Phần 2 - Con Đường Hạnh Phúc: Giáo Lý Căn Bản Của Phật

01/10/201012:00 SA(Xem: 9819)
Phần 2 - Con Đường Hạnh Phúc: Giáo Lý Căn Bản Của Phật


THIỀN QUÁN, CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC
Sylvia Boorstein - Việt dịch: Nguyễn Duy Nhiên
Nhà Xuất Bản Sinh Thức

Phần 2
Con Đường Hạnh Phúc

Giáo Lý Căn Bản của Phật

Tuệ Giác Căn Bản: Bác Ba và Ông Ngoại Tôi

Bản đồ của đức Phật trình bày về hành trình đi đến tuệ giáchạnh phúc hấp dẫn được nhiều người, vì chúng rất là đơn giản. Chủ yếu, đức Phật dạy rằng khi ta đi buồn bực về những chuyện mà mình không thể kiểm soát được, việc ấy chẳng có ích lợi gì. Chúng ta không hề có một sự chọn lựa nào về những tay bài mà ta được chia cho trong cuộc sống. Sự chọn lựa duy nhất mà ta có, là thái độ của mình về những lá bài trên tay và sự khéo léo trong việc chơi ván bài ấy.

Hơn hai ngàn năm trăm năm trước đây, khi đức Phật truyền dạy những tư tưởng của ngài, có rất nhiều người lảnh hội được ngay, họ hiểu đức Phật thông suốt đến độ khi vừa nghe ngài nói xong, họ lập tức đạt được một sự an lạc đời đời. Và những người chưa hiểu đức Phật ngay lúc ấy, họ về thực tập thiền quán và rồi họ cũng hiểu.

Giáo lý của đức Phật bao gồm một vũ trụ quan mênh mông, nhưng thông điệp chánh của ngài về một lối sống lành mạnh và an vui, đối với tôi, nó cũng giống như bác Ba sống ở cuối phố cùng dãy với tôi, và của ông Ngoại tôi mất cách đây mười năm.

Bác Ba đã chín mươi tuổi, và ông vẫn còn rất thích trồng trọt. Bác Ba và vợ bác, một người bạn đời trên gần bảy mươi năm trời, đã chính tay chăm sóc một mảnh vườn rộng bảy mẫu tây, và hai ông bà thường bày bán trái cây ngoài nhà xe của họ. Một buổi đẹp trời mùa hè năm ngoái, tôi lái xe xuống nhà bác Ba để mua vài trái củ hành, tôi thấy cánh cửa nhà xe rộng mở. "Ồ!" Tôi tự nghĩ. "Xem kìa, bác Ba đã tự tạc cho mình một bức tượng của bác ngồi trước nhà xe, trông cứ như là người thật vậy!"

Nhưng nhìn kỹ lại thì tôi nhận thấy đó chính là bác Ba trước nhà xe, ngồi yên như một pho tượng, chờ đợi. Ông không đọc, cũng không viết, không sắp soạn những món hàng của mình, cũng không gọt chuốt một vật gì, ông không làm một việc gì hết chỉ ngồi yên chờ đợi. Mà chẳng phải là gian hàng của bác Ba nằm trên một con đường chánh nào hết, để ông có thể ngồi nhìn xe cộ qua lại. Nhà xe nằm ở phía sau căn nhà của bác, và ngôi nhà lại nằm trên một con đường nhỏ vắng vẻ. Không có gì qua lại hết. Chỉ vì bác Ba không có một việc nào cần phải làm, nên bác không làm gì cả. Tôi chưa bao giờ luận bàn triết học với bác, nhưng tôi đoán rằng có lẽ bác sẽ nói, "Nếu nó không hư, thì đừng có sửa," và "nếu nó có hư, và ta sửa không được, thì đừng thèm lo gì thêm cho mệt."

Tôi đậu xe lại, bước xuống, đi lại nhà xe trước khi bác Ba cử động. Tôi chợt nhớ là mình có để máy chụp hình trong xe, tôi nói, "Bác Ba, cháu muốn chụp một tấm hình của bác được không?" "Được," bác trả lời. Bác không hề hỏi "Tại sao?"

Tấm hình ấy đẹp lắm, bác Ba ngồi yên cạnh thùng cà tô-mách và những trái zuchini. Tôi phóng lớn tấm ảnh, đóng khung và treo trong văn phòng của mình, cạnh bức hình của đạo sư Meher Baba, người mà tôi rất ngưởng mộ. Tôi rọi lớn một tấm nữa, đóng khung và đem tặng cho bác Ba. Bác nói, "Cám ơn."

Ông Ngoại tôi thọ chín mươi tám tuổi, ông mất vì tuổi già. Tim của ông cuối cùng ngừng hoạt động, nhưng đầu óc của ông thì vẫn tỉnh táo cho đến giây phút cuối. Ông sống lâu hơn má tôi, đứa con gái trưởng, và lâu hơn cả ba người vợ của ông. Ông đã sống qua những giai đoạn đen tối nhất của nền kinh tế Hoa kỳ. Ông ngoại tôi đến Hoa kỳ từ Âu châu khi còn là một thanh niên, bỏ lại sau lưng ba má, anh, chị, em ở Áo, và không bao giờ có dịp gặp lại. Ông đã tìm làm những công việc lao động tay chân, vì ông không biết đọc cũng không biết viết. Tôi nhớ ngày còn bé, hay nhìn ông Ngoại dùng một loại xà phòng vụn đặc biệt để rửa tay cho sạch. Ông là một người nhiệt tình và dễ xúc động. Khi ba má tôi làm cho tôi một buổi tiệc sinh nhật, ông Ngoại chảy nước mắt khi nghe mọi người hát bài "Mừng sinh nhật".

Khi má tôi mất năm bà bốn mươi bảy tuổi, ông Ngoại tôi lúc ấy cũng đã bảy mươi bảy. Cái chết của má tôi là một đòn thật nặng giáng xuống cho ông. Lúc đưa đám tang má tôi ông buồn thảm vô cùng, tôi lo không biết ông có qua được khỏi ngày hôm đó không. Ông Ngoại tôi không hề che dấu nỗi đau của mình với chính ông hoặc với bất cứ một ai.

Má tôi mất vào tháng tám. Mùa hè những năm ấy ông Ngoại đang còn làm nhân viên trưởng trông coi việc bảo trì cho những dãy nhà nghỉ mát ở Maine. Vài ngày sau đám tang má tôi, ông Ngoại lấy lại sự quân bình, về tinh thần lẫn thể chất, và trở lại đi làm. Ông lập lại câu nhân sinh quan của ông, mà tôi đã nghe biết bao nhiêu lần: "Thôi thì làm gì được bây giờ? Đời là vậy!" Lúc ấy tôi thấy ông giống như là một nhà đại triết gia vậy. Ông tiếp tục làm việc thêm nhiều năm nữa, tục huyền và vui thú với đám cháu chắt nội ngoại. Ông Ngoại lúc nào cũng là một người bạn thân tình đối với Ba tôi, cũng như đối với người vợ mới của ba tôi khi ông tái giá. Ông không bao giờ trở lại căn nhà ngày xưa mà má tôi đã từng sống. Trở về nơi ấy gợi cho ông quá nhiều thương nhớ.

Tôi thường hay ghé qua thăm ông Ngoại khi ông đã già, già lắm, sống trong một cộng đồng dành cho những vị cao niên ở niền nam Florida. Mỗi ngày hai lần, sau buổi điểm tâm và ăn trưa, ông hay rủ tôi đi dạo với ông. Chuyến đi thật dài vì ông bước rất chậm. Ông giải thích rằng đây là chuyến đi thưởng ngoạn của ông, một cuộc tập thể dục hằng ngày. Tôi hỏi, "Ông Ngoại nghĩ gì khi ông Ngoại đi dạo?" Ông nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên. "Con nói nghĩ gì có nghĩa là sao?" ông hỏi lại. "Khi đi thì mình chỉ có đi, vậy thôi!" Lúc ấy tôi nhìn ông Ngoại tôi và nghĩ rằng ông chính là đức Phật.

Bác Ba cũng như ông Ngoại, chưa bao giờ được nghe ai nói gì về thiền. Tôi nghĩ là họ biết chú ý đến đời sống của họ và trở nên minh triết. Đối với đa số chúng ta, những người không có được tuệ giác một cách tự nhiên, thiền tập là một phương tiện giúp ta đạt được việc ấy.

Chân Đế Thứ Nhất:
Nỗi Đau, Không Tránh Được,
Nỗi Khổ, Không Cần Thiết.

Bản đồ chánh đức Phật sử dụng để trình bày hành trình đi đến hạnh phúcgiải thoát được gọi là Tứ Diệu Đế, hay là Bốn Sự Thật Mầu Nhiệm.

Trong Chân Đế Thứ Nhất đức Phật giải thích rằng "ta không thể nào trốn tránh được nỗi đau đớn của cuộc đời, nhưng khổ não thì tùy thuộc vào sự chọn lựa của ta." Thật ra đức Phật không nói hẵn như vậy, ngài nói bằng tiếng thổ ngữ của thời ấy. Lối giải thích của tôi bằng ngôn ngữ của thời nay, cố gắng chuyên chở cái ý nghĩađức Phật muốn truyền đạt, và tôi hy vọng làm như vậy tôi không bị mang tiếng là bất kính đối với ngài.

Cuộc đời là khó khăn. Ông Scott Peck viết câu ấy mở đầu cho quyển The Road Less Traveled, và đã bán được hơn mấy trăm ngàn bản. Đôi khi tôi nghĩ có lẽ khi người ta đọc câu đầu tiên ấy, họ cảm thấy hứng khởi vì thấy có người đã nói lên một sự thật về kinh nghiệm của cuộc sống, và vì thế họ mua quyển sách ấy. Cuộc đời cũng rất là bí mật. Dầu ta có chuẩn bị, dự định kỹ lưỡng bao nhiêu, bản chất của đời sống bao giờ cũng là không thể đoán trước được. Mấy năm nay, tôi có dán trên tấm kiếng trong phòng tắm một tờ giấy để nhắc nhở mỗi ngày, "Cuộc đời là những gì xảy đến với ta trong khi ta bận rộn dự định cho những việc khác." Nhưng cũng vậy thôi, tôi lúc nào cũng bỏ thì giờ ra cố gắng sửa chữa hiện tại, để hy vọng rằng mình sẽ được an vui hơn trong một tương lai huyền thoại nào đó.

Vào giữa tuổi ba mươi mấy, tôi chợt ý thức, với một nỗi hốt hoảng lớn, là tôi hoàn toàn không trang bị đủ để đối phó với sự to tát và cái đáng sợ của sự sống. Tôi đã luôn phải xoay xở để tự dối mình về một sự quân bình tế nhịchúng ta cần phải có, để duy trì một hạnh phúc đang treo mong manh trong mỗi giây, mỗi phút. Tôi lớn lên và thành đạt hết những gì người ta cho là sẽ bảo đảm cho mình một hạnh phúc. Tôi đã theo đuổi, học hỏi một ngành chuyên môn mà tôi đã có thể sinh sống bằng nghề ấy, và cảm thấy rất mãn nguyện. Tôi lập gia đình, có được bốn đứa con tuyệt trần và tôi thương yêu chúng vô cùng. Nhưng vì chưa bao giờ nghĩ đến sự mong manh của chúng, nên tôi cũng không hề nghĩ ngợi hay thắc mắc gì về ý nghĩa của cuộc sống.

Một hôm, ở cuối dãy phố nơi tôi ở, hai đứa bé gái trên đường đi đến trường bị một xe hơi lạc tay lái đụng tử thương. Đó là hai chị em, đứa lên sáu và đứa lên bảy. Tôi không quen biết chúng nhưng nghe kể, vì chúng là bạn học với con gái tôi. Đột nhiên, tôi tỉnh dậyý thức được sự thật là ta đang sống giữa những hiểm nguy, và mỗi giây phút của cuộc sống quý giá vô ngần. Nếu sự thật ấy đã đánh thức tôi dậy trong quân bình, hoặc ít nhất là nếu tôi chín mùi hơn một chút, có lẽ tôi đã kinh nghiệm được sự chuyển hóa mà ta thường nghe nói trong kinh điển, và sau đó cuộc đời tôi sẽ thay đổi hoàn toàn và được sống trong sự trong sáng vĩnh viễn. Nhưng chuyện ấy đã không xảy đến với tôi. Thay vì vậy, tôi lại bị lao đầu xuống hố sâu của ảm đạmthất vọng. Tôi không tưởng tượng được vì sao người ta vẫn có thể tiếp tục sống trong một cuộc đờicuối cùng chỉ có sự chết chóc, và lúc nào cũng đầy dẫy những bất ngờ. Tôi ý thức rằng tất cả những mối liên hệ trên đời này đều chấm dứt bằng một sự mất mát, và sự mất mát nào cũng đau đớn. Tôi không hiểu vì sao chúng ta lại có thể chịu đựng được!

Sự thật là bây giờ tôi có thể nhắc lại giai đoạn này của đời mình một cách nhẹ nhàng, điều ấy không có nghĩa là tôi đã không đau khổ trong thời gian ấy. Có chứ! Tôi đã đọc về những triết gia theo trường phái hiện sinh như là Camus và Sartre, và tự hỏi làm sao tôi đã có thể xoay xở để che dấu sự thật khủng khiếp này với chính mình trong những năm qua. Tôi tự hỏi, sao những người khác lại không có một ai nhận thấy nó hết! Làm sao mọi người lại có thể sống như là mọi việc đều tốt đẹp, trong khi tôi chắc chắn rằng nó không phải là vậy? Tôi còn nhớ khi dạy những sinh viên trường tâm lý học về "mặc cảm hiện sinh", tôi thường hay kể cho họ nghe câu chuyện vui về Kierkegaard. Có người nói với Kierkegaard, "Tôi sẽ gặp lại ông thứ ba tuần tới nhé," và ông ta trả lời, "À, tôi sẽ gặp lại anh thứ ba tới nếu, khi anh ra khỏi nhà không có miếng ngói nào rơi trúng đầu anh, và khi băng qua đường, anh không bị chiếc xe ngựa nào đụng phải hết," và ông còn tiếp thêm nhiều cái "nếu" khác nữa. Thật ra thì câu chuyện vui ấy không có gì đáng cười hết. Tôi không thể nào nói "Má gặp lại con chiều nay" với những đứa con mình trước khi chúng đến trường, hoặc là "Anh đi chơi vui vẻ nha" với bất cứ một ai, mà không nghe thấy trong đó có những điềm xấu xa vang vọng bên tai.

