I. Bốn Tâm Vô Lượng Theo Quan Điểm Các Nhà Tiểu Thừa

02/09/201012:00 SA(Xem: 23483)
I. Bốn Tâm Vô Lượng Theo Quan Điểm Các Nhà Tiểu Thừa

I. BỐN TÂM VÔ LƯỢNG THEO QUA ĐIỂM CÁC NHÀ TIỂU THỪA

Phần trên chúng tôi mới giới thiệu tổng quát về Bốn Tâm vô lượng, dưới đây chúng tôi sẽ đề cập đến quan điểm của các bộ phái Phật giáo phát triển sau này mà đại diện hiện tạiTiểu thừaĐại thừa.

Theo các nhà Tiểu thừa thì Bốn tâm vô lượng được đức Đạo sự đem ra dạy rộng rãi cho bốn chúng đệ tử tại giaxuất gia của Ngài và, cũng tùy thuộc vào thuộc tính của hai hàng đệ tử tại giaxuất gia này mà Ngài tuyên dạy cho hợp với căn cơ của họ. Trên căn bản vẫn tùy thuộc vào luật tắc nhân quả để Ngài thuyết minh về pháp chỉ ác hành thiện mong hành giả đạt được những kết quả tốt lành trong nhân thiên qua việc thoát khổ được vui là trọng. Đối với các hành Phật tử cư sĩ tại gia ngoài việc thực hành trì năm giới không cho sai phạm mà còn thực hành trong tự lợi cho chính mình mà còn lợi tha cho tha nhân nữa được phát xuất từ lòng từ có được của chúng ta.

Theo Trường A-hàm 8, kinh Tán-đà-na đức Đạo sư dạy Phạm Chí về cách tu khổ hạnh làm sao gọi là rốt ráo chân thật thù thắng bật nhất. Vì pháp này không có gì cao xa và không tưởng siêu hình mà chính pháp thực tế hằng ngày các Ông thực hành là pháp trói buộc, cấu uế. Nếu những pháp này mà các Ông thực hành ngược lại thì pháp tu khổ hạnh đó sẽ trở nên thanh tịnh, đức Đạo sư nói: 

Này Phạm-chí! Người tu khổ hạnh mà tự mình không giết, không dạy người giết, tự mình không trộm cắp, không dạy người trộm cắp, tự mình không tà dâm, không dạy người tà dâm, tự mình không nói dối, không dạy người nói dối. Người ấy đem tâm từ rải khắp một phương, rồi các phương khác cũng vậy, từ tâm quảng đại, bình đẳng vô lượng, khắp cả thế gian, không chút oán kết. Bi tâm, hỷ tâm, xả tâm cũng như thế…” 

Ở đây nếu người tu khổ hạnh hay hành giả tại gia nào thực hành được những điều mà đức Dạo sư đã dạy như trên một cách rốt ráo thì trong hiện tại hay tương lai chúng ta se đạt được những kết quả vô cùng to lớn như đức Đạo sư đã dạy tiếp cũng cùng một kinh:

Người khổ hạnh kia lại có thể biết được việc xảy ra vô số kiếp trước, hoặc một đời, hai đời cho đến vô số đời, quốc độ thành hoại hay kiếp số trước sau, đều thấy đều biết cả. Lại còn thấy biết mình từng sanh vào chủng tộc đó, tên tuổi như thế, ăn uống như thế, sống lâu như thế, thọ khổ, thọ lạc như thế, từ kia sanh đây, từ đây sanh kia như thế. Những việc từ vô số kiếp như thế đều nhớ cả… 

“Vị ấy bằng thiên nhãn thanh tịnh xem xét các loài chúng sanh chết đây sanh kia, nhan sắc đẹp xấu, chỗ hướng đến tốt hay xấu, tùy theo hành vi mà bị đọa lạc; thảy đều thấy hết biết hết.

“Lại biết chúng sanh với thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện, phỉ báng Hiền Thánh, tà tín điên đảo, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đọa vào ba đường dữ. Hoặc có chúng sanh với thân hành thiện, khẩu hành thiện, ý hành thiện, không phỉ báng Hiền Thánh, tu hạnh chánh tín, khi thân hoại mệnh chung được sinh vào cõi trời, cõi người. Bằng thiên nhãn thanh tịnh vị ấy xem thấy các chúng sanhhành vi nào sinh tới chỗ nào, đều thấy biết hết. Đó gọi là khổ hạnh thù thắng bậc nhất.

