Quán Pháp

20/02/201112:00 SA(Xem: 5034)
Quán Pháp

4. Quán pháp

Lãnh vực thứ tư là quán pháp. Về phần niệm pháp, đây là pháp quán về các đối tượng của tâm thức, bao gồm các lãnh vực về thân thể, cảm thọtâm thức

Trong bốn lãnh vực quán niệm, pháp căn bản làm nền tảng cho sự tu tập là pháp quán hơi thở. Phương pháp quán niệm hơi thở rất thiết thực cho cuộc sống, đơn giản, dễ hành trì, hiệu lực lại rất cao. Nuôi giữ ý thức trên hơi thở có thể giúp cho thân tâm được vững chải, phát triển định lực tập trung, duy trì được tính khísức khỏe. Do vậy, pháp quán niệm hơi thở được coi là trọng tâm điểm của sự tu tập bốn lãnh vực quán niệm

Trong phần thực tập về tuệ quán ở các lãnh vực thân thọ tâm, đã có đề cập đến ít nhiều về các pháp quán vô thường, tàn hoại, giải thoátbuông bỏ. Ở đây, phương pháp quán niệm về các đối tượng của tâm thức, tức pháp quán về các pháp, được đặt trên căn bản các pháp quán vô thường và tàn hoại. Thực tập thiền quán mà không đi vào cửa ngõ của các pháp quán về vô thường thì chẳng thể nào soi thấu được bản chất thật của mọi phiền trược khổ đau và phù du khoái lạc trong cuộc đời.

Các đối tượng của tâm thức:

- năm hiện tượng ngăn che của tâm thức (ngũ triền cái)
- năm uẩn (ngũ uẩn)
- sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan (sáu nội ngoại xứ)
- bảy yếu tố của sự giác ngộ (thất giác chi)
- bốn sự thật cao quý (tứ diệu đế)

Quán về ngũ triền cái

Đây là 5 hiện tượng phóng túng gây nhiều trở ngại cho sự giác ngộ tâm linh, gồm ái dục, sân hận, mê muộibuồn ngủ, giao động bất anhối hận, nghi ngờ.

- Ái dục 

Hiện tượng ngăn che đầu tiên của sự giác ngộ là dục niệm. Theo quan điểm Phật giáo, dục niệm bao gồm năm phương diện tham đắm của con người (ngũ dục) là tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ. Năm nhóm ái dục nầy là những trở ngại rất lớn cho người hành giả trên con đường tu tập thiền quán.

Khi trong tâm chợt phát khởi một ý niệm ái dục, tâm thức chỉ cần ghi nhận rõ ràng về sự phát khởi của dục niệm đó. Ngay khi một ý niệm ái dục phát khởitâm thức đã giác tỉnh nhận biết được liền thì ngay đó làn sóng dục niệm cũng đã bị giảm suy. Hãy đưa tâm ý trở về với hơi thở ý thức. Thở vào, ta biết ta đang thở vào và ta biết có một dục niệm đang sinh khởi. Thở ra, ta biết ta đang thở ra và ta biết dục niệm đó đang suy diệt. 

Ta quán sátghi nhận sự phát khởi, tăng trưởng, suy yếu và hủy diệt của dục niệm. Chỉ cần khách quan ghi nhận về điều đó. Hãy nhìn ngắm mọi dục niệm như gió thoảng như mây bay, tâm thức sẽ tìm thấy được sự bình an ít nhiều.

- Sân hận 

Khi sân niệm trổi dậy trong tâm thức, ta cần ghi nhận khách quan về sự phát khởi đó. Nhận biết trong tâm đang có một ý niệm sân hận. Cũng như phương thức đối trị về dục niệm, tâm ý hoàn toàn thụ động để ghi nhận sự việc. 

Hãy bình tâm để quán sát mọi sân niệm. Hãy nhận biết một cách tỉnh thức trong suốt quá trình sinh khởi, tăng trưởng, giảm suy và hủy diệt của nó. Hãy cố gắng giữ thân tâm bình thản với lửa lòng sân niệm. Đừng nói một lời nào. Đừng suy nghĩ bất cứ điều chi. Cũng đừng làm bất cứ việc gì. Hãy đưa tâm ý trở về với hơi thở ý thức. Thở vào, ta biết ta đang thở vào và ta biết có một sân niệm đang sinh khởi. Thở ra, ta biết ta đang thở ra và ta biết sân niệm đó đang suy diệt. 

Khi ý niệm giận dữ phát sinh, tâm thức tỉnh giác nhận biết được liền thì ngay đó ngọn đuốc sân hận cũng đã bị giảm suy ít nhiều. Hãy duy trì hơi thở trong ý thức. Khách quan ghi nhận mọi vận hành biến chuyển và suy diệt của sân niệm. Với hơi thở ý thức, với sức mạnh của định lực tập trung và ý thức chánh niệm, thân tâm sẽ trở nên tươi mát lại và sân niệm cũng dần tan biến đi. 

- Mê muộibuồn ngủ (hôn trầm)

Khi đang ngồi thiền, đôi lúc trong tâm có sự mờ mịt, tưởng thức mơ màng như buồn ngủ, ta hãy liền ý thức về điều đó. Khách quan ghi nhận về sự phát khởi của nó. Hãy đưa tâm ý trở về với hơi thở. Thở vào, ta biết ta đang thở vào. Thở ra, ta biết ta đang thở ra. Ta biết ta đang có sự mê muộibuồn ngủ. Ngay khi nhận biết có sự mê muội phát sinh thì ánh sáng tâm thức cũng đã tự tỏ sáng.

Đối với tất cả ý niệm mơ màng buồn ngủ trổi dậy trong lúc ngồi thiền, ta chỉ cần chú tâm quán sát khách quan và ghi nhận tất cả mọi diễn biến của nó trong suốt quá trình sinh diệt. Ta an trú trong sự quán niệm “có sự mê muộibuồn ngủ đây”. Với sự ghi nhận như vậy đủ để giúp ta quán chiếuý thức được sự có mặt của mê muộibuồn ngủ trong tâm thức.

- Giao động bất an (trạo cử) và hối hận

Lúc đang ngồi thiền, đôi khi có những giao động trong tâm trí, cảm thức như thân xác động chuyển, gây tạo cho tâm thức bất an. Khi ấy, cảm thức của thân và tâm trong sự giao động cũng giống như đang ngồi trên con thuyền giữa biển khơi. 

Khi tâm thức xao xuyến bất an, hãy cố gắng nhận biết về điều đó. Khách quan ghi nhận như vậy đúng như thật. Hãy giữ sự bình tâm để quán sát sự việc. Hãy bình thản nhẹ nhàng đưa tâm ý trở về với hơi thở. Tập trung tất cả tâm trí vào hơi thở. Thở vào, ta biết ta đang thở vào và ta biết thân thể đang có sự giao động. Thở ra, ta biết ta đang thở ra và ta biết tâm thức đang có sự bất an.

