Bài Giảng Của Ngày Thứ Chín

27/09/201012:00 SA(Xem: 15190)
Bài Giảng Của Ngày Thứ Chín

NHỮNG BÀI GIẢNG TÓM TẮT
của KHOÁ THIỀN MINH SÁT MƯỜI NGÀY
Thiền sư Goenka - Thích Minh Diệu dịch
Nguyên tác: "The Discourse Summaries", S.N. Goenka (1994)

BÀI GIẢNG CỦA NGÀY THỨ CHÍN

Sự áp dụng phương pháp vào đời sống hàng ngày
Mười ba la mật (paaramii)

Ngày thứ chín đã qua. Bây giờ là lúc để thảo luận làm thế nào để sử dụng phương pháp trong đời sống hằng ngày. Điều này có tầm quan trọng quyết định. Giáo pháp là một nghệ thuật sống. Nếu chúng ta không thể sử dụngtrong đời sống thường ngày, thì việc tham dự một khóa tu không khả quan gì so với việc hành trì một nghi thức hoặc lễ lộc.

Mỗi người đối diện với những tình huống không muốn đã xảy ra trong cuộc sống. Bất cứ khi nào những vấn đề không thích xảy ra, chúng ta mất đi sự bình tỉnh trong tâm thức của chúng ta và bắt đầu tạo ra phiền não. Và bất cứ khi nào một phiền não sinh khởi trong tâm, chúng ta trở nên khổ sở. Làm sao để chúng ta không tạo ra phiền não, không tạo ra căng thẳng? Làm thế nào để chúng ta duy trì sự bình an và hài hòa?

Những vị Thánh đã khám phá ra thực tại của thân vàtâm và đã tình ra một giải pháp cho vấn đề: Bất cứ khi nào một phiền não sinh khởi trong tâm vì bất cứ lý do gì, chúng ta nên chuyển sự chú ý của chúng ta đến một nơi khác. Ví dụ, chúng ta có thể đứng dậy, uống một ít nước, bắt đầu đếm, hoặc bắt đầu tụng danh hiệu của một vị chư thiên hoặc vị thánh hướng đến người mà chúng ta có sự thành tâm tôn kính. Bằng sự chuyển đổi sự tập trung chúng ta sẽ thoát khỏi sự phiền não.

Một giải pháp khả thi. Nhưng những nhà khám phá khác về sự thật bên trong đã đi vào cấp độ sâu nhất của thực tại, đã đến chân lý tối hậu. Những vị đã giác ngộ này đã tuệ tri rằng bằng sự chuyển đổi sự chú ý chúng ta tạo ra một lớp bình an và hài hòa ở cấp độ nhận thức, nhưng chúng ta đã không đoạn trừ phiền não đã sinh khởi. Chúng ta chỉ đè nén nó. Ơû cấp độ vô thức, nó tiếp tục tăng trưởng và tập trung sức mạnh. Sớm hay muộn miệng núi lửa ngủ ngầm của phiền não này sẽ phụt ra và áp đảo tâm thức . Bao lâu những phiền não còn tồn tại, ngay cả ở cấp độ vô thức, giải pháp không hoàn hảo vàchỉ tạm thờiø mà thôi.

Một vị đã hoàn tòan Giác ngộ tìm ra một giải pháp đúng đắn: đừng chạy trốn vấn đề; hãy đối diện với nó. Quan sát bất cứ những phiền não nào sinh khởi trong tâm. bằng sự quan sát chúng ta không đè nén nó, chúng ta cũng không cho nó một sự xác nhận để giải thích nó bằng những hành động gây tác hại bằng lời nói hoặc hành động. Giữa hai cực đoan này là con đường trung đạo: chỉ quán sát mà thôi. Khi chúng ta bắt đầu quán sát, phiền não mất đi sức mạnh của nó và trôi qua mà không áp đảo được tâm thức. Không chỉ thế, mà một số dự trữ của loại phiền não đó cũng sẽ bị tiêu diệt. Bất cứ khi nào một cấu uế sinh khởi ở cấp độ nhận thức, kho dự trữ của chúng ta về loại cấu uế đó sinh ra từ vô thức, bắt đầu liên kết với phiền não hiện tại, và bắt đầu tăng trưởng. Nếu chúng ta chỉ quan sát, không chỉ cấu uế hiện tại mà còn một số phần của phiền não dự trữ sẽ được đoạn trừ. Bằng cách này, tuần tự tất cả mọi phiền não đều được đoạn trừ, và chúng ta bắt đầu giải thóat khổ não.