Qua kết quả đã được đức Đạ sư dạy ở trên; nếu hành giả nào đạt được sự tu tập hoàn hảo về phương pháp tu này thì có thể nói là họ đã hoàn thành được hai minh trong ba minh của đức Phật đó là Túc mang minh và thiên nhãn minh. Vì chính họ đã nhờ có Túc mạng minh (pūrva-nivāsānusmṛti-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā) nên thấy được mọi việc trong quá khứ và, Thiên nhãn minh (cyuty-upapatti-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā) nên thấy được mọi việc trong vị laï, đây chỉ là bước đầu của việc thấy biết về quá khứ và tương lai; nhưng việc của Lậu tận minh (āsrava-kṣaya-jñāna-sākṣāt-kriya-vidyā)tức là Lậu tận trí chứng minh họ chưa đạt được. Chỉ khi nào hành giả sau khi thấy xong phải yểm ly xa lìa những hiện tượng có được đó và thành tựu việc yểm ly xa lìa chúng thì lúc đó trí vô lậu giải thoát mới có được và an lạc tịch diệt sẽ hiện hữu, tất cả mọi thứ phiền não hoặc đồng lúc không còn nữa. Đó là những gì đức Đạo sư đã dạy cho Phạm Chí và, dạy cho những hành giả tại gia cách thức thực hành bốn tâm vô lượng kèm với năm giới căn bản của các Phật tử tại gia theo kinh điển Tiểu thừa còn ghi lại. 

Còn các hàng đệ tử xuất gia Thinh Văn Tỳ-kheo thì như trong Tăng Nhất A-hàm 7, phẩm An Ban đức Đạo sư dạy Tôn giả La Vân (Rahula: phiên là La-hầu-la) nhân Tôn giả luôn ôm lòng sầu lo, ngay đến trong lúc đi khất thực không cột được chánh niệm trong bước đi, lòng ưu sầu trói chặt, Thầy đã không giữ được chánh niệm phải bỏ giở cuộc đi khất thực giữa đường trở về Tinh xá Kỳ Hoàn ra ngoài gốc cây, kiết già phu tọa để cột tâm một chỗ, nghĩ về sắc, thọ, tưởng, hành thức là vô thường để đối trị tâm ưu sầu của mình. Trong lúc đó, đức Đạo sư cũng đi khất thực và sau khi thọ trai kinh hành xong đức Phật đến chỗ Tôn giả La Vân, bảo La Vân:

Thầy nên tu tâp và thực hành pháp An Ban; tu tập thực hành pháp này thì sẽ diệt trừ hết được những tư tưởng có được về ưu sầu. Hôm nay Thầy lại đang tu tập và hành ác, biểu lộ qua tưởng bất tịnh, nên trừ diệt hết những tham dục có được. Này La Vân, nay Thầy nên tu tậpthực hành tâm Từ, đã thực hành tâm từ rồi thì những sân nhuế có được đều sẽ được trừ hết. Này La Vân, nay Thầy nên thực hành tâm Bi, đã thực hành tâm Bi rồi thì tâm não hại có được đều sẽ được trừ hết. Này La Vân, nay Thầy nên thực hành tâm Hỷ, đã thực hành tâm Hỷ rồi thì tâm tật đố có được đều sẽ được trừ hết. Này La Vân, nay Thầy nên thực hành tâm Xả, đã thực hành tâm xả rồi thì tính kiêu mạn có được đều sẽ được trừ hết.” 