Hãy thực tập thản nhiên để nhìn sự việc, ghi nhận về sự giao động bất an trong suốt quá trình sinh khởihoại diệt của nó.

Ngoài những giao động trạo cử trong khi ngồi thiền, còn có những ảnh hưởng giao động khác ở thân thể, ngay trên lời nói và trong tâm thức (làm việc cẩu thả, đi đứng thiếu chỉnh tề, hành động vụït chạt, nói năng lung tung, tư tưởng tán loạn…) Tất cả đó đều là những giao động bất an.

Lúc ngồi thiền, đôi khi tâm thức trổi dậy với những ý tưởng hối hận về hành vi của mình, về công việc mình bất cẩn, về ngôn từ mình đã nói trong lúc giận dữ, về cách cư xử thô tệ với người... gây tạo cho ta những buồn phiền hối hận trong nội tâm. Đối với những ý niệm sầu ưu như vậy, tâm thức cần tỉnh giác ghi nhận về điều đó. Hãy đưa tâm ý trở về với hơi thở ý thức. Thực tập bình thản mà nhìn sự kiện từ lúc nó phát sinh, tăng trưởng, suy yếu, cho đến khi nó hoàn toàn tan biến đi. 

Hãy nhìn ngắm sự kiện một cách khách quan. Không dính mắc vào đề mục ta, những việc ta đã làm, những lời ta đã nói. Chỉ cần nhận biết khách quan “đang có những ý tưởng hối hận phát sinh”. Tỉnh giác nhận biết như vậy và thản nhiên trở về với hơi thở ý thức. Thở vào, ta biết ta đang thở vàonhận biết ta đang có sự hối hận. Thở ra, ta biết ta đang thở ranhận biết đang có sự ray rứt trong ta. Thực tập ghi nhậntiếp xúc với sự hối hận một cách thản nhiên, như nước nhìn trời, như mây nhìn trăng. 

Sự ghi nhậnquán sát về sự hối hận cần phải thật khách quan. Đừng suy nghĩ quá nhiều về ta. Cố gắng tỉnh giác không để bị rơi vào vòng quay náo loạn của tư duy.

Sự ghi nhận về hối hận nên hiểu là khách quan nhận biết về những sai lầm ta đã làm để không tạo dựng thêm khổ đau. Tự tâm ta quán chiếu để soi sáng tâm thức ta với ngọn đuốc giác tỉnh, để sẽ không tạo tác thêm ra những lỗi lầm cho mình cho người.

Như vậy, sự nhận biết về hối hận không phải để ưu tư ray rứt mà trở lại xâu xé cõi lòng. Cần tỉnh biết mà ngắm nhìn từng đợt sóng sầu ưu đó. 

Bất cứ sự giao động nào gây tạo cho tâm thể bất an, hãy liền nhận biết đúng như vậy. Biết đang có sự giao động. Biết đang có sự bất an. Chỉ khách quan nhận biết như vậy, thế thôi. Không chạy đuổi phân tích sự kiện. Hãy đưa tâm ý nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Chỉ hơi thở đây là vấn đề tối quan trọng mà ta phải để hết tâm sức vào sự an trú. Cố gắng không nghĩ gì khác, cũng không bận tâm về bất cứ điều gì khác. Tâm trí chỉ cần ghi nhận sáng suốt, nhận biết rõ ràng ngay khi vọng tưởng phát sinh, tăng trưởng, suy yếu và tan biến. Thản nhiên mà nhìn sự kiện phát khởi đổi thay trong từng mỗi phút giây vô thường.

Nếu có một ý nghĩ trổi dậy, nhận biết “có một ý nghĩ”, rồi nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Nếu có một cảm giác phát sinh, nhận biết “có một cảm giác”, rồi nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Có sự giao động trên thân xác, ta nhận biết thân xác đang có sự giao động. Có sự bất an trong tâm thức, ta nhận biết tâm thức đang có sự bất an. Rồi nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Thực tập bình thản trong ý thức đó. Thở vào, ta biết ta đang thở vào. Thở ra, ta biết ta đang thở ra. Cố gắng duy trì hơi thở trong ý thứcthản nhiên mà nhìn sự việc. 

Mọi ý tưởng có sinh có diệt. Sự giao động có đến có đi. Cảm thức có phát khởi có tan biến. Những gì đến cứ để nó đến, không xao xuyến mến ưa. Những gì đi cứ để nó đi, không nuối tiếc sầu tư. Hãy thực tập nhận định sự kiện như thiền sư Shunryu Suzuki - “chính ngươi đã tạo dựng ra những làn sóng trong tâm tư ngươi, nếu cứ thản nhiên để tâm trí như bình thường thì tâm trí sẽ tự trở thành vắng lặng” (zen mind). Một ý tưởng khởi dậy, một cảm thức phát sinh, tất cả cũng chỉ là những trổi dậy diệt sinh vô thường của các ý niệm.

Sự ghi nhận về giao động bất an không những chỉ thực tập trong lúc ngồi thiền mà phải tỉnh biết ghi nhận về điều đó trong mọi thời lúc. Khi đang đi, đang ngồi, đang nằm, đang đứng, hay đang làm việc, nếu tâm thức bất an, thần trí giao động, hãy liền tỉnh biết ghi nhận về điều đó. Những khi không còn sự giao động bất an, tâm trí cũng nhận biết sáng suốt như vậy. Hãy cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức. Hãy nhìn vào tâm thức mình để thấy rõ sự sinh khởihoại diệt của mọi vọng động biến sinh. 

Ma cảnh 

Riêng về phần giao động bất an, cần nói thêm về các cảnh giới huyễn ảo gây tác hại đến tâm thức, tạo cho tâm trí bất ansợ hãi. Đó là kinh nghiệm khi đi vào thiền định, ở giai đoạn khi mà hơi thở trở nên vi tế, tâm thể vắng lặng, thỉnh thoảng có những cảnh giới khác nhau xuất hiện trong tâm thức.

Hãy kinh nghiệm lấy chính mình: Trong bất cứ cảnh giới nào, tốt đẹp, xấu ác, siêu nhiên, hay ghê gớm, cũng phải thật bình tâm quán chiếu “tất cả các pháp đều như mộng huyễn” - nhất thiết chư pháp giai như huyễn (ngộ tánh luận). Hãy quán chiếu đấy chỉ là những tưởng vọng lung linh của nội thức. Tất cả không có thật. Chỉ ảo ảnh, chỉ tưởng suy, gây ra những biến hình muôn trạng. Những gì có hình tướng đều là giả dối hư tạo (phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng - kim cang). 

Hãy cố gắng định tỉnh. Khách quan ghi nhận rằng: “có một cảnh giới ảo tưởng đang phát sinh”. Rồi nhẹ nhàng trở về với hơi thở. Hãy cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức. Tỉnh biết rằng tất cả cảnh giới đều là huyễn mộng. Hãy tỉnh biết: “tất cả những gì có hình tướng, như chiêm bao huyễn ảo, như bọt nước bóng mờ, như sương rơi, như ánh chớp, phải luôn xem là vậy” (nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển, ưng tác như thị quán - kim cang). 

