Chương Ii Phật Nho Luận Lý

31/01/201112:00 SA(Xem: 17303)
Chương Ii Phật Nho Luận Lý


VẠN PHÁP QUI TÂM LỤC

Thiền Sư Tổ Nguyên 
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Đắc Pháp


CHƯƠNG II

PHẬT NHO LUẬN LÝ

Nho sĩ hỏi: Đạo lý của Phật chủ trương không cha con, không vua tôi. Các bậc tiên Nho đã bình luận đạo lý của Phật đồng với học thuyết của Dương Chu và Mặc Địch (4). Tôi nghiên cứu thấy lời nói ấy quả nhiên chẳng sai.

Sư đáp: Khi đức Phật còn tu nhơn, trong vô lượng kiếp đã từng móc mắt cứu song thân, hoặc xả bỏ thân thể chết thay cho cha, hành vô vàn đạo trung đạo hiếu, nhưng mà cũng không thành đạt được sự báo đáp. Chỉ có xuất gia học đạo vô thượng, thành bậc Đẳng chánh giác, thì sự báo đáp mới trả xong Kinh Phật nói: “Nếu người con hiếu phụng sự cha mẹ, trời Đế Thích ở tại nhà. Người con hiếu dưỡng cha mẹ, trời Đại phạm thiên ở tại nhà. Người con hiếu kính cha mẹ chư Phật ở tại nhà”. Trong Luật nói: Hiếu gọi là Giới. Người trước chẳng nuôi cha mẹ mà làm việc bố thí, đấy gọi là người ác. Trong Di Lặc kệ nói:

“Nhà trên có hai tượng Phật,
Xót thương người đời chẳng biết
Chẳng dùng vàng tốt làm thành,
Cũng chẳng chiên đàn tạc nên.
Tức là cha mẹ hiện tại.
Đấy là Thích Ca Di Lặc,
Người thường thành tâm cung kính.
Nào câu công đức chi xa”.

Giáo lý Đạo Phật tuy không bàn về việc trị quốc, nhưng mà hay dẫn đạo người dân làm lành, cải hoá tà mê trở về đường chánh. Dạy người ngu vâng làm những điều lành, khiến kẻ trí ngộ lý tu tâm. Đấy có thể bảo là làm sáng tỏ Phật đạo và ngầm báo đáp ân vua. Há chẳng thấy hàng họ Thích trong đạo Phật và những Tòng Lâm trong thiên hạ, sớm tối hai thời khoá tụng, hầu báo đáp bốn ân ba cõi được nhờ. Đối với người lơ là Phật quả, bất trung, bất hiếu, mười phương bồ tát, hàng lậu tận A la hán, hàng thiên long bát bộ, các loại qủi thần, há chịu qui y và dốc lòng phụ tá? Tôi chẳng nói dối, ông tự rõ.

HỎI: Cha mẹ còn sanh tiền chẳng đi được xa, đi xa còn chẳng cho, huống cạo tóc mặc áo thâm, xa lìa cha mẹ?

ĐÁP: Ông chỉ biết cái hiếu nhỏ ở thế gian, mà chẳng biết cái hiếu to lớn xuất thế gian. Hiếu ở thế gian là chẳng thể xa lìa cha mẹ, còn sống thì lấy lẽ mà phụng sự, khi chết thì dùng lễ mà mai táng, cuối cùng là lấy lễ mà cúng tế. Đạo hiếu trước sau đấy đủ chỉ có thế.

Nho giáo chỉ biết phụng sự cha mẹ hành đạo hiếu, mà chẳng biết cha mẹ đời quá khứ chi đến hiện tại đã tạo nghiệp thọ báo, đoạ lạc vào ba đường. Nếu được người con xuất gia, chóng chứng đạo giác ngộ vô thượng, thì mới có thể cứu bạt cha mẹ thoát khỏi cảnh khổ. Đấy mới có thể gọi là báo đáp ân cha mẹ một cách chân thật. Cổ đức nói: “Một người con xuất gia chín đời ông bà được thăng thiên”. Xuất gia làm Tăng, tuy cạo tóc mặc áo thâm, đó nghĩa là xa lìa thế tục, học đạo mới dễ thành công. Chẳng có vợ con, nên gọi là cắt đoạn ân ái, mới mau thành chánh giác. Ông chỉ biết ngũ luân (5) ở thế gian, mà chẳng biết cái hiếu lớn cứu cha mẹ.

HỎI: Tội bất hiếu có ba, không con nối dòng là lớn hơn cả. Vậy thế nào?

ĐÁP: Luân lýthế gian không con nối dòng là bất hiếu. Trái lại đạo xuất thế không cuộc hạn trong lệ này. Bởi do tham ái nên chúng sanh tiếp nối nhau mà sanh, cột trói trong lưới ái chẳng thôi, như keo như hồ. Đời đời hội hiệp, kiếp kiếp liên chuyền cha mẹ con cháu tới lui chẳng dứt. Nếu thật là người có trí huệ phải cương quyết đoạn trừ, phát tâm dũng mãnh chặt dứt ái dục, đốn ngộ tâm tánh, vượt thẳng đến mảnh đất giác ngộ tuy là tuyệt tự không con nối dòng cũng không phải tội lỗi. Bởi tự mình có cái hiếu lớn xuất thế, báo đáp ân của ông bà cha mẹ một cách chơn thật.

HỎI: Tăng sĩ xuất gia, mở miệng ra là nói việc xuất thế. Nếu quả thật có pháp xuất thế, thì pháp ấy chẳng phải hành trên thế gian. Nay thấy lưu hành trên thế gian sao nói ra ngoài thế gian?

ĐÁP: Người học đạo chẳng nhiễm duyên đời, giải thoát tất cả chỗ, gọi là người xuất thế. Chẳng phải lìa thế gian mà riêng có cái có thế xuất. Thí như Nho sĩ thi đậu gọi là “cỡi rồng bẻ quế”. Há thật có rồng để cỡi, có quế để bẻ ư? Đáng tức cười những kể mê chấp mà anh nghị luận dị kỳ.

HỎI: Tôi thấy Tăng sĩ ham mê danh lợi, ròng làm chuyện thế gian, làm sao chẳng nhiễm?

ĐÁP: Thời kỳ mạt pháp lìa Phật quá xa, cho nên rồng rắn lẫn lộn, phàm thánh giao xen. Có những người trí chẳng lìa ngoài pháp thế gian, hành động phi đạothành tựu được Phật đạo, người phàm mắt thịt không thể biết được, chớ nên nghị luận hàm hồ.

HỎI: Đức Thánh Khổng công kích học thuyết dị đoan, đâu chẳng phải là Phật giáoLão giáo sao?

