Chương 13 : Luân Lý Trong Xã Hội

06/10/201012:00 SA(Xem: 20274)
Chương 13 : Luân Lý Trong Xã Hội
Chương 13
LUÂN LÝ TRONG XÃ HỘI

Giáo dụcTruyền thông

Sống một cuộc đời thật đúng theo luân lý trong đó chúng ta đặt nhu cầu của người khác trước tiên, và cung ứng cho hạnh phúc của họ, có rất nhiều liên hệ đến xã hội ngày nay. Nếu tự thay đổi nội tâm — tự giải giới bằng giải pháp xây dựng dành cho các ý niệmcảm xúc tiêu cực của mình — chúng ta thật sự có thể thay đổi thế giới. Chúng ta đã sẵn có rất nhiều khí cụ mạnh mẽ hầu tạo dựng một xã hội hợp luân lý và hòa bình. Tuy nhiên, một vài khí cụ đó chưa được sử dụng đúng mức. Ở điểm này, tôi muốn chia sẻ vài nhãn quan về phương cách và các lãnh vực nào chúng ta có thể bắt đầu đem đến một cuộc cách mạng tâm linh của lòng tốt, tâm từ bi, nhẫn nại, bao dung, tha thứ, và khiêm hòa.

Khi chúng ta dấn thân cho lý tưởng của sự quan tâm đến tất cả mọi người, tiếp theo đó cần phải thông truyền các chính sách xã hội và chính trị của ta. Tôi nói thế không phải là giả thiết nhờ đó chúng ta sẽ có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề xã hội qua đêm. Đúng hơn, tôi xác tín rằng, trừ phi một cảm thức rộng rãi về tâm từ bi mà tôi đã kêu gọi nơi độc giả, chính là nguồn cảm hứng để thiết lập thứ chính trị của chúng ta, thì các chính sách chỉ gây tác hại thay vì phục vụ cho toàn thể nhân loại. Tôi tin rằng chúng ta cần có những bước thực tiễn hầu nhìn nhận trách nhiệm của ta đối với tất cả người khác, trong hiện tại cũng như tương lai. Điều đó đúng thật dù cho có một số khác biệt nhỏ giữa các chính sách có động cơ là tâm từ bi và các chính sách có động cơ khác, chẳng hạn như, quyền lợi quốc gia.

Bây giờ, cho dù trong trường hợp chắc chắn là các lời đề xướng liên hệ đến từ bi, giới luật nội tại, nhận thức trí tuệ, và vun bồi đức tánh được áp dụng rộng rãi, và thế giới sẽ tự động trở thành nơi chốn tốt lành hơn, hòa bình hơn, tôi tin rằng hiện thực bắt buộc chúng ta phải giải quyết các vấn đề ở tầm mức xã hội cũng như cá nhân. Thế giới sẽ chuyển đổi khi mỗi cá nhân đều cố gắng chống lại các ý niệmcảm xúc tiêu cực, và khi chúng ta thật hành từ bi đối với những người không liên hệ hoặc không có tương quan trực tiếp với mình.

Trên quan điểm đó, tôi tin, có một số vấn đề trên thế giới cần được đặc biệt quan tâm, đưa ra trước ánh sáng của trách nhiệm toàn cầu. Trong đó bao gồm các vấn đề giáo dục, truyền thông, môi sinh, chính trị và kinh tế, hòa bình và giải giới, và hòa hợp liên tôn giáo. Mỗi mỗi đều giữ một vai trò sanh tử trong việc tạo lập nên thế giới ta đang sống, và tôi đề nghị lần lượt quán sát từng vấn đề một cách ngắn gọn.

Trước khi làm việc đó tôi cần nhấn mạnh rằng, các quan điểm tôi diễn đạt hoàn toàn có tánh cách cá nhân. Đó cũng là quan điểm của một người không hề tự xưng là chuyên gia với sự tôn trọng các kỹ thuật chuyên khoa của các vấn đề này. Nhưng nếu điều tôi nói có vẻ đáng phê phán, hy vọng của tôi là ít ra nó sẽ khiến độc giả ngưng lại đôi chút để suy nghĩ. Vì mặc dù không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy một sự dị biệt trong ý kiến liên hệ đến các điều hiện đang được diễn dịch trong các chính sách hiện hành, nhu cầu của tâm từ bi, như là nền tảng của giá trị tâm linh, giới luật nội tại, và tầm quan trọng của hành vi luân lý trên tổng quát vốn là quan điểm bất biến của tôi.

Nhân tâm (lo) vừa là căn nguồn, và nếu đúng hướng, sẽ là giải pháp cho tất cả mọi vấn đề của ta. Những người đạt được kiến thức cao, nhưng thiếu tâm thiện lành sẽ bị hiểm nguy làm mồi cho các sự lo lắngbất an như kết quả từ các ham muốn bất toại nguyện. Đảo lại, một sự hiểu biết chân thật các giá trị tâm linh mang đến ảnh hưởng đối nghịch. Khi chúng ta nuôi dạy con cái mình cho có kiến thứcthiếu từ bi, thái độ của chúng đối với tha nhân sẽ tương tự như một hỗn hợp của các thứ đố kỵ với kẻ hơn mình, tranh chấp với kẻ ngang hàng, và khinh khi kẻ thua kém.

Điều này dẫn đến một xu hướng về tham dục, tự phụ, thái quá, và, nhanh chóng mất đi hạnh phúc. Kiến thức rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn nữa là biết cách sử dụng nó cho đúng. Điều đó tùy vào tâm và trí của người sử dụng.

Giáo dục là một vấn đề lớn hơn là chỉ nhằm mang đến kiến thứccông năng hầu thành đạt các mục tiêu hạn hẹp. Nó còn là việc mở mắt cho đàn trẻ thấy được nhu cầu và quyền lợi của tha nhân.