- Nghi ngờ 

Đây là hiện tượng ngăn che thứ năm trong ngũ triền cái. Có thể sự nghi ngờ trổi dậy trong lúc ngồi thiền nhưng cũng có thể phát khởi trong mọi thời lúc khác. Tất cả bao gồm những nghi ngờ về lời kinh Phật, về chân lý Như Lai, về công phu hành trì, về kinh nghiệm thiền tập, về những sự việc đã xảy ra, về những người chung quanh. Tất cả đều xem như sự nghi ngờ phát sinh từ tâm thức.

Những khi trong tâm có sự nghi ngờ, ta liền nhận biết như vậy. Chú tâm quán sátghi nhận sự diễn biến của các ý niệm nghi ngờ. Nhận biết về quá trình sinh khởihoại diệt của nó bằng tất cả sự sáng suốt. An trú trong sự quán niệm “có sự nghi ngờ đây”, như vậy đủ để giúp ta quán chiếuý thức được sự có mặt của nghi ngờ trong tâm thức

Cố gắng không để bị vướng mắc trong nội dung của sự nghi ngờ. Không chạy đuổi theo nó. Không phân tích mổ xẻ vấn đề. Cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức. Thở vào, ta biết ta đang thở vào. Thở ra, ta biết ta đang thở ra. Ta ý thức rõ ràng về từng hơi thở. Tâm trí chỉ cần ghi nhận khách quan “đang có sự nghi ngờ trong tâm thức”, thế thôi. Hãy thực tập an nhiên tiếp xúc với mọi biến động của tâm thức.

Quán về ngũ uẩn

Thực tập quán chiếu về sự bám víu vào ngũ uẩn và sự ràng buộc của các nội ngoại xứ là những bước thực tập chính yếu trong quá trình quán niệm về các đối tượng của tâm thức. Lãnh vực đầu tiên của ngũ uẩn là sắc. Tự mình quán niệm như sau: “đây là hình sắc, đây là sự phát sinh của hình sắc, đây là sự hủy diệt của hình sắc”.

Sắc ở đây có nghĩa là thân xác, do tứ đại đất nước lửa gió hợp thành, trong đó có gan, tim, máu, mủ, hơi thở, nhiệt... Khi xác thân bị hủy diệt, các cấu thể từ thân xác trở về với vũ trụ. Không có sự thêm. Không có sự bớt. Không có sự được. Không có sự mất. Hãy quán chiếu: “năm uẩn như mây bay qua rồi bay lại” (ngũ ấm phù vân không khứ lai - chứng đạo ca). Hãy chú tâm quán sát về quá trình sinh khởihoại diệt của hình sắc. Tất cả mọi vật thể đều không có tự tánh riêng biệt. Tất cả đều không. Như thiền sư Shunryu Suzuki đã nhận định: “cái mà chúng ta gọi là “tôi” chỉ là cánh cửa đong đưa đang di động khi chúng ta hít vào và khi chúng ta thở ra” (zen mind). 

Nếu như thân xác một mai bị tan hoại, tim gan gởi về cho đất, hơi thở gởi về cho gió, sức nóng trong cơ thể gởi về cho lửa, mủ máu gởi về cho nước… rồi thì thân xác đây không còn gọi là thân xác nữa. Đó là sự tan rã của hình sắc. Tất cả và tất cả đều không có tự tánh. Mọi sự việc đều vô thường biến đổi. Đó là bản chất thật của cuộc đời. Sắc tức là không, không tức là sắc. Không có gì thêm, không có gì bớt. Không có gì tăng, không có gì giảm. Tất cả chỉ là sự biến dịchtrở về. Với sự hành trì tinh chuyên pháp niệm thân, có thể đạt được sự hiểu biết lớn về tánh không, khổ và vô ngã của sắc uẩn.

Lãnh vực thứ hai trong ngũ uẩn là thọ. Tự mình quán niệm như sau: “đây là cảm thọ, đây là sự phát sinh của cảm thọ, đây là sự hủy diệt của cảm thọ”.

Như đã trình bày nơi phần niệm thọ, cảm thọ là những xúc cảm thọ nhận, gồm các cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu. Cảm thọ phát khởi do sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu trầnhình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm và tư tưởng. Mắt thấy sắc màu nên sinh mến chuộng, tai nghe tiếng chửi nên sinh buồn khổ, mũi ngửi mùi hôi nên sinh khó chịu, lưỡi nếm vị ngọt nên sinh ưa thích, thân xúc chạm vật thể nên sinh mến yêu, ý khởi niệm phiền lo nên sinh sợ hãi. Với sự hành trì pháp niệm thọ thật tinh chuyên và đúng phương pháp, ta có thể đạt được sự hiểu biết lớn về tánh vô thường, khổ và vô ngã của thọ uẩn

Riêng trong pháp hành thiền tứ niệm xứ, không cần dùng đến óc suy nghiệm (chiếu kiến) để phân tích tự tánh không của ngũ uẩn như trong bát nhã tâm kinh (Ngài Quán tự tại bồ tát thực hành sâu xa trí tuệ bát nhã, ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua tất cả mọi khổ nạn - tâm kinh).

Ở đây, ta chỉ cần tỉnh biết sáng suốtghi nhận rõ ràng về từng cảm giác đang thọ nhận ngay lúc nó phát sinh, tăng trưởng, suy yếu, cho đến khi bị hủy diệt. Như khi nhận biết mình đang có một cảm giác sợ hãi thì ngay đó sự sợ hãi đã bị giảm suy bởi ảnh hưởng của sự định tỉnh có được từ hơi thở ý thức. Ta khách quan quán sátghi nhận sáng suốt về sự kiện để trực nghiệm bản chất vô thườngtánh không của cảm thọ, để không còn bám víu vào những phù du ngũ uẩn trong cuộc đời.

Lãnh vực thứ ba trong ngũ uẩn là tưởng. Tự mình quán niệm như sau: “đây là tri giác, đây là sự phát sinh của tri giác, đây là sự hủy diệt của tri giác”.

Tưởng có nghĩa là tri giác, tức sự nhận biết của các giác quan, phát sinh từ sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần

- mắt thấy hình sắc
- tai nghe âm thanh
- mũi ngửi mùi hương 
- lưỡi nếm các vị
- thân xúc chạm vật thể 
- ý biết các tư tưởng

Do có mắt và hình sắc, mắt tiếp xúc với hình sắc mà phát sanh sự nhận biết về cái thấy. Do có tai và âm thanh, tai tiếp xúc với âm thanh mà phát sanh sự nhận biết về cái nghe. Do có mũi và mùi hương, mũi tiếp xúc với mùi hương mà phát sanh sự nhận biết về cái ngửi. Do có lưỡi và vị nếm, lưỡi tiếp xúc với vị nếm mà phát sanh sự nhận biết về cái nếm. Do có thân và vật thể, thân tiếp xúc với vật thể mà phát sanh sự nhận biết về sự xúc chạm. Do có tâm ý và tư tưởng, tâm ý tiếp xúc với tư tưởng mà phát sanh sự nhận biết về các ý niệm.