ĐÁP: Ngài Khổng Tử cho Lão Tửdị đoan, sao lại đi hỏi lễ và khen tặng Lão Đam? Nếu cho Phật là dị đoan, lúc ấy Phật giáo chưa truyền vào Trung Quốc sao nói dị đoan được? Ấy chẳng qua ngài Khổng Tử ngó thấy thời Xuân Thu, bậc hiền giả thì thái quá, còn kẻ ngu thì bất cập. Tất cả đều mất Trung đạo, cho nên nói rằng dị đoan. Kẻ Nho sĩ đời sau nương vào đó mà bài báng Phật Giáo và Lão Giáo. Lời nói rời rạc kia chẳng thông vậy.

HỎI: Phật giáo chủ trương tịch diệt gọi là dị đoan. Các bậc tiên Nho đã kiểm điểm, lời kia chẳng sai.

ĐÁP: Gọi tịch ấy chẳng phải đối với động mà gọi rằng tịch. Từ vô thỉ đến nay vốn tự chẳng động, nên gọi rằng tịch. Gọi diệt ấy chẳng phải đối với sanh mà gọi rằng diệt. Từ vô thỉ đến nay vốn tự không sanh không diệt nên gọi rằng diệt. Đây là bản tánh của toàn thể, muôn nghìn tác dụng từ đây mà phát sanh. Kẻ Nho sĩ đời sau chẳng ngộ được tánh thể, lầm lẫn sanh ra dị kiến đoạn diệt.

HỎI: Đạo Nho tôi chủ trương “Cùng lý tận tánh” chẳng giống như thiên không của Phật giáo?

ĐÁP: Phật nói: “Tịch diệt hiện tiền, lục căn hỗ dụng”. Nhà Nho gọi là “Tịch nhiên bất động, có cảm liền thông”. Phật nói: “Như như bất động”. Nho nói: “Không không” giống nhau vậy. Kẻ Thích Từ chuyển thức thành trí. Thầy Nhan Hồi học đạo thành “thường không”! Nếu cho tịch diệtdị đoan, thì Khổng Tử nói “Không không” cùng Phật không hai (vậy cũng dị đoan sao). Kẻ Nho sĩ đời sau chẳng rõ tánh thể, đã vô cớ sai lầm nghị luận thiên không. Nếu ngộ được “chỗ chưa phát khởi trở về trước” mới biết đạo Nho, đạo Thích không hai.

HỎI: Đạo Phật dùng lý nhơn quả để doạ sợ hạng tục tử ngu muội, nói người làm thiện nhất định sanh thiên đường, kẻ làm ác đoạ xuống địa ngục. Nói lục đạo luân hồi tam đồ nghiệp báo, như thế là dối láo mê hoặc người thái quá. Tín đồ đạo Phật đâu biết mạng người sau khi chết khí hoá thành gió, thân thịt hoá thành bùn đất, một đời đã hết có ai mà trở lại?

ĐÁP: Như ông đã nói: không nhơn không quả, thiên đường địa ngục là dối láo, con người một đời chết rồi về không, khí hoá thành gió, thịt hoá làm bùn đất. Nếu không nhơn quả sao kinh Dịch nói: “Nhà chứa những điều thiện ắt có thừa những niềm vui khánh hạnh; nhà chứa điều ác ắt có thừa những hoạ tai”. Lại Kinh Thư nói: “Người làm lành được đáp cho trăm điều may mắn; người làm điều chẳng lành được đáp cho trăm tai họa”. Nếu khôngđịa ngục do đâu trong Truyện nói: “Nếu làm điều chẳng lành sẽ bị quỷ thần hành phạt nơi cõi u minh”. Nếu khôngluân hồi, cớ sao lại nói: “Người chết nơi đây thì sanh nơi kia. Vạn vật lưu xuất từ cơ tạo hoá, thì cũng đều vào cơ tạo hoá”. Nếu không nhơn quả báo ứng con người chỉ sống một đời mà thôi, thì tự do lêu lổng, buông lung tâm ý, hành vi trái đạo, đến sau khi chết chẳng qua hoá một trận gió trong (thanh phong).

Nếu tự như hoá thành gió sao lại an trí thờ phụng? Hơn nữa gió là vật vô tình vốn không tri giác. Trinh Hao nói: “Con hiếu cúng tế ông bà, ông bà chứng cho lòng tưởng nhớ ấy. Đấy là do lòng chí thành hễ có cảm liền ứng”. Cứ theo lời nói này: Ông bà đến để chứng cho lòng tưởng nhớ của con cháu. Nhưng mà luồng gió trong đến chứng hay là linh tánh thành gió. Nếu là gió trong đến thì gió trong là vật vô tình.Vậy thì ông bà sau khi chết TÁNH hoá làm vật vô tình ư? Con cháu cúng tế ông bà, lại biến thành linh tánh, sau khi nhận sự cúng tế rồi, trở lại hoá thành gió trong. Như vậy sự biến hoá, qua lại thật là luồng gió kỳ quái. Trinh Hao lại nói: “Quỷ nghĩa là có đi mà không có lại”. Đã có đi mà không có trở lại, nhưng khi con cháu chí thành nên ông bà cảm mà về chứng. Vậy là có trở lại! Thật nực cười vậy.

Y Xuyên nói: “Quỷ thần là lương năng của hai loại khí: khí dương sanh lên trời làm thần, khí âm rơi xuống đất làm quỷ”. Đã nói nhơn quả là giả, thiên đường địa ngục chẳng thật. Như vậy chủ trương khí dương sanh lên trời làm thần, khí âm dưới đất làm quỷ là đã rơi trong nhơn quả cảm ứng rồi.

Rất tiếc kẻ tục Nho chẳng ngộ được diệu tánh, chẳng có chẳng không, chẳng sanh chẳng diệt, lầm lẫn sanh tâm chấp đoạn diệt, tự mờ mịt bản chơn. Kẻ ấy phải sớm sanh trí huệ, mau tìm bậc minh minh ra đạo lý nhất quán, thì nhất định không rơi vào hai kiến chấp đoạn thường, liễu ngộ được lý trung hoà của cửa Khổng.

HỎI: Đã chẳng lầm nhơn quả, thiện ác báo ứng chẳng sai. Cớ sao vua Lương Võ Đế phụng thờ Đạo Phật mà bị mất nước vào tay Hầu Cảnh?

