Huyền Nghiệp Của Chư Như Lai (Sách Song ngữ Vietnamese-English PDF)

25/02/20225:09 SA(Xem: 7401)
Huyền Nghiệp Của Chư Như Lai (Sách Song ngữ Vietnamese-English PDF)
THIỆN PHÚC
HUYỀN NGHIỆP CỦA CHƯ NHƯ LAI
WONDERFUL WORKS OF TATHAGATAS

  

Copyright © 2022 by Ngoc Tran. All rights reserved.

No part of this work may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying and recording, or by any information storage or retrieval system without the prior written permission of the author, except for the inclusion of brief quotations. However, staff members of Vietnamese temples who want to reprint this work for the benefit of teaching of the Buddhadharma, please contact Ngoc Tran at (714) 778-2832.

 

Huyền NghiệpPDF icon (4)HUYỀN NGHIỆP CỦA CHƯ NHƯ LAI


Lời Đầu Sách

 

Trong Phật giáoNhư Lai là một trong mười danh hiệu của Phật mà đức Phật dùng khi xưng hô. Trong Phật giáo Đại thừaNhư Lai được dùng dưới hình thức hóa thân, làm trung gian giữa bản chất và hiện tượngNhư Lai còn đồng nghĩa với “Tuyệt đối,” “Bát Nhã” hay “Hư không.” Bậc Như Lai siêu việt lên trên tất cả đa nguyên tánh và phạm trù của tư tưởng, có thể coi là không phải vĩnh hằng mà cũng không phải là phi vĩnh hằng. Ngài là bậc không thể truy tầm dấu tích. Vĩnh hằng và phi vĩnh hằng chỉ được dùng trong lãnh vực nhị nguyên tánh chứ không thể dùng trong trường hợp phi nhị nguyên. Bởi lẽ các bậc Chân Như đều giống nhau trong sự hiển hiện, vì thế tất cả chúng sanh đều có tiềm năng trở thành Như Lai. Chính Như Lai tánh hiện hữu trong chúng ta, khiến cho chúng ta khao khát tìm cầu Niết Bàn, và cuối cùng tánh ấy sẽ giúp giải thoát chúng ta. Từ vô lượng vô biên kiếp trước khi Đức Phật thị hiện, đã có hằng hà sa số chư Phật đã tìm ra con đường và đã chỉ giáo cho chúng sanh. Chư Phật khác đã sống ở những thời xa xưa đến nỗi không còn dấu tích lịch sử ghi lại về các Ngài, nhưng những Chân lý mà các Ngài giảng dạy cũng giống như những điều mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giảng dạy chúng ta gần 2.600 năm về trước, vì đó là những chân lý không bao giờ thay đổi. Nghĩa đen của “Như Lai” là như đến, hay như thế, chỉ trạng thái giác ngộNhư Lai có thể được hiểu là “Giác ngộ như thế tôi đến” và dùng chung cho tất cả các đức Phật hơn là riêng cho Phật Thích Ca Mâu Ni; đấng đã khám phá ra (đạt đếnchân lý. Từ Như Lai cũng thường được đức Phật dùng khi Ngài nói về Ngài và chư Phật; những chúng sanh thuộc hàng Như LaiNhư Lai còn có nghĩa là đấng đã đạt được giác ngộ tối thượngPhạn ngữ Tathagata có nghĩa là “Như Lai.” Danh hiệu của chư Phật, có nghĩa là sự thành đạt Bồ Đề, một trạng thái siêu thoát vượt qua tất cả những thành đạt phàm tục. Theo Phạn ngữ, từ Như Lai có thể được chia làm hai phần, hoặc theo biểu thức Tatha+gata, hoặc Tatha+agata. Trong trường hợp thứ nhất nó có nghĩa là “Như khứ,” và trong trường hợp thứ nhì nó có nghĩa là “Như Lai.” Như Lai còn là danh hiệu tôn kính mà đệ tử dùng để gọi đức PhậtNhư Lai cũng còn có nghĩa là những vị Phật trước đây đã đến và đi. Theo Kinh Trung A Hàm, người ta bảo dấu vết của Như Lai bất khả truy tầm, nghĩa là Ngài vượt lên trên tất cả những nhị nguyên của tư tưởng. Theo Kinh Pháp Cú (254), thì Tathagata có nghĩa là ‘không thể truy tầm dấu tích không trung.’ Ý nghĩa của Như Lai là ‘đã đi như thế,’ tức là không có dấu tíchdấu tích ấy không thể xử dụng phạm trù tư tưởng để tư duy và truy tầm. Theo Ngài Long Thọ trong Trung Quán Luận, bất luận khởi nguyên của chữ “Như Lai” như thế nào, chức năng của nó đã rất rõ ràng. Ngài giáng thế để truyền thọ ánh sáng của Chân Lý cho thế nhân và sau đó đã ra đi mà không để lại dấu vết nào. Ngài là hiện thân của Chân Như. Khi Đức Phật được gọi là Như Lai, nhân cách cá biệt của Ngài được gác qua một bên, mà Ngài được xem là một loại kiểu mẫu điển hình thỉnh thoảng lại xuất hiện trên đời. Ngài là sự thể hiện trên trần thế của Pháp. Công việc của Như Lai là hoằng hóa Phật pháp là cứu độ và chuyển hóa chúng sanh, tức là giáo hóa mọi người, cứu họ thoát khỏi khổ đau phiền não, và đưa họ đến Niết Bàn. Công việc của Ngài bao gồm những việc sau đây: Ngài giáo hóa tất cả chúng sanh ở mọi nơi bằng nhiều cách khác nhau, hoặc nói đến chính mình, hoặc nói đến các vị khác, hoặc chỉ chính Ngài hoặc chỉ người khác. Ngoài raPhật sự còn bao gồm các việc sau đây: chuyển giáo lý của Đức Phật đến người khác hay nghe giảng hay tụng đọc các giáo lý cũng là Phật sự. Các Phật sự của chúng ta phải được tiếp tục mãi cũng như Đức Phật đã không bao giờ xao lãng Phật sự một lúc nào. Đó là trách nhiệm vô cùng lớn lao của chúng ta.