Một phần tôi cảm thấy tuyệt vọng vì tôi nghĩ rằng, hình như chỉ duy có mình là thấy như vậy. Chung quanh tôi, dường như ai cũng cảm thấy cuộc đời này là tốt đẹp, chẳng có gì đáng lo cả. Thật là một niềm vui lớn khi lần đầu tiên tôi đi tham dự một khóa tu thiền, và nghe người ta nói lên sự thật hết sức rõ ràng - Sự Thật Mầu Nhiệm Thứ Nhất là sự sống thì khó khăn và đau đớn, tự tánh của chính nó là vậy, chứ không phải vì chúng ta đã làm một cái gì sai trật hết. Tôi cảm thấy vô cùng thoải máivui sướng khi được gặp những người dám chấp nhận rằng cuộc đời này là khó khăn, thường khi là đau đớn, mà vẫn có vẻ bình an trong khi họ công nhận sự thật ấy. Điều quan trọng là họ trông có vẻ rất an lạc. Sự kiện ấy làm an tâm tôi vô cùng. Tôi tự nghĩ, "Đây là những người giống như tôi, có một đời sống y như tôi, họ biết được sự thật và dám gọi tên nó mà vẫn cảm thấy an ổn."

Chân Đế Thứ Hai: Dính Mắc là Khổ Đau

 

Chân đế, tức sự thật mầu nhiệm, thứ nhất đã không ngần ngại gì và tuyên bố thẳng thừng rằng, đau đớntự tánh cố hữu của sự sống vì tất cả mọi vật đều biến đổi không ngừng. Chân đế thứ hai giải thích, khổ đau có mặt khi ta chống cự với những kinh nghiệm của cuộc sống, thay vì biết cởi mở và chấp nhận chúng với một thái độ thông minhtừ ái. Hiểu được chỗ này, ta sẽ thấy rằng giữa đau đớn (pain) và khổ não (suffering) có một sự khác biệt rất lớn. Đau đớn thì không thể tránh né được, sự sống đi kèm với đau đớn. Nhưng khổ thì không bắt buộc. Nếu khổ là những gì xảy ra khi ta vùng vẫy chống cự lại những kinh nghiệm của mình, vì thiếu khả năng chấp nhận, thì khổ là một điều dư thừa, không cần thiết.

Tôi đã từng hiểu lầm điểm này, khi mới bắt đầu tu tập tôi cứ đinh ninh rằng nếu tôi công phu thiền tập cho đúng mức, mọi đớn đau của tôi sẽ biến mất. Đó là một lầm lẫn lớn. Tôi rất thất vọng khi khám phá ra sự sai lầm ấy và cũng hơi xấu hổ vì sự ngây thơ của mình. Rõ ràng là ta sẽ không bao giờ có thể nào chấm dứt được hết những đớn đau trong cuộc đời này.

Đức Phật có dạy, "Những gì ta yêu quý sẽ đem lại cho ta đớn đau." Tôi nghĩ đó là sự thật. Thường thì ít khi nào tôi nhắc đến lời ấy với những thiền sinh mới bắt đầu, tôi không muốn họ hiểu lầmđạo Phật bi quan. Nhưng sự thật là vậy. Vì mọi việc đều biến đổi luôn, những mối liên hệ của ta đối với những gì ta yêu quý, hoặc mối liên hệ của chúng đối với ta, rồi cũng sẽ thay đổi. Và rồi ta sẽ chịu nỗi đau của sự mất mát, chia lìa. Chúng ta đã chọn cuộc sống tương giao ấy, vì ta chấp nhận sẵn sàng trả giá bằng sự đau đớn.

Đối với tôi, thấy được sự khác biệt giữa một thái độ dững dưng đối với kinh nghiệm của sự sống và một thái độ vui vẻ, nhiệt tình đối với kinh nghiệm của sự sống mà không bị dính mắc, luôn luôn là một thử thách lớn (trong nhà thiền có lẽ họ gọi đó là một công án.) Theo tôi thì chuyện ấy có thể thực hiện được. Nhưng vì trong mỗi giây, mỗi phút của cuộc sống bao giờ cũng có một sự chọn lựa giữa sự "dễ chịu" và "khó chịu", khó có thể nào ta lại không muốn sự "dễ chịu". Thật ra thì rất khó để mà không muốn gì hết.

Người ta kể thánh John of the Cross có lời cầu nguyện rằng, "Thượng đế, xin hãy ban cho con được thấy ảnh tượng của ngài!" Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi cũng muốn được thấy hình ảnh này nọ. Thời ấy là vào cuối thập niên sáu mươi, ban nhạc trẻ the Beatles và đạo sư Maharishi Mahesh đang phổ cập hóa pháp môn định tâm, và nền văn hóa lúc ấy đang có một tính chất "ảo hóa." Và tôi cũng mong muốn có một việc kỳ lạ nào đó xảy đến cho mình. 

Vài năm sau đó cũng đã có những chuyện "kỳ lạ" xảy đến cho tôi. Trong một thời gian nỗ lực tích cực hành thiền, tôi kinh nghiệm được con người của tôi tràn ngập ánh sáng, và tỏa chiếu nữa. Thật là kỳ diệu vô cùng. Trong lãnh vực của sự hành thiền nghiêm túc thì kinh nghiệm ấy chẳng có gì là to tát hết, nhưng đối với tôi thì nó huyền diệu vô cùng. Và sau một thời gian, tôi bắt đầu cho rằng nó cũng chưa kỳ diệu đủ. Tôi nhớ lại câu chuyện của thánh Paul, bị mù lòa vì ánh sáng chói rực trên đường đi đến Damacus, và vì tôi chưa bị mù, tôi bắt đầu mong ước được thấy thêm ánh sáng nữa. Nhưng tôi không bao giờ dám thú nhận điều ấy với bất cứ một ai, vì trong giới tu hành, mong muốn được thêm lạc thú thì chẳng có vẻ thiền một chút nào hết - mặc dù tôi là thế!

Chân Đế thứ hai của đức Phậttham muốn bất cứ một việc gì cũng đều là khổ đau hết. Thường thường thì người ta hay diễn dịch rằng "nguyên nhân của khổ đau là lòng tham muốn," nhưng theo tôi nghĩ thì điều đó cũng không thật chính xác. Nguyên nhân thì có vẻ như là cái này xảy ra trước và rồi nó sẽ sinh ra một kết quả đặc biệt nào đó. Như ta hay nói, "Mong muốn bây giờ, đau khổ sau này." Nhưng tôi tin là "Mong muốn bây giờ, đau khổ bây giờ."

Có lần tôi nghe một người nào đó nói, dấu hiệu của sự giác ngộ là khi ta lúc nào cũng đều có thể nói, và thật sự tin nữa, "Tôi đâu có muốn đâu, nhưng đó là những gì tôi có, thì cũng là tốt vậy!"

Má vợ của đứa con trai tôi không những có một thái độ khoan dung đối với những sự khó chịu, mà bà còn biết tán thưởng nó nữa. Bà ta là người duy nhất mà tôi đi xe chung trên xa lộ ở Los Angeles, với hằng trăm chiếc xe phóng ào ào, xuyên qua lại ngang ngược, trong một không khí đầy bụi bậm, khói xăng, kẹt cứng, bực bội, mà vẫn nói với một giọng ngạc nhiên chân thành, "Chà! Coi kìa người ta đi đâu đông quá!"

Lẽ dĩ nhiên, từ chuyện xa lộ cho đến những nạn đói kém, cho đến chiến tranh, khoảng cách ấy xa vời lắm, nhưng khi ta nhận thấy được rằng thái độ chấp nhận khoan dung của con người là có thể được, việc ấy sẽ khích lệ ta nhiều lắm. Sự thực nghiệm tâm linh có lẽ là để khám phá ra tiềm năng ấy trong ta và khai mở nó ra. Và chân đế thứ ba cho ta biết việc đó chắc chắn có thể thực hiện được.

 

Chân Đế Thứ Ba: Một Tin Vui Tuyệt Vời

Một yếu tố chủ yếu trong sự tu tập của đạo Phật được gọi là Chánh Kiến (Right View). Chánh Kiến có nghĩa là thấy biết và hiểu một cách chân chánh. Một khía cạnh của Chánh Kiếný thức được rõ rệt mục đích của con đường tu tập chánh niệm. Nhưng bước chân của tôi vào con đường tu tập chánh niệm đã được hoàn toàn thúc đẩy bởi Tà Kiến (Wrong View), tức một cái thấy sai lầm. Tôi đã tưởng rằng nếu mình công phu tu tập đúng mức, tôi sẽ không còn kinh nghiệm những đớn đau nữa. Lẽ dĩ nhiên cái thấy biết đó rất là sai lầm. Không thể nào khi ta vẫn còn mang thân này, sống trong cuộc đời, mà lại tránh khỏi được sự đau đớn.

Sau khi khám phá ra được sự sai lầm ấy, tôi đã tự an ủi bằng niềm tin là dầu sao đi nữa tôi vẫn có thể chấm dứt được nỗi khổ của mình. Và đó chính là Chân Đế Thứ Ba. Chân Đế Thứ Ba nói rằng giải thoát, an lạchạnh phúc là những chuyện ta có thể thực hiện được - ngay trong chính cuộc đời này. Đó quả thật là một ý tưởng hết sức tuyệt diệu!

Trong vài năm trước, tôi có dạy về môn tôn giáo Đông phương cho một trường đại học Thiên Chúa giáo. Sinh viên đa số là những thiếu niên, thiếu nữ vừa học xong cấp trung học của một trường trung học Thiên Chúa giáo gần đó. Các em lớn lên, phần đông, có một đời sống gia đình thoải mái, đầy đủ và rất sùng đạo, giữa một kỷ nguyên hòa bình. Các em có vẻ cảm thấy rất hoang mang khi tôi bắt đầu dạy về đạo Phật, và giới thiệu ngay đến khái niệm về khổ. Nhưng làm sao tôi có thể tránh được việc ấy. Ý niệm về khổ và sự chấm dứt khổ đau là giáo lý chủ yếu của đạo Phật. Ngày xưa đức Phật có lần đã tuyên bố như thế với một người đệ tử của ngài. Theo truyền thuyết thì người đệ tử ấy đến bắt bẻ đức Phật. Anh ta trách đức Phật đã không hề dạy gì cho anh về vũ trụ quan và triết học như anh đã hy vọng. Truyện kể đức Phật trả lời, "Ta chỉ dạy có một điều và mỗi một điều mà thôi - Khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau."

Những em sinh viên trẻ của tôi lộ vẻ lo âu khi nghe tôi nói, mặc dù mọi việc dường như có vẻ là vui thú đó, nhưng cuối cùng rồi tất cả sẽ làm cho ta thất vọng, vì không có gì là trường tồn mãi mãi. Khi tôi cố gắng giải thích và cho thí dụ "Cũng giống như nhiều khi các em muốn một việc gì đó mà không được," thì chúng không đồng ý. Đa số các em có hết những gì mà chúng muốn. Theo ý kiến của các em thì đạo Phật dường như hơi bi quan, và các em hỏi tôi, "Những người Phật tử có tổ chức tiệc ăn mừng sinh nhật không cô?"

Tôi hết sức cố gắng để tìm những trường hợp khổ đau nào mà các em sinh viên của tôi có thể liên tưởng đến được. "Có bao giờ các em bị một người bạn trai hoặc bạn gái nào đó bỏ em không? Lúc đó em có cảm thấy đau khổ không?"

"Ồ," họ trả lời, "nếu khổ đau là vậy thì em có thể liên tưởng đến được!" Dù vậy, tôi cũng cảm thấy chút gì bất mãn khi thấy mình phải là một người mang tin buồn đến cho những người trẻ ấy.

Nhiều khi tôi thấy mình lướt qua hai Chân Đế đầu tiên để giảng ngay đến Chân Đế Thứ Ba, để tôi có thể nói đến cái tin vui. Chúng ta có thể sống hạnh phúc được. Mỗi người chúng ta có một khả năng phát triển một tâm rộng lớn đủ để có thể thương yêu, tỉnh thức, đáp ứng, quan tâm đến mọi việc, và không cần phải tranh đấu. Đó không phải chỉ là một tin vui thôi, mà là một tin vui tuyệt vời.

 

Tam Tổ của Thiền Tông và Nhất Tổ của Berkeley

Tăng Xán, vị tổ thứ ba của thiền tông Trung Hoa sống vào thế kỷ thứ sáu, viết, "Chí đạo vô nan, Duy hiềm giản trạch," có nghĩa là Đạo lớn không khó chỉ hiềm vì ta có sự lựa chọn mà thôi. Khi đọc những lời ấy, tôi nghĩ, "Chắc mình sẽ không bao giờ đạt đạo nổi!" Dường như mỗi kinh nghiệm trong đời đều mang lại cho tôi một cơ hội để có sự ưa ghét, và tôi lúc nào cũng thiên vị.

Lúc đầu tiên khi được nghe giáo lý ấy, đứa con gái nhỏ của tôi đang theo học môn vũ ba-lê rất chuyên cần, và vị giáo sư của nó cho rằng nó rất có khiếu. Vào mỗi mùa giáng sinh, nó được vũ trong vở tuồng Nutcracker của đoàn, và mỗi năm được giao cho đóng một vai quan trọng hơn. Mặc dầu đứa con gái của tôi chỉ là một cô bé, tôi vẫn tưởng tượng đến rồi một ngày nào đó, nó sẽ được đóng vai chánh Snow Queen, và tôi không tin rằng đến lúc ấy, tôi sẽ có một thái độ dững dưng về việc con mình sẽ được thủ vai chánh ấy hay là một cô bé nào khác. Tôi có một sự thiên vị.

Tôi có thể hiểu được giáo lý vô phân biệt này trên một lãnh vực bình thường. Tôi biết mình sẽ không bao giờ bước vào một tiệm kem và nói "Bán cho tôi loại kem nào cũng được," nhưng tôi cũng biết chắc là mình sẽ không khổ tâm lắm nếu họ đã bán hết kem sô-cô-la. Bởi vì còn biết bao nhiêu loại kem khác cũng thơm ngon như vậy. Đây là một bình diện phân biệt, chọn lựa được biểu hiện qua bằng sở thíchthị hiếu bình thường cá nhân.

Điều mà tôi đã không thể hiểu tới là làm sao việc ấy cũng có thể đúng đối với những ý thích sâu xa của ta nữa! Thật ra, tôi đã không tưởng tượng nổi vì sao người ta lại muốn mình không còn có một sự phân biệt nào hết. Đối với tôi thì dường như chính sự chọn lựa ấy mới làm cho cuộc đời hào hứng và lý thú. Lúc ấy, quan điểm của tôi hoàn toàn đi ngược lại với giáo lý của kinh Kim Cang: "Tâm vô sở trụ", có nghĩa là một tâm không bị dính mắc vào đâu hết. Nhưng rõ ràng, điều tôi không hiểu là sự sống này vẫn có thể được hào hứng và lý thú, và ta vẫn có thể có những dự án, hy vọng và đeo đuổi chúng hết lòng, mà vẫn sẵn sàng buông bỏ nếu chuyện không thành.