Chúng ta phải chỉ dạy cho trẻ em rằng, hành động của chúng có một tầm kích toàn cầu. Và chúng ta phải tìm phương cách xây dựng cảm xúc thiện lành tự nhiên sao cho chúng có được một cảm thức trách nhiệm đối với người khác. Vì đó chính là điều thúc đẩy chúng ta hành động. Thật vậy, nếu ta phải chọn lựa giữa học hànhđức hạnh, thì thứ sau đương nhiên có giá trị vượt trội. Một trái tim tốt lành như quả của đức hạnh, tự nó mang đến lợi lạc lớn lao cho nhân loại. Kiến thức đơn thuần không làm được vậy.

Tuy nhiên, làm sao để dạy đạo đức cho trẻ em? Tôi cảm thấy rằng, nói chung, hệ thống giáo dục hiện đại bỏ quên không nói đến vấn đề luân lý. Đây có thể không phải là cố tình mà hầu như một thứ sản phẩm phụ của thực tế lịch sử. Hệ thống giáo dục thế tục được phát huy vào một thời điểm khi các cơ chế tôn giáo vẫn còn tầm ảnh hưởng lớn lao trên toàn xã hội. Vì các giá trị luân lýnhân bản vẫn thường được đặt trong khuôn khổ của tôn giáo, cho nên diện này trong việc giáo dục trẻ em hầu như giả định do các tôn giáo đảm trách. Việc đó tương đối đầy đủ, cho đến khi tầm ảnh hưởng của tôn giáo bị giảm dần. Mặc dù nhu cầu vẫn còn đó, nhưng lại không được đáp ứng. Do đó, chúng ta phải tìm một phương cách khác hầu chỉ dẫn cho trẻ em về tầm hệ trọng của các giá trị căn bản của loài người. Và ta phải giúp chúng phát huy được các giá trị đó.

Cuối cùng, dĩ nhiên, tầm quan trọng của sự quan tâm đến tha nhân được học hỏi không phải qua lời nói, mà qua hành động: thí dụ điển hình từ chính chúng ta. Đó là lý do tại sao môi trường gia đìnhyếu tố rất quan hệ trong việc dưỡng dục một đứa trẻ. Khi một không khí quan tâmtừ ái thiếu vắng trong nhà, khi trẻ em bị cha mẹ lơ là, rất dễ nhận thấy các hậu quả tổn hại. Trẻ em có xu hướng cảm thấy mình không được giúp đỡ và thiếu an toàn, và tâm trí chúng thường bị rối loạn. Ngược lại, khi trẻ em được nhận sự trìu mếnbảo vệ thường xuyên, chúng có khuynh hướng hạnh phúc và tự tin vào khả năng của mình hơn. Sức khỏe vật lý của chúng cũng khả quan hơn. Và ta thấy chúng không phải chỉ quan tâm đến riêng mình, mà cả đến người khác. Môi trường gia đình cũng quan trọng vì trẻ em học các thái độ tiêu cực từ cha mẹ chúng.

Thí dụ, nếu người cha thường hay tranh chấp với bạn bè, hoặc nếu cha hay mẹ thường cãi cọ gấu ó nhau, mặc dù mới đầu đứa trẻ cảm thấy điều đó đáng chỉ trích, nhưng dần dà nó lại xem như là chuyện thường. Học biết như thế từ trong nhà, chúng sẽ đem ra áp dụng ngoài thế giới.

Không cần phải nói, những điều trẻ em học về hành vi luân lý ở nhà trường sẽ được đem ra thật hành trước tiên. Về điểm đó, các giáo chức phải chịu trách nhiệm đặc biệt. Qua chính thái độ của họ, có thể khiến trẻ em nhớ họ đến trọn đời. Nếu hành vi này là nguyên tắc, kỷ luật, và từ ái, thì các giá trị đó sẽ tạo ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí trẻ em. Đó là vì bài học do các thầy cô với một động cơ tích cực (kun long) sẽ thẩm thấu rất sâu đậm trong tâm trí học sinh của họ. Tôi biết được điều này do chính kinh nghiệm bản thân. Khi còn nhỏ, tôi rất biếng nhác. Nhưng khi tôi ý thức được sự thân áiquan tâm của các vị trợ giáo, các bài học đó của họ đã để lại ấn dấu sâu đậm hơn là nếu vào thuở đó, có một vị trong nhóm lại khắc nghiệt hoặc lãnh đạm.

Cho đến giờ, các chuyên khoa trong nền giáo dục là do các chuyên gia đảm trách. Tuy nhiên, tôi chỉ tóm lược qua vài đề nghị. Trước nhất, để thức tâm những người trẻ tuổi trước tầm quan trọng của giá trị nhân bản nền tảng, tốt hơn không nên trình bày các vấn đề xã hội thuần túy như thể đó là vấn đề luân lý hoặc tôn giáo. Điểm quan trọng cần nhấn mạnh rằng, đó chính là cái mốc cho sự tồn tục của ta. Bằng cách đó, tuổi trẻ sẽ nhận thấy tương lai nằm trong tay chúng. Thứ đến, tôi tin rằng sự đàm luận đó thiết thực và phải được dạy trong lớp học. Trình bày cùng các học sinh một vấn đề có tánh tranh biện, và để các em thảo luận cùng nhau, chính là một phương cách rất tuyệt hầu giới thiệu khái niệm giải quyết một tranh chấp một cách bất bạo động. Thật thế, hy vọng rằng khi học đường dành ưu tiên cho việc này, sẽ tạo được ảnh hưởng lợi lạc cho chính cả đời sống gia đình. Khi thấy cha mẹ cãi cọ với nhau, một đứa trẻ hiểu được giá trị của đối thoại có thể tự khởi nói, "Ồ, không. Đó không phải là cách. Cha mẹ phải nói chuyện với nhau, thảo luận với nhau một cách thích hợp hơn."