ĐÁP: Vận nước có dài có ngắn, đời có thạnh trị hay loạn lạc đều do định nghiệp, không thể dời đổi được. Lương Võ Đế theo tiểu thừa, chuyên tu vào hữu vi. Quá tin vào lề thói cũ, cố chấp lý Trung, không có quyền biến. Binh của Hầu Cảnh đến chẳng bày phương tiện, mà lại hợp các thầy Sa Môn lại rung chuông gõ khánh, mà niệm MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT. Giống như Hướng Hủ nhà Hậu Hán, có Trương Giác làm loạn, không muốn quốc gia hưng binh, chỉ xua binh tướng ra bờ sông, hướng về phương bắc đọc Hiếu Kinh cho quân giặc nghe sẽ tự tan rã. Dùng pháp chánh chẳng khéo như vậy, đâu phải lỗi tại Hiếu Kinh? Lương Võ Đế chấp vào lý Trung, lại cũng do định nghiệp mất nước chớ chẳng phải làm thiện mà tổn hại. Vua Lương Võ Đế tuổi thọ đến chín mươi, định nghiệp của vua là do bệnh mà chết, chẳng phải đến đỗi tàn ác. Cớ sao lại nhơn vào việc này mà bài báng Thánh Giáo, ấy tự mình chuốc lỗi vậy.

HỎI: Thầy nói định nghiệp khó trốn thoát. Vậy sự cảm ứng thật là trò dối gạt?

ĐÁP: Đời trước tạo nghiệp, đời này thọ quả báo. Thân hiện đời này tu phước, trở lại kiếp sau hưởng quả vui. Lý ấy nhất định như vậy, không thể dời đổi được. Vua Lương Võ Đế đời trước kết những oan nghiệp, đời này gặp lại những thù oán xưa. Tuy gặp những oán nạn, nhưng nhờ đời này tu thiện, nhất định quả của đời sau thế lầm được.

HỎI: Nhơn quả chẳng lầm, nó là cái định kiến không thể dời đổi chăng?

ĐÁP: Đấy là pháp nhất định mà cũng có bất định.

HỎI: Bất định như thế nào?

ĐÁP: Đời trước tạo nghiệp, đời này nghèo khó lại mạng yểu; hoặc làm phúc đức nên tội diệt phúc sanh; hoặc ở những kiếp trước vay nợ sanh mạng với nhau, nay oan trái hội ngộ. Do làm công đức lớn cảm động đến trời đất nên hoá hung làm kiết. Cổ đức nói: “Làm âm đức hay giải trừ được túc nghiệp”. Cho nên, tuy có định pháp mà cũng có bất định pháp.

HỎI: Vua Lương Võ Đế một đời xả thân sửa chùa xây tháp. In kinh tạo tượng, phụng thờ Phật, độ Tăng Ni, làm lành như vậy, há không âm đức cảm động đến trời đất, để được cởi oan mở nạn sao?

ĐÁP: Việc của Lương Võ Đế là phước hữu vi, sanh trở lại sẽ thọ qủa vui. Nếu là âm đức vô lậu thì hợp làm một với lòng trời, mới hay đổi hung làm kiết, đổi tai hoạ thành an lành.

HỎI: Phật pháp nếu đồng với giáo lý của đạo Nho, tại sao Âu Dương Tu nói: “Phật là đại hoạn cho Trung Quốc”.

ĐÁP: Phật pháp nếu chẳng phải là giáo lý chơn chánh mới là đại hoạn. Do đâu mà từ xưa cho đến nay trên từ thánh đế hiền vương, dưới cho đến tể quan, đại Nho, trưởng giả, cư sĩ, Đạo sĩ, bà già, con gái, con ở… đều phụng thờ Phật như thuỷ triều lên. Kẻ quy y như nền trời đầy sao. Trong số người đông đảo như vậy, khó thấy một người khám phá ra Đạo Phật là người từ phương xa, ngài cũng chưa đến đây bao giờ. Chẳng qua là lời dạy của ngài truyền đến đây mà thôi. Nếu là giáo pháp hại người, há lại cho lưu truyền từ lâu, sao không bị trời tru người chán?

HỎI: Âu Dương Tu nói: “Phật khéo bày đặt việc không căn cứ, chẳng chơn thực”.

ĐÁP: Phật bày ra điều dối láo ắt có mưu đồ. Nếu nói về danh lời Phật là người rất tôn quí; nếu nói về đói lạnh Phật là người rất giàu sang. Vì sao lại xả bỏ giàu sang vương vị đi bày đặt chuyện không căn cứ, chẳng chơn thật để mê hoặc người? Đây cũng là việc tất điên đảo và kỳ quái vậy. Nếu Phật lòng chỉ có mảy may trá vọng, thì mười phương các bậc thánh hiền há lại chịu cùng theo hoằng hoá? Kinh nói: “Lời nói của Như Lai là lời chơn, lời thật, lời đúng, lời chẳng dối, lời chẳng khác” (Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả). Lời trên ấy là do Âu Dương Tu muội tâm mà nói ra vậy.

HỎI: Hàn Vũ nói: “Phật giáo là nền đạo giáo từ bên Tây Vức (Ấn Độ), đến thời Hậu Hán mới truyền bá vào Trung Quốc. Đời thượng cổ nào có đạo Phật, từ đời Hoàng Đế trở xuống, đời vua Văn, vua Vũ trở lên, con người đều chẳng dưới trăm tuổi. Đời sau theo Đạo Phật càng ngày càng nhiều nên tuổi thọ bị giảm. Nguy thay!”

ĐÁP: Bậc Đại Thánh ra đời không cuộc hạn trong chỗ nơi và tuổi tác. Bậc Đế Vương của Trung Quốc như vua Thuấn sanh ra ở Chư Bằng, khi chết ở Ô Điều, và quê ở phần đất phương Đông. Văn Vương sanh ra ở Kỳ Châu, chết ở Tất Dĩnh, và quê ở phần đết phía Tây. Vua Thấun và Văn Vương đều là ậc thánh nhơn, giáo pháp các ngài bủa khắp thiên hạ, đời sau rất tôn kính các ngài, ấy chẳng qua là tùy phong thổ mà được tuổi thọ như vậy. Nếu nói người thượng cổ thì trường thọ, còn kẻ hậu thế thờ Phật mà bị giảm thọ, vậy cớ sao khoảng giữa năm Bính đến năm Nhâm rất ngắn? Tại sao Khổng Lý (là con Đức Khổng Tử) và Nhan Hồi là bậc thông minh xuất chúng lại chết non? Khéo tin, bảo nguyên nhơn do thờ Phật mà mạng số rút giảm, vậy Hàn Vũ bài báng Phật lý đáng phải sống vĩnh viễn? Đấy là lối lý luận “bịt tai nghe linh” chưa khỏi làm trò cười cho bậc trí.

HỎI: Phật dạy “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”. Đạo Nho tôi không có lời nói chẳng thật như vậy.