Ta quán sátghi nhận đây là tri giác, đây là sự phát sinh của tri giác, do bởi có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng mà có được sự nhận biết của tri giác

Lãnh vực thứ tư trong ngũ uẩn là hành. Tự mình quán niệm như sau: “đây là sự vận hành tâm tư, đây là sự phát sinh của sự vận hành tâm tư, đây là sự hủy diệt của sự vận hành tâm tư”.

Hành có nghĩa là tâm tư, tức sự vận hành lưu chuyển của các luồn tư tưởng phát khởi và diễn biến liên tục trong tâm thức. Dòng suy tưởng không bao giờ ngừng nghỉ. Hết ý niệm nầy đến suy tưởng khác. Vừa nghĩ đến ý tưởng nầy thì ý tưởng kia đã tan biến. Vừa nghĩ đến ý tưởng nọ thì ý tưởng kia đã lặn chìm. Đây là sự phát sinh của tâm tư. Đây là sự hủy diệt của tâm tư. Những niệm tưởng nghĩ suy sinh sinh diệt diệt vô cùng tận

Hành trì pháp niệm tâm nghiêm mật và đúng phương thức, có thể đạt được sự hiểu biết lớn về tánh vô thường, khổ và vô ngã của tưởng uẩn, hành uẩnthức uẩn

Lãnh vực thứ năm trong ngũ uẩn là thức. Tự mình quán niệm như sau: “đây là ý thức phân biệt, đây là sự phát sinh của ý thức phân biệt, đây là sự hủy diệt của ý thức phân biệt”.

Thức có nghĩa là ý thức hiểu biết phân biệt về sự việc. Thức phát sinh do sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần. Tất cả bao gồm có sáu loại:

- nhãn thức (sự phân biệt của mắt)
- nhĩ thức (sự phân biệt của tai)
- tỷ thức (sự phân biệt của mũi)
- thiệt thức (sự phân biệt của lưỡi)
- thân thức (sự phân biệt của thân)
- ý thức (sự phân biệt của ý)

Khi mắt nhìn thấy hình thể vật sắc, tâm có sự nhận biết về hình sắc (tưởng) và có sự phân biệt đẹp xấu trắng đen (thức).

Khi tai nghe thấy một tiếng động, tâm có sự nhận biết về âm thanh (tưởng) và phân biệt loại âm thanh gì, lớn nhỏ, ồn náo hay dễ chịu (thức). Khi mũi ngửi thấy mùi hương, tâm có sự nhận biết về mùi hương (tưởng) và có sự phân biệt thơm hôi (thức). 
Khi lưỡi nếm mùi vị, tâm có sự nhận biết về mùi vị (tưởng) và phân biệt mặn ngọt hay đắng nồng ra sao (thức). Khi thân có sự sờ chạm vào một vật thể, tâm có sự nhận biết về sự xúc chạm (tưởng) và có sự phân biệt vật đó là vật gì, lớn hay nhỏ, mềm hay cứng (thức). Khi tâm ý sinh khởi một ý tưởng, tâm có sự nhận biết về ý niệm (tưởng) và phân biệt ý niệm đó tốt hay xấu, thiện hay ác (thức).

Ta khách quan quán sátghi nhận “đây là năm uẩn” “đây là sự phát sinh của năm uẩn” “đây là sự hủy diệt của năm uẩn”, do bởi có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (sáu căn) tiếp xúc với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng (sáu trần) mà có sự nhận biết của tưởng, có sự lưu chuyển tâm tư của hành, có sự phân biệt của thức. 

Từ sự quán sát khách quan về ngũ uẩn, ta ghi nhận về sự ràng buộc của sáu căn và sáu trần, để soi thấu bản chất vô thường vô ngã của sáu nội ngoại xứ, để không còn bám víu chấp chặt vào năm uẩn.

Quán về sáu nội ngoại xứ

Bước kế tiếpquán niệm về sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan. Sáu giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu đối tượng của giác quanhình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm và tư tưởng

Những ràng buộc của sáu nội ngoại xứ:

- sự ràng buộc của mắt và hình sắc 
- sự ràng buộc của tai và âm thanh 
- sự ràng buộc của mũi và mùi hương
- sự ràng buộc của lưỡi và vị nếm
- sự ràng buộc của thân và xúc chạm 
- sự ràng buộc của ý và tư tưởng

Khi mắt nhìn thấy sự vật là do bởi có mắt và có sự vật, có sự tiếp xúc của mắt với sự vật nên ta có sự thấy biết của mắt (tưởng) và nhận thức phân biệt về sự vật (thức). Đấy là sự ràng buộc tạo nên do mắt tiếp xúc với hình sắc. Khi ý thức về sự ràng buộc, hãy ghi nhận sự thấy biết phân biệt của tâm thức. Ý thức khách quan và tỉnh biết từ lúc sự ràng buộc chưa phát sinh, nay đang phát sinh, do bởi sự tiếp xúc của mắt với hình sắc. Khi ý thức được sự ràng buộc đang phát sinh, hãy tập trung tâm trí vào hơi thở, quán chiếu rằng mắt và hình sắc không có tự tánh riêng. Và khi sự ràng buộc bị suy yếu và tan biến đi, ta cũng ý thức về điều đó. Về những lãnh vực khác của sáu nội ngoại xứ cũng tương tự như vậy.

Khi tai nghe thấy một âm thanhdo bởi có tai và có âm thanh, có sự tiếp xúc của tai với âm thanh, gây tạo cho tâm thức sự nghe biết (tưởng) và nhận thức phân biệt về âm thanh (thức). 

Khi mũi ngửi thấy một mùi hương là do bởi có mũi và có mùi hương, có sự tiếp xúc của mũi với mùi hương, gây tạo cho tâm thức sự ngửi biết (tưởng) và nhận thức phân biệt về mùi hương (thức). 

Khi lưỡi nếm biết một vị nếm là do bởi có lưỡi và có vị nếm, có sự tiếp xúc của lưỡi với vị nếm, gây tạo cho tâm thức sự nếm biết (tưởng) và nhận thức phân biệt về vị nếm (thức). 

Khi thân chạm biết vật thể là do bởi có thân và có vật thể, có sự tiếp xúc của thân với vật thể, gây tạo cho tâm thức sự chạm biết (tưởng) và nhận thức phân biệt về vật thể (thức). 

Khi tâm ý khởi biết có một niệm tưởng là do bởi có tâm ý và có tư tưởng, có sự tiếp xúc của ý với tư tưởng, gây tạo cho tâm thức sự khởi biết về tư tưởng (tưởng) và nhận thức phân biệt về các ý niệm (thức). 