Cuối cùng, điều thiết yếu là phải loại bỏ khỏi học trình mọi khuynh hướng trình bày vấn đề dưới màu sắc tiêu cực. Lấy thí dụ, ở vài nơi trên thế giới quả thật có việc giảng dạy lịch sử, trong đó đưa vào các lý thuyết cực đoan hoặc kỳ thị đối với các cộng đồng khác. Dĩ nhiên điều đó sai lầm. Nó không đóng góp gì cho hạnh phúc của nhân loại. Bây giờ, hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải chỉ dẫn cho con em, sự phân biệt giữa "xứ ta" và "xứ người," "đạo ta" và "đạo người" chỉ là thứ yếu. Đúng hơn, ta phải nhấn mạnh trên sự quan sát rằng, quyền hạnh phúc của tôi không cân nặng hơn quyền của người khác chút nào. Điều đó không phải bảo là chúng ta phải dạy dỗ con em bỏ rơi và không biết đến truyền thống văn hóalịch sử của nơi chúng được sanh trưởng. Trái lại, rất quan trọng phải đặt nền tảng trên đó. Rất tốt cho trẻ em được học yêu quê hương, tôn giáo, văn hóa và các thứ của chính mình. Nhưng nguy cơ đến khi điều đó triển khai thành một thứ chủ nghĩa dân tộc thiển cận, xu hướng quy chủng tộc, và cực đoan tôn giáo. Thí dụ của Mahatma Gandhi rất hiển nhiên. Mặc dù ông hấp thụ một nền giáo dục Tây phương rất cao, nhưng không bao giờ lãng quên và trở thành xa lạ cùng sản nghiệp phong phú từ nền văn hóa Ấn độ của ông.

Nếu giáo dục thiết lập được một trong các thứ khí giới mạnh mẽ nhất trong sự khao khát đem lại một thế giới tốt đẹp hòa bình hơn, thì truyền thông là một thứ khác. Mỗi một khuôn mặt chính trị đều biết, họ không còn là những người duy nhấtquyền lực trong xã hội. Thêm vào đó còn có báo chí và sách vở, truyền thanh, điện ảnh, và truyền hình, gộp chung lại thành một thứ ảnh hưởng lớn lao trên mỗi cá nhân một cách không thể tưởng tượng nổi vào khoảng trăm năm trước đây. Sức mạnh này bao gồm một trách nhiệm lớn của tất cả mọi người chúng ta, các cá nhân, phải nghe và đọc và xem. Chúng ta cũng có một vai trò của riêng mình. Chúng ta không phải vô quyền lực trước truyền thông. Cái nút bấm để kiểm soát đài nằm trong tay ta, nói cho cùng.

Điều này không có nghĩa là tôi biện luận cho các báo cáo nhạt nhẽo hoặc các giải trí thiếu hấp dẫn. Trái lại, cho đến nay trong lãnh vực báo chí điều tra, tôi tôn trọng và đề cao sự can thiệp của giới truyền thông. Không phải mọi người phục vụ công cộng đều liêm khiết trong khi thi hành bổn phận. Do đó, rất thích hợp cần có các ký giả, mũi của họ dài như vòi voi, đánh hơi chung quanh, và trình bày các điều sai trái mà họ khám phá thấy. Chúng ta cần biết đến các cá nhân rất nổi tiếng này nọ đã che dấu khía cạnh rất đặc thù nào đó bên dưới bề mặt rất dễ ưa của họ. Có thể có một cách biệt rất lớn giữa bề ngoàiđời sống nội tâm của một người. Nói cho cùng thì cũng chỉ là cùng một người. Sự cách biệt đó khiến cho họ trở thành khó tin cậy. Đồng thời, người điều tra không thể hành động chỉ vì động cơ không thích đáng. Không công bằng và không tôn trọng quyền lợi của người khác, cuộc điều tra tự nó đã bị hoen ố.

Trong vấn đề truyền thông thường nhấn mạnh về dục tínhbạo động, có nhiều yếu tố cần quán xét. Trước tiên, rõ ràngđa số khán giả đại chúng ưa thích các cảm giác do loại chất liệu đó gợi ra. Thứ đến, tôi ngờ rằng các sản phẩm chất liệu chứa dục tínhbạo hành quá lộ liễu vốn có dụng ý gây hại. Động cơ của họ chắc chắn chỉ là thương mại. Và cho dù tự nó là tích cực hoặc tiêu cực, điều đó không quan trọng bằng vấn đề nó có mang lại ảnh hưởng luân lý thiện lành nào không. Nếu kết quả sau khi xem một phim với nhiều bạo động, là khiến cho lòng từ bi của khán giả được khơi dậy, thì diễn đạt của sự bạo hành này được xác minh.

Trong khi nếu sự tập hợp quá nhiều hình ảnh bạo động dẫn đến sự lạnh nhạt, thì kết quả ngược lại. Thật vậy, làm chai đá con tim là một tiềm chất nguy hại. Nó dễ đưa đến sự mất đi lòng thiện cảm.

Khi giới truyền thông đặt trọng điểm quá nhiều vào các khía cạnh tiêu cực của bản chất con người, có một nguy cơ là chúng ta sẽ được thuyết phục rằng bạo hànhtranh chấp là các đặc tánh chính yếu. Đó là một sự sai lầm, tôi tin vậy. Sự kiện chỉ có bạo hành mới đáng xem là tin tức đã đề xướng một thứ đối cực. Tin hay ít khi được chú ý bởi vì có quá nhiều. Hãy xem vào bất cứ thời điểm nào trên thế giới đều có nhiều trăm triệu hành động tốt đang diễn ra. Mặc dù không thể nghi ngờ đồng lúc cũng có rất nhiều hành động xấu đang diễn tiến, nhưng con số chắc chắn phải ít hơn. Do đó, nếu truyền thôngtrách nhiệm luân lý, cần phải phản ánh sự thật đơn thuần đó.

Việc đề ra các luật lệ truyền thông rõ rệt là cần thiết. Sự kiện cần phải ngăn con em xem một số sự kiện nào đó cho thấy chúng ta đã phân biệt giữa điều gì thích hợp và không thích hợp theo các hoàn cảnh khác nhau. Nhưng luật lệ có phải là phương cách đúng để làm việc đó chăng là một vấn đề khó thẩm định. Trong tất cả các vấn đề luân lý, luật lệ chỉ hữu hiệu khi phát khởi từ nội tâm. Có thể cách tốt nhất để bảo đảm tánh cách lành mạnh của sản lượng đa dạng qua truyền thông, chính là cách chúng ta giáo dục con em.