Tôi học bài học lớn ấy từ Bill, một người bạn của tôi đã qua đời cách đây hơn hai thập niên. Tôi thường nghĩ đến anh như là vị Tổ Thứ Nhất của vùng Berkeley. Bill bị bệnh ung thư vào năm anh ta còn rất trẻ, mới bốn mươi tuổi. Anh có vợ, một sự nghiệp đang lên và những đứa con thật dễ thương. Khi biết rằng cái chết gần kề, anh viết một lá thư để gửi đến bạn bè sau khi anh qua đời. Trong thư, anh viết về cuộc đời của mình, "Tôi còn muốn nhiều chuyện muốn làm nữa, nhưng không bao giờ tôi muốn nó sẽ là gì khác hơn!" Tôi nghĩ, nếu tôi có thể sống cuộc đời mình được như vậy thì kỳ diệu vô cùng, muốn thêm nhiều nữa là một sự tán thưởng đối với cuộc đời, nhưng tôi sẽ không bao giờ muốn nó là gì "khác hơn."

Tôi có một người bạn là một vị thầy dạy Zen, anh ta kể cho tôi nghe về một bài tử thơ. Có một tập sách sưu tầm về các bài tử thơ này để lại bởi những thiền sư - mà cho là được các ngài nói lại bằng hơi thở cuối trước khi viên tịch, theo truyền thống Zen. Anh bạn kể cho tôi nghe về một bài tử thơ viết, "Tử thơ là chuyện láo lếu. Chết chỉ là chết."

Vị thiền sư ấy nhắc tôi nhớ đến một người bạn khác là Pat, cũng qua đời vì chứng bệnh ung thư vào năm bốn mươi mấy tuổi, để lại bốn đứa con, nhiều bạn hữu và một sự nghiệp luật sư lý thú. Tôi học được từ cô là chúng ta vẫn có thể có sự thiên vị, một sự thiên vị sâu sắc, không bao giờ thối chí, và cũng không hề đắng cay về nó. Pat sống được thêm vài tháng, sau khi biết là cuộc chiến đấu với cơn bệnh của cô đã hết còn hy vọng. Cô ta dùng thời gian còn lại để hàn gắn mối liên hệ với người chồng củ, hoàn tất hết những công việc luật còn dở dang, tâm sự với bạn bè và bộc lộ hết với họ những gì cô hằng muốn nói. Có những chuyện cô muốn giải quyết, và tuy chúng rất rắc rối về tình cảm, nhưng cô vẫn cứ làm. Lúc gần cuối, cô nói với tôi, bằng một giọng hết sức bình thườngthực tế, "Chị biết không, tôi đã trưởng thành rất nhiều về mặt tình cảm nhờ chứng bệnh ung thư này. Tôi đã làm những chuyện mà tôi không bao giờ dám làm giá như tôi không có bệnh. Nhưng thành thật mà nói, tôi vẫn ước gì mình không mắc bệnh và không phải trưởng thành."

Một sự thật rất đơn sơ. Trưởng thành cũng không hay ho gì. Sống thì vẫn thú vị hơn. Được trao cho những gì không thể thay đổi được, cô ta đã sống những ngày cuối của đời mình bằng một thái độ vui vẻ và sẵn sàng. Một ngày trước khi mất, tôi bắt gặp cô ngồi trên giường đọc báo. "Tôi đã làm hết mọi chuyện rồi," cô nói, "bây giờ thì chỉ còn chờ đợi thôi." Tôi nghĩ việc ấy đủ cho cô xứng đáng làm vị Tổ Thứ Nhất của vùng San Anselmo.

Đứa con gái của tôi không bao giờ được đóng vai chánh Snow Queen. Nó đã không trở thành một vũ công, và thái độ chấp nhận của nó cho phép tôi buông bỏ những kỳ vọng của chính tôi. Tôi vẫn còn thích xem tuồng Nutcracker, và tôi rất vui thú tưởng tượng đến cái cảm xúc của má của cô bé đang thủ vai Snow Queen. Tôi cũng cảm thấy nỗi vui ấy khi xem những trận đấu banh trên ti-vi, khi nhìn thấy má của một cầu thủ đứng reo hò trên khán đài, ngay sau khi con mình vừa thắng điểm. Tôi cảm động vô cùng, đôi khi đến chảy nước mắt. Tôi cũng khóc khi thấy những chuyện bất hạnh xảy đến cho người ta. Không có một vị thuốc nào có thể chữa được tiếng khóc. Và tôi rất mừng về sự bất lực ấy.

 

Chân Đế Thứ Ba Rưỡi

Đức Phật dạy rằng, chấm dứt khổ đau là chuyện có thể được. Ngài dạy, chúng ta có thể điều kiện tâm mình, giữ cho nó được trong sáng và rộng lớn, để mọi kinh nghiệm của ta đến và đi trong một đại dương bao la của tuệ giác. Khổ đau và an lạc sẽ đến rồi đi, thỏa mãnthất vọng sẽ đến rồi đi, và tâm ta vẫn giữ được sự tĩnh lặng muôn thuở của nó. Ý thức được rằng ta không cần phải được thỏa mãn mới có hạnh phúc, là một tự do rất lớn.

Nhưng dù sao thì tôi vẫn chưa chấm dứt được khổ đau, tôi biết không phải vì tôi chưa khao khát đủ. Tôi khao khát lắm chứ! Cũng không phải vì tôi không hiểu. Trong thâm tâm tôi tin giải thoát là chuyện có thể được. Tôi biết, chúng ta tranh đấu vất vả vì ta chấp và cho những câu chuyện xảy ra là của riêng mình, thay vì thấy chúng là một phần của một vở tuồng vũ trụ to lớn đang khai mở. Tôi biết chắc là mọi việc đều do duyên khởi và ít nhiều tôi tin vào karma, tức luật nhân quả. Tuy nhiên, tôi vẫn vất vả tranh đấu và tôi đau khổ. Nhưng dù sao thì bây giờ tôi cũng ít khổ đau hơn, và tôi cũng không còn bị tuyệt vọng vì những nỗi khổ, như trong quá khứ.

Vì vậy, tôi cộng thêm một nửa Chân Đế nữa. Nửa chân đế ấy là "Khổ đau có thể chăm sóc được (manageable)." Còn thiếu một chút nữa là chấm dứt được khổ đau, mà tôi hoàn toàn tin là có thể được, nhưng tôi hài lòng với việc mình có thể đối trị được khổ đau một cách tốt đẹp hơn. Vì biết rằng tôi có thể săn sóc được khổ đau của mình, tôi không còn sợ hãi những đau đớn như khi trước. Ngày nay, tôi thường nói thẳng với học trò của mình, mặc dù đức Phật có dạy là ta có thể chấm dứt được khổ đau, nhưng chính tôi chưa đạt đến trình độ ấy. Học trò của tôi không thất vọng. Và tôi cũng không hề mất đi một điểm nào. Nghe được rằng ta có thể săn sóc được những khổ đau của mình, đối với họ đã là một tin vui lắm rồi.

Một nửa Chân Đế phụ thêm đó, còn giúp cho tôi có lòng từ bi đối với chính mình và người khác hơn. Tôi có thể thấy được tôi đã bị dính mắc ra sao, tôi đã vất vả, khổ đau như thế nào, tôi đã mong muốn những gì, và cuối cùng rồi thì mọi việc cũng đã thay đổi và giải quyết ra sao. Tôi thương mình hơn, khi hiểu tôi đã tạo nên biết bao nhiêu đau đớn trong tâm cũng vì những bám víu bị điều kiện của mình. Ý thức được nỗi khổ của mình, mặc dù đã nhiều năm tu tập và dù đã có một hiểu biết nào đó, tôi vẫn rất nhạy cảm đối với một nỗi đau chắc phải là rất to tát của tất cả mọi người đang cùng với tôi chia xẻ trái đất này.

 

Tim Tôi Vẫn Còn Níu Kéo

 

Trong một bài nhạc tình, câu "Tim em gắn bó với anh" là một lời yêu thương rất nồng nàn tha thiết. Chúng ta muốn trái tim và ý nghĩ của người mình yêu gắn chặt với mình. Nhưng theo sự hiểu biết của nhà Phật thì chính sự bám víu, dính mắc này là nguyên nhân của khổ đau. Mặc dù vậy, trái tim của tôi vẫn còn rất dính mắc. Vào những ngày tốt trời thì nó ít bị dính mắc hơn một chút.

Lúc mới bắt đầu tu tập, một trong những việc mà tôi thích nhất là được nghe kể chuyện về đức PhậtPhật pháp. Trước khi tôi ý thức được là ta cũng có khả năng tĩnh tâm và cảm nhận được giải thoát là gì, tôi rất thích được nghe kể những câu chuyện về giải thoát.

Những câu truyện về đức Phật bao giờ cũng rất là kỳ diệu. Thường thì câu truyện được bắt đầu bằng sự diễn tả về nơi chốn đức Phật thuyết pháp, tên của những nhân vật chánh đến thính pháp. Thường thì câu truyện kể lại có một vị nào đó "từ chỗ ngồi của mình trong đại chúng, đứng dậy, đảnh lễ đức Phật, xong ngồi xuống và nghe pháp." Và tiếp theo "Đức Như Lai nói như vầy," rồi truyện trình bày một bài pháp trong đó đức Phật giải thích về chân tánh của mọi vật. Câu truyện thường được chấm dứt bằng "Sau khi nghe Phật nói xong, các vị ... đều được giác ngộ hoàn toàn" hoặc là "Nghe xong, tất cả đại chúng đều được hoàn toàn giác ngộ." Lời kết ấy thường được viết như vầy: "Và tâm các ngài, nhờ không còn bị dính mắc, được giải thoát khỏi những sự ô nhiễm." Tôi yêu những lời ấy vô cùng. Trải qua biết bao nhiêu năm tu tập cho đến ngày hôm nay, mỗi khi có dịp được nghe ai thuyết pháp, tôi đều tưởng tượng rằng có thể đây là lúc mình sẽ đạt được sự giác ngộ hoàn toàncuối cùng, như những vị ấy. Sự kiện là nó đã xảy ra trong thời đức Phật, đã để lại cho ta một tiền lệ rất tốt. Có điều là nó chỉ chưa xảy đến cho tôi mà thôi!

Tôi nghĩ việc ấy đã không xảy đến dễ dàng cho chúng ta, là vì tâm ta đã bị điều kiện bởi những phản ứng theo thói quen quá nặng nề. Thói quen của tâm rất khó thay đổi. Tôi thường hay bị nhức đầu mỗi khi bị tức giận, vì tôi không biết cách nào để biểu lộ sự bất mãn của mình ra cho được tự nhiên. Bây giờ tôi có thể bày tỏ cảm xúc tức giận của mình thoải mái hơn, nhưng đôi khi tôi cũng cần một cơn nhức đầu để nhắc nhở là mình đang giận. Và tôi cũng hoàn toàn tin rằng khổ đau phát sinh mỗi khi tôi gắng chống cự lại với những biến cố nào trong đời mà tôi không thay đổi được. Dù biết vậy, đôi lúc, tôi vẫn cứ khăng khăng chống cự. Thói quen thì rất khó mà chuyển đổi.

Tôi có một giả thuyết về vì sao thói quen của tâm lýtâm linh lại khó có thể mà xóa bỏ hoàn toàn được. Tôi gọi đó là giả thuyết chiếc-áo-thun-của-sự-thay-đổi trong tâm. Đã lâu rồi, trên ti vi trong một tiết mục quảng cáo, có chiếu một bà mẹ đưa lên một chiếc áo thun của đứa con trai mình, cho thấy những nơi bị dính dơ bởi bơ đậu phụng, mứt, chỗ cậu ta làm rớt kem sô-cô-la, và những nơi cậu ta lăn lộn chơi banh trên đất bùn. Bà ta bỏ chiếc áo thun dính bẩn ấy vào máy giặt và cộng thêm với loại xà bông mà họ muốn quảng cáo với khán giả. Sau đó khi bà lấy ra khỏi máy giặt, chiếc áo trở nên trắng tinh như mới, không còn một tì vết nào. Trong đời kinh nghiệm giặt đồ của tôi, tôi chưa bao giờ từng thấy một chiếc áo nào lấy ra khỏi máy giặt mà trông hoàn toàn như mới. Lúc nào cũng còn một vài chỗ bị phai màu, và ngay cả những trường hợp hiếm hoi khi mọi chỗ dính bẩn đều được giặt sạch, chiếc áo vẫn không bao giờ có thể thẳng thớm như khi còn mới. Những dấu vết cho thấy chiếc áo đã được mặc rồi, dính vào nó mãi mãi. Tôi nghĩ đối với tâm ta cũng vậy, và tôi nghĩ việc ấy cũng bình thường thôi. Nếu chúng ta biết bên nào của chiếc áo bị ngắn hơn, ta có thể nhét bên ấy vào cho chặt hơn một chút, và rồi thì nó cũng xem rất chỉnh tề.

Nếu như tâm tôi không bị dính mắc, tôi sẽ hoàn toàn vô úy. Không có gì đe dọa tôi được, vì không có một vật gì tôi sợ phải đánh mất, và cũng không có một vật gì tôi cần cho hạnh phúc của mình. Nhưng tâm tôi vẫn còn dính mắc, nên đôi khi tôi vẫn sợ rằng không có được những gì mình nghĩ là cần thiết, hoặc sẽ đánh mất những gì tôi nghĩ là mình muốn. Nhưng dầu sao đó cũng không còn là một vấn đề lớn nữa, vì sự sợ hãi không còn làm tôi kinh khiếp như xưa. Tôi biết nó có mặt là do sự dính mắc của mình, và tôi biết nó rồi sẽ đi qua. Tôi có thể tự nhủ, "Tôi đang sợ hãi, bởi vì mặc dù tôi biết cái gì là chân thật, nhưng ngay lúc này tôi đã quên mất. Nhưng tôi biết khả năng ấy hiện hữu." Và khả năng ấy, niềm tin tưởng ấy, đã đem lại cho tôi thật nhiều hy vọng, giữa những cơn dông tố hãi hùng trong cuộc đời.