Thí dụ, về sự ràng buộc của mắt và hình sắc, khi nhìn thấy một cô gái trẻ đẹp với thân hình duyên dáng và nụ cười hồn nhiên (ảnh hưởng từ bên ngoài) gây tạo cho ta một sự mê thích của dục tính (ảnh hưởng bên trong). Về sự ràng buộc của tai và âm thanh, khi nghe một âm thanh chửi bới (ảnh hưởng từ bên ngoài) gây tạo cho ta sự nghe hiểu và cảm giác khó chịu (ảnh hưởng bên trong). 

Trong kinh kim cang, Đức Phật đã thuyết giảng về yếu nghĩa của việc sanh tâm không trụ nơi sáu trần:

“bất ưng trụ sắc sanh tâm
bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm
ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”

Chẳng nên trụ vào hình sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ vào âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng mà sanh tâm, nên trụ vào chỗ không chỗ trụ để mà sanh tâm.

Theo tinh thần kinh bốn lãnh vực quán niệm, an trụ tâmĐức Phật đã đề cập trong kinh kim cang có nghĩa là tâm khởi niệm không chấp chặt vào sáu trần, không vướng kẹt nơi cái thấy ở màu sắc, nơi cái nghe ở âm thanh, nơi cái ngửi ở mùi hương, nơi cái nếm ở mùi vị, nơi cái cảm biết từ sự xúc chạm của xác thân, nơi ý thức phân biệt của suy tưởng. An trụ như thế gọi là trụ tâm vào chỗ không chỗ trụ, nghĩa là không chấp chặt vào trần cảnh mà sanh tâm thanh tịnh vậy. Con đường thánh đạo để hành giả nương dựa vào đó tu tập sống tỉnh thức, an trụ tâm trong ý thức chánh niệm, vượt bỏ sự bám víu vào ngũ uẩn - đó là con đường của tứ niệm xứ, tức bốn lãnh vực quán niệm.

Khi quán niệm về sự ràng buộc của các giác quan và các đối tượng của giác quan, hãy khách quan ghi nhận sự gây tạo ảnh hưởng của nó đến tâm thứccảm thọ. Ta ý thức sự ràng buộc ngay khi nó bắt đầu phát sinh, tăng trưởng, suy yếu, cho đến khi bị hủy diệt hoàn toàn. Ta an trú trong sự quán niệm về quá trình sinh khởi và quá trình hủy diệt của nó để thấy rõ bản chất vô thường của sự ràng buộc nơi các giác quan. Ta quán niệm rằng “có sáu giác quan đây” “có sáu đối tượng của giác quan đây” và tất cả chỉ là sáu giác quan, sáu đối tượng của giác quan. Với sự quán niệm như vậy đủ để giúp ta ý thức được sự có mặt của các pháp đối tượng của tâm thức

Quán về thất giác chi

Bước tiếp đó là quán niệm về bảy yếu tố của sự giác ngộ (thất giác chi / thất bồ đề phần). Bảy yếu tố của sự giác ngộ bao gồm chánh niệm, trạch pháp, tinh tấn, hoan hỷ, khinh an, định và xả.

- Chánh niệm 

Yếu tố giác ngộ đầu tiên là chánh niệm. Chánh niệmý thức sáng suốtgiác tỉnh về những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại

Những khi tâm thứcchánh niệm, ý thức mình đang có chánh niệm. Trong pháp hành thiền tứ niệm xứ, sự quán niệm phải được dựa trên tinh thần vô ngã, không có sự liên hệ buộc ràng với cái nhìn về “ta” “của ta”. Đó là vấn đề căn bản của sự ghi nhận sáng suốtquán sát khách quan, rất quan trọng cho sự hành trì tu tập đúng phương thức. Đây cũng là điều căn bản trong việc thực tập vô ngã - “học đạo của Phật là học về chính mình, học về chính mình là quên đi chính mình” (three pillars of zen).

Khi tâm thức không có chánh niệm, ta cũng nhận biết về điều đó. Duy trì hơi thở trong ý thức, nhận biết tâm thức mình không có chánh niệm. Khi có ý thức sáng suốt để nhận biết về việc mình không có chánh niệm thì ngay phút giây đó chánh niệm đã đang bắt đầu được thiết lập trong tâm thức. Hãy tỉnh biết với ý thức chánh niệm ngay đó để nhận biết rằng tâm mình đang có chánh niệm. Đấy chính là giây phút tỉnh thức để quán chiếu về yếu tố chánh niệm đang phát sinh. Hãy khách quan quán sátghi nhận từ khi chánh niệm chưa phát sinh, nay đang bắt đầu phát sinh. Nếu đã phát sinh, bây giờ đang bắt đầu thành tựu.

- Trạch pháp

Yếu tố giác ngộ thứ hai là trạch pháp. Trạch pháp là sự quyết trạch về các pháp, nghĩa là sự nghiên cứu tìm hiểu về Phật pháp. Như khi đọc kinh tứ niệm xứ, ta cố gắng tìm hiểu ý nghĩa huyền diệu của từng câu từng chữ trong bài kinh, bằng cách thọ trì đọc tụng hằng đêm để cố gắng thể nhập mọi nghĩa lý. Tất cả như vậy đều được xem là trạch pháp.

Khi yếu tố quyết trạch chưa phát sinh, nay đang phát sinh, ta ý thức rõ ràng về điều đó. Khách quan ghi nhận trong tâm đang có sự quyết trạch về các pháp. Ngay khi không có sự quyết trạch về các pháp, ta cũng nhận biết tỉnh giác về điều đó. 

Với ánh sáng chánh niệm, ta ý thức tâm mình còn thiếu sót yếu tố trạch pháp, ta suy xét để phát triển sự thiếu sót đó, đưa đến sự phát sinh yếu tố trạch pháp. Và khi trạch pháp đã phát sinh, sẽ đi đến thành tựu. Do bởi trạch pháp thành tựu, ta thấu hiểu được ý nghĩa của lời kinh tâm yếu và phương thức hành trì, để áp dụng vào đời sống tu trì.

- Tinh tấn 

Yếu tố giác ngộ thứ ba là sự tinh tấn. Như đã đề cập ở phần đầu, yếu tố tinh tấn rất quan trọng trong quá trình tu tập tứ niệm xứ. Thực tập quán niệm mà thiếu sự tinh chuyên thì khó thể thành đạt được ý nguyện. Hãy nỗ lực tu tập. Hãy kiên nhẫn hành trì. Thực tập sống tỉnh thức trong từng sát na. Sống trong hành động hiện tại.

Khi thực tập bốn pháp quán niệm nghiêm túc và cần mẫn, ta ý thức được tâm mình đang có sự tinh tấn hành trì. Khi có yếu tố tinh tấn, ta ý thức mình có tinh tấn. Khi không có tinh tấn, ta ý thức mình không có tinh tấn. Ta ý thức về sự tinh tấn ngay khi nó bắt đầu phát sinh. Khi đã phát sinh, ta ý thức về sự thành tựu của nó. Ta an trú trong sự quán niệm “có sự tinh tấn đây”, như vậy đủ để giúp ta quán chiếuý thức được sự có mặt của yếu tố tinh tấn trong tâm thức.