ĐÁP: Phật dạy người minh tâm kiến tánh, và khi kiến tánhthành Phật. Mạnh Tử nói: “Dùng hết tâm để biết tánh, biết tánh tứ là biết trời” (Tận kỳ tâm tri kỳ tánh, tri kỳ tánh tắc tri kỳ thiên). Lại nói: “Đọc lời dạy của vua Nghiêu rồi” (Tụng Nghiêu chi ngôn, hành Nghiêu chi hạnh, thị Nghiêu nhi dĩ hỉ). Giáo lý của ta dạy: “Ngộ lời của Phật, hành hạnh Phật, đó là Phật rồi”. (Ngộ Phật chi ngôn, hành Phật chi hạnh, thị Phật nhi dĩ hỉ). Như vậy đạo Nho đạo Thích có gì sai khác mà nói không thật?

HỎI: Khi ngộ lời Phật, quyết định cần phải hành hạnh của Phật, tôi đã thấy trong giói Tăng sĩ, có nhiều người không tuân theo luật của Phật. Tại sao thế?

ĐÁP: Cửa pháp quá rộng rãi cho nên rồng rắn lẫn lộn. Ngay lúc đức Phật còn tại thế mà còn có “Lục quần Tỳ Kheo”(6). Huống là thời mạt pháp, cách Phật càng ngày càng xa. Thời nay chỉ cầu một người hơi giống người xưa, trong số trăm ngàn Tăng sĩ cũng đủ rồi. Thí dụ đãi cát tìm vàng, mười đấu cát được một hạt vàng cũng là vật quí ở trên đời. Lại như chẻ đá tìm ngọc, một núi đá chỉ được một tấc ngọc cũng làm được vật quí. Người xưa nói: “Loài có sừng tuy nhiều, một con lân cũng đủ rồi”. Chẳng những thời mạt pháp, trong Phật giáo khó tìm được người hơi giống người xưa, ngay lúc đương thời Đức Khổng Tử cũng có quân tử Nho và tiểu nhơn Nho. Hiện nay tuy mặc áo Nho sĩ, làm sao bảo đảm họ đều giống Khổng Mạnh? Cho nên tông giáo thời thượng pháp chẳng riêng gì Tăng sĩ có người không giữ luật mà Nho giáo cũng vậy, chưa khỏi lệ này.

HỎI: Tam giáo chỉ có một lý, tại sao lầm phân ra đẳng cấp: Phật giáo trị ở xương tuỷ, Đạo giáo trị ở huyết mạch, Đạo Nho tôi trị ở ngoài da? Như vậy là lời nói bất công, chưa khỏi khiến người phiền trách.

ĐÁP: Nho gia lấy “cùng lý tận tánh” làm đạo, tam cang, ngũ thường (7) làm đức, chỉ mong người làm quân tử, cho nên gọi là trị ngoài da. Đạo gia lấy “tu chơn dưỡng tánh làm Đạo”, “nhược chi thoái kỹ làm Đức”, mong làm đến bậc Thanh Hư đạo nhơn, cho nên gọi là trị trong huyết mạch. Phật giáo lấy minh tâm kiến tánh làm Đạo, thập độ vạn hạnh (8) làm đức, thành bậc chánh giác tam giới sư. Thật là hay trị ở cốt tuỷ. Chẳng phải là đạo thể của tam giáo có khác nhau, bởi mỗi môn công hạnhsai biệt.

HỎI: Thế nào bảo rằng Tam giáo thể chỉ có một?

ĐÁP: Thể chỉ có một. Phật giáo chủ trương kiến tánh, Đạo giáo chủ trương dưỡng tánh, Nho giáo chủ trương tận tánh. Vào cửa tuy có sai khác, nhưng trở về nguồn thì không hai.

HỎI: Phật giáo Nho giáo có chỗ bất đồng?
- Bất đồng chỗ nào?
- Đạo nho tôi, trước học hỏi sau mới giảng dạy, phải xem khắp cả sách vở để nhận ra chỗ cùng tận của tánh tình, của lý. Đạo Phật trước dạy ngồi tịnh tham cứu thoại đều, để ngộ tâm tánh của Đạo, cho nên Phật giáo, Nho giáo đại khái có điểm chẳng đồng.
- Sư nói: Từ bên ngoài vào chẳng phải của quí ở nhà, từ trong phát khởi mới là huệ chơn thật. Môn đệ của Khổng Tử lúc bấy giờ chỉ có Nhan Hồi được ngộ, ngoài ra là những bậc học nhiều thấy rộng, tất cả đều từ bên ngoài trợ phát, cho nên học và ngộ cách nhau trời vực. Như Trình Minh Đạo tham học nơi ngài Mậu Thúc, Mậu Thúc khiến tầm cứu “chỗ vui” (lạc xứ) của Nhan Hồi đâu không phải là câu thoại đầu? Lại Dự Chương, La Trọng Tồ chỉ dạy người tịnh toạ tham cứu câu: “Bốn đầu chưa phát khởi làm khí tượng gì?”. Việc nên chẳng những có sức tiến bộ trên sự học, mà cũng gồm cả chỉ yếu của sự dưỡng tâm. Hai vị cao hiền nơi của Khổng này có khác gì nhà Thiền tham cứu ngộ nhập? 

HỎI: Lý đốn ngộ tôi tin chẳng nổi?

ĐÁP: Chẳng những kẻ mới học Nho hiện thời tin chẳng nổi, mà cho đến Tử Cống, Tử Phương các bậc hiền trong cửa Khổng cũng tin chẳng nổi. Lúc bấy giờ chỉ có Nhan Hồi được niềm tin thôi. Cho nên Đức Khổng Tử gọi Nhan Hồi là bậc hảo học.

HỎI: Giáo lý của tôi từ sự mà vào, trong động khế hợp với lý. Nhà Phật trái lại từ lý mà vào, tịnh toạ để ngộ lý. Cho nên người trong động khế hợp với lý khi lực lớn. Người tịnh toạ ngộ lý khi lực yếu.

ĐÁP: Chỗ ông nói lý kia rất đúng, nhưng không làm sao được vì chỗ quen thuộc lại quen thuộc hơn, chỗ sanh khởi lại sanh khởi hơn. Người học nếu ở trong động, chỗ quen thuộc mà chứng lý, không theo việc ấy làm chống trái, đó chỉ có muôn người không được một. Hạng sơ cơ nghiêng về chỗ tịnh, nơi sanh khởi (của tâm ý) luyện tập cho thành thục. Lúc ấy dù đến chỗ động tự nhiên cũng được lực dụng.