Nếu ta nhắc nhở chúng biết ý thức trách nhiệm của chính mình, chúng sẽ trở nên kỷ luật hơn khi dính dấp đến truyền thông.

Mặc dù rất khó hy vọng giới truyền thông sẽ xiển dương các lý tưởng và nguyên tắc của tâm từ bi; ít ra chúng ta có thể hy vọng những người liên hệ sẽ chú trọng đến vấn đề ảnh hưởng tiêu cực tiềm ẩn. Ít ra cũng không nên dành chỗ cho thứ kích thích của loại hành động tiêu cực như bạo hành kỳ thị chẳng hạn. Nhưng vượt trên điều đó, tôi cũng chưa biết ra sao. Có thể chúng ta sẽ tìm cách phương cách nào hầu nối kết trực tiếp hơn các người tạo ra các câu chuyện cho nguồn tin và giải trí, cùng với các khán giả, độc giả, hoặc thính giả chăng?

Thế giới Thiên nhiên

Có một lãnh vực trong đó cả giáo dục lẫn truyền thông đều lãnh một trách nhiệm đặc biệt, đó là môi trường thiên nhiên. Lại nữa, trách nhiệm này ít liên hệ đến vấn đề đúng hoặc sai mà chính là vấn đề sinh tồn. Thế giới thiên nhiên chính là nhà của chúng ta.

Không nhất thiết là đất thánh hoặc đất thiêng, mà chỉ đơn giản là nơi chúng ta sống. Do đó chúng ta cần chú trọng bảo tồn nó. Đó là lẽ thường. Nhưng chỉ mới gần đây, các mực độ dân số, và sức mạnh của khoa học kỹ thuật đã phát triển đến mức có ảnh hưởng trực tiếp đến thiên nhiên. Nói cách khác, cho đến giờ, Mẹ Đất còn có khả năng bao dung được các thói xấu đối với nhà ở của chúng ta. Nhưng đã đến giai đoạn mà Mẹ không còn im lặng chịu đựng nổi thái độ của chúng ta nữa. Các vấn đề do sự phá hoại môi sinh tạo ra có thể xem như phản ứng của Mẹ trước hành vitrách nhiệm của chúng ta. Mẹ cảnh cáo chúng ta rằng, ngay cả trong sự bao dung nhất cũng phải có các giới hạn.

Không nơi nào cho thấy rõ rệt các hậu quả của sự thất bại trong việc thi hành kỷ luật trong liên hệ giữa ta và môi trường bằng trường hợp của Tây tạng hiện nay. Không có gì là quá đáng khi bảo rằng, Tây tạng mà tôi lớn lên là một thiên đường hoang dã. Bất cứ du khách nào được viếng Tây tạng trước giữa thế kỷ hai mươi đều nhận thấy điều đó. Thú vật ít khi bị săn bắt, ngoại trừ một số vùng quá hẻo lánh không thể trồng trọt hoa màu được. Thật thế, các viên chức chính quyền hàng năm có thông lệ đưa ra tuyên cáo về việc bảo về đời sống hoang dã: "Không ai, dù thường dân hay quý tộc, có quyền làm hại hoặc bạo hành đối với các động vật trong rừng hoặc dưới nước." Các ngoại lệ duy nhất là chuột và lang sói.

Khi còn thơ ấu, tôi còn nhớ đã từng được nhìn thấy rất nhiều giống thú khác nhau mỗi khi tôi đi du hành khỏi Lhasa. Hồi ức chính của tôi trong cuộc hành trình ba tháng xuyên Tây tạng — từ nơi tôi ra đời ở Takster ở miền đông cho đến Lasa, nơi tôi được chính thức tuyên dươngĐạt lai Lạt ma năm lên bốn — là đời sống hoang dãchúng tôi được gặp suốt dọc đường đi. Những đàn "kiang" (lừa rừng) và "drong" (bò rừng) khổng lồ tha hồ gậm cỏ trong các cánh đồng bao la. Thỉnh thoảng chúng tôi nhìn thấy nhấp nhoáng một vài đàn "gowa", loại linh dương Tây tạng nhút nhát; hoặc "wa", loại nai mõm trắng; hoặc "tso", giống sơn dương uy vũ của chúng tôi. Tôi cũng còn nhớ đến sự chiêm ngưỡng của mình trước các con "chibi" (thỏ rừng) nhỏ bé lẩn thật nhanh vào bụi cỏ. Chúng thật dễ thương làm sao. Tôi cũng thích ngắm nhìn chim chóc, chim "gho" (chim ưng lông đầu dài) trang trọng cất giọng thật cao trên các tu viện nằm khuất trên đỉnh núi, từng đàn "nangbar" (ngỗng trời) bay ngang, và thỉnh thoảng vào đêm, nghe có tiếng của chim "wookpa" (chim cú tai dài).

Ngay cả tại Lhasa, người ta cũng không cảm thấy bị cắt lìa khỏi thế giới thiên nhiên. Trong các căn phòng của tôi nằm trên tầng đỉnh của Potala, cung điện mùa đông của các Đạt lai Lạt ma, nơi đó tôi bỏ không biết bao nhiêu thời giờ của một đứa bé, để theo dõi hành vi của chim "khyungkar" mỏ đỏ làm ổ trong các khe hở trên vách tường. Và phía sau Norbulingka, cung điện mùa hạ, tôi thường được thấy các cặp "trung trung" (chim hạc cổ đen giống Nhật bản), loài chim đối với tôi là tột đỉnh của sự cao quý và yêu kiều, thường sống trong các đầm lầy gần đó. Và đó là chưa kể đến màu sắc rực rỡ của các con thú rừng Tây tạng: các con gấu và chồn núi, con "chanku" (sói), và "sazik" (con báo tuyết tuyệt đẹp), và cả con "sik" (sơn miêu) thường gieo kinh hoàng trong lòng các nông dân du mục, hoặc con gấu trúc panda lớn với nét mặt hiền lành, sanh trưởng nơi vùng biên giới giữa Tây tạngTrung quốc.