 

Chân Đế Thứ Tư: Vòng Tròn Bát Chánh

 

Giả sử như chúng ta dùng hình ảnh về một cuộc hành trình để biểu thị cho sự tầm đạo của mình. Một tấm bản đồ chánh mà đức Phật đã để lại cho chúng ta, cho hành trình đi đến hạnh phúcan lạc, được gọi là Bát Chánh Đạo, tức Con Đường của Tám Nguyên Tắc Hành Động Chân Chánh. Nhưng tôi thường nghĩ ta gọi là Vòng Tròn Bát Chánh thì đúng hơn. Một con đường thì phải đi từ một nơi này đến một nơi kia, và khi ta đến gần nơi kia hơn, ta sẽ cách xa nơi này hơn. Và con đường thì có tính cách tiến triển từng bước một. Cũng như một chiếc thang, ta không thể nào đột nhiên nhảy ngang vào nấc thứ năm rồi bắt đầu leo lên được. Trên một con đường thật sự cũng thế, ta phải bắt đầu từ điểm khởi đầu và tiến bước đều đặn có thứ tự cho đến điểm cuối cùng. Nhưng với một vòng tròn thì ta có thể bắt đầu ở bất cứ một điểm nào, và nó cũng vẫn là nằm trên cùng một vòng tròn.

Khi giảng về con đường Bát Chánh của ngài, đức Phật dạy rằng nó có một số những thành tố đặc biệt. Người ta có thể vững tin là mình đang đi đúng đường nếu họ thấy một trong những tám bảng hiệu đặc biệt ấy. Tám bảng đánh dấu đường đó là: thấy biết chân chánh (chánh kiến), suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy), nói năng chân chánh (chánh ngữ), hành động chân chánh (chánh nghiệp), mưu sinh chân chánh (chánh mạng), siêng năng chân chánh (chánh tinh tấn), thiền định chân chánh (chánh định), và nhớ nghĩ chân chánh (chánh niệm). Người khách du hành nhìn thấy một trong những bảng chỉ đường này sẽ biết là mình đang đi về hướng của an lạchạnh phúc.

Thứ tự mà người du hành nhìn thấy những bảng hiệu ấy trên đường nó không quan trọng. Vì nếu nhìn cho sâu sắc, ta sẽ thấy rõ: trong một cái có tàng chứa hết tất cả những cái khác. Chỉ cần một chút của sự thấy biết chân chánh thôi, ví dụ như một ý nghĩ cho rằng ta có thể có an lạc cho dù không được thoả mãn, sẽ khơi dậy sự suy nghĩ chân chánh thúc đẩy ta cố gắng siêng năng chân chánh để phát triển thêm sự thấy biết chân chánh ấy. Và bất cứ một ai muốn tu tập nói năng chân chánh, muốn mỗi lời mình nói ra đều hữu ích và đúng với sự thật, sẽ khám phá rằng ta không thể nào không có sự nhớ nghĩ chân chánh. Nhớ nghĩ chân chánh có nghĩa là biết chú ý trong mỗi giây mỗi phút, và những ai thực tập điều đó đều biết rằng nó cần phảisự thiền định chân chánh. Ta không thể nào nói rằng, "Bát Chánh Đạo sao phức tạp quá. Tôi chỉ muốn tu Nhất Chánh Đạo thôi!" Việc ấy không thể nào có được. Tất cả đều có liên hệ mật thiết với nhau.

Vì vậy, trên hành trình đi đến an lạchạnh phúc, bạn có thể bắt đầu ở bất cứ một điểm nào. Tôi cũng hơi do dự về việc gọi sự tu tập ấy là một vòng tròn. Vì một vòng tròn, cho dù là nhỏ bé, cũng choáng một khoảng không gian. Và không gian sẽ tạo nên một ý niệm về nơi này và nơi kia. Thật ra chẳng có một nơi kia nào hết. Khi chúng ta tỉnh thứcan lạc, chúng ta đang thật sự sống ở nơi này hơn bao giờ hết. Nhưng vì sự tỉnh thức ấy có xảy ra và sự tu tậphiệu quả, nên chúng ta cần phải gọi đó là gì. Tôi nghĩ có lẽ ta nên gọi đó là Bát Chánh Điểm.

 

Chánh Kiến: Bạn Tôi Alta và Vô Thường

Khi người ta nói đến phương thức tạo hạnh phúc của đức Phật, người ta thường bắt đầu bằng sự thấy biết chân chánh, tức chánh kiến. Thấy biết chân chánh có nghĩa là tin rằng, ít nhất cũng đôi chút, là tuy cuộc sống có nhiều sự thất vọng không tránh được, nhưng ta vẫn có thể có hạnh phúc. Khi nghe vậy, có nhiều người chú ý ngay đến sự kiện là có một phương thuốc chữa trị cho nỗi khổ trong cuộc đời, nhưng lại miễn cưỡng không muốn nghĩ đến cái phần không tránh được kia. Nhưng chính cái phần không tránh được ấy mới thật sự có một công năng khai phóng, vì không có nó chúng ta sẽ nghĩ rằng mọi việc có thể tốt đẹp mãi mãi, nếu ta biết khôn khéo hoặc biết cố gắng đúng mức. Nhưng không có gì sẽ hoàn hảo mãi mãi, vì không có gì trên đời này là thường hằng cả.

Ý thức về vô thường là một thành phần chủ yếu của tuệ giác. Và mặc dù đức Phật đã giảng dạy rất nhiều việc, nhưng chính ra đức Phật đã dạy về lý vô thường trong hơi thở cuối của ngài. Truyền thuyết kể rằng, đó là lời nói trước câu tuyên bố cuối cùngđức Phật để lại trước khi ngài nhập diệt: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường." Có nghĩa là, "Mọi vật đều thay đổi."

Bác bạn của tôi, Alta, mất khi bà được bảy mươi chín tuổi. Tôi gặp bác khoảng hai mươi lăm năm trước đó, khi bác ghi tên học lớp yoga do tôi hướng dẫn. Bác bảo tôi, "Ông nhà của tôi vừa mới mất sau một thời gian dài bệnh hoạn, và bây giờ thì tôi bắt đầu xây dựng đời mình lại từ đầu." Bác ta trở nên ham thích học những lớp về tâm linh và theo học hết những khóa do tôi hướng dẫn. Có lẽ bác cho rằng tôi là thầy của bác, nhưng thật ra, bác mới chính là thầy của tôi.

Câu truyện về bác Alta bắt đầu biến đổi khoảng mười năm trước đây. Bác bị trặc lưng, có lẽ trong một chuyến chạy bộ ba dặm Anh thường ngày của bác, và vì cơn đau khá dữ dội, bạn của bác thuyết phục bác nên đi khám bác sĩ.

"Lần cuối bác đi khám sức khoẻ là lần nào?" Bác sĩ hỏi.

"Chắc cũng đã ba mươi lăm năm rồi," bác Alta đáp.

Đôi lông mày của vị bác sĩ hơi nhướng cao. "Ba mươi lăm năm? Thế còn bác khám ngực và thử mammograms thì sao?"

"Tôi chưa thử bao giờ."

"Còn những 'thay đổi khác' thì như thế nào?"

"Tôi đã trải qua hết," bác trả lời.

Trải qua những biến cố đổi thay trong cuộc đời là việc mà bác Alta sành sỏi nhất, và với khả năng ấy, bác là một gương mẫu cho tôi. Chúng tôi đã trở thành bạn thân, bỏ ra nhiều ngày mưa mùa đông trong phòng khâu vá của bác, thường là để may quần áo cho tôi. Tôi kể cho bác nghe về gia đình của tôi, và bác kể chuyện của bác - những câu chuyệnphụ nữ thường hay tâm sự với nhau trong khi may vá. Tôi thường cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy những chuyện tôi cho là một vấn đề, đối với bác lại chẳng đáng gì hết. Và tôi để ý thấy bác có thể kể cho tôi nghe về những khó khăn trong gia đình bác, mà tôi thấy thật to lớn, trong khi bác vẫn điềm đạm may vá không trật một đường kim. Tôi biết bác buồn, nhưng bác vẫn có vẽ thoải mái. "Bác không bất mãn sao?" Tôi hay hỏi. "Mình đã làm hết những gì có thể làm rồi," bác trả lời, "thì bực mình cũng chẳng có ích lợi gì."

Khi chúng ta thật sự hiểu rằng bất cứ một việc gì rồi cũng thay đổi, ta sẽ có được một cái nhìn sáng suốt hơn đối với những biến cố xảy ra trong đời mình. Giả sử như khi gặp một hoàn cảnh khổ đau nào ta không thể thay đổi được, ít nhất, ta cũng có một niềm tin là nỗi đau ấy sẽ không kéo dài mãi mãi. Nhiều khi, chính cái ý nghĩ cho rằng nỗi đau sẽ không bao giờ chấm dứt đã khiến ta không thể chịu đựng nổi. Khi an ủi những ai đang chịu tang, người ta thường nói, "Thời gian sẽ chữa lành hết tất cả," nhưng người nghe khó có thể tin được việc ấy. Trong cơn đau, chuyện ấy thấy mơ hồ quá. Chánh kiến có nghĩa là ta cảm thấy khổ đau, nhưng vẫn nhớ rằng nỗi đau nào cũng có một giới hạn, và từ đó ta tìm được an ủi. Và, khi mọi việchạnh phúc, ngay cả cực kỳ hạnh phúc, ý thức về vô thường sẽ không làm giảm bớt niềm vui của ta, mà còn làm tăng trưởng nó thêm nữa.

 

Chánh Tư Duy: Thực Tập Sự Khác Biệt

Nhiều năm trước đây, khi tôi mới được hơn hai mươi tuổi, đi phi cơ đối với tôi vẫn còn là một cái gì mới lạ lắm, tôi bay đến thành phố Newyork từ Atlanta, Georgia. Hôm ấy trời mưa to, và chiếc phi cơ chong chóng của tôi không bay cao hơn mây, nên chúng tôi bị dằn vật dữ lắm. Tôi ngồi bám cứng lấy chỗ gác tay trên ghế, nghiến chặt răng, cứ thỉnh thoảng lại đếm nhịp tim của mình, và mong từng phút cho đến khi phi cơ đáp. Một "bà đứng tuổi" trong chiếc ghế cạnh bên (có lẽ cũng khoảng tuổi tôi mà thôi) ngồi bất động, nhận đĩa ăn trưa từ cô tiếp viên hàng không, và múc ăn. "Sao cô ta chẳng sợ gì hết vậy?" tôi tự hỏi. Sau khi phi cơ vừa chạm bánh xuống phi đạo của phi trường Newyork, tôi thở phào nhẹ nhõm, "Cám ơn thượng đế!" Cô ta quay sang tôi và mỉm cười. "Đúng vậy!" cô đáp. Đó là một bài học thật đáng để tôi nhớ mãi. Cô ta có sợ đó chứ, nhưng cô vẫn thưởng thức được bửa ăn trưa của mình.

Bạn của tôi Elizabeth bị giải phẩu ung thư ngực mười năm trước đây, và trong khi tôi và Jim, chồng chị, đứng chờ ngoài phòng hồi sức, mấy cô y tá ghé qua báo cho chúng tôi nghe tin tức về chị và kể lại là thấy chị rất vui tươi khi họ đẩy vào phòng mổ. Họ tỏ vẽ khâm phục sự thoải máithái độ không sợ sệt của chị. Sau này tôi nói lại cho Elizabeth nghe về chuyện của mấy cô y tá kể. "Có thật là chị không sợ hãi một chút nào không?" tôi hỏi. Chị cười to và nói, "Tôi sợ khiếp đi đó chứ, nhưng tôi nghĩ làm người khác bất an chẳng có ích lợi gì."

Cô bạn ngồi trên phi cơ cũng như chị Elizabeth, cả hai đã không hề chối bỏ cảm xúc của mình. Cả hai nào có ưa thích gì về chuyện xảy đến cho họ, nhưng họ cũng không có một sự chọn lựa nào khác. Sự chọn lựa duy nhất mà họ có là cái thái độ trong việc sử dụng thời gian ấy. Có được khả năng để chọn lựa một thái độ, một phong cách, đối với tôi, dường như là một tự do lớn. Có lẽ đó là ý nghĩa sâu sắc nhất của câu "tự do chọn lựa."

Suy nghĩ chân chánh, tức chánh tư duy, là những gì phát huy trong tâm thức khi chúng ta hiểu rằng mình có sự tự do chọn lựa. Sự sống lúc nào cũng sẽ khai mở theo đường lối của nó: dễ chịu hoặc khó khăn, thất vọng hoặc vui tươi, biết trước được hoặc bất ngờ... hoặc tất cả những cái vừa kể! Hạnh phúc biết bao khi biết rằng, bất cứ một làn sóng nào từ biển khơi xô đến, ta cũng có thể vui vẻ cởi lên nó được. Nếu thiện nghệ hơn một chút, ta có thể như những người cởi ván lướt sóng (surfer) chuyên môn, mừng vui mỗi khi được gặp những cơn sóng to.

Áp dụng sự suy nghĩ chân chánh vào đời sống hằng ngày, có nghĩa là ta cương quyết hành xử sao để nới rộng cái giới hạn của những phản ứng bị điều kiện của ta. Nếu tôi muốn có những bắp thịt nở nang, tôi cần phải lợi dụng hết mọi cơ hội để tập thể dục. Nếu tôi muốn có một lối sống thương yêu, rộng lượng và không sợ hãi, tôi cần phải thực tập khắc phục những khuynh hướng giận dữ, tham lam hoặc mê lầm trong tôi. Cuộc đời là một phòng tập thể dục tuyệt diệu. Mỗi hoàn cảnh là một cơ hội tu tập. Trong thuật ngữ của nhà Phật, đó còn được gọi là phát triển sự vô tham, vô sânvô si.

 

Tha Thứ

Bà ngoại của Ronna đã thực tập sân hận. Trong suốt ba mươi năm cuối của đời bà, bà mang trong lòng một nỗi hận câm lặng đối với má của Ronna. Sự căm hận ấy vẫn tiếp tục mặc dù ký ức của bà đã phai mờ. Một hôm, lúc gần kề với cái chết, bà cụ hỏi Ronna, "Con có nhớ ta giận má con về việc gì không?" Ronna nhớ, nhưng cô ta thấy nhắc lại cũng chẳng ích lợi gì. "Không," cô đáp, "Con cũng không nhớ nữa!" "Ta cũng quên mất tiêu rồi," bà ngoại cô nói, "nhưng ta nhớ là ta giận nó lắm!"

