Mūlamadhyamakakārikā - Chương 26. Khảo sát về Mười hai chi duyên khởi

02/09/20172:16 SA(Xem: 2314)
Mūlamadhyamakakārikā - Chương 26. Khảo sát về Mười hai chi duyên khởi
Mūlamadhyamakakārikā
Chương 26. Khảo sát về Mười hai chi duyên khởi
-Dvādaśāṅgaparīkṣā -

(Phước Nguyên dịch từ nguyên bản Sanskrit, tham chiếu Tạng-Hán)

blankKính lễ Đức BổnThế Tôn đã tuyên thuyết hoàn hảo về duyên khởi.

Kính lễ Tôn giả Long Thọ, vị đã minh giải tường tận về lý tính duyên khởi.

_____________________________

“1. Tái diễn hữu thể, những ai bị trùm kín bởi vô minh phải đi vào các định hướng tái sinh, là do những hành động được thúc đẩy bởi ba loại ý chí.

2. Do duyên là ý chí, thức đi vào các định hướng tái sinh. Khi thức đã đi vào các định hướng tái sinh, tên gọi – hình thái được lưu nhuận.

3. Do hình thái và tên gọi được lưu nhuận, sáu vùng hoạt động của nhận thức xuất hiện. Khi đạt đến sáu vùng hoạt động của nhận thức, xúc tiến hành hoạt động.

4. Cũng như nó chỉ phát sinh trong khi duyên đến mắt, sắc và ức niệm. Do đó, thức phát sinh trong khi duyên đến tên gọi và hình thái.

5.  Xúc chính là tổ hợp ba, gồm có sắc, thức và mắt. Do từ xúc, cảm thọ tiến hành hoạt động.

6. Do duyên là cảm thọ mà có khát ái. Thật như vậy, cảm thọ là đối tượng được khát ái. Do khát ái nên thiết lập bốn chấp thủ.

7. Do có chấp thủhữu tính của kẻ chấp thủ tiến hành hoạt động. Nếu khôngchấp thủ, nó được giải thoát, không tồn tại hữu tính.

8. Hữu tính chính là năm uẩn. Từ hữu tính, ‘sự sinh’ tiến hành hoạt động và các khổ đau: tuổi già và sự chết v.v.. ưu sầu, cùng với bi ai.

9. Thất vọng, buồn phiền được tiến hành hoạt động từ “sự sinh”, đó chính là hiện khởi của khối thuần khổ.

10. Vậy thì, sự vô tri tác thành các ý chí là căn cội của luân hồi. Do đó, vô tritác giả chứ không phải là tri, vì tri là sự thấy biết về lẽ chân thật.

11. Do vô minh diệt nên các hành không tác khởi. Vô minh đoạn diệt do bởi trí, vì chính là sự tu quán pháp duyên khởi này.

12. Do sự diệt tận của các duyên như thế này, thế kia mà các duyên như thế này, thế kia không hiện khởi sự tiến hành hoạt động và khối lớn thuần khổ ấy, như thế được tận diệt.”

Kết thúc chương khảo sát về mười hai chi duyên khởi

__________________

Phụ lục nguyên văn

A/Sanskrit (Mmk LVP 542,10 - 570,4):

punarbhavāya saṃskārān avidyānivṛtas tridhā /

abhisaṃskurute yāṃs tair gatiṃ gacchati karmabhiḥ // MMK_26.1 //

vijñānaṃ saṃniviśate saṃskārapratyayaṃ gatau /

saṃniviṣṭe 'tha vijñāne nāmarūpaṃ niṣicyate // MMK_26.2 //

niṣikte nāmarūpe tu ṣaḍāyatanasaṃbhavaḥ /

ṣaḍāyatanam āgamya saṃsparśaḥ saṃpravartate // MMK_26.3 //

cakṣuḥ pratītya rūpaṃ ca samanvāhāram eva ca /

nāmarūpaṃ pratītyaivaṃ vijñānaṃ saṃpravartate // MMK_26.4 //

saṃnipātas trayāṇāṃ yo rūpavijñānacakṣuṣām /

sparśaḥ sa tasmāt sparśāc ca vedanā saṃpravartate // MMK_26.5 //

vedanāpratyayā tṛṣṇā vedanārthaṃ hi tṛṣyate /

tṛṣyamāṇa upādānam upādatte caturvidham // MMK_26.6 //

upādāne sati bhava upādātuḥ pravartate /

syād dhi yady anupādāno mucyeta na bhaved bhavaḥ // MMK_26.7 //

pañca skandhāḥ sa ca bhavo bhavāj jātiḥ pravartate /

jarāmaraṇaduḥkhādi śokāḥ saparidevanāḥ // MMK_26.8 //

daurmanasyam upāyāsā jāter etat pravartate /

kevalasyaivam etasya duḥkhaskandhasya saṃbhavaḥ // MMK_26.9 //

saṃsāramūlaṃ saṃskārān avidvān saṃskaroty ataḥ /

avidvān kārakas tasmān na vidvāṃs tattvadarśanāt // MMK_26.10 //

avidyāyāṃ niruddhāyāṃ saṃskārāṇām asaṃbhavaḥ /

avidyāyā nirodhas tu jñānasyāsyaiva bhāvanāt // MMK_26.11 //

tasya tasya nirodhena tat tan nābhipravartate /

duḥkhaskandhaḥ kevalo 'yam evaṃ samyag nirudhyate // MMK_26.12 //

B/ Tây tạng (Mmk Tg tsa 17a5 - b6):