Nhưng đối với một người bình thường, không dễ để quan sát một tâm phiền não. Chúng ta không biết khi nào nó đã bắt đầu và nó đã áp đảo tâm thức như thế nào. Ngay lúc nó đến bề mặt nhận thức, nó quá mạnh để quan sát không phản ứng lại. Mặc dù chúng ta cố gắng làm như vậy, rất khó khăn để quan sát một phiền não tinh tế của tâm thức- sân giận ngấm ngầm, sợ hãi, hoặc tham lam thay vì, sự chú ý của chúng ta được hướng đến những kích động của phiền não bên ngoài, những thứ đó chỉ làm cho phiền não tăng trưởng.

Tuy nhiên, những vị Giác Ngộ đã khám phá ra rằng bất cứ khi nào một phiền não sinh khởi trong tâm, đồng thời hai vấn đề sinh khởi xảy ra ở cấp độ thân thể: hơi thở sẽ trở nên khác thường, và một sự phản ứng sinh-hóa sẽ bắt đầu trong thân thể, một cảm thọ. Một giải pháp thực tế đã được tìm ra. Rất khó để quán sát những phiền não vi tế khởi lên trong tâm, nhưng với sự luyện tập chúng ta thực tập mau chóng để quan sát hơi thởcảm thọ, cả hai chúng nó đều là những biểu hiện của thân phiền não. Bằng sự quán sát một phiền não trong phần nào của thân, chúng ta cho phép nó sinh lên rồi diệt đi mà không gây ra bất cứ tác hại nào. Chúng ta bắt đầu giải thoát phiền não.

Phải trải qua thời gian mới làm chủ phương pháp thực hành này, nhưng khi chúng ta hành trì, tuần tự chúng ta sẽ thấy rằng càng thêm những giải pháp bên ngoài trong đó trước đây chúng ta chúng ta đã phản ứng lại với phiền não, bây ggiờ chúng ta có thể giữ bình tĩnh. Mặc dù chúng ta phản ứng, sự phản ứng sẽkhông quá mạnh hoặc kéo dài như nó đã có ở quá khứ. Một lúc nào đó nó sẽ đến trong một tình huống bực tức nhất, chúng ta sẽ có thể chú ý sự cảnh giác được đưa ra bằng hơi thởcảm thọ, và sẽ bắt đầu quan sát chúng, ngay cả trong một vài sát na. Những sát na của tự quán sát này sẽ hoạt động như là một thiết bị giảm sốc giữa những kích động bên ngoài và sự đáp lại của chúng ta. Thay vì phản ứng lại một cách mù quáng, tâm thức duy trì bình thản, và chúng ta có thể sử dụng những hành động tích cực có lợi cho chúng ta và người khác.

Các bạn đã tiến hành bước đầu tiên hướng đến sự đoạn ttrừ những phiền não và thay đổi những thói quen của tâm thức, bằng sự quán sát những cảm thọ ở chính các bạn.

Từ lúc sanh ra, chúng ta luôn được huấn luyện nhìn ra bên ngoài. Chúng ta không bao giờ quán sát chính mình, và vì vậy chúng ta không có khả năng đi đến những cấp độ sâu về những vấn đề của chúng ta. Chẳng hạn chúng ta tìm nguyên nhân gây ra sự đau khổ của chúng ta ở bên ngoài, luôn luôn đổ lỗi cho nngười khác vì sự bất hạnh của chúng ta. Chúng ta nhìn những sự vật chỉ qua một góc cạnh, một phần quan điểm, những vấn đề đã bị bóp méo đi; và chúng ta chỉ chấp nhận quan điểm này như ø chân lý toàn hảo. Bất cứ sự quyết định nào được tạo ra với thông tin không hoàn hảo này chỉ sẽ làm hại cho chính chúng ta và người khác. Để nhìn toàn thể của chân lý chúng ta phải quan sát nó từ nhiều khía cạnh. Đây là điều chúng ta học tập để thực hành bằng sự thực hành Vipassana: để nhìn thực tại không chỉ bên ngoài mà còn phải nhìn bên trong nữa.