Quyển sách nhỏ có tựa đề “Huyền Nghiệp Của Chư Như Lai” này không phải là một nghiên cứu chi tiết về các đức Như Lai trong Phật giáo, mà nó chỉ viết rất tóm lược về những công việc cũng như những thành tựu tuyệt vời của các Ngài đã đem lại vô vàn lợi lạc cho chúng sanh mọi loài.  Trước hết, chúng ta nói về trí huệ của chư Như Lairõ ràng trí huệ của các Ngài là cái trí siêu việt, đó là Trí Huệ Ba La Mậtloại trí huệ có công năng đưa hành giả đến Niết BànTrí huệ Ba la mật còn là cửa ngõ đi vào hào quang chư pháp, vì nhờ đó mà chúng ta đoạn trừ tận gốc rễ bóng tối của si mê. Kế đó, chúng ta nói về huyền nghiệp của chư Như Lai, những huyền nghiệp nầy trải khắp trong tất cả kinh điển Phật giáo. Trong giới hạn của quyển sách này, chúng ta chỉ đề cập đến một số huyền nghiệp tiêu biểu như thân toàn thiện của chư Như Laivô số tướng thân huyền diệu của chư Như Laitướng hảo của chư Như Lai, huyền lực của chư Như Lai, đức lực thù thắng của chư Như Laicảnh giới vô tỉ bất tư nghì của chư Như Lai, tướng xuất hiện kỳ diệu của chư Như Lai, những thành tựu huyền diệu của chư Như Laiphương tiện thiện xảo không thể nghĩ bàn của chư Như Lai, huyền pháp của chư Như Laivân vân. Sau hết, chư Như Lai sử dụng âm thanh thuyết pháp để cứu độ chúng sanh. Có khi các ngài lại dùng ánh sáng kỳ diệu để cứu độ. Chư Như Lai cũng nhận được sự tôn kính của thế giới vì năm đức thù thắng sau đây: Hành vi thù thắngkiến giải thù thắngtrí huệ thù thắng, minh thuyết thù thắng, và khả năng thù thắng dẫn đạo chúng sanh y đạo tu hành. Cuộc hành trình đi đến giác ngộ và giải thoát đòi hỏi nhiều cố gắng và hiểu biết liên tục. Chính vì thế mà mặc dù hiện tại đã có quá nhiều sách viết về đức Phật và Phật giáo, tôi cũng mạo muội biên soạn tập sách “Huyền Nghiệp Của Chư Như Lai” bằng song ngữ Việt Anh nhằm phổ biến cho Phật tử ở mọi trình độđặc biệt là những người sơ cơhy vọng sự đóng góp nhỏ nhoi này sẽ giúp cho Phật tử hiểu biết thêm về một đấng rất qua trọng trong đạo Phật: Đấng Như Lai. Những mong tất cả chúng ta có thể nhìn huyền nghiệp của chư Như Lai như những tiêu chuẩn trong cuộc sống mẫu mực có thể giúp hướng chúng ta đến một cuộc sống an bìnhtỉnh thức và hạnh phúc cho chính mình.       