- Hoan hỷ 

Yếu tố giác ngộ thứ tư là sự hoan hỷ. Do bởi chánh niệm phát khởithành tựu, tâm trí ta sáng suốt ghi nhận sự việc, cố công nghiên cứu tìm học Phật pháp. Những yếu chỉ lời kinh được tỏ bày trong ánh sáng trí tuệ, bản thân nỗ lực tinh chuyên hành trì, thực tập sống trong từng sát na. Ta tỉnh biết và ghi nhận sáng suốt về mọi sự việc đang diễn biến trong giờ phút hiện tại. Ta ý thức sống trong từng mỗi hơi thở, trong từng nhịp đập con tim, trong mọi tư thế và cử động của thân thể, trong mọi diễn biến vận hành của tâm tư. Ta thực tập sống tỉnh thức trong mọi phút giây.

Ánh đuốc chánh niệm sáng soi đưa đến sự chứng nghiệm về bản chất vô ngã của mọi sự thể và lý nghĩa vô thường của cuộc đời người. Tâm thức sáng tỏ trong hân hoan vui mừng, đưa đến sự phát sinh của yếu tố hoan hỷ

Khi yếu tố hoan hỷ bắt đầu phát sinh, ta ý thức về sự phát sinh của nó. Và khi đã phát sinh, ta ý thức về sự thành tựu của nó. Ta an trú trong sự quán niệm “có sự hoan hỷ đây”, như vậy đủ để giúp ta quán chiếuý thức được sự có mặt của yếu tố hoan hỷ trong tâm thức.

- Khinh an 

Yếu tố giác ngộ thứ năm là sự khinh an, tức cảm giác thảnh thơi nhẹ nhàng trong tâm thức. Trước hết là yếu tố chánh niệm đã thành tựu, đưa đến sự tăng trưởng yếu tố trạch pháp và sự tinh tấn phát sinh và thành tựu. Sau đó, sự hoan hỷ bắt đầu phát khởi và đi đến thành tựu, thân tâm cảm nhận nhữngï thư thái nhẹ nhàng và bình an. Mọi sự vận hành của thân tâm trong vững chải, tâm trí thảnh thơithư thái, đưa đến yếu tố khinh an phát sinh. 

Khi sự khinh an bắt đầu phát sinh, hãy tỉnh giácnhận biết về điều đó. Ta ý thức tâm mình đang có sự khinh an. Khi yếu tố khinh an thành tựu, ta ý thức rõ ràng về sự thành tựu của nó. Khi yếu tố khinh an đã thành tựu, thân tâm cảm nhận sự nhẹ nhàng, ung dung và vững chải. Hơi thở ý thức trong từng mỗi phút giây tĩnh lặng. 

- Định 

Yếu tố giác ngộ thứ sáu là định. Từ sự thành tựu của các yếu tố giác ngộ căn bản đã đưa đến sự thành tựu của yếu tố khinh an. Khi sự khinh an thành tựu, sẽ đưa đến sự phát sinh của yếu tố định. Ngay giờ đây, mọi hơi thở vào ra trong ý thức. Tâm thể vắng lặng tịch tĩnh. Vọng tưởng đọng lắng. Tâm thức bình an như mặt hồ thu sớm. Chánh niệm sáng tỏ trong từng mỗi hơi thở, trong từng mỗi sát na của cuộc sống. Đây là giai đoạn yếu tố định đang bắt đầu thành tựu.

Trong phần niệm tâm, yếu tố định đã được đề cập chi tiết. Ở đây, chỉ xin nhấn mạnh, yếu tố định được xem như hoa trái của sự giác tỉnh. Khi tâm thức có định, ta ý thức rõ ràng tâm thức đang có định. Khi tâm thức không có định, ta cũng ý thức rõ ràng tâm thức không có định.

Ta ý thức về sự định tâm từ khi nó chưa phát sinh, nay đang phát sinh. Khi phát sinh, ta ý thức về sự phát sinh của nó. Và khi thành tựu, ta ý thức rõ ràng về sự thành tựu của nó. 

- Xả 

Yếu tố giác ngộ cuối cùnghành xả, tức sự buông bỏ. Khi định lực phát triển, lúc đó tâm trí đi vào sự tịch tĩnh vắng lặng không một móng niệm. Khi ấy, tâm thức hoàn toàn thật sự buông xả tất cả. Thân và tâm không còn bị trói buộc vào bất cứ gì trong cuộc đời. Ta sống tự tại ung dung với đất trời như mây đi như gió về – “nhập triền thùy thủ” (thỏng tay vào chợ – thập mục ngưu đồ). Ta sống trong cuộc đời nhưng không bị cuộc đời làm não loạn sầu tư. Những sự việc biến động chung quanh cũng không làm chao động não tâm (“bất dĩ ngoại vật động kỳ tâm”). 

Người hành giả sống ung dungthản nhiên như mây như gió, thanh thản như ngọn cỏ như lá hoa, điềm nhiên như hạt nắng chiều tà, tự tại như giọt sương rơi sớm. Không bị hoàn cảnh trói buộc. Không bị vọng tưởng gây não phiền. Không náo động trong hiện tại. Không bấn loạn phân tâm với sự đời.

Do bởi sống an nhiêntỉnh thức, trực nghiệm sự nhiệm mầu của tạo hóa, ý nghĩa và sự hiện hữu của đời người. Sự sống chết cũng không luống hề bận tâm – “túng ngộ phong đao thường thản thản, giả nhiên độc dược giã nhàn nhàn” - nếu gặp gươm đao vẫn cứ đùa giỡn, ví nhằm thuốc độc vẫn cứ an nhàn (chứng đạo ca). Sống trọn vẹn với chính ta, hoan hỷ an vui trong hiện tại. Sống và thật sự sống trong từng sát na nhiệm mầu của cuộc sống. 

Sống vẫn sống, sống để sống, sống thật sự với cuộc sống nhưng không chấp chặt vào đó – “hòa kỳ quang, đồng kỳ trần, vô vi nhi vô bất vi” của Lão Tử nào có khác chi (hòa chung ánh sáng, đồng cùng bụi bặm, không làm nhưng không có gì không làm). Một cái phất tay rũ sạch tất cả mọi não phiền. Thong dong tự tại. An nhiên tịch tĩnh. “không dứt trừ vọng tưởng cũng không cầu chân giác” (chứng đạo ca). Sống hoàn toàn với cái tâm “không không”. Đó là yếu chỉ “vô tướng vô không vô bất không” trong chứng đạo ca của đại sư Huyền Giác (không hình tướng, không phải không, cũng không phải chẳng không). 

Khi biết tâm thức có sự buông xả hay không có buông xả, ta đều nhận biết đúng như vậy. Ta ý thức ngay khi sự buông xả phát sinh, ý thức về sự tăng trưởng của nó, sự thành tựu của nó. Yếu tố hành xả đưa đến sự thảnh thơigiải thoát hoàn toàn cho tâm thức. Nó là điểm linh quang của trí tuệ. Đại sư Huyền Giác đã chỉ rõ tinh túy của sự hành thiền là yếu tố buông xả - “thị dĩ thiền môn liễu khước tâm” - cho nên thiền học dạy buông hết (chứng đạo ca). Điều đó có nghĩa là tiến lên một bước nữa trên sự buông xả để xả cái xả, buông bỏ cái buông bỏ vậy.