Thật đáng buồn, đời sống hoang dã phong phú đó không còn tìm thấy nữa. Một số thú vì bị săn bắt, nhưng đa số vì bị tiêu diệt, vào hậu bán thế kỷ hai mươi, sau khi Tây tạng bị chiếm đóng, chỉ còn lại một phần nhỏ của lúc trước. Bất kể người Tây tạng từng về thăm nhà ba bốn chục năm sau, mà tôi được chuyện trò, cũng đều nói lên sự thiếu vắng đời sống thiên nhiên đến gây xúc động. Nơi trước kia thú rừng thường đến thật gần nhà cửa, giờ đây chẳng còn thấy bóng dáng chúng đâu.

Các khu rừng bị tàn phá của Tây tạng cũng là mối họa tương tự.

Trong quá khứ, các ngọn đồi đều là rừng cây dày đặc; ngày nay, những người về thăm nhà báo cáo, đồi núi nhẳn nhụi chẳng khác nào đầu của nhà sư. Nhà cầm quyền ở Bắc kinh công nhận thảm cảnh lụt lội tại miền tây Trung quốc, và xa hơn nữa, một phần vì lý do đó.

Thế mà tôi vẫn tiếp tục nghe các báo cáo về các đoàn xe vận tải chạy ngày đêm không ngừng nghỉ chở gỗ từ miền đông rời khỏi Tây tạng. Quả thật đó là một thảm cảnh tạo trên đất đai rừng núi và khí hậu khắc nghiệt của quốc gia. Nó có nghĩa là việc trồng cây lại sẽ đòi hỏi rất nhiều khó khăn trong việc chăm sóc và bảo tồn.

Không may, hầu như khôngchứng cớ gì về việc làm đó.

Tất cả các điều trên không phải cho thấy, trên mặt lịch sử, người Tây tạng chúng tôi là "bảo thủ." Chúng tôi không phải như vậy. Ý tưởng về điều gọi là "ô nhiễm" chỉ không hề xảy đến cho chúng tôi. Chúng tôi không phủ nhận đã từng được thiên nhiên nuông chiều trên lãnh vực đó. Một dân tộc rất ít người sống trên một khu vực rộng bao la với không khí trong lành khô ráo, và rất nhiều nước suối rừng tinh khiết. Thái độ ngây thơ trước sự sạch sẽ được phát lộ khi người Tây tạng bị lưu vong, chúng tôi rất kinh ngạc khi khám phá ra, chẳng hạn như, sự hiện hữu của các dòng suối không thể uống nước. Giống như đứa con một được chiều chuộng, cho dù chúng tôi làm gì đi nữa, Mẹ Đất vẫn bao dung cho các hành vi đó.

Kết quả là chúng tôi không có sự hiểu biết thật sự về sạch sẽ và vệ sinh. Người ta có thể khạc nhổ hoặc xì mũi ra đường mà chẳng cần chút suy nghĩ. Thật thế, khi nói vậy, tôi nhớ đến ông lão Khampa, một cựu cận vệ mỗi ngày thường đến kinh hành vòng quanh khuôn viên nhà tôi ở Dharamsala (một cách bày tỏ sự tận tụy thông thường). Không may, ông bị mắc bệnh sưng cuống phổi khá nặng.

Điều này càng tệ thêm vì cứ hít phải loại đèn sáp mà ông cầm theo. Cứ ở mỗi góc nhà, ông lại ngừng để ho và khạc quá mạnh đến nỗi đôi khi tôi phải nghĩ không biết ông đến để cầu nguyện hay là chỉ để khạc nhổ!

Nhiều năm sau khi đến lưu vong, tôi đã quan sát rất kỹ tình trạng môi sinh ở đây. Chính phủ Tây tạng lưu vong đặc biệt chú trọng đến việc giảng dạy cho trẻ em về trách nhiệm của chúng như là cư dân trên quả đất mong manh này. Và tôi không bao giờ ngần ngại nói lên đề tài đó mỗi khi có cơ hội. Đặc biệt, tôi luôn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải quán xét các hành động của chúng ta ảnh hưởng như thế nào đến môi sinh, cũng như đối với người khác. Tôi công nhận đó là điều khó phán đoán. Chúng ta không thể quyết đoán hậu quả cuối cùng của các sự kiện, chẳng hạn như việc phá rừng, sẽ ảnh hưởng đến đất đai và mưa rừng như thế nào, đừng nói gì đến các sự áp đặt trên hệ thống khí hậu của địa cầu. Điều rõ rệt nhất là con người chúng ta là loài động vật duy nhấtsức mạnh tàn phá trái đất, như chúng ta đều biết. Loài chim không có sức mạnh này, sâu bọ cũng không, và bất cứ loài hữu nhũ nào cũng không. Thế nhưng nếu chúng ta có khả năng phá hủy địa cầu, thì cũng có khả năng bảo vệ nó.

Điều cốt yếu là chúng ta tìm ra phương cách sản xuất sao cho không tàn hoại thiên nhiên. Chúng ta cần tìm ra cách cắt giảm bớt nhu cầu dùng gỗ hoặc các thứ tài nguyên thiên nhiên hạn chế khác.

Tôi không phải là chuyên viên của lãnh vực đó, và tôi không thể đề nghị cách thực hiện nào. Tuy chỉ biết rằng, nếu có thể, nên đưa ra các quyết định thiết yếu. Thí dụ, tôi còn nhớ đã từng nghe nhân một chuyến viếng thăm Stockholm vài năm trước đây, về sự kiện lần đầu tiên trong nhiều năm, loài cá đã trở lại các con sông chảy ngang qua các thành phố. Chỉ mới gần đây, không có một con cá nào cả, vì nước sông bị nhiễm độc kỹ nghệ. Tuy nhiên, tiến bộ này chỉ là kết quả của việc tất cả các cơ xưởng trong vùng bị đóng cửa. Cũng thế, trong chuyến viếng thăm Đức quốc, tôi được cho xem một kiến trúc kỹ nghệ được thiết kế hầu không tạo ra ô nhiễm. Điều đó cho thấy, rõ rệt là có được các giải pháp hạn chế bớt sự tổn hại thế giới thiên nhiên mà không khiến cho nền kỹ nghệ bị ngăn chặn.