 Thiện Phúc 

Preface

 

In Buddhism, Tathagata is one of the ten titles of the Buddha, which he himself used when speaking of himself or other Buddhas. In Mahayana Buddhism, Tathagata is the Buddha in his nirmanakaya, the intermediary between the essential and the phenomenal world. Tathagata also means “Absolute,” “Prajna” or “Emptiness” or “Shunyata”. The Tathagata who has gone beyond all plurality and categories of thought can be said to be neither permanent nor impermanent. He is untraceable. Permanent and impermanent can be applied only where there is duality, not in the case  of non-dual. And because Tathata is the same in all manifestation, therefore all beings are potential Tathagaatas. It is the Tathagata within us who makes us long for Nibbana and ultimately sets us free. Long before our Buddha was born, there were many other Buddhas who found the path and showed it to people. These other Buddhas lived so long ago that we have no written histories about them, but they taught the people in those far off days the very same Truth that our Sakyamuni Buddha taught us almost twenty-six hundred years ago, for the Truths never change. “Tathagata” literally means one “thus come,” the “thus” or “thusness,” indicating the enlightened state. Therefore, Tathagata can be rendered as “Thus enlightened I come,” and would apply equally to all Buddhas other than Sakyamuni. The Thus-Come One also means one who has attained Supreme Enlightenment; one who has discovered (come to) Truth. The term Tathagata is the title which the Buddha himself used when speaking of himself or other Buddhas; those of the Tathagata order. “Tathagata” is a Sanskrit term for “Thus-gone-one.” An epithet of Buddhas, which signifies their attainment of awakening (Bodhi), a transcendental state that surpasses all mundane attainments. In Sanskrit, the term Tathagata may be divided into either of the following formulas: tatha+gata, or tatha+agata. In the former case, it means “Thus-Gone (Như khứ),” and in the latter case “Thus-Come (Như Lai).” The term Tathagata is also a respectful title of the Buddha, used by his followers when speaking to the Buddha. Tathagata also means the previous Buddhas have come and gone. According to the Middle Length Collections (Majjhimanikaya), Tathagata is a perfect being whose foot-prints or tracks are untraceable, who is above all the dichotomies of thought. According to the Dhammapada (254), the word Tathagata means ‘thus gone’ or ‘so gone,’ meaning ‘trackless,’ or whose track cannot be traced by any of the categories of thought. According to Nagarjuna in the Madhyamaka Philosophy, regardless the origin of the word ‘Tathagata,’ the function of it is clear. He descends on earth to impart the light of Truth to mankind and departs without any track. He is the embodiment of Tathata. When the Buddha is called Tathagata, his individual personality is ignored; he is treated as a type that appears from time to time in the world. He is the earthly manifestation of Dharma. Tathagata' work means the work of salvation and transforming all beings, which instructs all people, saves them from their sufferings and afflictions, and leads them to nirvana. His deeds include the following: he instructs all the living beings everywhere in various ways, whether speaking of himself or speaking of others, whether indicating himself or indicating others, and whether indicating his own affairs or the affairs of others. Besides, the Buddha-deeds also include the followings: to convey the Buddha’s teachings to others or to listen to them or read them are also Buddha-deeds. Our Buddha-deeds must continue incessantly, just as the Buddha never neglected them for a moment. This is our great responsibility.