Ngài Y Xuyên mỗi khi thấy người tịnh tạo đều vui vẻ khen rằng người này khéo học. Châu Hi nói: “Ngài Minh Đạo dạy người tịnh tọa, Lý tiên sinh cũng dạy người tịnh tọa. Bởi vì nếu tinh thần bất định thì đạo không bến đỗ, nếu tịnh tọa đều dưỡng được kết qủa, thì Đạo liền thông suốt”. Như vậy chư Nho ở trên đều thích tịnh tọa nghiên cứu. Tức cười cho nhà Nho thế tục ngày nay, vọng tâm sanh diệt không một chút dừng nghỉ, đối cảnh gặp duyên không phân biệt chủ tể. Như vậy vì sao nói từ sự nhập, trong cái động khế hợp đạo nhất quán?

HỎI: Tột lý chỉ một lời chuyển phàm thánh. Việc này rất kỳ đặc, khiến nhà Nho khó tin.

ĐÁP: Đương thời ngài Tăng Sâm tham cứu lý tâm rất chuyên cần, bỗng nghe câu “Nhứt dĩ quán chi” của Đức Khổng Tử, thì nghiễm nhiên lãnh ngộ được cái lý của tâm tánh.

Lại, Châu Mậu Thúc dạy đồ chúng rằng “Cỏ trước nhà chẳng nhổ”. Nếu có người hỏi ý kia, nên đáp rằng “Ý nghĩ chung của tự nhà mình”.

Trương Tử Hậu nghe lừa kêu mà lãnh hội. Đấy há chẳng giống “Tột lý chỉ một lời, chuyển phàm thành thánh ư?”

HỎI: THIỀN lấy cơ duyênấn chứng. Đạo Nho tôi quyết không có việc này.

ĐÁP: Xưa Trình Y Xuyên thấy Thiệu Khương Tiết, Trình chỉ cái bàn ăn mà hỏi Thiệu rằng “Bàn này để trên mặt đất, chẳng biết trời đất tại chỗ nào?” Tiên sinh Thiệu Khương Tiết nghị luận cùng tận về lý kia. Lời hỏi ấy tứ là cơ duyên ấn chứng vậy.

HỎI: Chư tử trong đạo Nho tôi, đều có nghị luận về lý vô cực, thái cực nhưng mà không thông suốt, làm sao kẻ hậu học một lúc được vào? Thầy đã nói rõ về Tam giáo chỉ một lý, sao không ra tay chuyển xoay để cho người chưa ngộ tin rằng Phật pháp là cao tột?

ĐÁP: Đạo giáoNho giáo đại khái về môn lý thì đồng: do vô cực sinh ra thái cực. Thái cực động sanh ra dương, động cùng cực rồi tịnh. Tịnh lại sanh ra âm. Một âm một dương ấy là lưỡng nghi giao nhau, sanh ra tứ tượng ngũ hành, rồi sanh ra vạn vật. Tóm lại nếu suy về lý cùng cực, rốt lại chẳng biết là do TÂM hiện ra, tôi nếu chỉ bày chỗ thanh tịnh bản nhiên, sao lại sanh sơn hà đại địa còn e khó vào. Nay phương tiện mượn hai lý vô cực thái cực sai khác của Nho giáo để khiến ông dễ ngộ.

Bây giờ trở lại nghiên cứu Phật thừa: Bản tánh không tịch tức là vô cực. Chơn tâm linh chiếu tức là thái cực.Tịch chiếu không hai như gương chiếu vật, hay biện biệt lẽ thiện ác mà không sanh phân biệt, tâm vừa nảy sanh lẽ thiện ác liền hiện. Như thái cực động mà sanh ra âm dương, âm dương giao nhau mà sanh ra vạn vật. Chơn tâm đối vật chẳng sanh phân biệt. Một niệm vừa sanh, muôn vạn pháp đều hiện. Nay mượn chỉ tâm tánh để làm sáng đạo Dịch, nên vào cửa thiền tham cứu trở lại phải mất ba mươi năm.

HỎI: Giáo học củ đạo Nho tôi, cho bột TỨ THƯthánh kinh, nếu thấy không tiếc công xin giải thích một phen. 

ĐÁP: “Đạo Đại học, ở chỗ minh minh đức, ở chỗ tân dân, ở chỗ dừng lại nơi chí thiện”.

Giải thích: Đạo đại học của cửa Khổng, chẳng phải là lễ nhạc, hay tìm tòi trong sách vở, cũng chẳng rơi vào thái quá và bất cập, mà thường dừng nơi lý Trung đạo.

“Tại minh minh đức” nên phân làm hai để giải thích. Chữ minh trên tứ là Ngộ, chữ minh dưới tức là Tâm. Chơn tâm rỗng rang mà mầu nhiệm, hay chiếu soi mà thường tịch. ĐỨC là diệu dụng của tâm, nó thuần thiện không ác. Tất cả những tam cang, ngũ thường, lễ nhạc, luật pháp, chính trị… đều phát xuất từ đức dụng của diệu minh nhất tâm. Chúng sanh từ vô thỉ đến nay, bởi do chạy theo cảnh, đuổi theo tình, ô nhiễm quá lâu, cho nên trái lại với đức dụng, điên đảo thác loạn, che đậy cái bản minh, do đó nên trôi nổi trong sanh tử. Một mai ngộ sáng được bản tâm, mới biết người hiền kẻ ngu không hai. Từ khi ngộ về sau phải làm “mới dân” (tân dân), khiến mọi người đều phát minh ra cái “diệu minh nhất tâm”. Hành động thực tiễn này là chỗ “dừng lại chỗ chí thiện” (chỉ ư chí thiện). Như đã nói trên là đốn ngộ.

Từ đây trở xuống là “Tu chứng”. “Biết dừng lại rồi sau mới định. Có định rồi sau mới có thể tịnh. Có tịnh rồi sau mới được an. Có an rồi sau mới lự. Có lự rồi sau mới đắc”.

Giải thích: Tự biết dừng lại chỗ chí thiện (chỉ ư chí thiện). Chí thiện là trung đạo. Nếu là dừng lại ở trung đạo thì tự nhiên lẽ thiện ác không lừa dối mình. Như vậy mới có thể bảo là người “biết dừng lại rồi sau mới định”. Định là tâm chẳng động, sự vật chẳng thể đổi dời. Nếu đến chỗ sự vật không đổi dời, thì bản tâm như chiếc gương sáng suốt thanh tịnh, đối vối vật mà không nhiễm. Cho nên gọi việc này là “có định rồi sau mới tịnh”.