Quán về tứ diệu đế

Bước kế tiếp, thực tập quán niệm về bốn sự thật cao quý.

- Khổ đế 

Sự thật cao quý thứ nhất là khổ đế, tức sự khổ đau của con người: “khi sự kiệnđau khổ, hành giả quán niệm đây là đau khổ”.

Tất cả những gì trên thế gian vô thường nầy đều là khổ. Mọi sự việc luôn biến dịch đổi dời – “sinh sinh chi vị dịch” (sinh ra sinh ra mãi nên gọi là biến dịch - kinh dịch). Không một hình tướng nào, một tưởng suy nào nằm nguyên một trạng thái (“vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản” là vậy - vạn vật đến chỗ cùng sẽ biến đổi, mọi vật đến điểm cuối sẽ quay lại). Đó là chân lý biến dịch vô thường của vạn vật. Và bởi sự vô thường biến đổi luôn có mặt trên cuộc đời đã gây tạo biết bao đổi thay, từ sinh khởi, rồi biến thể, rồi hư hoại, do đó nên có sự đau khổ. Khi đã biến thể, đã hư hoại, tất phải tan biến với thời gian nên cuối cùng tất cả đều là không. Tất cả mọi sự thể đều không có tự tánh riêng biệt.

Khi nhìn sự việc, quán chiếu sự việc và cảm nhận sự việc là đau khổ, ta ý thức rõ ràng “đây là đau khổ”. Sự đau khổ của con người kể cả tinh thần lẫn thể xác có tới 84.000 thứ phiền não, không thể nào nói hết cùng tận được. Từ lúc mới sinh ra, ngây dại cất tiếng khóc chào đời thì đó đã là khổ rồi. Lớn lên, già yếu, bệnh tật, chết đi… tất cả đều là khổ. Người mình thương mà phải xa lìa cũng là khổ. Những mong cầu mơ ước không đạt được cũng là khổ. Kẻ oán thù mà phải sống chung cũng là khổ. Những khống chế buộc ràng gắn liền với thân xác ngũ uẩn đây cũng đều là khổ.

Những khi mắt chứng kiến sự kiện xảy ra trong cuộc đời, cảm nhận sự khổ của chính mình, ta tỉnh biết ghi nhận về điều đó và tập trung quán chiếu về sự khổ. Biết rằng “đây là đau khổ”. Cố gắng duy trì hơi thở trong ý thức. Thở vào, ta biết ta đang thở vào. Thở ra, ta biết ta đang thở ra. Dùng hơi thở làm nền tảng để nuôi giữ sự tỉnh thức, để nhìn sâu vào sự kiện, để thấy rõ sự đau khổ và gốc nguồn của đau khổ

- Tập đế 

Chân lý cao cả thứ hai là tập đế, tức nguyên nhân của sự đau khổ: “khi sự kiệnnguyên nhân đưa đến đau khổ, hành giả quán niệm đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ”.

Khi quán chiếu về sự khổ, ta nhìn thấy được nguyên nhân đưa đến sự đau khổ cho con người. Những ái dục tham mê, những oán hờn ganh ghét, những si mờ chấp ngã, những nghi oan ngờ vực, những ngã mạn cao ngạo, những ác kiến tà ý… Tất cả vậy đều là những nguyên nhân gây tạo nên sự đau khổ cho con người

Ngay cả sự chấp dính buộc ràng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, xúc chạm, tư tưởng cũng đều là những khổ đau dày xé tâm linh con người. Trong kinh phú lâu na, Phật đã thuyết: “mắt thấy sắc đuổi theo chấp chặtđau khổ, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý duyên pháp, tất cả chấp chặt đuổi theo đều là đau khổ”.

Cũng như thân xác do tứ đại hợp thành, do duyên mà sinh khởi, hết duyên lại hoại tàn. Nhưng nếu ta cứ chấp chặt vào đó và cho thân xác là mãi của ta thì đó là u mê khổ ải. Cũng như cố chấpnhận lầm vọng tưởng là tâm ta, mãi sống với những nghĩ suy tham cuồng, gây tạo biết bao nghiệp chướng ưu phiền. Đau khổ cũng bởi từ sự chấp chặt cuồng mê nơi thân tâm mãi mãi không thôi (“ấm giới sáu trần dậy, ách nạn nghiệp theo kề” - thiếu thất lục môn).

Khi cảm nhận sự khổ, hãy quán chiếu để nhìn thấy rõ nguyên nhân đã đưa đến sự đau khổ cho con người. Duy trì sự quán niệm trong hơi thở ý thức. Ta biết ta đang thở vào. Ta biết ta đang thở ra. Ta chú tâm quán sát mọi gốc nguồn của sự kiện, để thấy rõ bản chất của đau khổnguyên nhân đã đưa đến đau khổ. Ta quán niệm “đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ”. 

- Diệt đế 

Chân lý cao cả thứ ba là diệt đế, tức sự chấm dứt của đau khổ: “khi sự kiện là sự chấm dứt đau khổ, hành giả quán niệm đây là sự chấm dứt đau khổ”.

Do bởi quán chiếu về đau khổ, ta nhận hiểu và thấy rõ gốc nguồn của đau khổ, nguyên nhân đã đưa đến sự đau khổ cho con người. Ngay đây, nếu bản thân nỗ lực tiêu trừ những tà kiến của sự chấp ngã thì tâm trí cũng sẽ vơi đi ít nhiều thống khổ

Khi đau khổ đã thật sự chấm dứt thì con đường giải thoáttrước mắt. Điều đó được hiểu như một chân lý niết bàn tuyệt đối của tâm linh con người. Đó là sự bình antự tại vô ngại của tâm thức

Chúng ta, nếu như cứ mãi chấp chặt xác thân là của ta chơn thật, mãi đắm mê thân xác, mãi bám víu và tiếc thương thì ta vẫn mãi khổ đau phiền não. Sự bám víu vào thân xác cũng là gốc nguồn của sự sợ hãi. Như trong đạo đức kinh – “ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vi ngô hữu thân, cập ngô vô thân, ngô hữu hà hoạn!” (ta sở dĩ có lo lớn là vì ta có thân, nếu ta không có thân, ta nào có lo). Hãy nhận thức rằng: Sống là sống trong cuộc đời, là sống với xác thân đây, nhưng tâm trí không bám chặt vào tham đắm, không quay cuồng trong bão gió lòng đời. Sống là để sống trong đời. Không nhàm chán sự sống. Không mê lụy sắc thân. Đó là sống đúng với ý nghĩa của cuộc sống làm người.