This little book titled “Wonderful Works of Tathagatas” is not a detailed study of Tathagatas in Buddhism, but a book that only summarizes on the wonderful works and achievements of Tathagatas that benefit all sentient beings. First of all, we talk about the Tathagatas' wisdom, Tathagatas' wisdom is distinctly pointing out the transcendental wisdom (the prajna-paramita), the wisdom which brings practitioners to nirvana. The prajna-paramita is a gate of Dharma-illumination; for with it, we eradicate the darkness of ignorance. Next, we talk about Tathagatas' wonderful works, these wonderful works spread out in all Buddhist scriptures. In the limitation of this book, we only mention some typical ones such as Tathagatas' perfect bodies, Tathagatas' innumerable wonderful bodies, Tathagatas' marks of perfection, Tathagatas' wonderful powers, Tathagata’s extraordinary powers and virtues, Tathagatas' peerless and inconceivable realms, Tathagatas' miraculous characteristics of manifestation, Tathagatas' marvellous fulfillments, Tathagatas' forever inconceivable skill in means, Tathagatas’ wonderful dharmas, and so on. Last but not least, Tathagatas utilize their voice as Tathagatas' work in saving by their preaching. Sometimes they use wonderful light to save beings. Tathagatas also receive the respect of the world because of the five superior virtues: Superior conduct, superior point of view, superior or perfect wisdom, superior preaching ability, and superior ability to lead people to the practice of His Teaching. The journey leading to enlightenment and emancipation demands continuous efforts with right understanding and practice. Presently even with so many books available on the Buddha and Buddhism, I venture to compose this booklet titled “Wonderful Works of Tathagatas” in Vietnamese and English to spread basic things in Buddhism to all Vietnamese Buddhist followers, especially Buddhist beginners, hoping this little contribution will help Buddhists to understand more about the most important figure in Buddhism: The Tathagata. Hoping that we all can look at the wonderful works of Tathagatas as standards for an examplary life that can help us lead a life of peace mindfulness and happiness for our own.

 

                                                                                                              

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 183972)
01/04/2012(Xem: 29919)
08/11/2018(Xem: 9205)
08/02/2015(Xem: 42310)
Vào thứ Tư, ngày 16-5 vừa qua, Nhà Trắng đã tổ chức lễ Vesak lần thứ hai để kỷ niệm sự kiện đản sinh, thành đạo và nhập diệt của Đức Phật. Năm ngoái là dấu mốc đầu tiên Đại lễ Vesak được đưa vào để tổ chức tại Nhà Trắng khi các đại diện từ ba truyền thống Phật giáo lớn tề tựu cùng nhau để thắp nến và cầu nguyện nhân ngày lễ đặc biệt này.
Một buổi nhạc Thiền trang nghiêm, cảm động đã thực hiện hoàn mãn hôm Chủ Nhật 15/5/2022 tại Tu Viện Đại Bi, Garden Grove, California. Nội dung buổi nhạc Thiền là để Tưởng nhớ Thầy, Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong dịp tròn 100 ngày viên tịch của Thầy. Và cũng trùng hợp: hôm Chủ Nhật cũng là ngày Lễ Phật Đản.
Kharkov là một trong những nơi bị oanh tạc khốc liệt trong cuộc chiến xâm lăng Ukraine những ngày qua. Tuy nhiên Nga đã bác đề xuất thiết lập hành lang nhân đạo tại Kharkov (và cả Sumy).