Điều đó không có nghĩa tôi tin rằng chúng ta có thể trông cậy vào kỹ thuật hầu vượt qua mọi vấn đề. Tôi cũng không tin chúng ta có thể tiếp tục hành động phá hủy trong khi áp dụng giải pháp kỹ thuật toàn hảo. Ngoài ra, môi trường cũng không cần phải tái lập.

Chính thái độ của chúng ta trong tương quan đó mới cần phải thay đổi. Thử hỏi nếu trong trường hợp một thiên tai đại họa khủng khiếp xảy ra vì hiện tượng nhà kiếng, thì bất cứ một "chỉnh trang" nào cũng không thể thực hiện được, dù chỉ trên lý thuyết.

Cho dù giả thiết có thể có đi, chúng ta phải đặt câu hỏi về sự áp dụng trên tầm mức lớn cần thiết đó có khả dĩ chăng? Rồi chi phí như thế nào và tổn phí trên phương diện tài nguyên thiên nhiên của chúng ta ra sao? Tôi ngại rằng các con số đó quá cao vượt ngoài hạn định. Đó cũng là dữ kiện của nhiều lãnh vực khác — như sự cứu đói cho loài người — hiện đã không có đủ quỹ tài trợ hầu đáp ứng nhu cầu vốn đã bị xem nhẹ quá. Do đó, cho dù người ta biện luận là các quỹ cần thiết có thể quyên góp, nhưng phải nói bằng lương tâm đạo đức rằng, hầu như không thể biện bác gì nữa cho một sự thiếu sót đến như thế. Thật không đúng khi tiếp tục tung ra các khoản tiền khổng lồ chỉ nhằm giúp cho các nước kỹ nghệ hóa tiếp tục hành xử tai hại, trong khi loài người ở các nơi khác lại không có thức ăn để sống.

Tất cả các điểm trên đều nhằm vào nhu cầu nhận thức được tầm cỡ toàn cầu của hành động chúng ta, và căn cứ trên đó, cần phải thực hiện giới chế. Nhu cầu bắt buộc phải đề ra khi chúng ta quán xét về sự sanh sôi nảy nở của loài người. Mặc dù theo quan điểm của mọi tôn giáo chính, càng nhiều người thì càng tốt, và mặc dù theo một số nghiên cứu mới nhất đề ra một sự bùng nổ dân số trong vòng một thế kỷ tới, tôi vẫn tin rằng chúng ta không thể bỏ quên vấn đề này. Với địa vị tăng sĩ, có thể không thích hợp cho tôi khi bàn thảo các vấn đề đó. Nhưng tôi tin rằng kế hoạch hóa gia đình là điều quan trọng. Dĩ nhiên, tôi không muốn đề xướng chúng ta không nên có con. Đời người rất quý báu, và các cặp vợ chồng nên có con trừ phi có những lý do phải tránh. Ý tưởng không có con chỉ vì muốn hưởng thụ một đời sống đầy đủ khỏi chịu trách nhiệm, theo tôi, là một điều sai lầm. Đồng thời, lứa đôi cũng có bổn phận phải cứu xét mức ảnh hưởng của nhân số đối với môi sinh. Điều đó đặc biệt đúng với các kỹ thuật tân tiến.

Cũng may là càng ngày càng nhiều người nhận thức được tầm quan trọng của kỷ luật luân lý như một phương tiện đảm bảo một nơi chốn lành mạnh cho cuộc đời. Vì lý do đó, tôi khá lạc quan rằng, đại họa thiên tai đó có thể tránh được. Cho đến gần đây, ít người thật sự quan tâm đến ảnh hưởng của sinh hoạt loài người trên quả địa cầu. Nhưng hiện nay, có cả các đảng phái chính trị đặt mối quan tâm đó là mục tiêu sinh hoạt. Hơn nữa, sự kiện không khí chúng ta thở, nước chúng ta uống, rừng và biển chứa hàng triệu hình thái sinh vật khác nhau, và các khuôn thức thời tiết chi phối hệ thống khí hậu của chúng ta, tất cả đều đã vượt biên cương quốc gia để trở thành một nguồn hy vọng mới. Điều đó có nghĩa, không một quốc gia nào, dù giàu mạnh hoặc nghèo yếu, có khả năng chịu đựng tổn phí của hành động không tôn trọng vấn đề trên.

Cho đến khi nào các cá nhân đều biết quan tâm đến, các vấn đề hậu quả của sự lơ là môi sinh vẫn là một sự nhắc nhở mạnh mẽ rằng, tất cả chúng ta đều cần phải góp phần. Và trong khi hành động của một cá nhân không có kết quả gì đáng kể, thì ảnh hưởng tổng hợp của hàng tỷ hành động cá nhân chắc chắn có thể làm được. Đây là thời điểm cho mọi người sinh sống trong các xã hội kỹ nghệ tiền tiến phải suy nghĩ tận tường về việc thay đổi lối sống. Lại nữa, đây cũng chẳng phải chỉ là vấn đề luân lý. Sự kiện dân số còn lại của thế giới cũng bình quyền trong việc phát triển mức sống của họ vốn hệ trọng hơn các người giàu có tiếp tục duy trì lối sống xa hoa phung phí. Nếu điều đó được trọn vẹn mà không tạo thành tổn hại khó chuộc lại trên thiên nhiên — kéo theo tất cả hậu quả tiêu cực đối với hạnh phúc — thì các nước giàu nên cố gắng nêu gương. Tổn phí cho địa cầu, và từ đó, cho nhân loại, chỉ vì lối sống quá xa hoa không bao giờ ngừng, quả thật là quá đắt.

Chính trị và Kinh tế

Tất cả chúng ta đều mơ đến một thế giới tốt đẹp hạnh phúc hơn.