Tập dượt "bắp thịt" sân hận nhiều đến độ nó tự hoạt động một mình, chuyện ấy tôi thấy tội nghiệp quá! Tôi bất mãn nhất là mỗi khi nghe ai nói, "Ngày nào mà tôi vẫn còn sống tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho người đó!" Tôi tự nghĩ, "Thật tội nghiệp cho cô ta. Cô đã bị người kia làm đau khổ, và bây giờ cô còn lại định ôm giữ nỗi đau ấy mãi bằng cách tôn thờ nó trong ký ức." Việc ấy gợi tôi nhớ đến những cảnh trong phim cao bồi được quay vào thập niên 40, có vị cảnh sát trưởng bắt một tội phạm nhốt vào xà-lim và đóng cửa lại, nhưng không khóa. Điều khôi hài là người tù la lối và khua những chấn song sắt ầm ĩ, trong khi khán giả đều biết rằng anh ta chỉ cần đưa tay mở cửa là có thể bước ra.

Nhưng đôi khi tôi thấy người ta còn làm những chuyện tệ hơn là chỉ khua những chấn song. Thay vì tự giải cứu, chúng ta lại khư khư ôm giữ lấy cơn giận mà ta cho là chính đáng, bằng cách cứ nhắc đi, nhắc lại những đau buồn của mình. Việc đó cũng giống như là ta đang cầm cây chìa khóa trong tay, vói tay tự khóa nhốt mình lại, rồi quăng chiếc chìa khóa ra ngoài xa.

Trong một bài pháp đức Phật giảng tại vườn Jetavana, ngài dạy, những ai cứ tiếp tục nghĩ về những lúc mình bị lạm dụng hoặc bị làm xấu hổ, sẽ không bao giờ có thể giải thoát ra khỏi sự sân hận. Và những ai có thể buông bỏ những tư tưởng ấy, ngài dạy tiếp, sẽ có thể biết thương yêu được. Có lần tôi đang giải thích điều này cho một lớp của tôi, thì có một cậu học trò nói to, "Lẽ dĩ nhiên, thưa cô. Tha thứ là cái giá mà ta phải trả cho sự tự do." "Tom," tôi nói, "câu ấy hay lắm. Tôi có thể dùng nó để đi dạy được không?" Cậu ta đáp, "Được chứ, nhưng cô phải nhớ nhắc là "Tom nói câu đó' " Và lúc nào tôi cũng nhắc điều ấy.

 

Những Củ Hành Tây

Không phải bao giờ bạn cũng có thể biết được lúc nào, hoặc vì lý do gì, lòng tham lam của mình lại nổi dậy. Chánh Tư Duy, tức suy nghĩ chân chánh là một sự cố gắng để đối trị lại sự nổi dậy ấy. Mùa thu năm ngoái, tôi và chị bạn thân Mary Kay trồng hành tây vào đúng ngày trăng rằm tháng mười. Quyển lịch niên giám nói rằng trăng tròn sẽ bảo đảm cho việc được mùa to. Công việc gieo trồng rất là chậm chạp, vì mỗi cọng hành non mỏng manh cần phải được trồng riêng rẽ, nhưng cũng rất là thích thúthời tiết rất mát và chúng tôi có dịp tâm sự với nhau.

Chúng tôi chúc mừng lẫn nhau về việc đã chọn được một ngày lành tháng tốt để khởi công. Tôi nói, "Nếu chúng ta thật sự thu hoạch được một mùa thật to thì sao? Chị có nghĩ là tụi mình có thể cất chúng trong nhà hết không? Hay là phải phơi khô? Ta có phải thái nhỏ ra, bỏ vào bao và giữ trong tủ lạnh không?" "Tụi mình có thể đem biếu bớt cho những tiệm ăn dành cho người nghèo," Mary Kay nói, "hoặc là cho những nơi nuôi những người không nhà." Mary Kay là giám đốc của một nhà tạm trú dành cho những người vô gia cư, và tôi cũng thường hay mang đồ đến đó cho. Dù vậy, dẫu biết rằng tôi có thể ra chợ mua một xe củ hành đem tặng họ, nhưng tôi muốn là những cây hành từ khu vườn này phải đi vào bụng của tôi. Một cây hành là một cây hành, và tôi trồng là vì tôi thích trồng, không phải vì tôi không thể mua được, mặc dù vậy tôi cũng cảm thấy rất khó chịu về một sự mất mát giả tưởng trong tương lai. Đó là một nỗi đau thật sự, một tâm dính mắc vào một cái gì nó nghĩ là nó cần, cho dù đó chỉ là một cọng hành. Tôi không muốn phải thú tội về sự tham lam của mình, tránh lãnh thêm khổ đau, nên tôi vượt qua nó. "Lẽ dĩ nhiên tụi mình sẽ đem cho," Tôi nói thật lòng. Và tôi cảm thấy vô cùng sảng khoái.

Thành phố Alexander Valley tại California nơi tôi cư ngụ, ở một tiệm hàng có một bảng hiệu ghi, "Tự do không phải là quyền cho phép bạn làm bất cứ việc gì bạn muốn, mà là để làm những gì bạn cần nên làm."

 

Cháu Ngoại Tôi và Tu Viện

Mấy năm trước đây, tôi có tự nguyện rằng khi đối diện với bất cứ một việc gì mà tôi sợ hãi, và nếu tôi nghĩ là mình có thể làm được, tôi sẽ làm. Châm ngôn của tôi là, "Nếu người khác làm được, thì tôi cũng có thể làm được." Nguyên tắc ấy đã thúc đẩy tôi làm những việc mà bình thường có lẽ tôi đã chịu khuất phục. Nó cho phép tôi dám lặn xuống đáy sâu để thấy được một thế giới kỳ diệu dưới lòng đại dương, và nó cũng đã nâng đở tôi qua những kinh nghiệm mãnh liệt và dị thường trong thiền tập, để tôi có thể nhìn được tận mặt một thế giới kỳ diệu của nội tâm.

Sợ hãi là một thói quen của tâm thức. Có người có thói quen ấy nhiều hơn kẻ khác. Nhưng nó bao giờ cũng là dư thừa và không cần thiết. Bị giam hãm bởi sự sợ hãi là một hình tướng của si mê. Ta chỉ có thể hoặc là làm được một việc gì, hoặc là không làm được, thế thôi. Nếu tôi thật sự không thể làm được - ví dụ như tôi rất vụng về về máy móc, lái máy bay là chuyện không khôn ngoan chút nào hết - tôi sẽ không làm. Và nếu tôi thật sự có khả năng, và nếu đó là một công việc lành mạnh, tôi sẽ bắt buộc mình phải cố gắng. Có một hôm tôi khám phá ra rằng, sự sợ hãi thật ra chỉ là một chuỗi tác động của tế bào thần kinh trong bộ óc mà thôi! Thấy được điều ấy, tôi rất bất mãn là sao mình lại chịu giam cầm bởi những dòng điện đơn sơ chạy ngoằn ngoèo trong đầu ấy!

Các bà nội, bà ngoại thường đóng vai trò của một vị thầy tâm linh. Bà ngoại tôi là vị thầy đầu tiên của tôi, và tôi hy vọng sẽ tiếp tục được nhận lãnh vai trò ấy của bà cho các thế hệ về sau. Bài học mà tôi lãnh hội nhiều nhất từ bà là phải biết cương quyết chịu đựng khi đối diện với những hoàn cảnh khó khăn. "- đâu nói rằng," bà sẽ hỏi, "là ta lúc nào cũng phải vui vẻ?"

một lần tôi dẫn đứa cháu tôi, Collin, đến thăm chị bạn Mary, lúc nó mới lên ba tuổi. Mary là một tu sĩ thuộc dòng Nữ Tu Dominican ở San Rafael. Lúc chúng tôi đến viếng thăm, chị đang sống tại một tu viện thật đẹp và đồ sộ, đã được sử dụng làm trung ương cho dòng tu của chị trong nhiều năm qua. Tu viện có những cánh cửa to lớn, nặng nề và hùng vĩ, với những chiếc cầu thang rất dài dẫn lên chúng. Mary kể cho tôi nghe những cánh cửa ấy đối với chị dễ sợ như thế nào lần đầu chị đến đây, cách đây đã hơn ba mươi năm, khi chị mới bước vào dòng tu. Thằng Collin cũng chẳng thích chút nào.

"Cháu không thích mấy nấc cầu thang này, bà ngoại. Mình đi về đi!"

"Bây giờ không phải là thời gian đi-về. Bây giờ là thời gian thăm-viếng-bác-Mary."

"Cháu thật là không thích mấy nấc thang này, ngoại."

"Cháu đâu cần phải thích chúng, Collin. Cháu chỉ cần leo lên chúng mà thôi. Nắm tay ngoại đi, hai bà cháu mình cùng đi với nhau."

Chúng tôi đã ở lại thăm Mary, và dĩ nhiên, Collin cũng thích thú lắm. Nó dám leo lên cả chiếc cầu thang chánh và dài nhất của tu viện. "Coi kìa bà ngoại, nhìn những nấc thang ấy kìa!" Nó cảm thấy hảnh diện về chiến thắng của nó, và tôi thì cảm thấy rất vui về những bước đầu trên con đường tu tập tâm linh của nó. Tôi thường kể truyện của Collin lại cho các học trò của tôi, đặc biệt cho những ai đang thực tập thiền quán trong một khóa tu. Tôi kể câu chuyện ấy những khi nghe một thiền sinh nào nói, "Tôi đang kinh nghiệm thân và tâm tôi một cách rất mới lạ, tôi cảm thấy sợ hãi quá!" Tôi muốn họ biết rằng cái gì mới lạ và khác thường bao giờ cũng có thể gây nên một cảm giác sợ hãi hết, nhưng cái sợ ấy không cần thiết. Nếu có một ai đó nắm tay ta, "sợ hãi" sẽ đổi thành "thú vị", và "thú vị" là một trong những yếu tố của sự giác ngộ.

 

Chánh Nghiệp: Hành Động Chân Chánh

Những giới luật đạo đức đa số đều thường có dính dáng đến những sự cấm đoán: không được làm cái này, không được làm cái kia. Tất cả các truyền thống tâm linh mà tôi biết, ít nhiều gì thì cũng thường có chung một bảng danh sách liệt kê những điều ngăn cấm. Chuyện đó cũng dễ hiểu, vì tất cả những điều cấm ấy đều được phát triển từ ý thức rằng, nếu chúng ta không sáng suốt, sự thúc đẩy tự nhiên của tâm tham lamsân hận trong ta sẽ khiến ta làm những việc lạm dụng hoặc có hại cho kẻ khác. Điều luật cơ bản nhất là, "Đừng gây thêm khổ đau."

Trong kinh điển Phật giáo, khi nói đến chánh nghiệp, người ta dùng chữ hiri và ottappa, thường được dịch là "biết hổ thẹn" và "biết khiếp sợ." Hổ thẹn và khiếp sợ có mang một ngụ ý hơi tiêu cực, nhưng tôi thích những chữ ấy. Tôi tôn trọng cái ý niệm về một trách nhiệm to tát mà những danh từ ấy muốn chuyển đạt. Nói chung lại, chúng có nghĩa là mỗi một hành động nào của ta cũng đều có một khả năng gây nên khổ đau, và mỗi một việc làm nào của ta cũng đều có những hậu quả lan rộng, mà ta không bao giờ có thể tưởng tượng nổi. Nhưng việc ấy không có nghĩa là ta không nên làm gì hết. Nó có nghĩa là ta nên hành động cho thật cẩn trọng. Tất cả mọi hành động đều quan trọng.

 

Ông Ngoại Tôi và Những Trái Cam

Tôi không nhớ rằng có lúc nào mình lại không biết chuyện ông ngoại và những trái cam không! Tôi đoán có lẽ tôi đã nghe ông kể khi tôi mới lên chín hoặc mười gì đó. Chắc tôi đã thắc mắc hỏi ông, vì thấy ông làm việc tại một cây xăng, mà ông không hề biết lái xe.

"Khi Ngoại mới đến xứ Hoa-kỳ," ông Ngoại tôi kể, "Ngoại mới được hai mươi lăm tuổi, và có người tập cho Ngoại lái xe đạp. Ngoại chạy chưa được vững lắm, và một hôm ông Ngoại vô ý đụng nhầm một bà đang ôm những giỏ giấy đi chợ. Một chiếc giỏ rơi xuống đất, và những trái cam đổ ra lăn lóc khắp nơi trên mặt đường. Ngoại hối hận về hậu quả mình gây ra quá, và rồi từ đó trở đi quyết định là mình sẽ không bao giờ lái một cái gì nữa hết!"

"Nhưng đó chỉ mới có một lần thôi mà," tôi phản đối.

"Việc đó không thành vấn đề," ông Ngoại nói. "Sau khi Ngoại biết được cảm giác đụng phải người khác như thế nào rồi, Ngoại không bao giờ muốn đâm vào ai một lần nữa."

Có lẽ đó là một mức độ hơi cực đoan của hiri và ottappa, nhưng tôi cảm thấy kính phục ông Ngoại tôi rất nhiều. Và trong suốt đời ông, tôi đã nghe ông lặp đi lặp lại câu chuyện ấy rất nhiều lần, tôi có cảm tưởng là Ngoại tôi rất hài lòng với quyết định của mình. Ông sống với một ước vọng là sẽ không làm đau khổ ai hết. Như ông đã nói, "Tôi không bao giờ muốn gây thêm phiền phức gì cho bất cứ ai."
 
 

Chánh Nghiệp Tích Cực: Cứu Cấp Trên Phi Cơ

Thật ra, những hành động cấm đoán chỉ mới là một nửa phần của chánh nghiệp mà thôi. Một nửa phần còn lại là biết sử dụng hết mọi cơ hội của mình để làm vơi bớt khổ đau. Nhận lãnh trọn thế giới này không phải chỉ là một hành động cao thượng đối với kẻ khác mà thôi, nó còn to tát hơn thế nhiều, nó là một việc làm rất tốt lành cho chính ta.

Đôi khi hồi tưởng lại quá khứ, tôi cảm thấy rất buồn vì đã bỏ lở những cơ hội mà tôi có thể hành động để làm vơi chút phần nào khổ đau cho người khác. Năm năm trước đây, tôi đã lở một cơ hội trên một chuyến bay, tôi vẫn còn nhớ mãi và học được rất nhiều từ đó. Tuần vừa qua, suýt chút nữa là tôi lại đánh mất thêm một cơ hội nữa, nhưng tôi ý thức kịp thời. Sau đó, tôi tự hỏi, không biết lỗi lầm đầu tiên của tôi có được bôi xóa nhờ sự sửa sai lần sau này không. Và tôi ý thức rằng, việc ấy không ăn chung gì hết! Hành động chân chánh, tức chánh nghiệp, là một đòi hỏi thường xuyên trong suốt cuộc đời. Không có một thời điểm nào để ta có thể dừng lại và cân bằng số điểm, xem mình thắng bại ra sao. Nếu có một hành động nào là cần thiết và hành động ấy tốt lành, thì nó cần phải được thực hiện. Việc ấy nghe như là một sứ mạng rất to tát, như một lời nguyện của vị bồ tát, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, muốn đoạn dứt hết mọi phiền não, mà sự thật là vậy. Nhưng thật ra, việc ấy cũng không khó như ta nghĩ đâu. Những quyết định của ta sẽ trở nên dễ dàng hơn. Vì trốn tránh không phải là một sự chọn lựa, nên công việc chỉ là ý thức được những việc nào là tốt lànhthực hành chúng mà thôi.

