tượng, và nếu tất cả các hiện tượng đều là tâm, [vậy thì] các hòn đá và các thứ sẽ có các đối tượng thiết lập bởi sự quan sát một cách vô lí. 
     Nói thêm một chút, các đối khi xuất hiện trong chiêm bao đều không là cái tâm đang tri nhận chúng nhưng cũng không là các thực thể cách biệt với tâm, thế nên các đối tượng của thế giới đều không là các thức đang tri nhận chúng nhưng cũng không là các thực thể cách biệt với các thức đó
      (
Rather, just as dream objects are not the mind that perceive them but also not separate entities from the mind, so the objects of the world are not the consciousnesses that perceive them but also not separate entities  from those consciousnesses).
*
Một tên khác cho các nhà Duy Thức là các Du già sư (Yogacharins; Practicioners of Yoga)
1. Các nhà Duy thức Kinh điển là học phái phật giáo duy nhất chấp thuận tám thức: năm thức giác quaný thức, một tâm bị nhơ nhuốm phiền não với chủ trương hữu ngã (Skt. klishtamanas = ý = mạt na) và một tạng thức (Skt. alayavijnana = thức alaya = thức a lại da).
2
. Những nhà Duy thức Lý luận và các học phái phật giáo khác chủ trương chỉ có sáu thức; và ý thức (= thức thứ sáu) đảm nhiệm vài chức năng của thức thứ bảy, và thức thứ tám.
*
“1.The Chittamatra Followers of Scripture are the only Buddhist school to accept eight consciousnesses: the five sense consciousnesses, a mental consciousness, a mind afflicted with egoism (Skt. klishtamanas) and a mind-basis-of-all (alayavijnana).
2
. The Chittamatra Followers of Reasoning and all other Buddhist schools assert only six consciousnesses with some of the functions of the seventh and eighth being performed by the mental consciousness.
*
     Định nghĩa của một nhà Duy thức là: một người kính trình học giới thẩm định các kết luận cuối cùng của họ trong nghiên cứu giáo pháp của Phật mà họ sử dụng lý luận để bác bỏ các đối tượng đối ngoại, và họ đề khởi rằng những hiện tượng duyên khởi, tỉ dụ tâm thức, tồn tại thực hữu.
(The definition of a Chittamatrin is: A person propounding Buddhist tenets who uses reasoning to refute external objects and who asserts that dependent phenomena, such as consciousness, truly exist).
[
Jeffrey Hopkins. Meditation on Emptiness. Wisdom, 1996. p.367]
*

Duy
Thức (Mind-only)
Duy Thức (Mind-only) là cốt lõi chính của các giáo pháp Duy Thức; đối với họ nó có nghĩa là không có các đối tượng là các thực thể bên ngoài đối với một thức tri nhận
(Mind-only is the very core of the Chittamatrin teachings; for them it means that there are no objects which are entities external to a perceiving consciousness)
--------------------  

Chú thích 7-- Quan Điểm Trung Quán Hệ Quả / Cụ Duyên về Ba Tính (Meditation on Emptiness -- p. 391-392)

     Các nhà Trung Quán Hệ Quả / Cụ duyên nói rằng Đức Phật giảng dạy rằng các tính viên-thành-thật (thouroughly established nature) và tính y-tha-khởi (dependent nature) tồn tại thực-hữu để vượt qua sự sợ hãi đột ngột nơi những kẻ không thể hiểu cách nào một tính không hoặc một hiện tượng vô thường không thể tồn tại thực-hữu nhưng vẫn tồn tại. Theo các nhà Trung Quán Hệ Quả, căn bản trong tư tưởng Phật là tồn tại thế tục / thường nghiệm của tất cả các hiện tượng, bởi vì các đối tượng được giả-thiết bởi các tên tạm đặt và các tâm-niệm (imputed by terms and thoughts), không thể nào tìm thấy được ở trong các căn bản của giả-thiết, nhưng tồn tại trên phương diện thường nghiệm….
     Trong hệ thống Trung Quán Hệ Quả, sự chẳng có tồn tại với yếu tính tự-hữu là biểu-ngữ thuộc-tính (predicate) của các hiện tượng duyên khởi là tính viên-thành-thật của chúng, xuất hiện trong tri nhận trực tiếp thật tướng (= tồn tại đúng như nó thật sự là) (In the Prasangika system, the absence of inherent existence as a predicate of dependent phenomena is their thoroughly established nature, appearing in direct perception to exist the way it actually does).