Nhìn chỉ từ một góc cạnh, chúng ta tưởng tượng rằng sự khổ đau của chúng ta được gây ra do người khác, bởi hoàn cảnh bên ngoài. Vì vậy chúng ta dốc toàn bộ năng lực của chúng ta cho sự thay đổi người khác và thay đổi hoàn cảnh bên ngoài. Thực tế, điều này chỉ là một nỗ lực vô ích. Chúng ta đã thực hành quan sát thực tại trong đó chúng ta sớm tuệ tri rằng con người hoàn toàntrách nhiệm với khổ đau hoặc hạnh phúc của chính mình. Ví dụ, có ai đó bị một người chê bai và bắt đầu phiền não. Anh ta đổ lỗi người chê bai anh ta làm cho anh phiền não. Thực tế người chê bai đã tạo ra khổ sở cho chính mình khi anh ta phản ứng với lời chê bai, khi đó anh ta bắt đầu làm ô nhiểm tâm của mình. Mọi ngườitrách nhiệm cho sự khổ não của chính mình, không có ai vào đó cả. Khi nào chúng ta kinh nghiệm chân lý này, sự điên rồ tìm thấy lỗi ở người khác không còn nữa.

Chúng ta phản ứng lại điều gì? Một ảnh tượng do chúng ta tạo ra không phải là thực tế bên ngoài. Khi chúng ta nhìn ai đó, sự tưởng tượng của chúng ta bị phủ màu do những huân tập của quá khứ chúng ta. Những san’khaaraa cũ tác động đến nhận thức chúng tavề bất cứ hoàn cảnh mới nào. Lần lược, vì sự nhận thứcđiều kiện này, thân cảm thọ trở nên lạc hoặc bất lạc. Và theo khuôn mẫu của cảm thọ, chúng ta tạo ra một phản ứng mới. Mỗi tiến trình có điều kiện này được tạo ra do san’khaaraa cũ. Nhưng nếu chúng ta duy trì tỉnh giácthản nhiên đối với những cảm thọ, thói quen của sự phản ứng mù quán trở nên yếu hơn, và chúng ta thực hành quan sát thực tại như nó đang là.

Khi chúng ta phát triển khả năng nhìn những sự vật từ những khía cạnh khác nhau, từ đó bất cứ khi nào người khác chê bai hoặc ngược lại cư sử tệ, sự tuệ tri khởi lên rằng vị này đang có thái độ sai vì anh ta đang đau khổ. Với sự tuệ tri này, chúng ta không phản ứng lại với phiền não, nhưng chỉ cảm nhận tình thươnglòng từ bi cho người khổ sở, như một người mẹ sẽ cảm thông đứa con đang bệnh. Sự nhận thức phát sinh để giúp người này loại trừ khổ não của anh ta. Vì vậy, chúng ta duy trì sự bình anhạnh phúc, và giúp những người khác cũng được bình anhạnh phúc. Đây là mục đích của Giáo pháp: để thực tập nghệ thuật sống, đó là, để đoạn trừ những tâm cấu uế và để phát triển những phẩm chất tốt, vì sự tốt đẹp cho chúng ta và người khác.

Có mười phẩm chất tốt thuộc về tâm - paaramii - điều mà chúng ta phải hoàn thiện để đến mục đích tối hậu. Mục đích là một tiến trình của vô ngã hoàn toàn. Mười paaramii này là những phẩm chất có khả năng lần lược phân tán ngã chấp, bằng cách đó mang chúng ta gần hơn sự giải thoát. Chúng ta có cơ hội để phát triển mười phẩm chất này trong một khóa thiền Vipassana.

Paaramii (Ba la mật: viên mãn, cụ túc) đầu tiên là nekkhamma - sự xuất ly. Chúng ta trở thành một vị Tăng hoặc Ni người xuất ly đời sống tại gia và sống không sở hữa vật chất, ngay cả phải xin ăn cho đời sống hằng ngày. Tất cả điều này được làm vì mục đích phá bỏ tự ngã. Làm thế nào để một người tại gia có thể phát triển phẩm chất này? trong một khóa tu như thế này, chúng ta có cơ hội để thực hành, từ lúc có mặt ở đây chúng ta sống dựa vào sự hảo tâm của người khác. Chấp nhận bất cứ những gì được cúng như thức ăn, chốn ở, hoặc những nhu cầu khác, chúng ta tuần tự phát triển phẩm chất của sự xả ly (xuất gia). Bất cứ điều gì chúng ta nhận ở đây, chúng ta sử dụng tốt nhất, tu tập nổ lực để thanh lọc tâm không chỉ tốt cho bản thân chúng ta mà còn cho những người không quen biết đã cúng thí vì sự có mặt của chúng ta.