Bốn tâm vô lượng ở dây được đức Đạo sư đem ra để dạy cho các hàng đệ tử xuất gia của mình với mục đích nhằm đối trị với tâm sân nhuế, hại, tật và kiêu mạn của các Thầy Tỳ-kheo; vì bốn tâm này (là bốn trong mười loại tâm sở thuộc tiểu phiền não trong lục vị tâm sở) làm chướng ngại con đường đưa hành giả đến bến bờ giải thoát. Khi hành giả dùng bốn tâm vô lượng Từ, Bi, Hỷ, Xả để đối trị với bốn tâm sở tiểu phiền não, chính là lúc hành giả chánh niệm chánh định trong pháp tu đối trị để thanh tịnh hóa ba nghiệp thân-khẩu-ý cho hành giả ngay trong cuộc sống hiện tại hiện tiền. Đây chính là phương pháp tu tự lợi dành cho các hàng đệ tử xuất gia; nếu Tỳ-kheo nào có những thứ phiền não phù hợp với bốn phương pháp đối trị này thì việc thực hành sẽ mang lại cho hành giả những kết quà tốt đẹp trong việc làm sạch ba nghiệp thân-khẩu-ý. Và để tiến xa hơn nữa trong triển khai sâu rộng hơn trong việc khế cơ cho các hàng Tỳ-kheo có căn cơn bén nhạy hơn trong việc thừa hưởng những pháp vị thậm thâm hơn trong việc vừa tự lợi vừa lợi tha, đức Đạo sư đã hướng dẫn các Tỳ-kheo qua bốn tâm vô lượng, thực hiện hạnh lợi tha không những cho mình và cho kẻ khác ngay trong lúc hành giả thực hiện tự lợi cho mình. Theo Trung A-hàm 21, kinh Thuyết Xứ đức Đạo sư đã dạy Tôn giả A-nan:

A-nan, trước kia Ta đã nói cho ông nghe về bốn vô lượng, Tỳ-kheo tâm đi đôi với từ biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cứ như thế, hai phương, ba phương, bốn phương, tứ duy, trên dưới biến khắp tất cả, tâm đi đôi với từ, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh, vô cùng rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ. Bi và hỷ cũng vậy. Tâm đi đôi với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh, vô cùng rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ. A-nan, bốn vô lượng này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu ông nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn vô lượng này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.” 

Ở đây Tỳ-kheo không những chỉ trải lòng từ, lòng bi, lòng hỷ, lòng xả cho chính mình để đối trị những phiền não bệnh mà còn trải lòng từ, bi, hỷ, xả của mình đến tận khắp tất cả thế gian không còn biên giới nữa, không kết oán, không sân nhuế, không tranh dành, khéo léo dàn trải bốn tâm đến vô lượng vô biên không còn ngắn mé, khéo dụng tâm tu tập, thành tựu an trụ. Khi Tỳ-kheo đã thực hiện tâm vô lượng như vậy rồi thì tâm họ sẽ được an ổn, được sức manh, dược mọi sự an lạc. Lúc này thân và tâm Tỳ-kheo không còn phiền não bức bách nữa, nhờ vậy mà trọn đời họ hành phạm hạnh. một cách hoàn hảotrọn vẹn. Chính vì sự lợi ích của viêc thực hành bốn tâm vô lượng như vậy cho nên đức Đạo sư bảo Tôn giả A-nan hãy đem phổ biến rộng rãi dạy lại cho các Tỳ-kheo trẻ nên thực tập thực hành ngay trong cuộc sống cho chính họ. Cũng như Trung A-hàm 21 ở trên theo Tăng Nhất A-hàm 6 thì nội dung của kinh này cũng đồng ý nghĩa với nhau; nhưng trong kinh này chỉ, nêu lên vấn đề khác hơn kinh Trung A-hàm là khi hành giả đệ tử Hiền Thánh khi không sân, không nhuế, không có ngu si, tâm ý hòa vui mà đem tâm từ, tâm bi, tâm, hỷ, tâm xả trang trải khắp cả thế gian, không nơi nào là không đến, với tâm hành giả không oán không hận, vô lượng, vô hạn, không thể ti81nh biết hết được mà tư an trú, đem tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả rải khắp tràn đầy, ở trong đó được hoan hỷ rồi thì tâm ý hành giả sẽ được chính, cũng có thể gọi là chánh tâm chánh ý hay chánh niệm. Vậy thì khi hành giả đạt được bốn tâm vô lượng trong việc trang trải khắp cả mọi nơi trên thế gian khi không sân, không nhuế, không có ngu si, tâm ý hòa vui thì tâm ý sẽ được chánh niệm như những gì đức Đạo sư đã dạy trong Tăng Nhất A-hàm 6:

Nếu đệ tử Hiền Thánh kia không sân, không nhuế, không có ngu si, tâm ý hòa vui, đem tâm từ trải khắp một phương mà tự an trú; hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô hạn, không thể tính biết, mà tự an trú, đem tâm từ này rải khắp tràn đầy, ở trong đó được hoan hỷ rồi, tâm ý liền chính.

“Lại đem tâm bi trải khắp một phương mà tự an trú; hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô hạn, không thể tính biết, mà tự an trú, đem tâm bi này trang trải đầy khắp, ở trong đó được hoan hỷ rồi, thì tâm ý liền chính.