Tịnh là cái tịnh của bản tâm, chớ chẳng phải là cái tịnh của sự dừng cái động. Chơn tịnh hiện tiền thì nơi nơi đều vô ngại. Nếu đến chỗ nơi đều lai chẳng loạn gọi là chơn an. Cho nên nói: “Có tịnh rồi sau mới an”. An là an nhàn, trong ngoài nhứt như, hồn nhiên yên ổn, xử sự chơn thật. Tóm lại những điều trên là định.

Từ đây sắp xuống có thể gọi là huệ: thật vậy nếu định, tịnh, an được lâu thì chơn huệ tự nhiên phát hiện. Cho nên nói “an rồi sau mới hay lự”. Lự là chơn huệ, sự sự đều vô ngại. Nếu đến chỗ sự sự đều vô ngại thì mới có thể gọi là “lự rồi sau mới đắc”. Đắc là không chỗ đắc, tứ là định huệ đồng nhau.

“Vật có gốc ngọn, sự có thỉ chung. Biết được lẽ trước sau thì gần với Đạo”.

Giải thích: Minh minh đức là gốc, làm sáng lý đổi mới dân (tân dân) là ngọn. biết dừng lại nnới chí thiện là thỉ. Sau trở về bản tâm là chung. Gốc, ngọn, thỉ, chung, thứ lớp chẳng sai tự nhiên gần với đạo Đại học.

“Người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng (minh minh đức)” nơi thiên hạ. Trước phải cai trị quốc gia. Muốn cai trị quốc gia, trước hết phải tề gia. Muốn tề gia trước phải tu thân. Muốn tu thân trước phải chánh cái tâm. Muốn chánh cái tâm trước cái ý phải thành thật (thành ý). Muốn cái ý thành thật, trước phải có cái biết thấu đáo (trí tri). Muốn có cái biết thấu đáo phải tìm cho ra cái nguyên lý của sự vật (cách vật).

Giải thích: Xưa bậc vua chúa ngộ cái gốc mà trị cái ngọn. Người trong thiên hạ nếu trị bằng ngọn (mạt trị), trước cần phải trị nước. Muốn trị nước trước phải tề gia. Người học lý nếu muốn tề một nhà, nhất định trước phải tu cái đức dụng của thân ta, muốn tu cái đức dụng của thân, trước tiên chỉ cần cái tâm cho chơn chánh. Tâm vốn không vây, nhơn ý mà phát động. Ý niệm diên đảo mắc nơi dối láo. Cho nên nói: “muốn cái tâm chơn chánh, nhất định cái ý trước phải thành thật”.

Thành là thành thật, thích ứng với sự vật không thiên lệch, muốn thích ứng với sự vật mà không thiên lệch trước phải có lương tri. Lương tri là tâm mầu sáng (linh minh). Như gương soi vật chẳng sanh phân biệt. Nay sự yêu ghét phân biệt là cái sức hư vọng của tình thức. Cho nên nói “trí, tri phải ở nơi cách vật”! Vật là tình thức, chẳng phải là vật bên ngoài. Phật nói: “Nếu hay chuyển được vật liền đồng Như Lai”. Kẻ Nho đời sau chẳng ngộ vật vốn là tình thức, lầm nhận cách vật là xét cùng lý của sự vật. Muốn đến cỗ cùng cực kia không thể đến được. Khá thương vì tìm cầu bên ngoài nên trở lại bị vật làm mê hoặc.

“Cách vật rồi sau mới trí tri. Trí tri rồi sau mới thành ý. Ý thành rồi tâm mới chánh. Tâm chánh rồi sau mớu tu thân. Tu thân rồi sau mới tề gia. Tề gia rồi sau mới trị quốc. Trị quốc rồi sau mới bình thiên hạ”.

Giải thích: Đoạn văn này trở lại bản ý ở trên. Nếu hay chuyển thức thì lương tri tự đến. Lương tri nếu hiện, giống như gương chiếu sự vật thiện ác rõ ràng, chẳng sanh yêu ghét. Tâm yêu ghét chẳng sanh, ý thành thực không lệch. Ý thân đoan trang, tâm chơn chính, lý tự nhiên mặc thân đoan trang, tâm chơn chính, lý tự nhiên mặc tình tạo tác mà đều hợp với đạo cùng cực. Cho nên cảm hóa một gia đình đều học hạnh ta, thì tự nhiên người dân trong thiên hạ đều làm người lương thiện. Từ vua chúa cho đến hạng dân đen mỗi mỗi đều lấy việc tu thân làm gốc.

“Cái gốc kia để cho loạn rồi trị cái ngọn, chẳng phải vậy. Chỗ dầy (hậu) mà xem mỏng (bạc), chỗ mỏng mà xem dầy chưa từng có vậy”. (Sách Đại Học).

Giải thích: Trên từ vua chúa, dưới cho đến thứ dân, đều lấy nhứt tâm làm căn bản. Chẳng những tâm là gốc của thân mà cũng là căn bản của việc xuất thế và trị thế. Cái gốc kia nếu loạn của việc xuất thế và trị thế. Cái gốc kia nếu loạn thì tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ không thể có vậy.

HỎI: Đã nghe thầy giảng sách Đại học, xin thầy giảng tiếp sách Trung Dung.

ĐÁP: “Thiên mệnh gọi là tánh, noi theo tánh gọi là Đạo, tu đạo gọi là giáo”.

Giải thích: Lý Trung Dungtâm pháp của cửa Khổng chẳng thiên lệch, chẳng dựa nương chẳng nghiêng, chẳng dừng. Châu Hi chú giải: Tánh du cho Thiên mệnh, thiên mệnh phú cho mỗi người, mỗi vật cái lý kia. Nhưng mà chưa biết bổn tánh là vật gì? Vì lệnh của thiên mệnh đến giao phó cho người vật, đem lại lý của Khổng thánh chú giải thành ngoài tâm có pháp. Châu Hi đâu biết, bản tánh thể nó rỗng suốt như thái hư, không trong, không ngoài, chẳng lai chẳng khứ. Tất cả đều do ngay lúc ban đầu (tối sơ) không giữ tự tánh, chợt tâm khởi động nên thọ thai ngục. Gốc chỉ một tinh minh, phân làm sáu công dụng, duổi tình theo cảnh, nổi trôi trong sanh tử. Chúng sinh chẳng thể trở về nguồn, bậc tiên Thánh mới chỉ con đường tắt: đưa ra “thiên mệnh tức là tánh thể”. Chữ thiên mệnh, thiên tâm, thiên đạo, thiên lý, tên tuy khác nhưng thể lại đồng. Nói tóm lại là tánh lý. Người xưa nói: “nơi trời gọi là mệnh, nơi người gọi là Tánh”. Thế nên dạy rằng “thiên mệnh gọi là tánh”.