Nhưng nếu chúng ta muốn biến nó thành hiện thực, phải đảm bảo được từ bi là nguồn cảm hứng cho mọi hành động. Điều đó đặc biệt đúng đối với các chính sách chính trị và kinh tế. Được biết hơn nửa dân số thế giới hiện đang thiếu thốn các nhu cầu căn bản về thức ăn, chỗ ở, thuốc men, và giáo dục; tôi thiết tưởng chúng ta cần đặt câu hỏi, phải chăng ta đang theo đuổi đường lối sáng suốt nhất đối với sự kiện đó? Tôi nghĩ rằng không. Nếu như năm dần qua đến trọn năm mươi năm rồi, chúng ta đã có thể quét sạch nạn nghèo đói, thì sự phân phối bất quân bình của tài sản hiện nay may ra còn được minh xác. Thế nhưng, ngược hẳn lại, nếu đà này cứ tiếp diễn, điều chắc chắn là người nghèo chỉ lại nghèo hơn. Chỉ riêng cảm thức căn bản của chúng ta về sự công bằngcông lý đã đề xướng rằng, chúng ta không nên thản nhiên phó mặc cho sự việc trên tiếp diễn.

Đương nhiên, tôi không biết về kinh tế. Nhưng tôi thấy rất khó tránh một kết luận rằng, tài sản của kẻ giàu được tích lủy từ sự bỏ mặc kẻ nghèo, đặc biệt qua phương tiện các món nợ quốc tế. Nói lên điều đó, tôi không có ý đề nghị các nước chậm phát triển không cần chịu trách nhiệm về vấn đề của họ. Cũng không phải chúng ta nên đổ trút tất cả bệnh chứng xã hội và kinh tế lên đầu các viên chức chính trị và công quyền. Tôi không phủ nhận ngay đến các nền dân chủ vững chắc nhất trên thế giới cũng thường có những chính trị gia đưa ra các lời hứa không thực tế và khoa trương về đủ thứ họ sẽ làm một khi đắc cử. Nhưng những người đó không phải từ trên trời rơi xuống. Vì vậy nếu các chính trị gia của một xứ nào đó tham nhũng hủ bại, chúng ta thường có xu hướng cho rằng xã hội đó thiếu đạo đức và các cá nhân kết thành dân tộc đó không sống đời hợp luân lý. Trong các trường hợp đó, thật không mấy công bằng khi chỉ có những cử tri chỉ trích các chính trị gia. Mặt khác, khi người ta có các giá trị lành mạnh, và khi họ thật hành giới luật luân lý trong đời sống đặt căn bản trên sự quan tâm đến tha nhân, thì các viên chức công quyền đến từ xã hội đó tự nhiên cũng tôn trọng cùng thứ giá trị. Mỗi người chúng ta, do đó, đều giữ vai trò trong việc tạo dựng một xã hội dành ưu tiên cho sự tôn trọngquan tâm đến người khác, đặt nền tảng trên thiện cảm.

Trên bình diện thực hiện chính sách kinh tế, cùng quan điểm đó cần được áp dụng trong sinh hoạt của mỗi người. Một cảm thức về trách nhiệm toàn cầu rất trọng yếu. Tuy nhiên tôi phải nhìn nhận, rất khó đưa ra các đề nghị thực tiễn về sự áp dụng các giá trị tâm linh trong lãnh vực thương mại. Bởi vì cạnh tranh đóng vai trò rất quan trọng ở đây. Vì lý do đó, liên hệ giữa thiện cảmlợi nhuận nhất thiết phải rất mong manh. Tuy nhiên, tôi chẳng thấy tại sao không thể tạo một sự cạnh tranh xây dựng. Yếu tố then chốt chính là động cơ của các người tham dự. Khi ý địnhlợi dụng hoặc hủy diệt kẻ khác, hiển nhiên hậu quả không thể nào tích cực. Nhưng khi cạnh tranh được điều động trên một tinh thần rộng lượngthiện chí, thì kết quả, mặc dù vẫn phải kéo theo sự đau khổ của kẻ thua cuộc, ít ra cũng không đến nỗi tác hại.

Lại nữa, có thể phản đối là trong thực trạng thương mại, chúng ta quả thật không thể nào hy vọng các thương vụ đặt con người lên trên lợi nhuận. Nhưng ở đây, ta phải nhớ rằng những kẻ quản trị kỹ nghệ và doanh nghiệp trên thế giới cũng vẫn là loài người. Cho dù người cứng rắn nhất chắc chắn phải nhìn nhận rằng đi tìm lợi nhuận bất kể hậu quả là điều sai lầm. Nếu điều đó đúng, thì buôn bán ma túy cũng không sai. Vì thế, một lần nữa, điều đòi hỏi ở đây là mỗi người chúng ta nên tự phát huy lấy bản chất từ bi của mình. Chúng ta càng gia tăng được điều đó, thì doanh thương càng phản ánh được các giá trị căn bản của loài người.

Ngược lại, nếu chính chúng ta lơ là các giá trị đó, không sao tránh khỏi thương mại cũng sẽ lơ là chúng. Đó không phải là vấn đề lý tưởng. Lịch sử cho thấy có nhiều tiến triển tích cực trong xã hội diễn ra như kết quả của tâm từ bi. Lấy thí dụ, sự hủy diệt thương vụ buôn bán nô lệ. Nếu nhìn vào tiến hóa của xã hội loài người, chúng ta thấy sự cần thiết phải có viễn ảnh hầu mang lại các đổi thay tích cực. Lý tưởng là guồng máy của tiến bộ. Bỏ quên điều này, và chỉ nói rằng chúng ta cần phải "thực tiễn" là một lỗi lầm trầm trọng.