 

Cứu Cấp Trên Phi Cơ: I. Sự Sai Lầm

Tôi ngồi yên trong ghế của mình, cột dây an toàn xong xuôi, trong khi những người hành khách cuối cùng bước lên phi cơ từ Boston đi San Francisco. Bổng có giọng nói cáu kỉnh của một bà mẹ gây sự chú ý cho tôi. Tôi ngước nhìn lên và thấy gương mặt của bà ta đỏ bừng và căng thẳng. Đứa con trai nhỏ mặt trông tái mét và sợ sệt. Bà ta loay hoay với mấy chiếc giỏ xách tay, đẩy đứa bé đi tới trước đến chỗ ngồi của bà, mắng nhiếc nó từng bước một. Tôi nhíu mặt và nhìn sang chỗ khác, tôi có những ý nghĩ không tốt về bà ta.

Chuyến bay dài sáu giờ đồng hồ. Hai mẹ con ngồi phía sau tôi cách chừng vài dãy ghế, đều đặn, tôi có thể nghe tiếng gay gắt của bà. Mỗi lần nghe tiếng bà là tôi cảm thấy bực mình. Tôi ước gì mình đã đi trên một chuyến bay khác. Tôi cảm thấy khó chịu vì bà ta đã làm hỏng cái hy vọng rằng đây sẽ là một dịp cho tôi nghỉ ngơi. Tôi lo lắng cho đứa bé trai, và tưởng tượng ra những hình ảnh đen tối cho tương lai và cuộc đời của nó. Tôi nghĩ rồi sẽ có một ngày nào đó, những hành động của người đàn bà này sẽ trở lại ám ảnh bà ta. Tôi ngồi yên trong ghế, suy nghĩ đủ hết tất cả mọi chuyện, trừ việc giúp đở họ.

Trong lúc đó, tôi không có một giải pháp can thiệp nào hết. Có lẽ tôi quá bực mình, tôi nghĩ tôi sẽ lại thốt ra những lời bất nhã. "Mình nói gì," tôi tự hỏi, "mà lại có thể giúp ích được cho họ?"

Phi cơ đáp xuống, người đàn bà và đứa con trai mất dạng vào trong đám đông. Khi ấy, có lẽ vì cơn nước lũ lụt phê phán đã dừng, tôi biết được việc gì mình đã có thể làm. Tôi đã có thể dừng lại bên chỗ dãy ghế của bà ta, mỉm cười và nói, "Đi xa với lại một đứa bé như vầy chắc chắn là cực lắm, phải không? Tôi cũng có lần làm như vậy, lâu lắm rồi, và tôi vẫn còn nhớ mãi. Bà đi như vầy lâu chưa? Bà có phải chờ đợi ở phi trường lâu không? Bà đi về đâu? Có ai ra đón không?" Dĩ nhiên là tôi không cần phải hỏi tất cả những câu ấy. Chừng một hoặc hai câu cũng đủ tỏ cho bà ta biết rằng tôi thấy được nỗi cực nhọc của bà và lưu tâm đến. Việc đó chắc chắn sẽ giúp được phần nào.

Nào ai biết được việc gì đã có thể xảy ra nếu tôi và bà nói chuyện với nhau? Có lẽ tôi đã có thể nói cho bà ta nghe một vài điều hữu ích về vấn đề nuôi dạy con. Có lẽ tôi đã có thể khiến cho bà cố gắng thay đổi một phần nào. Có lẽ cuộc đời của đứa bé trai ấy đã thay đổi.

Những việc đáng lẽ tôi đã phải làm trở nên rất rõ ràng sau đó, khi nó đã là quá trể. Tôi cảm thấy hối hận. Nhà Phật có dạy rằng hành động này sẽ "làm điều kiện" cho hành động khác, và sự không-hành-động của tôi đã điều kiện cho một quyết định là mình sẽ hành động tốt hơn về sau.

 

Cứu Cấp Trên Phi Cơ: II. Sửa Sai.

Năm năm sau, một lần nữa, tôi ngồi yên trong ghế trên chuyến bay United 33, từ Boston đến San Francisco, tôi hy vọng sẽ được sáu giờ rảnh rang để viết lách, vì chỉ còn vài tuần nữa là đến kỳ hạn cho bản thảo của quyển sách này. Người đàn bà ngồi cạnh tôi có vẻ bất an, bồn chồn trong ghế ngồi, háo hức muốn nói chuyện. Bà kể tôi nghe, gần đây bà bị té và đầu xương cụt của bà bị bầm tím, bây giờ mỗi khi ngồi nó đau đớn lắm. Bà giải thích là bà hơi lo và không vui, vì chuyến bay này khá dài mà lại không được phép hút thuốc.

Tôi bỏ một thời gian để nói chuyện, hy vọng rồi bà ta sẽ ổn định xuống để tôi có thể trở lại viết lách mà không tỏ ra mất lịch sự. Tôi lào xào sắp xếp lại mớ giấy tờ của mình, cố ý cho bà thấy là tôi muốn được yên để làm việc. Mỗi lần chúng tôi kết thúc một chủ đề và tôi bắt đầu quay sang chỗ khác, bà ta lại bắt đầu một đề tài mới.

Giờ ăn trưa đến và đi. Tôi hy vọng là dịp nói chuyện trong giờ ăn sẽ cho phép tôi được yên sau đó, để có thể nghiêm chỉnh tiếp tục sự viết lách của mình, nhưng việc ấy đã không xảy ra. Chuyến bay càng kéo dài, bà ta lại càng trở nên bất an. Lưng của bà đau và bà thèm thuốc lá.

Thật ra chính là bà, chứ không phải tôi, đã đánh thức tôi dậy trước khi tôi lại phạm lỗi một lần nữa. Chúng tôi kể cho nhau nghe về việc làm của mình, và bà thắc mắc, hỏi một chuỗi câu hỏi về công việc của một người đi hướng dẫn thiền tập. Tôi dạy cho những ai? Những gì tôi dạy có ích lợi cho những người bị căng thẳng không? Nó có khó không? Nếu bà muốn học thì sao? Bà hăm hở nhờ tôi ghi xuống tên của những quyển sách bà có thể đọc, những cuộn băng bà có thể mua, những nơi bà có thể tìm đến học.

Cuối cùng, tôi hiểu. Tôi nói, "Bà có muốn tôi chỉ cho bà phương pháp thiền tập ngay bây giờ không? Nó có thể sẽ làm bà cảm thấy dễ chịu hơn."

"Vâng, tôi muốn chứ," bà đáp. "Tôi rất là muốn lắm."

Tôi bỏ viết xuống. Tôi giảng cho bà nghe vài lời hướng dẫn về thiền tập. Bà ta ngồi yên trong một thời gian. Và sau đó chúng tôi bàn về kinh nghiệm của bà.

Bà nói bà cảm thấy được thoải mái hơn. Tôi giải thích, một cảm giác thoải mái hơn một chút sẽ làm cho bà ta cảm thấy thoải mái hơn thật nhiều, bởi vì bây giờ bà có thể tin chắc là mình có khả năng vượt qua được chuyến bay này. Chúng tôi nói về việc tâm của ta có thể nắm lấy một sự khó chịu nho nhỏ thôi và thổi phòng nó lên thật to.

Tôi bắt đầu nhận ra là mình đang có những giờ phút rất vui. Tôi chợt thấy, thật là rất buồn cười khi ta bận rộn viết về niềm vui của những hành động vô kỷ và từ ái, về việc đem tình thương ra ban rải mỗi khi có dịp, trong khi ta lại cố chối bỏ một người đang khổ đau ngồi ngay sát cạnh bên ta. Trong nửa giờ cuối của chuyến bay bà ta ngủ say, và tôi đã viết một bài thật hay.

 

Chánh Ngữ: Một Lời Đã Nói Ra, Bốn Ngựa Không Theo Kịp

Một tấm bảng trong một cửa tiệm cạnh nhà tôi ghi:

Cẩn thận trong việc chọn lời của bạn
Giữ cho chúng ngắn gọn và ngọt ngào
Bạn không bao giờ biết sẽ có một ngày
Những lời nào rồi bạn sẽ phải lãnh.

Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về sự kiệnđức Phật đã dành riêng một chi phần đặc biệt trong Bát Chánh Đạo cho sự nói năng chân chánh, tức Chánh Ngữ. Ngài có thể đơn giản hóa bằng cách nhập nó vào chung với Chánh Nghiệp, tức hành động chân chánh, cũng được vậy! Vì nói năng cũng là một hình thái của hành động. Có thời gian tôi nghĩ có lẽ đức Phật để nó riêng ra là vì chúng ta nói nhiều quá. Nhưng rồi sau đó tôi đã đổi ý - vì biết có một số người không nói gì nhiều hết. Bây giờ, tôi nghĩ nó được phân loại riêng là vì lời nói của ta có một quyền năng rất lớn.

Vài năm trước đây, tôi có đọc được một câu trên một trang báo. Nó được in ở cuối trang như một câu châm ngôn chêm vào cho đầy hết trang báo, vì bài viết vẫn còn dư một khoảng trống. Tôi không còn nhớ bài viết về đề tài gì, cũng như trên tờ báo nào, nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ câu ấy. Nó ghi, "Gậy và đá đôi khi có thể làm gẫy xương ta, nhưng lời nói thì lúc nào cũng có thể gây thương tích cho ta."

Đôi khi trong lớp, tôi thường hỏi, "Em nào đã từng bị gẫy xương giơ tay lên." Sau khi các em đưa tay lên, tôi nói, "Em nào bây giờ vẫn còn đau vì gẫy xương thì cứ để tay cho tôi xem." Thường thường thì tất cả những bàn tay đều bỏ xuống. Sau đó tôi hỏi tiếp, "Giơ tay lên nếu có em nào vẫn còn cảm thấy đau đớn về một chuyện gì đó mà ai nói với em trong một năm vừa qua." Rất nhiều bàn tay đưa lên. "Giữ tay ở đó nếu em nào vẫn còn cảm thấy khổ đau vì một lời phê bình của ai về mình trong năm năm qua." Những bàn tay vẫn còn đưa cao. "Mười năm qua... hai mươi năm qua... ba mươi năm qua... lời nói của ai khi em mới được năm tuổi." Nhiều bàn tay vẫn còn giơ cao. Họ quay chung quanh nhìn nhau và mỉm cười, ngượng ngùng, nhưng tôi không nghĩ là có ai vui vẻ gì. Đó là một giây phút thật dễ thương của sự chia xẻ lòng từ ái, của việc làm chứng nhân cho một gánh nặng mà tất cả chúng ta đang mang trên vai, một nỗi đau của những lời phê bình gây thương tích. Có lẽ chúng ta nghĩ nếu mình là người lớn, ta phải bỏ qua được những lời chê trách trẻ con của người khác. Tôi tự hỏi, nếu ta có bao giờ thật sự quên bỏ được chúng không! Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều rất dễ bị thương tích, như một cái bánh kem-su, bên ngoài tuy dòn nhưng bên trong rất là mong manh, và cũng rất là ngọt ngào.

Vào thập niên 60, châm ngôn của xả hội thời ấy là "Hãy bộc lộ ra hết tất cả," tôi cứ tưởng tượng về việc mình sẽ viết một quyển sách có tựa đề Giữ Hết Lại Bên Trong. Tôi cảm thấy lo âu vì thấy mọi người không ý thức được rằng chúng ta có thể dễ bị thương tích đến mức nào. Nhưng mấy năm gần đây, tôi đã đổi tựa quyển sách của tôi thành Giữ Nó Lại Bên Trong Cho Đến Khi Nào Chúng Ta Tìm Được Một Đường Lối Để Phát Biểu Cho Có Hữu Ích.

Tôi tin là chúng ta có bổn phận phải nói sự thật. Nói lên sự thật là một phương cách giúp ta chăm sóc kẻ khác. Đức Phật dạy chúng ta phải hoàn toàn chân thật, nhưng ngài cũng dạy thêm là bất cứ một lời nói nào của ta cũng phải có hai yếu tố: chân chánh và hữu ích.

Khi dạy về Chánh Ngữ, đức Phật cũng có cung cấp cho ta một kim chỉ nam trong việc sửa sai người khác. Một sự khiển trách, đức Phật dạy, phải có đủ những yếu tố sau đây: thời gian, chân thật, nhẹ nhàng, dễ thương và bổ ích. Khi tôi nói cho người ta nghe về những tiêu chuẩn ấy, họ thường kêu lên, "Nhưng nếu vậy thì sẽ không còn ai có thể khiển trách ai được nữa hết!" Tôi thì nghĩ khác. Tôi nghĩ với Chánh Ngữ người ta vẫn có thể phát biểu ý kiến hoặc nhận xét của mình qua một đường lối mà người kia có thể lắng nghe và sử dụng được, mà không hề cảm thấy mình bị thấp kém.

 

Luật Sáu Mươi Giây

Trình độ sơ cấp của chánh ngữ là những lời nói không gây đổ vỡ thêm cho bất cứ một hoàn cảnh nào. Việc này sẽ ngăn ngừa được những lỗi lầm căn bản, như là nói dối hoặc cố ý dùng những lời gây khổ đau. Trình độ cao cấp của chánh ngữ sẽ giúp duy trì sự quân bình của hoàn cảnh, bằng cách không cộng thêm vào đó yếu tố phá hại của việc nói những lời thị phi.

Những lời thị phi tức là nói chuyện về một người nào đó không có mặt. Trừ những trường hợp hiếm hoi, khi có thể ta cần phải phát biểu một vấn đề nào đó thay mặt cho một người khác. Khi nói chuyện gièm pha về một người thứ ba là ta đang mời gọi người nghe cùng chia xẻ cái khoảng không gian cáu kỉnh, bất an trong tâm mình. Nói chuyện ca ngợi về một người thứ ba có thể khiến cho người nghe cảm thấy họ là không quan trọng. Như vậy tại sao ta lại không chọn nói về những gì đang có mặt trong hiện tại?