     Tính không chẳng phải là một cõi biệt lập với thế giới của các đối tượng nhưng là phẩm tính cao nhất của chúng (Emptiness is not a realm separate from the world of objects but their highest quality). Đức Phật khuyến khích trên phương diện hiểu ngầm các du già sư phát hiện và nhận biếtxuyên qua việc gọi tên nó là viên thành thật tính.

     Bởi vì trong hệ thống Trung Quán Hệ Quả tính không -- sự chẳng có tồn tại với yếu tính tự-hữu (inherent existence; svabhavasiddhi) là bản-tính (nature; svabhava) của tất cả các hiện tượng, nhưng không nên nghĩ rằng tất cả các ý nghĩa của bản-tính (svabhava) đều bị bác. Bản-tính có nghĩa là tồn tại với yếu tính tự hữu thì bị bác bỏ, nhưng bản-tính có nghĩa là bản tính rốt ráo (final nature) hoặc chỉ là “tướng trạng” (“character”), tỉ dụ tướng trạng nóng và cháy của lửa thì đều không bị bác bỏ.

     Tính rốt ráo mà các hữu tình bình thường tưởng tượng trong các hiện tượng duyên khởi (dependent phenomena) là một tồn tại tưởng-tượng (imaginary; tướng biến-kế-chấp), nhưng đối với một vị Phật thì tính rốt ráo hiện hoạt (actual final nature) là một tính viên-thành-thật. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là có hai cách nhìn vào tướng y-tha-khởi, một trong đó một tướng y-tha-khởi chính nó trở thành một tướng biến-kế-chấp và một cách khác trong đó nó trở thành tướng viên-thành-thật. Nói them một chút, tính rốt ráo trong quy chiếu với một hữu tình chưa được giảng dạy (untutored being) là một tướng y-tha-khởi bởi vì người này nhận thức tồn tại tự-hữu của các tướng y-tha-khởi là thật (to be real), và tính rốt ráo quy chiếu tới một vị Phật là tính viên-thành-thật bởi vì một vị Phật liên tục nhận thức chẳng có tồn tại tự-hữu là thật tại / thật tướng / pháp tính / reality của các đối-tượng.

----------
Chú thích 8. Tự-
tri thức-trí (Self-consciousness)