1. །མ་རིག་བསྒྲིབས་པས་ཡང་སྲིད་ཕྱི།

།འདུ་བྱེད་རྣམ་པ་གསུམ་པོ་དག།

།མངོན་པར་འདུ་བྱེད་གང་ཡིན་པའི།

།ལས་དེ་དག་གིས་འགྲོ་བར་འགྲོ།།

2. །འདུ་བྱེད་རྐྱེན་ཅན་རྣམ་པར་ཤེས།

།འགྲོ་བ་རྣམས་སུ་འཇུག་པར་འགྱུར།

།རྣམ་པར་ཤེས་པ་ཞུགས་གྱུར་ན།

།མིང་དང་གཟུགས་ནི་ཆགས་པར་འགྱུར།།

3. །མིང་དང་གཟུགས་ནི་ཆགས་གྱུར་ན།

།སྐྱེ་མཆེད་དྲུག་ནི་འབྱུང་བར་འགྱུར།

།སྐྱེ་མཆེད་དྲུག་ལ་བརྟེན་ནས་ནི།

།རེག་པ་ཡང་དག་འབྱུང་བར་འགྱུར།།

4. །མིང་དང་གཟུགས་དང་དྲན་བྱེད་ལ།

།བརྟེན་ནས་སྐྱེ་བ་ཁོ་ན་སྟེ།

།དེ་ལྟར་མིང་དང་གཟུགས་བརྟེན་ནས།

།རྣམ་པར་ཤེས་པ་སྐྱེ་བར་འགྱུར།།

5. །མིག་དང་གཟུགས་དང་རྣམ་པར་ཤེས།

།གསུམ་པོ་འདུས་པ་གང་ཡིན་པ།

།དེ་ནི་རེག་པའོ་རེག་དེ་ལས།

།ཚོར་བ་ཀུན་ཏུ་འབྱུང་བར་འགྱུར།།

6. །ཚོར་བའི་རྐྱེན་གྱིས་སྲེད་པ་སྟེ།

།ཚོར་བའི་དོན་དུ་སྲེད་པར་འགྱུར།

།སྲེད་པར་གྱུར་ན་ཉེ་བར་ལེན།

།རྣམ་པ་བཞི་པོ་ཉེར་ལེན་འགྱུར།།

7. །ཉེར་ལེན་ཡོད་ན་ལེན་པ་པོའི།

།སྲིད་པ་རབ་ཏུ་འབྱུང་བར་འགྱུར།

།གལ་ཏེ་ཉེ་བར་ལེན་མེད་ན།

།གྲོལ་བར་འགྱུར་ཏེ་སྲིད་མི་འགྱུར།།

8. །སྲིད་པ་དེ་ཡང་ཕུང་པོ་ལྔ།

།སྲིད་པ་ལས་ནི་སྐྱེ་བར་འགྱུར།

།རྒ་ཤི་དང་ནི་མྱ་ངན་དང།

།སྨྲེ་སྔགས་འདོན་བཅས་སྡུག་བསྔལ་དང།།

9. །ཡིད་མི་བདེ་དང་འཁྲུག་པ་རྣམས།

།དེ་དག་སྐྱེ་ལས་རབ་ཏུ་འབྱུང།

།དེ་ལྟར་སྡུག་བསྔལ་ཕུང་པོ་ནི།

།འབའ་ཞིག་པ་འདི་འབྱུང་བར་འགྱུར།།

10. །འཁོར་བའི་རྩ་བ་འདུ་བྱེད་དེ།

།དེ་ཕྱིར་མཁས་རྣམས་འདུ་མི་བྱེད།

།དེ་ཕྱིར་མི་མཁས་བྱེད་པོ་ཡིན།

།མཁས་མིན་དེ་ཉིད་མཐོང་ཕྱིར་རོ།།

11. །མ་རིག་འགགས་པར་གྱུར་ན་ནི།

།འདུ་བྱེད་རྣམས་ཀྱང་འབྱུང་མི་འགྱུར།

།མ་རིག་འགག་པར་འགྱུར་བ་ནི།

།ཤེས་པས་དེ་ཉིད་བསྒོམས་པས་སོ།།

12. །དེ་དང་དེ་ནི་འགགས་གྱུར་པས།

།དེ་དང་དེ་ནི་མངོན་མི་འབྱུང།

།སྡུག་བསྔལ་ཕུང་པོ་འབའ་ཞིག་པ།

།དེ་ནི་དེ་ལྟར་ཡང་དག་འགག།།

།སྲིད་པའི་ཡན་ལག་བཅུ་གཉིས་བརྟག་པ་ཞེས་བྱ་བ་སྟེ་རབ་ཏུ་བྱེད་པ་ཉི་ཤུ་དྲུག་པའོ།།

 

Tạo bài viết
01/06/2014(Xem: 11909)
03/09/2014(Xem: 10070)
24/11/2016(Xem: 4426)
Tôi đã từng viết 1 bài có tựa đề “Đức cha tuyệt vời ở Tây Ban Nha thờ Quan Thế Âm Bồ Tát” và nhận được rất nhiều động viên và cổ cũ của quý vị bạn đọc cũng như quý Phật tử. Nay lại có một chuyện khác về một vị cha người Nga nữa.
Chào đón xuân Kỷ Hợi, năm 2019, Phật lịch 2563, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tôi có lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng năm mới đại hoan hỷ, vô lượng an lạc, vô lượng cát tường tới toàn thể các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chư Tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.
Hội Đồng Giáo Phẩm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ xin nhất tâm Chúc Tết đến chư tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng toàn thể quí Thiện Tín, Cư Sĩ, Phật tử, Đồng hương được nhiều thuận duyên và phước lạc. Xin chư Phật, chư Tổ, Hồn Thiêng Dân tộc độ trì cho chúng con làm rực sáng một Đạo Phật nơi quê hương mới.