Các vấn đề của chúng ta về sự phân phối kinh tế bất quân bình tạo nên một thách đố rất lớn cho toàn thể gia đình nhân loại. Tuy nhiên, khi chúng ta cùng đi vào thiên kỷ mới, tôi tin rằng có rất nhiều lý do để lạc quan. Trong các năm đầu và giữa thế kỷ hai mươi, có một nhận thức tổng quát rằng quyền lực chính trị và kinh tế vốn là hậu quả hơn là sự thật. Nhưng tôi tin quan điểm đó đã thay đổi. Ngay cả các nước giàu mạnh nhất đã hiểu rằng không nên bỏ quên các giá trị nhân sinh. Khái niệm về vị trí dành cho luân lý trong bang giao quốc tế ngày càng vững chắc. Đó là không quan hệ với những điều đã được diễn dịch thành hành động; ít ra các ngôn từ như "tái hòa hợp," "bất bạo động," và "sự cảm thông" đã trở thành ngữ vựng tồn trữ của các chính trị gia ngày nay. Đó là một tiến triển hữu ích. Theo kinh nghiệm cá nhân ghi nhận được khi công du ngoại quốc, tôi thường được yêu cầu thuyết về hòa bình và từ bi cho các cử tọa đoàn khá lớn — thường vượt quá số ngàn. Tôi không tin các đề tài đó hấp dẫn được số đông người như thế bốn mươi hoặc năm mươi năm về trước. Những tiến triển như trên đánh dấu tập thể loài người đã đặt nặng các giá trị căn bản như công lýchân lý.

Tôi cũng rất vững tâm trước dữ kiện là, nền kinh tế thế giới càng tiến bộ, sự tùy thuộc lẫn nhau càng hiển nhiên. Kết quả, mỗi quốc gia này không nhiều thì ít đều phải tùy thuộc vào một quốc gia khác. Các loại kinh tế tân tiến, như là môi sinh, vốn không có biên cương. Ngay giữa các quốc gia kình địch với nhau cũng phải hợp tác trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên thế giới.

Thông thường, lấy thí dụ, họ phải tùy thuộc vào chung một con sông. Và các mối tương quan kinh tế càng tùy thuộc nhau, thì tương quan chính trị càng tùy thuộc nhau. Nhờ vậy, chúng ta đã được chứng kiến, lấy thí dụ, sự lớn dậy của Liên hiệp Âu châu, bắt đầu chỉ là vài bạn hàng trao đổi mậu dịch nho nhỏ, đi dần đến sự kết hợp của các quốc gia thành một liên bang với số thành viên giờ đây đã gia tăng gấp đôi. Chúng ta cũng nhìn thấy hình thức tương tự, cho dù kém phát triển bằng, của sự tập hợp trên thế giới, có thể nêu danh ba tổ chức tiêu biểu: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Phi châu Hợp nhất (OAU), Tổ chức các Quốc gia Xuất cảng Dầu hỏa (OPEC). Mỗi một tổ chức thử nghiệm một động lực nhân sinh về sự hợp quần vì lợi ích chung, và phản ánh sự tiến hóa không ngừng của xã hội loài người. Khởi đầu chỉ là các bộ lạc nho nhỏ, đã phát triển thành các đô thị tiểu quốc rồi đến quốc gia, và hiện giờ là các đồng minh bao gồm nhiều trăm triệu người, tiếp tục vượt trên mọi lằn biên phân chia địa dư, văn hóa, và chủng tộc. Đó là một khuynh hướng tôi tin là sẽ và phải tiếp tục.

Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận rằng, song song với sự phong phú của các liên hợp chính trị và kinh tế nói trên, còn có một yêu cầu hiển nhiên của sự quy tập lớn lao hơn vượt các đường ranh giữa chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáovăn hóa — lại thường có bạo động tiếp diễn theo việc tháo bỏ liên hệ vào thể chế quốc gia. Chúng ta phải làm gì trước sự kiện nhị diện có vẻ tương phản đó — một diện là khuynh hướng hợp tác vượt quốc gia, diện kia là động cơ địa phương hóa? Thật ra, không nhất thiết có sự mâu thuẫn giữa hai mặt. Chúng ta vẫn có thể hình dung các cộng đồng địa phương hợp tác trong chính sách mậu dịch, xã hội, và các phối trí an ninh chung, nhưng vẫn giữ được sự đa dạng độc lập về nhân chủng, văn hóa, tôn giáo và các thứ khác. Có thể tạo một hệ thống luật pháp bảo vệ nhân quyền cơ bản trong các cộng đồng lớn hơn, mà vẫn để cho các cộng đồng nhỏ có quyền tự do theo đuổi lối sống riêng họ mong muốn. Đồng thời, quan trọng nhất trong sự xây dựng các loại hợp tác đó, là sự tự nguyện và đặt nền tảng trên nhận thức về quyền lợi của các phần tử đều được phục vụ tốt đẹp hơn qua sự hợp tác. Họ không thể bị áp đặt. Thật thế, thách đố của thiên kỷ mới chắc chắn là phải truy tìm phương cách hầu đạt đến sự hợp tác quốc tế—hay tốt hơn nữa, cộng đồng toàn cầu—trong đó sự đa dạng của loài người được công nhậnquyền lợi của tất cả được tôn trọng.
 
 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 178634)
01/04/2012(Xem: 24234)
08/11/2018(Xem: 5270)
08/02/2015(Xem: 35041)
25/07/2011(Xem: 101916)
10/10/2010(Xem: 102553)
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
Vào sáng ngày 22 Oct vừa qua, phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng lại tiếp tục lên đường cứu trợ cho 3 ngôi làng nghèo Thừa Thiên Huế, đó là Làng Phò Ninh, Làng Cổ Bi và Làng Hiền Sỹ. Đây là 3 ngôi làng thời gian qua bị nước lũ vây hãm không có đoàn nào vô làng cứu trợ được, may mắn là khi đoàn Từ thiện Trái tim BDDT có mặt thì nước lũ đã rút đi nhiều nên xe chở hàng cứu trợ đã có thể vào tận nơi để phát quà cho dân.
Sáng hôm qua, (ngày 21 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 2 xã Phú Lễ, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền Tp Huế, đoàn đã phát tổng cộng là 300 phần quà tại nhà văn hóa cạnh chùa Quang Bảo- Phù Lễ. Chuyến cứu trợ lần này được sự nhiệt tâm giúp đỡ về mặt tổ chức cũng như vận chuyển hàng hóa của chư Phật tử chùa Quang Bảo & các thành viên trong Hội từ thiện nên đã diễn ra tốt đẹp và thành tựu viên mãn.