Từ nơi mỗi người đều vốn đủ một chơn tánh sáng suốt mầu nhiệm, mặc tình thù đáp mà lý vốn đương nhiên. Trong Thể dung hòa nhau chẳng rơi vào chênh lệch, việc trong hàng ngày sự lý không ngại. Cho nên nói: “Noi theo tánh gọi là Đạo”.

Bởi nhơn từ lúc thọ sanh đến nay, trần nhiễm che khuất bổn lý, loạn tưởng điên đảo, chẳng ngộ tánh thể. Bậc thánh hiền bày giáo nghĩa dạy người trở lại Tánh, ngộ lý tu chứng, phản vọng qui chơn, để trở về cái lý thiên mệnh xưa nay của mình. Cho nên nói: “Vì tu đạo nên gọi là giáo”.

“Giáo tu nơi đạo, Đạo gốc nơi tánh, tánh thể bắt nguồn nơi Trời. Bậc thánh nhơn biết mệnh và vui với lý Trời. Đấy là đạo Trung Dung vậy. Đạo không thể một chốc xa lìa. Có thể xa lìa được chẳng phải đạo. Cho nên người quân tử cẩn thận, dè dặt nơi chẳng thấy, sợ sệt chỗ chẳng nghe, chẳng xem cái ẩn bày cái vi, nên người quân tử nhất định phải cẩn thận chỗ vắng kia”.

Giải thích: Nếu ngộ tánh lý không thể một chốc xa lìa, một chốc chẳng hiện hữu tập khí sẽ hiện trở lại. Cho nên e dè cẩn thận, sợ sệt như đến bên vực sâu.Giữ gìn bản tánh chẳng rơi vào tà vạy, cẩn thận đạo riêng, phải phòng ngừa chỗ ẩn chỗ vi, một tý vừa nảy mầm, hơi máy động chưa phát khởi, giống như sanh mà chưa sanh. Chính lúc ấy tốt nhứt là buông liền, thì trở về bổn lý. Công kia coi thế mà rất lớn lao. Nếu đợi cho cái niệm thiện ác phát khởi, thì tâm yêu ghét thủ xả một loạt phát dậy. Khi phát dậy rồi trở lại đi hàng phục nó, đâu chẳng phải quá xa rồi ư? Cho nên cẩn thận chỗ vắng công phu rất nên khẩn yếu. Thế nên nói: “Người quân tử nuôi đạo phải cẩn thận nơi chỗ vắng kia vậy”.

“Hỉ nộ ai lạc khi chưa phát gọi là Trung, khí phát khởi mà bên trong biết tiết chế nó là hòa. Trung là gốc lớn (đại bản) của thiên hạ. Hòa là người đạt đạo trong thiên hạ. Trung hòa là ngôi vị của trời đất, là sự dưỡng nuôi của vạn vật”.

Giải thích: Trung chưa phát tức là chơn trí. Tịch chiếu không hai ứng đối với sự vật vô tâm, lại gọi là lương tri, cũng gọi là đạo bổn. Khi hòa đã phát tức là diệu huệ hay phân biệt các pháp mà không trụ, không nhiễm, gọi là lương năng, cũng gọi là đạt đạo. Lương tri lương năng gốc ở tại tánh thể. Tánh thể bao trùm cả thái hưnuôi dưỡng tất cả vạn hữu. Cho nên nói: “Trung hòa là ngôi vị của trời đất, là sự nuôi dưỡng của vạn vật”.

HỎI: Xin nói rõ trở lại về lương tri và lương năng.

ĐÁP: Lương tri và thức tri công dụng của nó đại khái chẳng đồng nhau. Lương tri vô tâm mà biết, chức tri có ý niệm mà biết. Lương tri biết rành thiện ác mà trụ thiện ác. Lương tri như gương soi vật, đen trắng tốt xấu phân biệt rõ ràng, nhưng mà không một mảy may bóng dáng lưu lại trong thể của gương. Trái lại thức tri trên bóng của gương khởi phân biệt, rồi chấp lấy hay bỏ bê làm chướng ngại bản minh của mình, hợp với vọng trần, phản lại giác ngộ. Lương tri và thức tri phải nên tự phân biệt rành rõ. Mảy may nếu sai cách xa ngàn dặm.

Lương năng là huệ, hay phân biệt các pháp, khéo trị thế đạo, nhưng không nhiễm thế sự, ứng dụng tự tại, muôn sự đều vô ngại.

HỎI: Khổng Tử chủ trương “không không”. Nhan Hồi chủ trương thường không. Chưa biết chủ trương hai loại không của hai ngài cái lý của nó đồng hay khác?

ĐÁP: Khổng Tử chủ trương không không, do không không mà đạt lý không, do đạt lý khôngtrở thành không không. Không không tức là như. Cái như này tức là chơn như. Chơn như tức là bổn tánh. Nhan Tử học đạo thánh chưa chứng chơn như, nên chẳng khỏi có niệm. Tuy có niệm động, giác nó liền không, vì vậy nên niệm không khởi lại nữa. Cho nên Khổng thánh gọi Nhan Tử là HỒI, bởi gần với thường không.

HỎI: Khổng Tử nói: “Đạo ta lấy lý một mà quán thông tất cả” (ngô đạo nhất dĩ quán chi). Chưa biết thế nào là một?

ĐÁP: Một tức là tánh, tánh tức là lý, lý tức là đạo, đạo tức là một.

HỎI: Khắc kỷ phục lễ thiên hạ có xoay về nhân chăng?

ĐÁP: Khắc phục cái tình thức của mình, để trở về với thiên lý. Lễ là tiết văn của lý. Nhân là đức dụng của tâm. Người hay khắc phục vọng tình để trở về chơn cùng thiên hạ trở về nhân thể có một. 

HỎI: Kinh thư nói: “Tâm con người chỉ là sự nguy hiểm. Tâm đạo thì vi diệu, chỉ có sự tinh thuần và chỉ có một. Nên chấp ý trung kia”.

ĐÁP: Tâm con người sanh diệt chẳng dừng, nên nguy đãi chẳng an. Tâm đạo hư linh tịch chiếu, nên vi diệu mà khó thấy. Tinh thuần là lẽ màu trong cái hư. Cái một là cái hư trong lẽ mầu. Chấp là chữ chỉ cho sự cố định, Trung là tánh thể. Các bậc thánh hiền trong tam giáo gốc ở một lý. Nếu lìa tâm tánh mà nói đều là lời ma cả.

HỎI: Đạo học của Nhan Tử, chẳng khởi cái nộ, chẳng hai lỗi là thế nào?