Ba la mật kế tiếpsiila - đạo đức. Chúng ta phát ttriển phẩm chất này bằng cách giữ năm giới trong suốt thời gian, cả hai trong thời gian khóa tu và đời sống hằng ngày. Có nhiều chướng ngại gây khó khăn cho việc hành trì giữ giới trong đời sống thế tục. Tuy nhiên, ở đây trong một khóa thiền định, không có cơ hội nào để phá bỏ giới vì chương trình và nội qui rất nặng. Chỉ trong nói năng đã có sự chánh mạng của chúng ta phát xuất từ sự quán sát nghiêm túc của giới. Vì lý do này chúng ta phát nguyện tịnh khẩu trong chín ngày đầu của khóa tu. Bằng cách này, ít nhất trong suốt thời gian khóa tu, chúng ta giữ giới một cách hoàn chỉnh.

Một ba la mật khác là viriya - tinh tấn. Trong đời sống thường ngày chúng ta nổ lực, ví du,ï để duy trìù mạng sống của chúng ta. Ở đây, tuy nhiên, tinh tấn là để làm thanh tịnh tân bằng sự duy trì tỉnh giác và bình thản. Đây là chánh tinh tấn, nó dẫn đến giải thóat.

Một ba la mật khác là pan~n~aa - trí tuệ. Ở thế giới bên ngoài, chúng ta có thể có trí tuệ, nhưng trí tuệ này chúng ta có từ đọc sách, nghe từ những người khác, hoặc chỉ hiểu biết bằng tri thức. Paaramii đích thực của trí tuệ là sự tuệ tri những gì khai mở trong chính chúng ta, bằng tự kinh nghiệm của chúng ta trong thiền định. Chúng ta liễu tri trực tiếp bằng cách tự quán sát những yếu tố của vô thường, khổ và vô ngã. Bằng sự kinh nghiệm trực tiếp này của thực tại chúng ta loại trừ khổ đau.

Một Ba la mật khác là khanti - sự cảm thông. Ơû một khóa tu như vầy, tu tập và sống với nhau trong cùng một nhóm, chúng ta có thể thấy chính mình bị phá rối và tức tối do những hành động của những người khác. Nhưng rất mau chúng ta liễu tri rằng người gây ra sự phiền hà vì không biết vấn đề anh ta đang làm, hoặc anh ta là một người bệnh. Sự bực tức này sẽ qua đi, và chúng ta chỉ cảm nhận tình thươnglòng từ vì người đó. Chúng ta đã bắt đầu phát triển phẩm chất của sự cảm thông.

Một Ba la mật khác là sacca - sự thật. Bằng sự thực hành giới chúng ta thực tập để giữ sự chân thật bằng lời nói. Tuy nhiên, sacca phải được hành trì trong ý nghiã sâu hơn. Mỗi bước trên con đường hành trì phải là một bước với sự thật, từ sự thật thô, sự thật bên ngoài, đến sự thật vi tế hơn và cuối cùng đến chân lý tối hậu (sự thật rối ráo, chân đế). Không còn lưu lại bất cứ điểm nào để nghi ngờ nữa. Chúng ta phải luôn luôn duy trì với thực tạichúng ta kinh nghiệm thực tế ở giây phút hiện tại.

Một Ba la mật khác nữa là adhit.t.haana - sự khẳng quyết (sự quyết định mạnh mẽ và khẳng khái). Khi chúng ta bắt đầu khóa thiền Vipassana, chúng ta tạo một sự quyết định để duy trì trong suốt thời gian của khóa. Chúng ta xác định giữ giới, luật của sự tịnh khẩu và tất cả những nội qui của khóa tu. Sau khi được giới thiệu về pháp tu Vipassana, chúng ta tạo ra một sự khẳng quyết để hành thiền trong suốt thời giờ ngồi thiền tập trung không hề mở mắt, tay, hoặc chân ra. Ơû giai đoạn về sau của phương pháp, ba la mật này rất là quan trọng; khi đến gần mục tiêu tối hậu, chúng ta phải sẳn sàng ngồi không thay đổi cho đến khi đạt sự giải thóat. Vì mục đích này điều cần thiết để phát triển sự khẳng quyết.