Sau đây là một bài tập về chánh ngữ cho trình độ cao cấp. Bắt đầu ngày mai khi bạn thức dậy, đừng nói chuyện phiếm. Xem việc gì sẽ xảy ra nếu bạn không phê bình về bất cứ một ai không có mặt. Cẩn thận lắng nghe tiếng nói trong tâm khi nó chuẩn bị để phê phán, và bạn hãy tự hỏi, "Tại sao mình phải nói như thế?" Thấy được ý định của ta là phương cách hay nhất để biết được lời phê phán mà ta sắp nói ra có là chánh ngữ hay không. Ý định của ta có tốt lành không, có thật sự là một ý muốn giúp đở người khác hay không? Hay chỉ là để khoe khoang? Hoặc là gièm pha?

Đôi khi bàn chuyện thị phi có vẽ dường như là vô hại, một cố gắng để gợi chuyện, để trám cái khoảng trống im lặng giữa hai người. Tôi nghĩ chúng ta ưa nói chuyện phiếm vì sợ người bạn của mình sẽ nghĩ rằng ta không thấy thích thú đủ để nói chuyện với họ. Khi ta có thể có mặt với một người nào đó và nói, "Tôi đang có một thời gian tuyệt vời và rất thích cùng đi dạo với bạn (ăn với bạn, lắng nghe nhạc với bạn, uống trà với bạn), nên chúng ta không cần phải nói chuyện gì", đó là một hạnh phúc lớn. Tôi xuất thân từ một gia đình của những "nhà vô địch" thích nói chuyện, cho nên tôi rất ngạc nhiên khi khám phá ra là mình lại rất thích những khoá tu thiền im lặng. Rửa xà-lách, xắt cà-rốt trong thinh lặng, với một người khác cũng rất là thân mật. Thật vậy, chia xẻ cái không gian thinh lặng của công việc làm xà-lách với một người lạ trong vòng một tuần, khơi dậy một cảm giác chúng tôi là những người bạn rất thân thiết.

Một trình độ rất cao của Chánh Ngữ đòi hỏi ta phải ý thức được ý định của mình trong tất cả mọi sự truyền thông, không phải chỉ có trong việc nói chuyện phiếm mà thôi. Tôi cũng bắt đầu xem xét lại lời nói của chính mình sau một thời gian tu tập trong thinh lặng. Khi trở về nhà, cũng mất dăm ba ngày trước khi lời nói của tôi trở lại cái tốc độ phản ứng quen thuộc của nó. Tôi đã có thể ghi nhận được cái khoảng thời gian, từ khi câu trả lời khởi lên trong tâm tôi và cho đến khi nó thoát ra khỏi miệng. Tôi có đủ thời giờ để ý thức được động cơ nào đã thúc đẩy mình. Xét ra thì những động cơ thúc đẩy tôi cũng rất tốt đó, nhưng chúng không tốt như tôi đã tưởng. Có lẽ 80 phần trăm những câu trả lời của tôi là để trình bày sự thật, 10 phần trăm là tôi bị thúc đẩy vì muốn phô trương cách thức khéo léo mà tôi sẽ trình bày chúng, và 10 phần trăm còn lại là tôi muốn gây một thiên kiến nơi người nghe. Đôi khi còn tệ hơn thế nữa! Đôi khi 10 phần trăm chót ấy là một hình thức che đậy, một thủ đoạn để trả đũa người khác, cho một sự khinh thường, có thật hoặc tưởng tượng, nào đó.

Lúc mới đầu, tôi rất nản khi khám phá ra tôi đã lạm dụng năng khiếu sử dụng ngôn ngữ của mình, lấy đó làm một phương tiện kín đáo để hành xử không đẹp. Nhưng tôi cảm thấy thật nhẹ nhàng sau khi quyết định sẽ không làm thế nữa. Chánh Ngữ ở một trình độ cao cấp xét ra cũng không phải là khó lắm. Một khi tâm ta đã được hướng dẫn để quán sát tìm những thông điệp ẩn tàng, nó sẽ hành động theo đó một cách tự nhiên. Quyết định thay đổi ấy đã giản dị hóa cuộc đời của tôi rất nhiều, vì tôi không còn lo nhiều về việc phải thu dọn về sau nữa.

Chánh Ngữtrình độ tối cao là ta phải biết trung thực hoàn toàn, nó đòi hỏi ở nơi ta một sự có mặt trọn vẹn. Tôi học được điều này từ Jim, một nhà tâm lý học tôi có dịp làm quen khi chúng tôi cùng dạy chung tại một cuộc hội thảo đối thoại giữa Phật giáo và Công giáo. Tôi đã đọc những quyển sách của ông viết, và rất mừng được dịp đi ăn chiều với tác giả.

"Chị nghĩ sao về đề tài A, Sylvia?" ông hỏi. (Tôi dùng đề tài A,B,C... vì không còn nhớ chúng tôi nói về vấn đề gì, và những điều tôi học từ Jim là cái phương cách mà ông nói hơn là từ nơi chủ đề.)

"Tôi nghĩ như vầy, như vầynhư vầy," tôi trả lời lập tức. "Còn anh nghĩ sao về đề tài B và C?"

Ông ta chỉ ngồi yên lặng. "Chết rồi," tôi thầm nghĩ. "Có lẽ mình đã làm gì mích lòng ông ta chăng. Chắc là điều mình hỏi có tính cách cá nhân quá. Hay có lẽ mình đã nêu ra nhiều đề tài quá."

Nhưng rồi ông từ tốn trả lời, "Tôi nghĩ như thế này, thế này về B và C. Còn chị nghĩ sao về vấn đề D?"

"Ồ, D," tôi đáp ngay, "Tôi nghĩ như vầy, như vầynhư vầy. Còn E và F thì sao?"

Và ông lại ngồi im lặng. Tôi chợt thức tỉnh và thấy được chuyện gì đang xảy ra. Khi tôi hỏi ông nghĩ gì, thì ông thật sự bỏ ra thời giờ để suy nghĩ. Ông trả lời bằng cách nói cho tôi nghe những gì ông đang nghĩ ngay bây giờ, không phải là của ngày hôm qua hoặc của tuần trước. Tôi cảm thấy mình được ông quý trọng. Tôi cảm thấy ông biết tôn trọng những câu hỏi của tôi đủ để ông nói cho tôi nghe một sự thật hiện tại nhất về nó.

Bài thực tập của Chánh Ngữtrình độ tối cao tức là luật Sáu Mươi Giây trong khi trò chuyện. Bất cứ khi nào có ai đặt một câu hỏi, người đáp cần phải im lặng trong sáu mươi giây trước khi trả lời. Vì sự dừng lại ấy là bắt buộc, cho nên câu trả lời của ta sẽ có nhiều cơ hội để bao gồm sự suy ngẫm, xem xét ý định, duyệt lại giọng nói - tất cả những gì là tối cần thiết cho một câu trả lời sáng suốt.

 

Chánh Mạng: Chị Pearl và Công Việc Ủi Đồ

Chánh Mạng, tức sự mưu sinh chân chánh, dường như khó thực tập đối với ngày nay hơn là ở vào thời của đức Phật. Điều luật thì cũng vẫn vậy: Chánh Mạng có nghĩa là tổ chức sự mưu sinh của mình sao cho không lạm dụng, không bóc lột, không gây hại cho ai. Dù sao, vào thời đại ngày nay thế nào là lạm dụng, là bóc lột thì cũng không nhất thiết được rõ ràng cho lắm.

Vào thời đức Phật, những loại nghề nào bất thiện rất dễ phân biệt. Làm binh sĩ, nuôi nô lệ, sản xuất võ khí và những chất say - tất cả đó đều là những nghề bị ngăn cấm. - thời đại chúng ta, binh sĩ đôi khi cũng còn có nhiệm vụ của một người duy trì hòa bình. Và ta cũng khó mà biết được sự tốt lành của tất cả mọi sản phẩm của bất cứ một công ty nào, nhất là trong thời đại mà các công ty mua bán, phụ thuộc lẫn nhau. Nào có ai biết những gì được sản xuất bởi công ty phụ thuộc với công ty làm bột giặt của tôi?

Ngày nay khi người ta nói, "Ông ấy, bà ấy là một người rất thành công" thường có nghĩa là "Ông ấy bà ấy có rất nhiều tiền." Nó không nhất thiết có nghĩa là họ có đạo đức, có nhân cách hoặc là có hạnh phúc. Giáo lý của đức Phật về Chánh Mạng không hề loại bỏ những hạng người giàu có - ngài dạy cho tất cả mọi người, trong đó có hàng vua chúa - nhưng nó không hề được dựa trên của cải vật chất. Nó được dựa trên sự tốt lành.

Đối với tôi, một hình ảnh trọn vẹn về Chánh Mạng nó to lớn hơn là những cấm đoán mà được phản ảnh qua sự chọn lựa bên ngoài của ta. Sự chọn lựa tốt lành trong nội tâm - ví dụ một thái độ lành mạnh về công việc làm của ta - cũng có thể đóng góp cho sự an lạchạnh phúc của ta nhiều lắm. Phương cách mưu sinh của mỗi người là một cơ hội để ta phát huy đức tự trọng.

Bạn của tôi, chị Pearl, sinh sống bằng nghề giữ nhà, khi bốn đứa con tôi còn bé và tôi mới bắt đầu đeo đuổi cao học. Tôi rất hảnh diện vì được nhận vào một trường đại họcuy tín, và chị Pearl thì rất vui với công việc mới của mình.

Chị Pearl nấu ăn rất khéo, mấy đứa con tôi mê những món chị làm. Chị lái xe chở chúng đi học, nhớ những giờ hẹn bác sĩ, và săn sóc khi chúng bệnh. Một chiều nọ, sau một ngày ở trường, tôi về nhà thấy chị đã ủi xong hết đống quần áo mà tôi nghĩ phải mất cả tuần. Những bộ đồ phẳng phiu được treo trên chiếc máng áo trông thật đẹp.

"Chị Pearl," tôi kêu lên, "quần áo chỉ ủi trông đẹp quá!"

"Đẹp thật," chị đáp. "Tôi rất hảnh diện với tài ủi đồ của mình!"

Tôi rất sung sướng là đã được câu trả lời của chị đánh thức tôi dậy. Tôi vẫn còn ghi nhớ nó mãi cho đến ngày hôm nay, ba mươi năm sau. Không phải là tôi có một thái độ tự cao về những công việc chuyên nghiệp đâu! Không phải vậy! Điều mà tôi học được ở chị Pearl là trong ngay giờ phút này thì cái mà bạn làm, bên ngoài, chỉ mới là phân nửa của công việc mà thôi. Nó đối với bạn ra sao, bên trong, là phân nửa phần còn lại!

 

Chánh Tinh Tấn: "Nhớ, Hãy Vui Vẻ"

Những lời dạy về Chánh Tinh Tấn, tức sự siêng năng chân chánh, trong đạo Phật rất là rõ rệt. Đức Phật dùng chữ thiện và bất thiện để nói đến những gì dẫn đến hạnh phúc và những gì đưa đến khổ đau. Nguyên tắc của Chánh Tinh Tấn là: hãy ghi nhận những cảm giác tốt lành như là tính thân thiện, từ ái, hoặc rộng lượng, khi chúng có mặt trong tâm, và khuyến khích cho chúng phát triển. Tập hành động dựa trên những cảm xúc ấy là một phương cách để ta phát huy hạnh phúc. Và ta cũng cần ghi nhận những cảm xúc bất thiện, như là giận dữtham lam, khi chúng khởi lên trong tâm, và cố gắng đừng làm cho chúng phát triển thêm. Hơn nữa, đức Phật còn khuyên rằng, những cảm xúc bất thiện cần phải được loại trừ ra khỏi tâm ta.

Tôi tin đức Phật có ý nói là chúng ta có thể chọn lựa về cái trạng thái trong tâm của mình. Nhưng nói thì bao giờ cũng dễ hơn làm. Tham lamgiận dữ, ít nhất là trong những sự bộc phát nho nhỏ, có một tác dụng khơi động năng lượng, và năng lượng ấy rất là quyến rũ. Có một lần, nhiều năm về trước, tôi lái xe đến phi trường Oakland vào nửa đêm để đón chồng tôi, anh ta trở về trên một chuyến bay khuya. Con đường xa lộ cảnh vật vắng tanh và đều đều. Tôi bắt đầu cảm thấy buồn ngủ, và chợt sợ là mình có thể bị ngủ gục trong khi cầm tay lái. Đột nhiên, trong dòng tư tưởng, tôi chợt nhớ đến một vấn đề giữa tôi với một người bà con xa, và cảm thấy bực mình về những điều mà người ấy nói về tôi.

"Chị ấy táo tợn đến thế là cùng!" tôi nghĩ, và ngay khi ấy tôi cảm thấy mình trở nên thật tỉnh táo. Một đòn tức giận chính đáng đã đánh tiêu tan hết sự buồn ngủ trong tôi.

"Chà, cái này hay thật!" Tôi tự chúc mừng mình về một sự khám phá mới. "Trạng thái của tâm có thể thay thế lẫn nhau được. Tôi có thể đem cái này để thay thế cho cái kia trong tâm. Tôi có thể đánh thức mình dậy bằng cách nghĩ những tư tưởng tức giận!"

Và tôi đã làm theo như vậy. Trên đường đi đến phi trường, tôi nghĩ đến những tư tưởng tức giận và lặp lại trong đầu những câu đối thoại khác nhau: lời tôi nói, những gì chị ta cho là tôi nói, những gì tôi có thể kể cho mọi người nghe về điều chị nói là tôi đã nói. Đến lúc tôi quẹo vào bãi đậu xe của phi trường, tôi đã tỉnh như sáo sậu. Tôi không nhớ rõ, nhưng tôi có thể đoán là có lẽ sau đó tôi đã cảm thấy cáu kỉnhbực bội thật sự.

Hai ngày sau, tôi có đem câu chuyện ấy kể lại cho thầy tôi nghe, nghĩ rằng thế nào ông ta cũng khen ngợi tôi về cái tuệ giác mới này, về sự liên hệ mật thiết giữa thân tâm. Nghe xong ông cười và nói, "Phải rồi, sự thay thế lẫn nhau của những tâm thức là đúng đấy. Nhưng dù sao," ông nói thêm, "chị có thể làm cho mình tỉnh táo bằng những tư tưởng gợi tình cũng được vậy, và như thế có còn thú vị hơn không!"