Thân xác đây, theo duyên mà hình thành, hết duyên mà hư hủy. Có đó rồi mất nó. Biết vậy, nên tâm đừng quá nuối tiếc khi phải mất thân. Đây không những với cái nhìn về thân ta mà ngay cả cái nhìn của ta đối với người thân ta cũng thế. Kẻ sinh ra, kẻ mất đi, tất cả là đau khổ, diệt diệt sinh sinh vô cùng tận (“sanh diệt biến dị, hư ngụy vô chủ” - sinh diệt biến thay đổi dời, hư giả cũng không có chủ thể - kinh bát đại nhân giác). 

Do bởi nhận thức như vậy nên khi thân nầy sắp mất đi, ta không mấy não phiền hối tiếc. Hãy dửng dưng mà ra đi. Hãy an nhiêntrở về. Hãy thực tập quán niệm về sự sống và sự chết như thiền sư Mumon: “đời sống như cụm mây bay ngang đỉnh núi, sự chết như mặt trăng vượt biển khơi”. 

Khi người thân ta mất đi, ta biết ta đã mất thể xác người, đã mất tiếng nói và hành động của người. Và, bởi tình luyến ái, ta sầu bi, ta khổ ải. Đó có sinh, đó có mất, cũng theo duyên mà tạo dựng, cũng tùy duyên mà hư hoại. Tất cả đều vô thường. Cuộc đời người khác nào như mộng ảo (“xử thế nhược đại mộng” - Lý Bạch). 

Hãy nhìn cuộc đời bằng ánh mắt vô thường. Hãy vui với đời như hoa nở. Hãy đi vào cuộc đời như đang đi trong giấc mộng (“gá thân mộng, dạo cảnh mộng, mộng tan rồi, cười vỡ mộng” - thiền sư Thích Thanh Từ). Hãy nhận biết sự việc như vậy. Những người thân ta rồi cũng sẽ ra đi. Ta thản nhiên nhìn sự việc với con mắt hiểu và biết, không quá khổ đau sầu muộn. Trong kinh bát đại nhân giác, Phật đã thuyết – “thế gian vô thường, ngũ ấm vô ngã” (cuộc đờivô thường, thân năm ấm cũng không có tự ngã riêng biệt). Hãy hằng luôn nhắn nhủ với chính mình: “người có đến và người sẽ ra đi, ta đã đến và rồi ta sẽ đi, há luống bận tâm chi những vô thường!” 

Do bởi ý thức được sự vô thường của cuộc đời, khi những người thân của ta còn sống thì ta nên biết quý trọng những giây phút còn có mặt của người bên ta. Nếu lỡ ngày mai, khi người đã ra đi, thâm tình đã vỡ, thì hối tiếc chi chữ hiếu chưa kịp báo đền, chữ ân chưa kịp trả, tất cả còn lại là suối lệ sầu vương trong thương tiếc muộn màng.

Trong giai đoạn đầu tu tập, chúng ta đây vẫn là con người đầy ắp những ray rứt sầu tư. Nếu như, những người thân của ta một mai ra đi, thân ta chắc cũng phải úa sầu hoen lệ. Nhưng bởi hiểu và biết gốc nguồn của ái dục si mê, rễ nguồn của đau khổ muôn đời, chúng ta có thể giảm bớt được ít nhiều mức độ sầu bi. Được vậy thì mục đích hành thiền đây cũng đã gặt hái được ít nhiều lợi ích lắm thay! Hãy cố gắng tinh chuyên hành trì cho đến giây phút cuối cùng của cuộc sống thì định lực đã được tu bồi vững mạnh. Và rồi, khi sự việc đến, cứ thanh thản ra đi, cứ an nhiên trở về, như gió bay xa, như mây trở lại.

- Đạo đế 

Chân lý cuối cùngđạo đế, tức con đường diệt khổ để giải thoát tâm linh: “khi sự kiệncon đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, hành giả quán niệm đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ”.

Khi nhìn thấy sự đau khổ, cảm nhận được sự đau khổ, ta nhận biết “đây là đau khổ”. Quán chiếu về sự kiện để thấy rõ đâu là gốc nguồn của đau khổ. An trú tâm trong sự quán niệm “đây là nguyên nhân đưa đến đau khổ”. Và khi sự kiệncon đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ, ta quán niệmghi nhận “đây là con đường đưa đến sự chấm dứt đau khổ”. 

Ta an trú trong sự quán niệm “có bốn sự thật cao quý”, như vậy đủ để giúp ta quán chiếuý thức được sự có mặt của các đối tượng của tâm thức.

Hãy nỗ lực tinh chuyên hành trì sống tỉnh thức trong từng mỗi phút giây. Cố gắng tinh tấn thọ trì kinh điển, thực tập thiền định, để chiếu soi bước đường trí tuệ, đem giới luật và yếu nghĩa kinh pháp áp dụng vào con đường tu tập cho bản thân

Hãy thực tập sống tỉnh thức và sống với tâm nguyện: “nâng cao ngọn lửa hồng trí tuệ, để giải thoát cho tâm linh chính mình, và để cùng chiếu soi đến tất cả những ai đang cùng trên con thuyền trôi dạt hữu duyên”.

Để khử trừ những chướng ngại của ái dục, sân, si, ngã mạn, ngông tàn… tất phải dùng đến phương tiện. Cho nên Đức Phật đã đưa ra con đường bát chánh đạo, tức con đường trung đạo, với tám phạm trù cần yếu và chân chánh để giúp người hành giả nương dựa vào đó mà tu trì:

- chánh kiến (thấy biết chân chánh)
- chánh tư duy (nghĩ suy chân chánh)
- chánh ngữ (lời nói chân chánh)
- chánh nghiệp (hành động chân chánh)
- chánh mạng (sinh sống chân chánh)
- chánh tinh tiến (cố gắng chân chánh)
- chánh niệm (ý thức chân chánh)
- chánh định (tập trung chân chánh)

Tám phạm trù trên được chia thành ba nhóm là giới, định và huệ: 

- giới (đạo đức) gồm chánh ngữ, chánh nghiệpchánh mạng
- định (tâm linh) gồm chánh tinh tiến, chánh niệmchánh định
- huệ (tri thức) gồm chánh tư duychánh kiến

Nền tảng của bát chánh đạo là giới với 3 phạm trù căn bản về đạo đức (chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng). Con đường nương dựa để tu tập chánh niệm và để thành tựu về chánh địnhcon đường tứ niệm xứ, tức bốn lãnh vực quán niệm

Trên bước đường tu tập, yếu tố chánh tinh tiến là để trợ lực cho ta có một ý chí mạnh mẽ trong quá trình tu tập chánh niệm, từ đó mở rộng 2 phạm trù tri thứcchánh kiếnchánh tư duy, giúp ta ý thức được vai trò quan trọng của con đường giải thoát tâm linh. Khi yếu tố chánh niệm thành tựu, đưa đến sự phát sinh và thành tựu yếu tố chánh định, giúp ta vượt thắng những phiền nãođạt đến sự giải thoát cho tâm linh.

 

Tạo bài viết
06/08/2017(Xem: 24914)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.