     Theo học phái Trung Quán Hệ Quả, đây là sai khi nói rằng một điểm màu xanh dương và một nhãn thứcnhận biết nó đương nhiên đồng thời được quan sát bởi các chủ thể nhận thức hữu hiệu (valid cognizers), và bởi thế, chúng không là các thực thể dị biệt. Bởi vì không có tự-tri thức-trí (For there is no self-consciousness). Nếu có tự-tri thức-trí, vậy thì chủ thể và đối tượng là một; một con dao có thể cắt chính nó, một ngón tay có thể tiếp xúc chính nó với cái tiếp xúcbị tiếp xúc đồng nhất một cách chính xác. Một ngọn đèn không chiếu sáng luôn cả nó và cái khác, bởi vì ngọn lửa tự thân không có cái bóng tối để dọn cho trống; nó thì sáng do bởi bản chất. Nếu ánh sáng làm sáng ánh sáng, vậy thì bóng tối sẽ che lấp bóng tối trong trường hợp này bóng tối sẽ không được nhìn thấy.
     Ở đây, tự-tri thức-trí (Skt. svasamvedana; self-consciousness) quy chiếu về nhận thức về chính nó của thức-trí [tự chứng phần] đồng thời với nhận thức về đối tượng của nó [tha phần], và không quy chiếu về sự xem xét cảm thọ, suy nghĩ (introspection) hoặc ngắm nhìn mình. Tất cả các hệ thống biện hộ cho sự tin cậy trên sự xem xét tư duy cảm thọ và tự-tri giác-trí (self-awareness) mà chúng là tinh yếu cho thiền định hữu hiệu; trong những trường hợp này tâm đang nhận thức một sát na đi trước của tâm, hoặc một phần của tâm đang nhận thức về cái tâm thông thường (general mind). Ngay trong các hệ thống đề khởi tự-tri thức-trí , nó không là một trợ giúp cho tự-tri giác-trí (self - awareness). Self trong “self-consciousness”/ tự-tri thức-trí nghĩa là thức-trí chính nó (Consciousness ítelf), và không là cá nhân (person). Tự-tri thức-trí là một thức-trí đang nhận thức chính nó trong một phong cách phi nhị nguyên; nó không can dự sự phân tích cái tâm đang đi lang thang hoặc vẫn ở lại với đối tượng.
     Nếu không có tự-tri thức-trí thì không thể chứng tỏ rằng một nhãn thức nhận biết một điểm màu xanh dương được quan sát bởi một tự-tri thức-trí vào cùng thời điểm điểm màu xanh được quan sát bởi một nhãn thức. Do bởi vậy, một bằng chứng giả thiết khác để thiết lập sự phi tồn tại của đối tượng ngoại giới sụp đổ, kết luận đối với các nhà Trung Quán Hệ Quả là rằng một sự dị biệt trong thực thể giữa chủ thể và đối tượng tồn tại trên phương diện thường nghiệm / thế tục dẫu cho không nhất định trong phong cách các người bình thường nhận thức nó (p.377).
*
      Tuy nhiên, theo ngài Nguyệt Xứng, ngay trên phương diện nguyên văn không phải tất cả các giáo pháp Duy Thức có ý nói rằng không có các đối tượng ngoại giới; đôi khi  trên phương diện nguyên văn, không diễn dịch thêm, chỉ rằng tâm là tạo chủ chính (principal creator) của tất cả các thứ đối tượng. Có hai loại học thuyết duy thức: phi nguyên văn, và nguyên văn. Cả hai cần được diễn dịch một cách chung kết để phát hiện cái thế cách rốt ráo của tồn tại của tâm và các đối tượng của nó là chẳng có tồn tại với yếu tính tự hữu, nhưng khi giáo pháp duy thức chỉ rõ rằng tâm là tạo chủ chính như trong Kinh Thập Địa (Sutra on the Ten Grounds), nó được an lập trên phương diện hữu hiệu và nguyên văn. Đây là diễn dịch của học phái Trung Quán Hệ Quả đến từ ngài Nguyệt Xứng về giáo pháp duy thức nguyên văn và phi nguyên văn. (p.377-378).
------------------------------------------------------------------------------------------

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 182706)
01/04/2012(Xem: 28371)
08/11/2018(Xem: 8291)
08/02/2015(Xem: 40666)
25/07/2011(Xem: 105042)
10/10/2010(Xem: 102045)

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã rất đau buồn khi biết rằng người bạn và là người anh tinh thần của Ngài - Hòa thượng Thích Nhất Hạnh đã viên tịch. Ngài gửi lời chia buồn đến các đệ tử của Ngài ấy ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới.
“Ban Thường trực Hội đồng Trị sự kính đề nghị Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp chặt chẽ và tham gia giúp đỡ tổ đình Từ Hiếu trong công tác tổ chức tang lễ Trưởng lão Hòa thượng Thích Nhất Hạnh trang nghiêm, thành kính theo nghi thức cấp cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và thực hiện theo di nguyện tâm tang của ngài”,