Sau một thời gian, tôi bắt đầu nhận thấy ngoài những cơn bộc phát nhỏ của lòng tham và cơn giận - mà chúng là những phản ứng tự nhiên của tâm đối với những kinh nghiệm dễ chịu và khó chịu - bám víu vào hai thành tố ấy sẽ làm ta mệt mỏi lắm. Kéo dài sự mong ước và kéo dài sự ghét bỏ, cả hai đều sẽ làm cho ta bực bội và nản chí. Chúng làm cho tâm ta mỏi mệt. Đó cũng là một trong những lý do mà ta khó có thể nào loại trừ chúng được. Tôi nghĩ, vì ta cảm thấy mệt mỏi, nên không còn muốn thoát ra hoặc chịu nhìn vấn đề cho thấu suốt nữa. Vì vậy, chúng ta cần những điều luật để nhắc nhở mình. Và đôi khi ta cũng phải cần đến người chung quanh nữa.

Một hôm trong khi lái xe ngang qua chiếc cầu Golden Gate Bridge, trên đường đến đón một người bạn cùng đi xem nhạc ô-pê-ra, tâm tôi lúc ấy mang một tâm trạng bực dọc không hiểu vì lý do gì. Tôi không thấy được cái không gian bao la của vịnh biển đang ôm ấp thành phố San Francisco mới lên đèn. Tôi chầm chậm xe lại ngang phòng thu tiền qua cầu và trình vé của mình cho người gác cổng. "Bà có một ngày thật tuyệt vời nhá!" anh ta nói. Ái chà! Một dòng điện tỉnh thức chạy suốt qua người tôi. "Từ nảy tới giờ mình làm trò trống gì vậy?" Tôi nghĩ. "Bây giờ đây, ta sắp gặp một người bạn mà ta quý, đi làm một chuyện mà ta ưa thích nhất, và ta lại bực dọc!"

Không ai chối cải là ngay bây giờ trên thế giới này có những việc đáng buồn, ngay cả trong đời sống của tôi cũng vậy, nhưng sự bực dọc sẽ không làm cho bất cứ một việc nào được trở nên tốt đẹp hơn. Thật ra nó còn có thể làm cho sự việc trở nên tệ hơn nữa là khác. Đức Phật dạy, "Mỗi giây phút của tâm sẽ làm điều kiện cho giây phút kế tiếp." Sự bực dọc lôi trì tâm ta xuống bằng chính sự mỏi mệt của nó. Hạnh phúc kéo tâm ta lên và giúp nó tiến bước trở lại.

Chị Sharon, người mà tôi theo học thiền quán về tâm từ (metta meditation), thường kết thúc buổi trình pháp của tôi với chị bằng câu, "Nhớ nhá Sylvia, hãy vui vẻ!" Ban đầu tôi cứ nghĩ đó là một lời nói xã giao thông thường của những người sống ở vùng này. Mất một thời gian rất lâu tôi mới hiểu rằng đó chính là một lời hướng dẫn tu tập cho tôi.

 

Chánh Định: Làm Nhẹ Đi Nỗi Đau

Đức Phật dạy, Chánh Định là một khả năng để cho sự chú ý của ta được thẳm thấu vào một đối tượng duy nhất. Chú tâm vào một đơn điểm sẽ làm phát sinh nên một phẩm tính rất cá biệt trong tâm ta. Nó là một cảm giác dễ chịu, quân bình, thư thái rất đặc biệt - một trạng thái mà trong kinh điển gọi là "một tâm mềm dịu."

Lúc trước tôi có hướng dẫn một lớp gọi là "Thực Tập Định Tâm Qua Sự Thêu May." Chúng tôi gặp nhau mỗi kỳ hai tiếng tại một phòng thiền. Trong một giờ đầu, tất cả chúng tôi ngồi trong thinh lặng và thêu may. Người ta thêu thùa, đan may, và thực tập những đường kim mũi chỉ. Trong phòng chỉ có tiếng lách cách của những mũi kim thêu, tiếng sột soạt của sợi chỉ xuyên qua bạt vải, bên ngoài có khi là trời mưa, tuyết. Trong giờ thứ hai, mọi người vẫn tiếp tục công việc thêu may của mình, và chúng tôi nói chuyện.

Trong giờ nói chuyện, chúng tôi không hề đề cập gì đến công việc thêu may của mình. Chúng tôi nói về đời sống, về nỗi lo sợ, những vất vả, những muộn phiền của chúng tôi. Lời nói của chúng tôi phát xuất từ một không gian tĩnh lặng, và chúng tôi lắng nghe nhau trong một không gian quân bình. Mọi người đều đồng ý rằng chính một giờ thực tập định tâm trước đó đã giúp cho chúng tôi có thể chia xẻ một cách thật sâu sắc. Sự thực tập định tâm, cùng một lúc, vừa làm vững mạnh và lại vừa làm êm dịu tâm. Đó không phải là một sự nghịch lý. Đó là một sự thật.

Tôi khám phá ra được hiệu quả của sự định tâm này lần đầu tiên vào cuối một khoá tu thiền trong thinh lặng hai tuần, tại tiểu bang Washington vào năm 1977. Vì đây là một trong những khóa tu tập đầu tiên của tôi, nên mọi việc trong khóa tu đều là kỳ lạ và khó khăn. Thân tôi đau vì ngồi lâu, tôi vật lộn với những cơn buồn ngủ, và hoàn toàn cảm thấy lộn xộn về những lời hướng dẫn.

Tôi bắt đầu cho rằng kinh nghiệm này cũng giống như là một cuộc phiêu lưu của tâm, và cảm thấy nếu hoàn tất được nó sẽ là một chiến thắng lớn. Mỗi ngày qua, cái đau nơi thân tôi dần dà mất đi và tôi cũng cảm thấy bớt buồn ngủ, nhưng không có một sự kiện gì là kỳ diệu xảy ra hết. Vào ngày cuối cùng, nếu có ai hỏi tôi "Chị có thấy khác biệt gì không?" Tôi chắc chắn sẽ trả lời rằng "Không!"

Chiều hôm ấy, sau khi khóa tu thinh lặng chấm dứt, tôi gọi điện thoại về cho nhà tôi ở California, để sắp xếp cho anh ra phi trường đón. Trong câu chuyện, tôi hỏi thăm về ba tôi, ông trông rất khỏe mạnh ngày trước khi tôi đi. "Anh muốn được thành thật với em," nhà tôi nói "Anh muốn báo cho em biết là ba em bị bệnh ung thư, mà đây là một loại bất trị." Ngay trong giây phút ấy, tôi chợt khám phá ra là mình đã có khác biệt đó chứ!

Những tin buồn thì thường như là những nhát búa chém vào tim. Ngay khi tôi nghe tin về ba tôi, tôi biết mình đã nhận lãnh nó trong một đường lối hơi khác thường. Không phải là tôi không buồn. Tôi cảm thấy đau đớn lắm chứ. Ba tôi còn trẻ, cường tráng, và vừa là một người bạn tốt của tôi. Tin ấy như là một nhát búa giáng xuống tôi, nhưng nhát búa ấy đã rơi vào một tấm nệm êm thay vì là một vách đá. Tôi run rẩy nhưng tôi không sụp đổ. Tôi cảm thấy một cơn đau và một nỗi buồn sâu xa. Và rồi tôi bước ra ngoài, hoà nhập với những thiền sinh khác và chúng tôi uống trà.

Tôi không hề có một tham vọng là tu sửa sao cho tâm mình sẽ không còn cảm thấy đau buồn trước những mất mát nữa. Tôi muốn được cảm xúc cho thật sâu sắc, và mỗi lần tôi bị tan vỡ con tim, tôi sẽ hiện trở lại với một tâm từ ái rộng lớn hơn. Tôi nghĩ tôi sẽ dám để cho tim mình bị vỡ tan dễ dàng hơn, vì biết rằng tôi sẽ không bao giờ vỡ nát mãi mãi.

 

Chánh Niệm: Ba Tôi và Cuốn Phim Cuối

Chánh niệm là một sự chấp nhậný thứcquân bình về kinh nghiệm hiện tại của mình. Thật ra nó chỉ có đơn giản như vậy thôi. Nó là một sự cởi mở hoặc tiếp nhận giây phút hiện tại này, dễ chịu hoặc khó chịu, như-là, mà không hề bám víu hoặc ghét bỏ. Theo tôi nghĩ, có ba cách để giúp ta hiểu mục đích của sự tu tập chánh niệm.

Phương cách thứ nhất là thấy được chánh niệm sẽ đưa đến tuệ giác như thế nào. Khi ta có thể duy trì khả năng tỉnh thức và giữ quân bình trong từng mỗi giây phút của hiện tại, những chân lý của kinh nghiệm sống tự chúng sẽ biểu lộ ra như là tuệ giác. Và khi tuệ giác tăng trưởng, những tập quán nào của tâm có khuynh hướng thích bám víu vào những gì không thể nắm bắt được, sẽ dần dần suy giảm, và khổ đau cũng từ đó bớt đi.

Phương cách thứ hai là thấy được chính sự tu tập chánh niệm, tự nó sẽ giải hóa tâm ta khỏi những tập quán thúc đẩy ta chạy trốn những gì khó chịu. Ta ngồi (hoặc đứng hoặc đi hoặc nằm hay trong bất cứ một tư thế nào), giờ này sang giờ kế, thực tập duy trì một sự tĩnh lặng và tỉnh giác qua tất cả những phạm trù của các trạng thái thân và tâm, khi chúng khởi lên - và không làm bất cứ một điều gì để thay đổi những kinh nghiệm ấy, mà chỉ khám phá rằng ta có thể chịu đựng chúng được. Nhờ vậy ta thấy được, sự tu tập tự nó là một liều thuốc giải độc cho chứng bệnh phản ứng hấp tấp thông thường của tâm, khi đối diện với mỗi giây phút mới.

Phương cách thứ ba là nghĩ đến sự tu tập chánh niệm tự nó chính là sự giải thoát, thay vì là dẫn đến sự giải thoát. Mỗi giây phút sáng tỏ không bị quấy động bởi sự dằn co giữa sự khen chê, ghét bỏ và ham muốn, là một giây phút giải thoát. Cuộc sống của ta chỉ được làm bằng những giây phút mà thôi. Thời gian mà ta thật sự có, là ngay giờ phút này đây. Để dành những giây phút tự do bây giờ cho một sự an nhàn trong tương lai có thể là tốt đó, nhưng chúng không thể nào bảo đảm cho ta một sự tự do mãi mãi. Suy tính cho sự giải thoát trong tương lai có thể tạo điều kiện cho Chánh Tư DuyChánh Tinh Tấn, nhưng nếu nó tạo nên một sự phấn đấu hoặc một cảm giác thiếu sút hoặc bất toàn trong tâm trong giờ phút này, thì ta đâu nào có thật sự tự do đâu!

Có lẽ các bạn cũng đã nghe về câu chuyện của một vị thầy tu bị một con cọp rượt chạy đến trước một bờ vực thẳm. Luýnh quýnh ông ta nhảy đại xuống vực, tay nắm được một sợi dây nho rừng mọc bên sườn núi, treo lơ lững giữa không trung. Phía dưới ông là một vực sâu thăm thẵm, bên trên ông là một con cọp đói đang gầm gừ. Trong khi vị sư bị đu đưa lủng lẳng nửa chừng trong không khí, có một con chuột bắt đầu gậm nhắm sợi dây nho rừng mà ông đang nắm. Tình trạng của ông thấy bấp bênh vô cùng. Lúc ấy, vị sư chợt thấy cạnh bên mình có một trái nho chín đỏ mọc hoang, ông vói tay hái lấy và ăn. Hương vị của trái nho mới ngọt ngào làm sao!

Ba tôi qua đời vì chứng bệnh ung thư về viêm tủy sống, một loại bệnh ung thư có thể đối trị nhưng không chữa được. Trong suốt bảy năm bệnh hoạn, ông xoay xở đối phó với sự suy sụp của sức khoẻ và sự gia tăng của cơn đau bằng một sức chịu đựng không lay chuyển. Ông sử dụng gậy chống, rồi đến xe lăn để đối phó với sự suy thoái của thể xác, mà vẫn tiếp tụcmột đời sống giao du rất bận rộn. Chúng tôi đã rất cởi mở và bàn luận rất thường về cái chết không tránh khỏi của ông trong một tương lai không xa. Ông có vẻ như đã hòa giải được với cái chết, mà không hề cảm thấy tuyệt vọng hoặc chán đời. Chúng tôi nói đùa là không biết gia đình của đứa cháu nào là thích hợp cho sự tái sinh của ông đây, nếu thật sự là ông sẽ có một sự chọn lựa.

Một hôm, khi chứng bệnh của Ba tôi đã trở nên trầm trọng, tinh thần của ông dường như cũng đã suy sụp theo rất nhiều. Với một ngày mới đang mờ mịt trước mặt, tôi nói với ông, "Hai ba con mình đi coi xi nê nha!" Ông nhìn tôi với một ánh mắt hoài nghi, "Con biết không, Ba sắp chết đến nơi rồi!" Tôi đáp, "Đúng rồi, nhưng không phải là ngày hôm nay đâu ba." Chúng tôi đi xem phim Raiders of the Lost Ark. Hai ba con tôi thích lắm. Chúng tôi ăn tối tại Pacific Cafe, hiệu ăn mà ông ưa nhất. Ngày hôm sau, ông bắt đầu bị sưng phổi phải đưa vào bệnh viện. Vài tuần sau ba tôi qua đời.
Tạo bài viết
06/08/2017(Xem: 51412)
25/12/2015(Xem: 10890)
Vào sáng ngày 22 Oct vừa qua, phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng lại tiếp tục lên đường cứu trợ cho 3 ngôi làng nghèo Thừa Thiên Huế, đó là Làng Phò Ninh, Làng Cổ Bi và Làng Hiền Sỹ. Đây là 3 ngôi làng thời gian qua bị nước lũ vây hãm không có đoàn nào vô làng cứu trợ được, may mắn là khi đoàn Từ thiện Trái tim BDDT có mặt thì nước lũ đã rút đi nhiều nên xe chở hàng cứu trợ đã có thể vào tận nơi để phát quà cho dân.
Sáng hôm qua, (ngày 21 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 2 xã Phú Lễ, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền Tp Huế, đoàn đã phát tổng cộng là 300 phần quà tại nhà văn hóa cạnh chùa Quang Bảo- Phù Lễ. Chuyến cứu trợ lần này được sự nhiệt tâm giúp đỡ về mặt tổ chức cũng như vận chuyển hàng hóa của chư Phật tử chùa Quang Bảo & các thành viên trong Hội từ thiện nên đã diễn ra tốt đẹp và thành tựu viên mãn.
Được tin lũ chồng lũ, bão số 8, bão thế kỷ sắp tràn về miền Trung khốn khổ, tốc độ trên 200/km, hơn vận tốc của xe trên free way, nghĩa là nơi nào bão qua là nơi đó không còn dấu vết sự sống, ôi thương đau khủng khiếp.