“Lại đem tâm hỷ trải khắp một phương mà tự an trú; hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô hạn, không thể tính biết, mà tự an trú, đem tâm hỷ này rải khắp tràn đầy, ở trong đó được hoan hỷ rồi, tâm ý liền chính.

“Lại đem tâm xả trải khắp một phương mà tự an trú; hai phương, ba phương, bốn phương cũng như vậy; bốn góc, trên dưới, ở trong tất cả cũng như tất cả thế gian, với tâm không oán, không hận, vô lượng, vô hạn, không thể tính biết, mà tự an trú, đem tâm xả này trang trải đầy khắp, ở trong đó được hoan hỷ rồi, thì tâm ý liền chính.”

Ở trên là chúng tôi mới trích một số kinh tiêu biểu trong bốn bộ A-hàm của Tiểu thừa, tiếp theo chúng tôi sẽ cứ cứ vào các bô luận của các nhà Tiểu thừa giải thích về Bốn tâm vô lượng. Theo A-tỳ-đạt-ma phẩm loại túc luận 7 thì Bốn tâm vô lượng này nếu chúng cùng tương ưng với thọ, tưởng hành, thức, hoặc chúng cùng khởi lên với hai nghiệp thân, khẩu hay, chúng cùng khởi lên tâm bất tương ưng hành, thì đó gọi là bốn vô lượng như trong A-tỳ-đạt-ma phẩm loại túc luận đã giải thích:

Thế nào gọi là từ vô lượng? là từ cùng từ tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức, hoặc từ cùng khởi lên nghiệp thân, khẩu, hoặc từ cùng khởi lên tâm bất tương ưng hành, thì đó gọi là từ vô lượng. Thế nào gọi là Bi vô lượng? nghĩa là Bi cùng bi tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức; hoặc nó cùng khởi lên nghiệp thân, khẩu, hoặc nó cùng khởi lên tâm bất tương ưng hành, thì đó gọi là Bi vô lượng. Thế nào gọi là Hỷ vô lượng? Nghĩa là Hỷ cùng Hỷ tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức; hoặc nó cùng khởi lên nghiệp thân, khẩu, hay nó cùng khởi lên tâm bất tương ưng hành, thì đó gọi là Hỷ vô lượng. Thế nào gọi là Xả vô lượng? Nghĩa là Xả cùng Xả tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức; hoặc nó cùng khởi lên nghiệp thân, khẩu, hay nó cùng khởi lên tâm bất tương ưng hành, thì đó gọi là Xả vô lượng.” 

Qua cách luận giải về Bốn tâm vô lượng trong A-tỳ-đạt-ma phẩm loại túc luận của Tôn giả Xá-lợi-phất cho chúng ta thấy, đây là một cách giải thích khác đối với các kinh mà chúng tôi đã trích ra về Bốn vô lượng tâm; tuy nhiên nếu chúng ta thông hiểu một cách chính xác hơn về những lời dạy của đức Đạo sư qua các kinh thì chúng ta sẽ thấy cách giải thích này của Tôn giả Xá-lợi-phất không khác gì cách dạy của đức Đạo sư, hơn nữa những lời ghi lại trong A-tỳ-đạt-ma phẩm loai túc luận cũng chính là những lời dạy của đức Đạo sư mà chính Tôn giả đã từng nghe Ngài dạy, nên chỉ ghi lại mà thôi. Vì chính bốn tâm vô lượng khi đem trang trải ra cùng khắp từ tâm cho đến mọi vậthành giả an trụ, thì trong đó có cả thọ tưởng, hành, thức hay, chúng cùng khởi lên với hai nghiệp thân, khẩu hay, cùng khởi lên với tâm bất tương ưng hành cũng đồng ý nghĩa với luận này; tuy trên mặt dụng ngữ cách dùng có khác và đối tượng bốn tâm dàn trải ra có khác. Đây chính là những lời dạy tùy thuộc vào căn cơ, nên việc giải thích khác nhau tùy thuộc vào thuộc tính của chính những pháp đó nhằm vào những đối tượng mà nó cần. Cũng giống như A-tỳ-đạt-ma phẩm loại túc luận, luận thành Thật cũng có cách dụng ngữ khác và đối tượng của bốn tâm dàn trải hướng đến tuy là chúng sanh; nhưng mỗi cách dàn trải đối tượng phải tùy thuộc vào các thuộc tính của chúng, nên ở đây dù cũng dùng bốn vô lượng để đối trị với bốn căn bệnh, nhưng ở đây chú trọng về phần định nghĩa giải thích nhiều hơn, rộng hơn mà thôi. Theo luận Thành Thật thì bốn vô lượng được luận nghĩagiải thích như sau:

Từ, bi, hỷ, xả: Từ là cùng tâm thiện trái nghịch lại với sân, như thiện tri thứcthiện tri thức thường cầu lợi ích và an lạc. Hành giả cũng vậy vì tất cả chúng sanh thường cầu an lạc, cho nên người này cùng với tất cả chúng sanhthiện tri thức

Hỏi tướng trạng thiện tri thức gọi là gì? 

Đáp: Thường tướng của nó là vì mong cầu lợi ích an lạc đời này và đời sau, nên cuối cùng chúng không trái nhau với việc cầu không lợi ích. Hành giả cũng vậy, chỉ vì chúng sanh mà cầu việc lợi ích an lạc chứ không cầu việc phi an lạc. Bi là cùng với tâm từ trái nhau với não, sao vậy? Nó cũng vì chúng sanh cầu an lạc vậy.

Hỏi: Giữa sân và não có sự sai biệt thế nào? 

Đáp: Trong tâm sinh ra niệm sân, muốn đánh đập hại chúng sanh này, thì phải từ sân mà khởi lên nghiệp thân và miệng, đó gọi là não. Hơn nữa, sân là nhân của não, người ôm tâm sân thì thường hành não hại. Hỷ là cùng với tâm từ trái nghịch lại với tật đố (gen ghét). Ghen là thấy tâm hảo sự của người khác không chịu nổi nên sanh ra tật nhuế, còn người tu hành thấy ích sự được tăng cũa tất cả mọi người thì sinh ra vui mừng khôn tả, như tự mình được lợi vậy. 

Hỏi: Cả ba tâm này đều là từ chăng? 

Đáp: chính là ba loại sai biệt phát xuất từ từ tâm. Vì sao? Vì không sân gọi là từ, có người tuy không hay sân, nhưng khi thấy chúng sanh khổ không sinh lòng bi (thương xót). Nếu đối với tất cả chúng sanhthực hành sâu xa tâm từ, như người bất chợt thấy con mình gặp khổ não, bấy giờ tâm từ lay động thì đó gọi là bi. Hay có người đối với cái khổ của người khác thường sinh bi tâm, nhưng đối với việc tăng ích của họ lại không thể sinh tâm hoan hỷ. Vì sao biết? Vì thông thường có người thấy cái khổ của oán tặc còn sinh lòng thương xót, nhưng cũng có người thấy con hơn việ mình lại không vui; nhưng đối với người tu hành khi thấy ích sự của tất cả mọi người được tăng thì lòng sinh vui mừng như chính mình không khác thì đó gọi là hỷ, cho nên chúng ta biết sự sai biệt từ tâm với bi, hỷ là như vậy. 

Hỏi: Xả những gì mới gọi là xả? 

Đáp: Tùy thuộc vào kiến giải oán và thân nên từ tâm không giống nhau, như đối với người thân thì coi trọng không như đối với kẻ oán thì lại coi nhẹ và, đối với bi, hỷ cũng như vậy. Cho nên người tu hành muốn cho tâm bình đẳng thì đối với tân xả thân, đối với oán xả oán, sau đó đối với tất cả chúng sanh tâm từ bình đẳng và, bi, hỷ cũng như vậy. Cho nên trong kinh nói: “ Vì đoạn yêu ghét nên tu tập xả tâm.””

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 177467)
01/04/2012(Xem: 23251)
08/11/2018(Xem: 4488)
08/02/2015(Xem: 33522)
25/07/2011(Xem: 101276)
10/10/2010(Xem: 102018)
10/08/2010(Xem: 105673)
08/08/2010(Xem: 111075)
21/03/2015(Xem: 14377)
"Chỉ có hai ngày trong năm là không thể làm được gì. Một ngày gọi là ngày hôm qua và một ngày kia gọi là ngày mai. Ngày hôm nay mới chính là ngày để tin, yêu và sống trọn vẹn. (Đức Đạt Lai Lạt Ma 14)
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thường và công bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.