Một Ba la mật khác nữa là mettaa - tình thương vô ngã vị tha. Trong quá khứ chúng ta nỗ lực để cảm nhận tình thươngthiện chí vì người khác, nhưng điều này chỉ ở cấp độ nhận thức của tâm. ở cấp độ vô thức những căng thẳng cũ vẫn tiếp tục duy trì. Khi toàn bộ tâm thức đều thuần tịnh, lúc đó từ những độ sâu chúng ta có thể hy vọnghạnh phúc của người khác. Đây là tình thương chân thật, nó giúp cho người khác và cho chính chúng ta.

Một Ba la mật khác là upekkhaa - sự bình thản (tâm hỷ xả) . Chúng ta thực hành để duy trì sự bình an của tâm thức không chỉ khi kinh nghiệm những cảm thọ thô, bất lạc, hoặc những khu vực không nhận ra trong thân thể, mà còn bề mặt của những cảm thọ vi tế, và lạc. Trong mỗi tình huống chúng ta hiểu rằng sự kinh nghiệm của sát na đó là vô thường, chắc chắn không tồn tại. Với sự tuệ tri này chúng ta duy trì vô tham và bình thản.

Ba la mật cuối cùngdaana - bố thí, làm từ thiện. Với người tại gia, đây là bước đầu tiên quan trọng của việc hành trì Giáo pháp. Một người tại giatrách nhiệm làm kinh tế bằng việc là chánh mạng, vì sự nuôi sống cho chúng ta và những người tùy thuộc chúng ta. Nhưng nếu chúng ta tạo ra tham lam với tiền bạc chúng ta làm ra, từ đó chúng ta phát triển tự ngã. Vì lý do này, một phần chúng ta kiếm được phải được bố thí cho người khác. Nếu chúng ta làm điều này, tự ngã sẽ không tăng trưởng, từ đó chúng ta hiểu rằng chúng ta kiếm được vì sự ích lợi cho chính chúng ta và cũng vì ích lợi cho những người khác nữa. Sự hiểu biết phát sinh để giúp người khác trong mọi cách mà chúng ta có thể làm. Và chúng ta hiểu rằng không có sự giúp đỡ nào cho người khác lớn lao bằng cách giúp họ tu tập chánh pháp thoát khỏi khổ đau.

Trong một khóa tu như vầy, chúng ta có một cơ hội tốt để phát triển phẩm chất này. bất cứ những gì chúng ta thọ nhận ở đây được cúng dường từ những người khác; không đòi hỏi tiền trả phòng và bộ phận quản lý, và cũng không nhận đối với sự giảng dạy. Đến lược, chúng ta có thể cúng dường vì sự lợi ích cho người khác. Số tiền chúng ta cúng dường sẽ khác tùy theo phương tiện của chúng ta. Tự nhiên một người giàu có sẽ mong muốn cúng nhiều hơn, nhưng ngay cả sự cúng dường ít nhất, được cúng với sự nhận thức đúng đắn, là sự quí giá trong việc phát triển Ba la mật này. không mong cầu bất cứ điều gì đáp trả, chúng ta cho để những người khác có thể kinh nghiệm những ích lợi của Giáo pháp và có thể đoạn trừ phiền não của họ.

Ơû đây chúng ta có cơ hội để phát triển mười Ba la mật. Khi tất cả những phẩm chất này được viên mãn, các bạn sẽ đến mục đích tối hậu.

Duy trì thực hành để phát triển chúng từng tí một. Duy trì phát triển con đường của Giáo pháp, không chỉ vì sự ích lợi riêng các bạn và giải thóat, mà còn sự lợi íchgiải thoát của nhiều người.

Cầu mong tất cả những người khổ đau tìm ra Giáo pháp thanh tịnhđược giải thoát.
Cầu mong tất cả chúng sanh đều được hạnh phúc.

Tạo bài viết
06/08/2017(Xem: 26818)
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Penang - hòn đảo xinh đẹp đậm đà nét văn hóa độc đáo của đất nước Malaysia ( Mã Lai), một trong những điểm đến lý tưởng nhất trên thế giới trong những ngày này đã đón tiếp hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử từ các châu lục gồm 30 quốc gia về tham dự Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (The World Buddhist Sangha Council - WBSC) lần thứ 10. Khách sạn Equatorial là địa điểm chính, nơi diễn ra suốt kỳ đại hội lần này từ ngày 10 đến 15.11.2018.
Cộng đồng những đạo hữu của Ngôi Chùa Phật giáo ở Quận Cam (Orange County Buddhist Church – OCBC) trở nên càng lúc càng đa dạng về chủng tộc, và một số cho rằng nguyên nhân là những tương đồng với Thiên Chúa giáo.