ĐÁP: Nộ là động chớ chẳng phải sân nộ. Tâm học của Nhan Tử là niệm động. Đối với Đạo Phật là chẳng có hai niệm nối tiếp, nên nói chẳng khởi. Tâm thường ở chỗ một, ứng sự tiếp vật không thiên lệch, có lỗi liền cải, gọi là chẳng hai.

HỎI: Bậc thánh nhơn dùng dịch để rửa tâm, lui ẩn nơi mật là sao?

ĐÁP: Rửa tâm là lắng vọng, lui ẩn là về chơn. Chơn vọng đều dứt nên gọi là một.

HỎI : Không hiểu không biết, thuận phép vua ?

ĐÁP : Chơn tánh như gương, soi vật mà vô tâm, vừa khởi tri thức liền rơi vào ý thức. Khổng Tử nói: “Ta có biết ư? Không biết vậy!” (Ngô hữu tri hồ tai! vô tri dã). Trong nhà Thiền nói: “Chẳng hay chẳng biết là cốt tuỷ của Đạo Phật” (Bất tri bất thức Phật đạo cốt tuỷ).

HỎI: Ngài Phu Tử ăn cơm hẩm, uống nước trong, co tay làm gối mà nằm, cũng tìm thấy cái vui trong ấy. Chưa biết cái vui chỗ nào?

ĐÁP: Vui đấy là cái vui chơn thật, chớ chẳng phải niềm vui hoan lạc ở đời. Chỗ vui là thiên lý, chỗ biết là thiên mệnh. Vui với thiên lý biết thiên mệnh, không mừng không lo. Diệu tánh rõ ràng niềm vui khó nói.

HỎI: Niềm vui “đan biều”(9) của Nhan Tử cùng với niềm vui của Khổng thánh có đồng nhau không?

ĐÁP: Nhan Hồi đắc được đạo của Khổng Tử được niềm vui không hoan hỉ không lo buồn, lý vốn đồng, nhưng mà họ Nhan còn nhiều bảo nhiệm.

HỎI: Sự chuyên chở của trời cao, không thanh âm, không mùi vị?

ĐÁP: Trong cái không vốn không âm thanh, trong cái rỗng suốt (hư) vốn không mùi vị. Tuy không âm thanh không mùi vị nhưng mà đạo trời không bị che lấp.

HỎI: Thầy Tử Lộ hỏi về sự chết. Phu Tử đáp rằng “chưa biết sự sống làm sao biết sự chết?” Lời giải đáp này chưa biết ý như thế nào?

ĐÁP: Nếu biết buổi sớm thì biết buổi tối, biết lúc khởi đầu thì biết lúc chung cục. Ông, nếu trước ngộ diện mục của thuở chưa sanh trở về trước, thì biết chỗ an thân lập mệnh trở về sau, sanh từ đâu lại và chết đi về đâu? Nguồn của thỉ chung vốn chỉ có một.

HỎI: Thế nào là tâm xích tử?

ĐÁP: Tâm xích tử là tâm thuần nhứt không vọng. Xích Tử chẳng phải đạo lớn, mà chỉ giữ tâm không phân biệt. Như bậc đại nhơn thông đạt, biết tất cả pháp mà không mất tâm xích tử, mới gọi là Đạo.

HỎI: Thầy Nhan Huyên như ngu, thầy Liêm Khê như dốt, thầy Minh Đạo ngồi thẳng (đoan toạ), thầy Trọng Tố thích tịnh. Cớ sao những vị này có hành động như vậy?

ĐÁP: Đấy là những người ngộ lý tu đạo, và cũng là đường tắt của sự siêu phàm nhập thánh. Hàng Nho sĩ đời sau chẳng quí trọng cửa ngộ, chỉ vụ nơi học nhiều hiểu rộng, đều đem từ bên ngoài bổ trợ vào cho phát khởi, chớ chẳng phải sự dung công của tâm địa để phát minh ra trí huệ chơn thật. Nay ông hỏi Chư Tử khá gọi là chơn học.

HỎI: Tôi tuy học nhiều nhưng không thể Đốn ngộ, chưa biết phải xem văn thư gì để có thể vào cửa lý?

ĐÁP: Người chơn tham thật ngộ không cuộc ở nơi chữ nghĩa. Những kẻ học nhiều lảu thông sách vở, đường lý giải quá nhiều nên lại làm chướng bổn tâm, làm bạn với thức. Như kẻ đếm của báu cho người, rốt lại mình không có nửa phân tiền. Phải thẳng thắn buông bỏ tất cả cái học bên ngoài, đơn độc tham cứu bốn đều mối (hỉ, nộ, ai, lạc) trước khi chưa phát khởi diệm mục nó là gì? Trong lúc động cũng như trong lúc tịnh thời thời khắc khắc đều theo dõi tham cứu ấy là đạo lý gì? Chỉ giữ một niệm chớ không hai tâm: chẳng tâm suy lường rộng, không dùng tri giải, chẳng dụng tâm đợi ngộ, chẳng dụng tâm hiểu lý, chẳng dụng tâm rơi vào chỗ tịch diệt, không dụng tâm lăng xăng nơi sự lý, chỉ cần tham cứu chỗ chưa phát khởi trở về trước. Lâu ngày chầy tháng thuần nhứt không hai. Tâm nghĩ chẳng đến, ý thức chẳng hoạt động, thời tiết nếu đến lý kia tự bày rõ. Thấy hình sắc nghe tiếng tăm, chạm phá lỗ mũi, nghe một tiếng động, tro lạnh đậu nổ, tâm địa khai thông, phát minh bản tánh. Về sau mới dạy học dẫn dắt nhơn dân, cho đến sắp đặt gia đình hay ra giúp nước. Tất cả đâu chẳng phải là diệu dụng của tâm tánh ông?

HỎI: Bậc thượng căn đốn ngộ một cách trực tiếp rõ ràng, còn kẻ trung căn hạ căn tập khí sâu dầy làm sao bảo dưỡng?

ĐÁP: Người sau khi ngộ tánh tuỳ duyên bảo nhiệm, nơm nớp lo sợ như đến bên nhà vui, bên nghiêm phụ. Một lòng chi thành chơn kính thì bản tánh chẳng mất. Phải bảo dưỡng như thế lâu ngày tự nhiên thuần thục.

HỎI: Giả sử một lúc thất niệm, như thế làm sao?

ĐÁP: Như cái học của Nhan Tử, rồi sau trở về không xa, chỉ khoảng một thoắt tự nhiên trở về lý gốc.

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 167449)
01/04/2012(Xem: 15185)
08/02/2015(Xem: 21738)
10/10/2010(Xem: 99166)
10/08/2010(Xem: 102900)
08/08/2010(Xem: 107017)
21/03/2015(Xem: 10927)
27/10/2012(Xem: 55886)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!